1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân

98 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng công tác kiểm tra thuế đốivới doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanhtại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân nói

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không saochép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình.Các thông tin thứ cấp được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và được tríchdẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tích xác thực và nguyên bảncủa luận văn

Tác giả

Nguyễn Hương Giang

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cám ơn GS.TSKH ĐỗNguyên Khoát người thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trongsuốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn trường Đại Học Dân Lập Phương Đông, KhoaQuản trị kinh doanh, Chi cục thuế Quận Thanh Xuân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôihoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình đã độngviên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoànthành bản luận văn của mình

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn: 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 2

5 Đóng góp mới của luận văn: 2

6 Kết cấu của luận văn: 2

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 4

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thuế 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm của Thuế 5

1.1.3 Phân loại thuế 6

1.1.4 Vai trò của Thuế 8

1.2 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 11

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh 11

1.2.2 Đặc điểm và vai trò doanh nghiệp ngoài quốc doanh 13

1.2.3 Đặc điểm quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 17

1.3 Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuê 18

1.3.1 Tổng quan về kiểm tra thuê của cơ quan thuế 18

1.3.2 Công tác kiểm tra thuế 22

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác kiểm tra thuế 27

Trang 4

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN

THANH XUÂN 34

2.1 Tổng quan về Chi cục thuế và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên dịa bàn Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 34

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Chi cục thuế quận Thanh Xuân 34

2.1.2 Cơ cấu tổ chức Chi cục thuế Thanh Xuân 36

2.1.3 Đặc điểm doanh nghiệp NQD trên địa bàn Quận Thanh Xuân 37

2.1.4 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của Chi cục thuế Quận Thanh Xuân trong thời gian qua 38

2.2 Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân 39

2.2.1 Qui trình kiểm tra thuế 39

2.2.2 Nội dung kiểm tra: 44

2.2.3 Kết quả thực hiện công tác kiểm tra thuế theo những chỉ tiêu đánh giá cơ bản: 54

2.3 Đánh gía chung thực trạng tổ chức kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân 56

2.3.1 Những những kết quả đã đat được: 56

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 60

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN THANH XUÂN 68

3.1 Định hướng tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân 68

3.2 Các giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân 73

3.2.1 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu, phân tích về người nộp 73

Trang 5

3.2.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm tra 74

3.2.3 Cải tiến quy trình và nội dung kiểm tra thuế 77

3.2.4 Tổ chức tốt công tác xử lý kết quả sau kiểm tra thuế 78

3.2.5 Thực tốt công tác phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan liên quan 79 3.2.6 Tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế 79

3.2.7 Đẩy mạnh và phát triển hệ thống công nghệ thông tin 81

3.2.8 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 81

3.3 Một sô kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao công tác kiểm tra thuế 82

3.3.1 Kiến nghị với nhà nước 82

3.3.2 Kiến nghị với ngành thuế 85

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ : Quy trình kiểm tra thuế 23

Mô hình 3.1: Chuyển từ kiểm tra diện rộng sang kiểm tra theo tiêu chí phân loại 75

Mô hình 3.2: Mô hình lập kế hoạch kiểm tra trên cơ sở phân tích rủi ro 76

Bảng 2.1 Số liệu số lượng DN NQD trên địa bàn Quận Thanh Xuân 37

Bảng 2.2 Kết quả thu ngân sách so với dự toán được giao hàng năm 39

Bảng 2.3: Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải kiểm tra hồ sơ khai thuế .40

Bảng 2.4: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế 42

Bảng 2.5: Kêt quả kiểm tra trụ sở ngừời nộp thuế 43

Bảng 2.6 Bảng tổng hợp doanh nghiệp nợ thuế sau kiểm tra tại trụ sở NNT qua các năm 44

Bảng 2.7 Bảng số liệu kết quả kiểm tra đăng ký thuế 45

Bảng 2.8 Bảng tổng hợp doanh nghiệp vi phạm chế độ kế toán qua các năm: 46

Bảng 2.9 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 49

Bảng 2.10 Kết quả thu NSNN qua công tác kiểm tra thuế 55

Bảng 2.13 Bảng báo cáo số thu trên địa bàn quận Thanh Xuân năm 2014 57

Bảng 2.14 Bảng báo cáo số thu 6 tháng đầu năm 2015 58

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển công nghiệp hoá, hiện đạihoá, hội nhập kinh tế quốc tế Với mục tiêu đó, công tác thu thuế của Nhà nướcđóng vai trò rất quan trọng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhànước và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước Thuế là mộtkhoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý cao, là nguồn thu chủ yếucho ngân sách Nhà nước Trong đó nguồn thu thuế từ khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh chiếm tỷ trọng cao Kiểm tra thuế là một trong những chức năng thiết yếucủa quản lý thuế Tính hiệu quả của kiểm tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệuquả của quản lý thuế nhất là trong bối cảnh áp dụng cơ chế cơ sở kinh doanh tự kêkhai, tự nộp thuế

Trên thực tế hiện nay, công tác kiểm tra thuế chưa phát huy hết được vai tròcủa mình, chưa trở thành công cụ hiệu lực để thực hiện pháp luật thuế nghiêm minhnhằm mục đích chống thất thu ngân sách và răn đe được các hành vi vi phạm vềthuế Công tác kiểm tra thuế, xử lý các vi phạm về thuế của cơ quan thuế chưa đượctrú trọng Nhận thức về pháp luật thuế của người nộp thuế còn thấp và trách nhiệmhoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước chưa cao Công tác kiểm tra thuế nhìnchung còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của công tác kiểm tra trong bốicảnh hội nhập

Để có được cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng công tác kiểm tra thuế đốivới doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanhtại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân nói riêng, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằmtăng cường công tác kiểm tra thuế, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Tăng cườngcông tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuếQuận Thanh Xuân” cho luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sỹ kinh tế của mình

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:

Mục đích: Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ thêm những vấn đề cơ bản vềcông tác kiểm tra thuế, phân tích thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân, tìm ra những mặt còn hạnchế tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế Nhiệm vụ của luận văn:

- Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế và công tác kiểm tra thuế đối vớidoanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốcdoanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân

- Đề xuất những giải pháp để tăng cường công tác kiểm tra thuế đối vớidoanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện luận văn, những phương pháp nghiên cứu chủyếu đã được sử dụng là: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịchsử; phương pháp thu thập thông tin, phương pháp thống kê, phương pháp

dự báo, phương pháp so sánh…

5 Đóng góp mới của luận văn:

- Hệ thống hóa những lý luận chủ yếu về công tác kiểm tra thuế đối vớidoanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 10

- Đánh giá tổng quan thực trạng của công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân, chỉ ranhững kết quả đã đạt được, những tồn tại và nguyên nhân

- Đề xuất những giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế có tínhkhả thi và có giá trị tham khảo trong quá trình xây dựng các giảipháp nângcao công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chicục thuế Quận Thanh Xuân

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về thuế và công tác, kiểm tra thuế đốivới doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Chương II: Thực trạng công tác kiểm tra đối với doanh nghiệp ngoàiquốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân

Chương III: Những giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế đối vớidoanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Thanh Xuân

Trang 11

CHƯƠNG I:

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH.

