1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình

140 358 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 493,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia: Nói chuyện, phỏng vấn các chuyên gia kinh tế trong nước để nghe ý kiến, quan điểm của chuyên gia về thựctrạng công tác quản lý thu thuế các

Trang 1

TÓM LƯỢC

Thuế là nguồn thu quan trọng của Nhà nước, đảm bảo cho tất cả nhu cầu tàichính, chi tiêu của Chính phủ để phát triển nền kinh tế và an sinh xã hội Do đó,nguồn thu từ thuế phải được ổn định và vững chắc Trước yêu cầu như vậy, công tácquản lý thu thuế ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết Cơ quan thuế nói chung

và Cục thuế tỉnh Thái Bình nói riêng phải không ngừng nâng cao chất lượng quản lýthu thuế để đảm bảo công bằng cho tất cả mọi thành phần trong nền kinh tế thựchiện nghĩa vụ nộp thuế và huy động kịp thời nguồn thu cho NSNN

Trong sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, loại hình DNNQD ngàycàng chiếm tỷ trọng cao trong các loại hình DN, là đối tượng có đóng góp rất lớncho NSNN Tuy nhiên, ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của DNNQD còn chưacao, ngày càng có nhiều hành vi vi phạm về thuế như trốn thuế, gian lận thuế gâykhó khăn cho công tác quản lý của cơ quan thuế và thất thoát nguồn thu cho NSNN.Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tất cả mọihoạt động QLNN trong đó có quản lý thu thuế đều phải được cải cách cho phù hợp Trước tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý thu thuế đối với DNNQD trênđịa bàn tỉnh Thái Bình” Nhóm tác giả sẽ đi phân tích các nội dung sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến thuế, DNNQD, quản lý thuthuế, quản lý thu thuế đối với các DNNQD, phương pháp, công cụ quản lý thuế, nộidung và tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế đối với các DNNQD

- Từ những cơ sở lý luận, tác giả nghiên cứu cụ thể thực trạng quản lý thuthuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình Tác giả rút ra được những thànhcông, hạn chế và nguyên nhân của thành công, hạn chế trong công tác quản lý thuthuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề trên, tác giả đưa ra một số giải pháp choCục thuế tỉnh Thái Bình và kiến nghị với Nhà nước, các cơ quan chức năng nhằm nângcao chất lượng quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Kết cấu đề tài 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 9

1.1 Khái quát chung về thuế và đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh 9

1.1.1 Khái quát chung về thuế 9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp ngoài quốc doanh 25

1.2 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 27

1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý thu thuế 27

Trang 3

1.2.2 Phương pháp và công cụ quản lý thu thuế 31

1.2.3 Nội dung quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 33

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 40

1.3.1 Yếu tố khách quan 40

1.3.2 Yếu tố chủ quan 41

1.4 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và bài học cho Cục thuế tỉnh Thái Bình.43 1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số địa phương 43

1.4.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý thuế của các địa phương 48

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 51

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình 51

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên 51

2.1.2 Tình hình kinh, tế xã hội của tỉnh Thái Bình 52

2.1.3 Khái quát về tình hình phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình 55

2.2 Tổ chức bộ máy và thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình 59

2.2.1 Tổ chức bộ máy thu thuế của cục thuế tỉnh Thái Bình 59

Trang 4

2.2.2 Thực trạng triển khai các hoạt động quản lý thu thuế đối với

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình 63

2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tỉnh Thái Bình 105

2.3.1 Những thành tựu trong công tác quản lý thu thuế 105

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý thu thuế 108

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 112

3.1 Quan điểm định hướng nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại cục thuế tỉnh Thái Bình 112

Định hướng chung: 112

Định hướng cụ thể 113

3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình 115

3.2.1 Giải pháp và đề xuất chung 115

3.2.2 Giải pháp và đề xuất cho 4 chức năng quản lý thuế 118

3.2.3 Một số kiến nghị 124

KẾT LUẬN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH - HĐH

CNTT

CP

DN

DNNQD

GTGT

HTKK

KBNN

KK&KTT

NNT

NSNN

TNDN

TNHH

TTHT

TP UBND

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Công nghệ thông tin

Cổ phần Doanh nghiệp DNNQD Giá trị gia tăng

Hệ thống kê khai Kho bạc Nhà nước

Kê khai và kế toán thuế Người nộp thuế

Ngân sách Nhà nước Thu nhập doanh nghiệp Trách nhiệm hữu hạn Tuyên truyền, hỗ trợ Thành phố

Ủy ban nhân dân

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình 58

Bảng 2.2: Lao động Cục Thuế tỉnh Thái Bình năm 2013 - 2015 62

Bảng 2.3: Tình hình cơ sở vật chất Cục Thuế tỉnh Thái Bình 63

Bảng 2.4: Kết quả công tác tuyên truyền 65

Bảng 2.6: cách giải quyết vướng mắc của người nộp thuế 69

Bảng 2.5: Kết quả công tác hỗ trợ doanh nghiệp chấp hành luật thuế 71

Bảng 2.6: Quản lý cấp mã số thuế cho doanh nghiệp mới thành lập 73

Bảng 2.7: Tỷ lệ doanh nghiệp mới thành lập phải điều chỉnh, bổ sung thông tin 74

Bảng 2.8: Số lượng doanh nghiệp thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế 75

Bảng 2.9: Thời gian Phòng kê khai kế toán thuế hoàn thành thay đổi thông tin ĐKKD 76

Bảng 2.10: Số lượng tờ khai phải nộp của các doanh nghiệp