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thuế

1.1.1 Khái niệm

Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, Nhà nước chỉ có thể và cầnphải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng gópmột phần sản phẩm, một phần thu nhập cho Nhà nước Hình thức đóng góp ấychính là thuế Ngay từ khi Nhà nước ra đời thì thuế cũng xuất hiện, thuế là “sảnphẩm” tất yếu từ sự xuất hiện hệ thống bộ máy Nhà nước Ngược lại, thuế là công

cụ đảm bảo cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống

bộ máy Nhà nước

Ở nước ta, đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điểntiếng Việt- Trung tâm từ điển học(1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật màngười dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghềnghiệp, buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định

Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệmcủa từng góc độ khác nhau, nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất củathuế Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh

tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuếphải nêu bật được các khía cạnh sau đây:

-Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhànước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp

-Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan

và có ý nghĩa xã hội đặc biệt Việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theomệnh lệnh của Nhà nước

-Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đãđược pháp luật quy định

Trang 12

Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên ta có thể đưa ra một địnhnghĩa tổng quát về thuế như sau:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhànước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính hoàn trảtrực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội

1.1.2 Đặc điểm của Thuế

a Tính pháp lý cao

Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong hiến pháp- Đạoluật gốc của một quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ mộtthứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội- Cơquan quyền lực Nhà nước tối cao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện

ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trênnhững cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các Văn bản pháp luật docác cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành

b Tính bắt buộc

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiệnphương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dândưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuếđược chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấpphát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế

Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tựnguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đốivới những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật

c Tính không hoàn trả trực tiếp

Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đốigiá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nướckhông hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ vàhàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏiNhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuếcho Nhà nước

Trang 13

Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trựctiếp cho người nộp thuế Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch

vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà ngườinộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộpcho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí,

lệ phí và giá cả

1.1.3 Phân loại thuế

Phân loại thuế là sự sắp xếp các sắc thuế trong một hệ thống chính sách thuếthành những nhóm khác nhau theo các tiêu thức nhất định

* Dựa theo phương thức đánh thuế: hệ thống thuế được chia làm hai loại

- Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản củangười nộp thuế

Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định đồng nhấtvới người phải chịu thuế Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thunhập của người nộp thuế Như vậy thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyểndịch gánh nặng thuế cho người khác khó khăn hơn Về nguyên tắc loại thuế nàymang tính chất luỹ tiến vì nó tính đến khả năng của người nộp thuế, người có thunhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn người có thu nhập thấp thì nộp thuế íthơn Loại thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế đánh trên thu nhập của tổ chức

và cá nhân Ở nước ta các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanhnghiệp(TNDN), thuế thu nhập cá nhân(TNCN), thuế tài nguyên, thuế sử dụng đấtnông nghiệp,

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổchức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến cácyếu tố tương đối độc lập đến thu nhập của người nộp thuế như hoàn cảnh bản thân,hoàn cảnh gia đình Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hoà thunhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó

đã đảm bảo được tính công bằng trong xã hội

Trang 14

Nhược điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuếkhi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế Hơn nữa việc theo dõi, tính toán số thuế phảinộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp Số thu động viên vào ngân sáchthường chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém.

- Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản củangười nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ.Người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ đó là người chịu loại thuế này

Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuếkhông đồng nhất với nhau Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá,dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hoá đó, họ mua hàng hoávới giá cả trong đó có cả thuế Loại thuế này có sự chuyển dịch gánh nặng thuếtrong những trường hợp nhất định

Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chếgiá cả thị trường Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó của thuế gián thu không những chịuchi phối của mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chấtcủa thị trường, trong đó có sự tác động của thuế, tức là thị trường đó là thị trườngcạnh tranh hay độc quyền Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính chất luỹ thoái vì

nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập caohay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ.Loại thuế này thường là các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng

để tiêu dùng Ở nước ta các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế Giá trị giatăng(GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt(TTĐB), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,

Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng Thuế gián thu đượcche đậy qua giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bịNhà nước đánh thuế Thuế gián thu đem lại nguồn thu thường xuyên và ổn định choNgân sách Nhà nước(NSNN) Đối tượng quản lý thu thuế cúng tập trung hơn,nghiệp vụ tính và thu thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so vớithuế trực thu

Trang 15

Nhưng loại thuế này cúng có nhược điểm là có tính chất luỹ thoái nên khôngđảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế Nếu tính tỷ lệ động viên thuế giánthu so với thu nhập thì người giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so vớingười nghèo.

* Dựa vào cơ sở tính thuế:

-Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếmđược Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiềncông; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổphần, do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thunhập công ty, thuế chuyển quyền thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần, -Thuế tiêu dùng là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổchức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại Trong thực tế loại thuế tiêudùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế TTĐB, thuế GTGT, -Thuế tài sản là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản Tài sản cónhiều hình thức biểu hiện: tài sản chính( tiền mặt, tiền gửi, ), tài sản cố định( nhàcửa, đất đai, ), tài sản vô hình( nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, ) Thuộc loạithuế tài sản có các sắc thuế như thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp,

*Dựa vào phạm vi điều chỉnh của thuế:

-Thuế tổng hợp: Là loại thuế đánh vào tất cả các thành phần của cơ sở đánhthuế mà không có trường hợp ngoại lệ, không có miễn, giảm thuế

-Thuế có lựa chọn: Là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của cơ sởđánh thuế Thuế thu nhập cá nhân có thể coi là một sắc thuế điển hình của loại này.Ngoài ra đôi khi người ta còn tiến hành phân loại thuế theo tính chất thuế suất

mà các sắc thuế đó áp dụng như thuế tỷ lệ, thuế luỹ tiến,

1.1.4 Vai trò của Thuế

1.1.4.1 Thuế là công cụ tập trung nguồn thu chủ yếu cho NSNN

Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiềuhình thức khác nhau như: phát hành thêm tiền; phát hành trái phiếu để vay trongnước và ngoài nước; bán một phần tài sản quốc gia; thu thuế Trong các hình thứcnêu trên thì thuế là công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất Vì so với cáchình thức huy động khác, sử dụng công cụ thuế có những ưu điểm:

Trang 16

-Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn Đối tượngnộp thuế(NNT) bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phátsinh nguồn thu nhập nộp thuế.

-Phương thức huy động của thuế là sử dụng phương pháp chuyển giao thunhập bắt buộc Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cáchnhanh chóng, thường xuyên và ổn định

-Thông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốcdân trong nước tạo ra đã tập trung vào Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu côngcộng và thực hiện các biện pháp kinh tế- xã hội

-Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn thểhiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phương pháp cưỡng bức và kích thích vật chấtnhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệuquả kinh doanh

1.1.4.2.Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô

Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng nhữngkhuyết tật vốn có của nó Chính đó là lý do biện minh cho sự can thiệp của Nhànước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế thị trường Nhà nước thực hiện điềutiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô bằng cách đưa ra những chuẩn mực mang tính địnhhướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bảy để hướng các hoạt động kinhtế- xã hội theo các mục tiêu Nhà nước đã định và tạo hành lang pháp lý cho các hoạtđộng kinh tế- xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp

Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện phápnhư giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biệnpháp kinh tế là gốc Trong các biện pháp kinh tế thì thuế là công cụ quan trọng vàsắc bén nhất

* Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế dưới các hình thức:-Xác định mối quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu

-Thay đổi thuế suất: thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của mỗi sắc thuế.Thay đổi thuế suất tức là mức thu thuế hay đại lượng thu thuế tính trên một đơn vịđỗi tượng chịu thuế

Trang 17

Thay đổi thuế suất được coi là một phương pháp quan trọng trong quá trìnhnhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế Thông qua việc đánh thuếvới thuế suất cao hay thấp vào các ngành nghề, mà nhà nước tác động và làm thayđổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường nhằm góp phần điều tiết vĩ mô,đảm bảo giữa các ngành nghề trong nền kinh tế.

- Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế: ưu đãi thuế tức là hình thức cho ngườinộp thuế được hưởng các điều kiện thuận lợi khi nộp thuế Trong qua thực hiện ưuđãi thuế, nhà nước đã điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, tùy thuộc vào điềukiện cụ thể của cục diện nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã đặt ra

1.1.4.3.Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối

Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có chênh lệch lớn

về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trườngcàng phát triển thì khoàng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có

xu hướng gia tăng Chính vì vậy nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phânphối thu nhập, của cải của xác hội Thuế là một công cụ để nhà nước tác động trựctiếp vào quá trình này Việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thựchiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thu thuế tiêu thụ đặcbiệt Các sắc thu trực thu đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuếsuất lũy tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảocông bằng xã hội

1.1.4.4.Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh

Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện thu đúng các quy định của các luậtthuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện phápnắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề và lĩnh vựckinh doanh ,những mặt hàng họ được phép kinh doanh Từ công tác thu thuế mà cơquan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọibiện pháp tháo gỡ Như vậy qua công tác quản lý thu thuế mà họ có thể kết hợpkiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thựchiện tốt quản lý nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội

Trang 18

1.2 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp được định nghĩa là “ tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, cótrụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằmmục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”( Theo Luật doanh nghiệp )

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp có tính chất tư hữu (Không

kể các đơn vị đầu tư nước ngoài) Bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty hợp danh, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và các đơn vị theo hình thứchợp tác xã

Khái niệm doanh nghiệp thường được dùng để chỉ các tổ chức, đơn vị kinhdoanh theo các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổphần, doanh nghiệp tư nhân thuộc các thành phần kinh tế Khu vực kinh tế tư nhânbao gồm các hình thức kinh tế: kinh tế cá thể là hình thức kinh tế của một hộ giađình hay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

và lao động của chính hộ hay cá nhân đó; kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế domột chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất và có sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ, và các loạihình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân, gồm có doanh nghiệp tư nhân, công ty tráchnhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, và công ty hợp danh

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi

cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Doanh nghệp tư nhânkhông được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Chủ doanh nghệp tư nhân chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với kết quả kinh doanh của doanhnghiệp và toàn quyền quyết định quy mô, phương thức hoạt động, kinh doanh, sửdụng lợi nhuận sau thuế và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quyđịnh của pháp luật

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chứchoặc một cá nhân làm chủ sở hữu công ty Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về

Trang 19

các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ củacông ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phép phát hành

vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Số lượngthành viên của công ty không vượt quá 50, và công ty không được quyền phát hành

cổ phiếu

Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn, trong

đó các thành viên có cổ phần (cổ đông) chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Sốlượng cổ đông của loại hình doanh nghiệp này phải tối thiểu là 3 Công ty cổ phần

có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Công ty cổ phần chỉđược trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa

vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên làchủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung Ngoàicác thành viên hợp danh, còn có thể có thành viên góp vốn (thành viên góp vốnkhông được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty).Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình vềcác nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợcủa công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh khôngđược phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Trang 20

Sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp nói trên được phân định theo sốvốn và hình thức góp vốn; trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong trường hợp công

ty phá sản; nghĩa vụ, quyền lợi và thẩm quyền của các cổ đông; quyền được phépphát hành chứng khoán hay không… Xét theo góc độ liên quan đến thuế, các công

ty này cũng có điểm khác nhau Luật pháp quy định riêng loại hình doanh nghiệp tưnhân không cần phải có kế toán trưởng Còn các loại hình doanh nghiệp khác bắtbuộc phải có kế toán trưởng, và giám đốc không được kiêm công việc kế toán

1.2.2 Đặc điểm và vai trò doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.2.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quôc doanh

Đến năm 2014 cả nước có khoảng 800.000 DN vừa và nhỏ Doanh nghiệpngoài quốc doanh có những đặc điểm đáng lưu ý:

- Lưu giữ sổ sách kế toán chưa được đầy đủ: doanh nghiệp ngoài quốc doanhvốn ít, trình độ quản lý và tiếp cận công nghệ hạn chế, thường bán hàng trực tiếpđến người tiêu dung và thanh toán bằng tiền mặt nên có xu hướng sử dụng sổ sách

kế toán đơn giản hoặc không dung sổ sách kế toán Điều này gây bất lợi cho cơquan thuế và cho cả doanh nghiệp Cơ quan thuế khó nắm bắt được thông tin vềhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp khó khăn trongviệc kê khai thuế vì không lưu giữ đủ chứng từ số sách kế toán

- Nắm bắt thông tin kiến thức về pháp luật thuế còn hạn chế Do quy mô nhỏ,vốn không lớn nên doanh nghiệp ngoài quốc doanh không sẵn sàng chịu tốn kémmột khoản kinh phí để tìm hiểu thông tin về pháp luật thuế và kiến thức cơ bản vềhoạt động kế toán

- Đầu tư vào công nghệ thông tin còn chưa được nhiều Có doanh nghiệpkhông có đủ thiết bị văn phòng để thực hiện kê khai thuế sử dụng phần mềm theoyêu cầu của cơ quan thuế nên họ không nắm bắt kịp thời những quy định trong luậtthuế, đặc biệt là những thay đổi, điều chỉnh trong văn bản thuế Cho đến nay cácdoanh nghiệp vẫn chưa thực sự quen với cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, chưathực sự tự giác tính tiền phạt nộp chậm Các doanh nghiệp thường không có chuyênviên tư vấn pháp lý riêng, chỉ thuê dịch vụ tư vấn pháp lý mỗi khi có vụ việc cầnphải giải quyết

Trang 21

- Thiếu nhân viên cơ hữu chuyên về kế toán thuế Các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh chưa thấy được đầy đủ vai trò của kế toán quản trị nội bộ doanh nghiệptrong phát triển kinh doanh Có những doanh nghiệp không có nhân viên kế toán cơhữu, họ thuê nhân viên kế toán làm việc bán thời gian, dẫn đến tình trạng một nhânviên kế toán có thể làm việc cho 2 – 3, thậm chí 5 – 6 doanh nghiệp; do vậy, khôngthể giúp công việc quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp đạt hiệu quả Có khi kếtoán kiêm luôn mua bán hàng, mua vật tư, thu hồi nợ Điều này ảnh hưởng xấu đếntới công việc kê khai và nộp báo cáo thuế thường kỳ của doanh nghiệp Nhiềutrường hợp kê khai thuế vào nhầm địa chỉ: doanh nghiệp thuộc cơ quan thuế nàyquản lý lại nộp sang cơ quan thuế khác.

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa có ý thức tự nguyện cao trong việcđăng ký thuế và nộp thuế Thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất, do vậy nếukhông có biện pháp bắt buộc, doanh nghiệp sẽ không tự nguyện đi đăng ký thuế và

tự giác nộp thuế Tâm lý doanh nghiệp muốn tính toán được thu nhập chịu thuếcàng thấp càng tốt để khoản tiền thuế ít đi Họ đã có những hành vi tránh thuế, trốnthuế như không kê khai đầy đủ các hoạt động giao dịch kinh doanh, tìm cách muahóa đơn để hợp pháp hóa những khoản chi phí không có chứng từ, để rút kinh phí

Họ tìm cách đối phó với cơ quan thuế trong việc kê khai thuế và thường có xuhướng kê khai doanh thu thấp hơn so với doanh thu thực tế được từ hoạt động kinhdoanh Do vậy chưa có ý thức tự nguyện cao trong việc đăng ký thuế và nộp thuế

1.2.2.2 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quôc doanh.

- Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xãhội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ cấukinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu Khu vựckinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình làm tăng của cảivật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như là: khu vực thu hút nhiều laođộng, đối tượng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở mọi nơitrong nước rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, đồng thời

Trang 22

góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế như tài nguyên, sức laođộng, thị trường mà vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả Bên cạnh đó dođặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khuvực này có khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp vớinhu cầu của thị trường Vậy khu vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sứcquan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăngtrưởng kinh tế do Nhà nước đề ra.

- Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc làm chongười lao động

Nước ta là nước có dân số gần 90 triệu dân, do đó đối tượng lao động là rấtlớn Vấn đề thất nghiệp được đặt ra cần được giải quyết Trong khi khu vực kinh tếNhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đòi hỏi lao động phải

có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc trong khu vực trêndẫn đến một khối lượng lớn lao động đang ở tuổi lao động không thể làm việc ởtrong hai khu vực này Vậy điều đáng nói ở đây là so với 2 khu vực trên thì khu vựckinh tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phần lao động, từ những lao động cótrình độ cao đến những lao động thủ công, từ những hợp đồng ngắn hạn đến nhữnghợp đồng dài hạn, theo mùa vụ hoặc theo thời gian nhất định Do đó khu vực nàygóp phần giải quyết thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế

- Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn định vàngày càng tăng

Trước hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế NQDmới đúng bản chất là “thuế” Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nướckhông phải chủ sở hữu tư liệu sản xuất, Nhà nước thu thuế của khu vực này màkhông phải đầu tư trực tiếp vào khu vực này Nguồn thu từ khu vực này rất lớn ngàycàng tăng và được dùng chủ yếu để đầu tư vào các ngành nghề kinh tế mũi nhọn,xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém đồng thời khu vực nàycòn tham gia đóng góp tài chính cho đất nước nhiều hơn nữa thông qua các hoạtđộng tự nguyện hưởng ứng các phong trào do Nhà nước, đoàn thể phát động như

Trang 23

ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thương binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng trường học, đường

xá đóng góp vào các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa Vậy khu vực kinh tế NQD cóvai trò điều hoà thu nhập và đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất lớn

- Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội

Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềmnăng cho sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh tế, nhờchính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã hình thành vàhuy động một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội Đây là một nguồn vốn quan trọng,song khai thác chưa hiệu quả Bên cạnh đó khu vực kinh tế NQD càng phát triển thìnhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với các ngân hàng,đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công tác huy động vốn

- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội, giúp

cho Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu tư vào nhữngngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội, tránhđầu tư phân tán, dàn trải Thực tiễn cho thấy có khu vực này nhiều ngành nghề, mặthàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước không cần phải đầu tư hoặc chỉ đầu tư cóhạn còn về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã đảm đương các chức năng bán lẻ cácmặt hàng tiêu dùng và tổ chức các dịch vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bànnông thôn và miền núi

- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình thành

và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường, thúcđẩy kinh tế Nhà nước tăng cường hạch toán kinh doanh, đổi mới công nghệ, nângcao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Trước đây trong điều kiện chỉ có kinh

tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm hàng hóa dù sản xuất ra với bất kỳ chấtlượng nào, giá cả ra sao đều được tiêu thụ Nhưng từ khi có kinh tế NQD với đặcđiểm tư hữu cao, khu vực này rất linh hoạt năng động với tinh thần trách nhiệm rấtcao trong sản xuất, tìm kiếm thị trường đồng thời luôn tập trung cao độ tinh thầnlàm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình Để cạnh tranh với khu vực NQDthì buộc khu vực kinh tế quốc doanh phải cải tiến hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ

Trang 24

không được thị trường chấp nhận Bên cạnh sự cạnh tranh đó thì nếu hai khu vựcnày không còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản phẩm sản xuất ra được hoàn thiện vớichất lượng cao hơn Vậy hợp tác và cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự pháttriển của hai khu vực kinh tế này.

- Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào cơ chếquản lý làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay đổi tác phong,

lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nước, của người lao động

Trước hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nước, pháttriển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp không cònthích hợp nữa vì Nhà nước không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh tế NQD phải sảnxuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá trị, do thị trường do nhucầu xã hội quyết định Với khu vực kinh tế NQD các cơ quan quản lý, công chứcNhà nước không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ Đây chính

là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ chế quản lý và phải luôn hoàn thiện cơchế quản lý của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý thức, tácphong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nước Vì khu vực kinh tếNQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, họ có quyền quyết định phương

án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật.Cán bộ công chức Nhà nước không có quyền can thiệp vào công việc kinh doanhcủa họ Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD và công chức Nhà nước là quan hệ bìnhđẳng trước pháp luật

1.2.3 Đặc điểm quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Qua nghiên cứu một số đặc điểm, vai trò cơ bản của DN NQD Từ đó, ta cóthể thấy được những ưu, nhược điểm để tìm cách quản lý thuế tốt phát huy thếmạnh cho DN NQD vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đất nước

Quản lý thuế đối với DN NQD thực chất là quản lý chặt chẽ các mặt sau :Đăng ký thuế, kê khai, ấn định thuế

Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế

Trang 25

Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt

Quản lý thông tin về người nộp thuế

Kiểm tra thuế, thanh tra thuế

Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Xử lý vi phạm pháp luật về thuế

Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

1.3 Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuê

1.3.1 Tổng quan về kiểm tra thuê của cơ quan thuế

1.3.1.1 Khái niệm kiểm tra thuê

Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là “xem xéttình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [ tr.253] Theo Đại từ điển Tiếng việt doTrung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm tra là “xem xét thựcchất, thực tế” ” [ tr.973] Theo từ điển Luật học, kiểm tra là “xem xét tình hình thực

tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụthể được giao để đánh giá, nhận xét”…[ tr.265]

Theo giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện tài chính, “Kiểm tra thuế là hoạtđộng của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra,

từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra

để có những nhận xét, đánh giá”

Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về luật thuế đại cương

và lý thuyết thuế”, kiểm tra thuế là “hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính

chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai” [15, tr.153]

Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét,đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cánhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung

là thuế)

1.3.1.2 Mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra thuế

Kiểm tra là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế Đặc biệt, trong bốicảnh áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, vai trò của công tác kiểm tra thuế càngtrở nên quan trọng

Trang 26

Để phát huy được vai trò công tác kiểm tra cần phải hướng vào những mụcđích sau đây:

+ Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn lậu thuế, xâm tiêutiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với các NNT và cơ quan thu thuế

+ Phát hiện những điểm bất hợp lý, chồng chéo giữa những kẽ hở trong cácluật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện để kịp thời bổ sung, sửađổi xác lập căn cứ cải tiến hệ thống tổ chức, đổi mới công tác thu thuế nhằm đạthiệu quả cao

+ Điều tra xác minh, làm sáng tỏ những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm,đơn thư tố giác của quần chúng nhân dân

Kiểm tra thuế là hoạt động có tính pháp lý cao,, liên quan đến lợi ích kinh tế

và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Vì vậy, công tác kiểm tra thuế đòi hỏiphải đảm bảo các yêu cầu:

+Kiểm tra thuế phải đảm bảo tính chính xác, khách quan trung thực, xử lýđúng tội, không bao che, không quy chụp cho các đối tượng được kiểm tra đảm bảo

sự tin tưởng của quần chúng nhân dân

+Kiểm tra thuế phải dựa vào pháp luật và chỉ tuân thủ theo pháp luật, phải coipháp luật là cơ sở pháp lý, là chuẩn mực để kết luận vấn đề, tránh biểu hiện chủquan, tuỳ tiện trong công tác xử lý

+ Kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ kịp thời, tạo điều kiện tốtnhất để quần chúng nhân dân tham gia đóng góp ý kiến

1.3.1.3 Nguyên tắc hoạt động kiểm tra thuế

Nguyên tắc chủ yếu của hoạt động kiểm tra thuế bao gồm:

- Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật

Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng nhấttrong hoạt động kiểm tra thuế

Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình Kiểm tra thuế chỉđược thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa

vụ mà pháp luật quy định Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý

Trang 27

Thực hiện nguyên tắc này chủ thể kiểm tra (cơ quan, đoàn kiểm tra và cácthành viên) khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra phải căn cứ vào các quy định của phápluật để kết luận, kiến nghị những vấn đề kiểm tra và chịu trách nhiệm trước phápluật về kết luận, kiến nghị của mình Đối tượng kiểm tra phải nghiêm chỉnh chấphành các quyết định của chủ thể kiểm tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giảitrình số liệu khi được yêu cầu.

- Bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời

Tính chính xác đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung

kiểm tra, xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận kiểm trachính xác Tính chính xác bảo đảm cho hoạt động kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao.Muốn đảm bảo tính chính xác, không chỉ đòi hỏi quan điểm đúng đắn mà còn cầnphải có kiến thức, năng lực mới có thể đem lại kết qủa chính xác

Tính khách quan yêu cầu chủ thể kiểm tra phải phản ánh đúng sự vật, hiện

tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiệntượng Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại Tínhkhách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận kiểm tra có tínhchính xác mới thể hiện được tính khách quan của hoạt động kiểm tra

Tính trung thực đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải tuân thủ các quy tắc về đạo đức

nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, bóp méo sự việc dẫnđến kết luận không đúng thực tế

Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể kiểm tra phải thông báo đầy đủ, công

khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định kiểm tra đến kết luận kiểm tra để các tổchức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện Việc công khai hoạtđộng kiểm tra nhằm nâng cao tính khách quan của hoạt động kiểm tra, hạn chếnhững tiêu cực phát sinh trong qúa trình kiểm tra Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng,tuỳ tính chất của cuộc kiểm tra cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp

để đảm bảo hiệu quả hoạt động kiểm tra

Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến,

quan điểm về những nội dung kiểm tra cũng như về hoạt động của đoàn kiểm tra cụthể, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể kiểm tra

Trang 28

Tính kịp thời: Hoạt động kiểm tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu quản lý

thuế trong những thời điểm nhất định Vì vậy, kiểm tra kịp thời ngoài việc giúp chođối tượng kịp thời nhận rõ sai phạm để sửa chữa, khắc phục ngay, tránh vi phạmkéo dài còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách phù hợpthực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế Mặt khác tính kịp thời còn đảm bảo cuộckiểm tra có biên bản, kết luận đúng thời hạn luật định, tránh tình trạng dây dưa, kéodài thời gian công bố kết luận kiểm tra

- Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra

Hoạt động kiểm tra thuế là “vấn đề hết sức nhạy cảm” và trong những năm gầnđây, vấn đề quyền và những bảo đảm thực hiện quyền của đối tượng nộp thuế đượcđặc biệt quan tâm, việc cơ quan chức năng tổ chức tiến hành kiểm tra tại cơ sơ kinhdoanh là cần thiết nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng bịkiểm tra Tình trạng kéo dài, dây dưa, không công bố kết luận kiểm tra có lúc, có nơivẫn còn tồn tại Mặt khác, do việc phân cấp quản lý và do đó sẽ có thể phát sinhnhiều đoàn kiểm tra đối tượng cùng thời điểm hoặc trong một thời gian ngắn

Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc kiểm tra chồng chéo của các

cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường của đối tượng được kiểmtra, đảm bảo về cùng một nội dung, trong một năm đối tượng chỉ bị kiểm tra mộtlần Cùng với việc thực hiện tốt nguyên tắc kịp thời trong hoạt động kiểm tra,nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của đối tượng kiểm tra

1.3.1.4 Phân loại kiểm tra thuế

Trang 29

+ Kiểm tra đột xuất được tíên hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân códấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáohoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.

- Theo nội dung và phạm vi kiểm tra

Theo tiêu thức này, kiểm tra thuế được chia thành hai loại là kiểm tra toàndiện và, kiểm tra bộ phận

+ Kiểm tra toàn diện: Với hình thức này, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tratoàn bộ công tác quản lý thu của một cơ quan thuế hoặc toàn bộ qúa trình kê khai,nộp thuế với tất cả các sắc thuế của một đối tượng nộp thuế

+ Kiểm tra bộ phận: Hình thức này thường được áp dụng khi kiểm tra mộthoặc một vài sắc thuế.; một hoặc một số kỳ tính thuế hoặc một vài quy trìnhquản lý thuế

- Theo địa điểm tiến hành kiểm tra

+ iểm tra tại cơ quan thuế (tại bàn)

+ Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuê

1.3.2 Công tác kiểm tra thuế

1.3.2.1 Quy trình kiểm tra

Quy trình kiểm tra thuế là trình tự và các bước công việc và thời gian thựchiện cụ thể, lô-gic và chặt chẽ, bắt buộc công chức thuế phải tuân thủ khi thực hiệncông tác kiểm tra thuế Để cụ thể hoá các quy định về công tác kiểm tra thuế theoquy định của Luật Quản lý thuế, hiện nay cơ quan thuế các cấp tại Việt Nam đangthực hiện công tác kiểm tra thuế theo Quy trình kiểm tra thuế được ban hành theoQuyết định số 746/QĐ-TCT ngày 20 tháng 4 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổngcục Thuế

Trang 30

Sơ đồ : Quy trình kiểm tra thuế

1.3.2.2 Nội dung kiểm tra

Nội dung kiểm tra đối tượng nộp thuế tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

- Kiểm tra, việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế

Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinhdoanh Mục tiêu của việc kê khai, đăng ký thuế nhằm giúp cho cơ quan quản lý thuếquản lý chặt chẽ NNT ngay từ khi bắt đầu hoạt động; quản lý hồ sơ NNT để lưugiữ, tra cứu, kiểm tra khi cần thiết

Căn cứ vào số liệu tổng hợp về đăng ký kinh doanh, đăng ký kê khai, nộp thuế

cơ quan thuế phối hợp với các ngành có liên quan để chuẩn bị điều kiện vật chất

Trang 31

phụ vụ tốt công tác quản lý đối với cơ sở kinh doanh theo đúng luật thuế Xác địnhnhững đối tượng còn sót chưa đăng ký kinh doanh hoặc chưa đăng ký thuế.

Nội dung kiểm tra đăng ký thuế là xem xét trên từng địa bàn, trong từng loạingành nghề có bao nhiêu đơn vị thực tế có hoạt động kinh doanh, số lượng đơn vịđăng ký và chưa kê khai đăng ký thuế và cơ sở kinh doanh đã đăng ký có làm đúngnhững quy định về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế không

Đối với mỗi cơ sở kinh doanh khi kiểm tra cần đi sâu xem xét tính pháp lý củađăng ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng kýkinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm, ngành nghề kinh doanh, thời gianthực tế kinh doanh… nhằm phát hiện và xử lý những gian lận trong kê khai đăng kýthuế Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng kýthuế vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thu thuế, để tránh bỏ sót đốitượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, bỏ sót nguồn thu

- Kiểm tra, việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ

Việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ có liên quan mật thiết đếnviệc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của Nhà nước Nội dung kiểm tra nàybao gồm: kiểm tra việc tổ chức thực hiện Luật kế toán của các cơ sở kinh doanh,việc lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ có liên quan đến việc tính thuế Nội dung củakiểm tra chứng từ, hoá đơn là xác định tính hợp pháp, hợp lý, tính trung thực củatừng loại chứng từ hóa đơn có liên quan như: hoá đơn bán hàng, phiếu xuất kho,chứng từ thu chi…

Qua kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hoá đơn đảmbảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn kịp thời việc hạch toán sai để trốn lậuthuế Do vậy, nội dung kiểm tra này cần được tiến hành thường xuyên; đây là nộidung kiểm tra phức tạp nhất, tốn nhiều thời gian và công sức nhất

- Kiểm tra việc thực hiện kê khai, tính thuế và nộp thuế

Kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhânkinh doanh Nội dung công tác kiểm tra việc kê khai tính thuế, nộp thuế bao gồm:+ Kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế là yêucầu bắt buộc phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp Trong thực tế, nhiều

Trang 32

hoạt động kinh doanh phức tạp phải kiểm tra để xác định đối tượng chịu thuế, đốitượng nộp thuế đúng với quy định của từng sắc thuế tránh bỏ sót nguồn thu.

+ Kiểm tra căn cứ tính thuế trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ, hoáđơn và các tài liệu có liên quan nhằm xác định đúng số thuế phải nộp, số thuế đãnộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của đơn vị Đối chiếu sốliệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế đơn vị đã kê khai với số liệu kiểm tratrên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của đơn vị để phát hiện số thuế đơn vị kêkhai thiếu, số thuế ẩn lậu Đây là một khâu rất quan trọng trong qúa trình kiểm trathuế, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung những quy định của các Luật thuế,các văn bản hướng dẫn thực hiện và đặc biệt phải thông thạo nghiệp vụ kế toán

+ Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT để xác định xem cơ

sở kinh doanh có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp thuế của các luậtthuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng ngân sách nhà nướckhông, có nợ đọng thuế không Đặc biệt chú trọng đến những cơ sở có biểu hiện viphạm nhiều lần, với số lượng lớn nhằm giảm thiểu tối đa khả năng thất thoát tiềnthuế của Nhà nước Để đạt được yêu cầu trên, cần đối chiếu thời gian nộp thuế theoquy định của các luật thuế với thời gian nộp thuế của cơ sở kinh doanh qua cácchứng từ nộp thuế như giấy nộp tiền vào kho bạc, biên lai thuế

Như vậy, việc kiểm tra NNT là công việc mang tính tổng hợp cao, đòi hỏi cán

bộ kiểm tra phải nắm vững các văn bản pháp luật thuế, thông thạo nghiệp vụ kếtoán, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác

1.3.2.3 Phương pháp kiểm tra

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong qúa trình kiểm tra thuế.Nội dung của phương pháp này là thực hiện việc so sánh, đối chiếu nội dung cầnkiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá, xem xét nội dung cầnkiểm tra thuế

- Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết

Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán Theo phương pháp này,trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết Việc kiểm tratổng hợp nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định hướng những nộidung cần đi sâu kiểm tra (kiểm tra chi tiết)

Trang 33

- Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc

Có ba phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:

+ Kiểm tra theo trình tự thời gian là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã đượcsắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh Phương pháp này mất nhiều thời gian và hiệuquả thấp nên ít được sử dụng

+ Kiểm tra theo loại nghiệp vụ là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã đượcphân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu, chi tiền mặt, xuất,nhập kho… Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ra kết luận đầy đủ về một loạinghiệp vụ theo yêu cầu của nội dung kiểm tra Phương pháp này tiết kiệm thời gian vàcho hiệu quả cao

+ Kiểm tra điển hình là việc kiểm tra ngẫu nhiên một số chứng từ của một loạinghiệp vụ để rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm nhiều thời gian nhưng

độ tin cậy của kết luận không cao

- Các phương pháp kiểm tra bổ trợ:

+ Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng khi cần thu thậpthông tin từ những người có quan hệ trực tiếp, gián tiếp đến nội dung kiểm tra

+ Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: Phương pháp thẩm tra và xácnhận từng phần, phương pháp quan sát…

1.3.2.4 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá công tác kiểm tra thuế

Các chỉ tiêu đánh giá công tác kiểm tra thuế được chia 2 nhóm:

Nhóm 1: Các tiêu chí định lượng

Các tiêu chí định lượng thể hiện ở các chi tiêu với những trị số phản ánh kết quảthực tế của nghiệp vụ kiểm tra đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việc thựchiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ kiểm tra Các tiêu chínày thường gồm:

Một là, Tình hình thực hiện thu NSNN so sánh giữa các năm liền kề

Hai là,Tình hình vi phạm pháp thuế đã phát hiện qua kiểm tra: Đánh giá theo loạitiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng số đốitượng kiểm tra, Tổng số tiền thuế truy thu qua kiểm tra,số tiền thuế truy thu bình quân/đối tượng kiểm tra

Ba là, Thời gian cho kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêunhư: Thời gian bình quân 1 cuộc kiểm tra; số đối tượng được kiểm tra bình quân/cán

Trang 34

bộ kiểm tra hàng năm

Bốn là, Hiệu quả trực tiếp của kiểm tra: Đánh giá theo loại tiêu chí nàythường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ các trường hợp đối tượng kiểm tra chấpnhận hoàn toàn kết luận kiểm tra; Tỷ lệ số thuế truy thu được nộp vàoNSNN/tổng số thuế truy thu

Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực tế

đa số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của tổ chức kiểmtra Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xác hơntính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá xu hướng biếnđộng của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâutrong công tác kiểm tra thuế

Nhóm 2: Các tiêu chí định tính

Các tiêu chí định tính thường là hệ quả của tổ chức kiểm tra mà không thểhoặc khó tính toán, đo đếm được Đó là những hiệu quả có tính xã hội, chính trịnhư:

Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế Tiêu chí này có thể đolường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểmtra qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được kiểm tra (mức độ táiphạm)

Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; tạo sựcông bằng giữa các đối tượng nộp thuế; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh

Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử

lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế (chia theo hình thức xử phạt)

Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản

lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động kiểm tra thuế Có thể đánhgiá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trongkiểm tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo hình thức);những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra đánh giá theo kỳ (tháng, quý,năm) và được chia theo sắc thuế; theo hình thức kiểm tra; theo loại đối tượng

Trang 35

nộp thuế và từng nội dung kiểm tra tương ứng

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác kiểm tra thuế

1.3.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí

Điều kiện kinh tế xã hội là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đếnquản lý thuế nói chung và hoạt động kiểm tra thuế nói riêng Cùng với sự phát triểnkinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay thì hệ thống luật pháp sẽdần được hoàn thiện, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càng được hiện đạihoá và số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanh chóng…Tất cả nhữngbiến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu qủa công tác kiểm tra thuế Việc có được một

hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xã hộicủa đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động kiểm tra thuế đi vào khuônkhổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp thuế hiểu và nghiêm túc thực hiện theoquy định của pháp luật Thêm vào đó, việc được đầu tư trang bị cơ sỏ vật chất kỹthuật hiện đại như: máy móc, thiết bị, hệ thống ứng dụng tin học hiện đại tích hợpđầy đủ các thông tin về từng người nộp thuế nói riêng và các thông tin ngành nóichung…cũng hỗ trợ cho công tác kiểm tra thuế được tiến hành thuận lợi, có tínhchính xác và hiệu qủa cao hơn Số lượng người nộp thuế ngày càng tăng sẽ là mộtthách thức không nhỏ đến công tác kiểm tra Bởi cùng với sự gia tăng về số lượng

sẽ là sự đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèmtheo đó là sự phức tạp, tinh vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của ngườinộp thuế Nếu không chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ (pháp lý, nhân lực,vật lực…), cơ quan quản lý thuế, nhất là bộ phận kiểm tra sẽ gặp rất nhiều khó khăntrong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu chongân sách nhà nước

Trình độ dân trí càng cao, sự hiểu biết về pháp luật thuế cũng như ý thức tựtuân thủ của người nộp thuế ngày càng đựơc cải thiện, bởi họ hiểu rõ quyền, lợi ích

và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Điều nàyảnh hưởng lớn tới hiệu qủa các cuộc kiểm tra thuế Ngược lại, cũng vị sự hiểu biết

về pháp luật thuế mà khả năng, thủ đoạn trốn, tránh thuế của người nộp thuế ngày

Trang 36

càng tinh vi, phức tạp hơn, gây khó khăn cho cán bộ kiểm tra thuế trong việc pháthiện ra các gian lận, giảm hiệu qủa kiểm tra thuế.

1.3.3.2 Mô hình quản lý thuế

Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan đồng thời cũng là một phạm trù lịch

sử, thuế xuất hiện tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của nhà nước, với sựphát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ Thuế luôn gắn chặt với sự phát triển của nhànước, sự thay đổi hình thái tổ chức nhà nước luôn kéo theo sự cải biến của hệ thốngthuế Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào ngân sách đáp ứngcho các nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước phải tổ chức việc quản lý thuế

Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện,thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy ngành thuế, thực hiện hệ thống chínhsách pháp luật thuế và hệ thống các quy trình quản lý thu để động viên một phầnthu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ và từ việclưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN nhằm trangtrải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Quản lý thuế được thực hiện theo những mô hình quản lý nhất định Lịch sửquản lý thuế cho thấy có 3 mô hình quản lý thúê cơ bản: mô hình quản lý theo sắcthuế, mô hình quản lý theo chức năng và mô hình quản lý thu theo NNT Mỗi môhình có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu qủa công tác kiểm tra thuế

- Mô hình quản lý theo sắc thuế

Đây là mô hình được “tổ chức sớm nhất” trong hoạt động quản lý thuế, đượccác ngành thuế áp dụng dựa trên nguyên tắc “sắc thuế” Theo mô hình này, cơ quanthuế được tổ chức thành các bộ phận (phòng, ban) riêng biệt để chuyên trách quản

lý một sắc thuế cụ thể Mỗi phòng, ban thực hiện tất cả các chức năng, các nghiệp

vụ để quản lý thu đối với một hoặc một vài sắc thuế Mô hình quản lý theo sắc thuế

áp dụng có hiệu quả ở cơ quan thuế Trung ương do nhiệm vụ của các cơ quan này lànghiên cứu, ban hành chính sách chế độ thu Mô hình này thích hợp đối với nhữngnước sử dụng các vấn đề nghiệp vụ cụ thể và quy trình quản lý khác nhau đối vớimỗi sắc thuế

Trang 37

Mô hình này phát huy hiệu qủa cao nhất trong từng trường hợp thanh tra mộtsắc thuế của một đối tượng nộp thuế bởi tính chuyên môn hóa theo sắc thuế cao.Tuy nhiên, trong trường hợp kiểm tra một đối tượng nộp thuế nộp nhiều sắc thuếkhác nhau lại xảy ra hiện tượng chồng chéo về chức năng kiểm tra giữa các phòngban Ở bất kỳ phòng, ban nào cũng có các bộ phận nghiệp vụ thực hiện các côngviệc như nhau, dẫn đến biên chế quản lý lớn, làm cho chi phí quản lý thu tăng lên,chi phí tuân thủ cao… Trong khi đó rủi ro thất thu thuế vẫn cao do các chức năng,nghiệp vụ quản lý thuế được khép kín, độc lập trong một phòng, ban riêng biệt.Giữa các phòng, ban trong cơ quan thuế không có sự liên kết nào nên hiện tượngthông đồng để trốn thuế giữa NNT và cán bộ kiểm tra thuế khó phát hiện nếu cácthủ tục kiểm tra nội bộ thiếu chặt chẽ và việc kiểm tra không được tổ chức thườngxuyên Đồng thơi, trình độ chuyên môn của cán bộ kiểm tra thuế không được toàndiện do kỹ năng của họ là một sắc thuế Do vậy, hiệu quả của công tác kiểm tra thuếkhông cao.

Mô hình quản lý thu theo chức năng

Theo mô hình này, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo các nhóm chứcnăng, mỗi bộ phận thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cảcác sắc thuế như: Đăng ký thuế, Xử lý tờ khai thuế và Kế toán thuế, Thanh tra thuế,Kiểm tra thuế, Thu nợ…) Quản lý theo mô hình này cho phép cơ quan thuế chuẩnhóa mạnh hơn về quy trình thủ tục làm việc đối với các loại thuế, đơn giản hóa hệthống tin học và giao tiếp với đối tượng nộp thuế, đồng thời nâng cao hiệu quảchung của ngành

Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi về NNT và tạo sự kiểm tra chéogiữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên giảm nguy cơgian lận thuế, thất thu thuế bởi bất kỳ sự thông đồng nào giữa NNT và cán bộ thuế.Đồng thời khắc phục được sự trùng lắp về chức năng thanh tra giữa các phòng bantheo mô hình quản lý thu theo sắc thuế và góp phần nâng cao năng lực chuyên mônnghiệp vụ của cán bộ kiểm tra thuế Tuy nhiên, do thông tin về NNT bị phân tánnên khi cần thông tin đầy đủ về NNT để tiến hành kiểm tra phải mất nhiều thời gian

Trang 38

để tổng hợp thông tin từ các phòng, ban chức năng khác nhau làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến kết quả kiểm tra.

- Mô hình quản lý thu theo NNT

Đây là mô hình đang được áp dụng tại một số nước phát triển Theo mô hìnhnày, NNT được phân loại để quản lý theo nhóm trên cơ sở đặc điểm và mực độ tuânthủ pháp luật thúê của NNT Do đặc điểm và mức độ tuân thủ pháp luật thuế củamỗi nhóm NNT là khác nhau nên mỗi nhóm cũng có những rủi ro khác nhau về sốthu Để quản lý hiệu qủa những rủi ro này, cơ quan thuế cần phải phát triển và thựchiện các chiến lược sao cho phù hợp với đặc tính và sự tuân thủ của từng nhóm đốitượng nộp thuế Do đó, mỗi phòng, ban trong cơ quan thuế sẽ chịu trách nhiệm quản

lý một hoặc vài nhóm đối tượng cụ thể Các nhóm NNT được phân chia dựa trên cơ

sở quy mô hoạt động, hình thức sở hữu, ngành kinh tế… Ví dụ: Nhóm doanhnghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm người làm công ăn lương…

Áp dụng mô hình này, hiệu qủa công tác kiểm tra mỗi nhóm NNT khá cao, do

có sự chuyên môn hoá theo đối tượng, kết hợp với chuyên môn hóa theo sắc thuếnên thông tin về NNT được tập trung khá đầy đủ tại các phòng, ban tương ứng vàtrình độ, năng lực của cán bộ kiểm tra thuế tương đối phù hợp với yêu cầu quản lý.Tuy nhiên, do mỗi NNT chịu sự quản lý của một phòng, ban cụ thể nên vẫn có khảnăng xảy ra tiêu cực trong quá trình kiểm tra thuế Đồng thời, mô hình này đòi hỏiphải có một đội ngũ cán bộ kiểm tra thuế có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vì

họ phải có một đội ngũ cán bộ kiểm tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vì họphải tiếp xúc và xử lý các vấn đề liên quan đến tất cả các sắc thuế của NNT

Trên cơ sở các mô hình quản lý thuế cơ bản này, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn môhình quản lý thuế phù hợp theo đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội và trình độ quản

lý của mình, có thể là một trong số các mô hình cơ bản hoặc mô hình quản lý thuếkết hợp 2 hoặc cả 3 mô hình cơ bản trên

1.3.3.3 Cơ chế quản lý thuế

Để tiến hành công tác thu nộp thuế, người ta thường chọn một trong hai cơchế: Cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và cơ sở sản xuất kinh doanh tựkhai tự nộp thuế

Trang 39

Cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế

Đây là cơ chế quản lý thuế theo đó định kỳ theo thời gian, căn cứ vào tình hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh và các quy định của pháp luật thuế, các NNT phải kêkhai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra vàtính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho NNT NNT có trách nhiệm nộpđầy đủ tiền thuế theo thông báo vào kho bạc nhà nước trong thời gian quy định Cơquan thuế kiểm tra, đối chiếu số thuế mà NNT đã nộp vào ngân sách với thông báo

Cơ chế này đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào NSNN của cácNNT Tuy nhiên, cơ chế quản lý này có một số nhược điểm ảnh hưởng đến công táckiểm tra sau:

- Hiệu quả quản lý của cơ quan thuế thấp do phải làm thay các công việccho NNT, không đủ điều kiện tập trung thời gian và công sức cho công việckiểm tra thuế…

- Dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực giữa cán bộ thanh tra thuế và NNT, làm thấtthu ngân sách nhà nước

- Trách nhiệm pháp lý của NNT đối với tính chính xác của việc tính toán sốthuế phải nộp không cao do số thuế họ phải nộp được xác định theo thông báo của

cơ quan thuế NNT có thể tính toán số thuế phải nộp một cách qua loa, đại khái, nếu

cơ quan thuế kiểm tra, tính toán không kỹ thì có thể dẫn đến xác định sai số thuếphải nộp, làm thất thu ngân sách mà các NNT không hề có lỗi

Nhìn chung, có chế này mang tính áp đặt, không nâng cao được tính tự giác,trách nhiệm công dân của NNT Do vậy, công tác kiểm tra thuế gặp nhiều khó khăn,hiệu quả thu được không cao

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, hiện nay các quốc gia trên thế giớiđang chuyển sang thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế

Cơ chế cơ sở kinh doanh tự khai tự tính tự nộp thuế

Đây là cơ chế quản lý thuế theo đó NNT căn cứ vào kết quản sản xuất kinhdoanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật về thuế

tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế cho nhà nước theođúng thời hạn quy định của pháp luật thuế Cơ quan thuế không can thiệp vào quátrình kê khai nộp thuế của NNT trừ khi phát hiện các sai sót, vi phạm hoặc các dấu

Trang 40

hiệu không chấp hành luật thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ,hướng dẫn để NNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sátchặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và thông qua công tác kiểm tra đểphát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế của NNT.

Trong cơ chế TKTN thuế, NNT phải hiểu biết đầy đủ về các quyền và nghĩa

vụ của mình để có thể tự tính toán được nghĩa vụ thuế NNT tự kê khai, tự tính sốthuế phải nộp và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trên cơ sở kết quản sản xuấtkinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần sự xác nhậntrực tiếp của cơ quan thuế Trên cơ sở số thuế đã kê khai, cơ sở kinh doanh chủđộng nộp tiền thuế vào NSNN Đồng thời, NNT được áp dụng các thủ tục kêkhai, nộp thuế đơn giản, thuận lợi và được hướng dẫn, được cung cấp các dịch

vụ hỗ trợ chất lượng cao nhằm tạo thuận lợi cho họ tự giác tuân thủ đúng nghĩa

vụ thuế theo quy định

Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế, bộ máy quản lý thuế ở

cơ quan thuế được tổ chức tập trung theo các chức năng, bao gồm các chức năngchính: Tuyên truyền, hỗ trợ NNT; Xử lý tờ khai và kế toán thuế; Thu nợ và cưỡngchế thuế; Kiểm tra thanh tra thuế Trong đó, chức năng kiểm tra thuế là chức năngtrọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế Cơ quan thuế tiếnhành kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập đủ các thông tin cần thiết về NNT (từ tờ khai,báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán và các nguồn khác) để phân tích, đánh giá xácđịnh theo các tiêu chí đánh giá rủi ro để lựa chọn NNT cần kiểm tra, thanh tra vànội dung, hình thức kiểm tra, thanh tra phù hợp Các thông tin về NNT được kiểmtra được cập nhật ngay khi có biến động trên cơ sở dữ liệu chung do Tổng cục thuếquản lý và được chia sẻ, khai thác trên phạm vi cả nước

Chỉ khi NNT nhận thức rằng cơ quan thuế đang thực hiện các chương trìnhthanh tra thuế hiệu quả và nếu gian lận về thuế, họ sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và

bị xử phạt nghiêm khắc, NNT mới tự giác thực hiện đúng nghĩa vụ thuế Trong cóchế tự khai, tự nộp thuế, công tác thanh tra không phải để nhằm tăng số thu thuế,

mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, phòng chống NNT vi phạm pháp luật thuế

Ngày đăng: 19/03/2017, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. PGS.TS Nguyễn Thị Liên(2008), Giáo trình nghiệp vụ thuế, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ thuế
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2008
8. Michel Bouvier (2008), Nhập môn về luật thuế đại cương và lý thuyết thu, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn về luật thuế đại cương và lý thuyết thu
Tác giả: Michel Bouvier
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2008
11. Trang điện tử Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn 12. Trang điện tử Tổng cục thuế: www.gdt.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: www.mof.gov.vn"12. Trang điện tử Tổng cục thuế
1. Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 2. Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 3. Luật quản lý thuế số 71/2013/QH13 Khác
4. Bộ tài chính - Tổng cục thuế Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế Khác
5. Bộ tài chính - Tổng cục thuế Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Khác
6. Bộ tài chính - Tổng cục thuế Quyết định số 746/QĐ-TCT ngày 20 tháng 4 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Khác
9. Chi cục thuế Quận Thanh Xuân (2012 - 6 tháng đầu năm 2015), Báo cáo tổng kết Khác
10. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam(2015),Đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế-mức độ hài lòng của doanh nghiệp 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Quy trình kiểm tra thuế - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
uy trình kiểm tra thuế (Trang 30)
Bảng 2.1.  Số liệu số lượng DN NQD trên địa bàn Quận Thanh Xuân - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.1. Số liệu số lượng DN NQD trên địa bàn Quận Thanh Xuân (Trang 45)
Bảng 2.4:  Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.4 Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế (Trang 50)
Bảng 2.5:  Kêt quả kiểm tra trụ sở ngừời nộp thuế - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.5 Kêt quả kiểm tra trụ sở ngừời nộp thuế (Trang 51)
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp doanh nghiệp nợ thuế sau kiểm tra tại trụ sở - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp doanh nghiệp nợ thuế sau kiểm tra tại trụ sở (Trang 52)
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp doanh nghiệp vi phạm chế độ kế toán qua các năm: - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp doanh nghiệp vi phạm chế độ kế toán qua các năm: (Trang 54)
Hình để minh họa công tác kiểm tra chấp hành pháp luật thuế tại doanh nghiệp do - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
nh để minh họa công tác kiểm tra chấp hành pháp luật thuế tại doanh nghiệp do (Trang 57)
Bảng 2.10 Kết quả thu NSNN qua công tác kiểm tra thuế. - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.10 Kết quả thu NSNN qua công tác kiểm tra thuế (Trang 62)
Bảng 2.13 Bảng báo cáo số thu trên địa bàn quận Thanh Xuân  năm 2014 - luận văn thạc sĩ  tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận thanh xuân
Bảng 2.13 Bảng báo cáo số thu trên địa bàn quận Thanh Xuân năm 2014 (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w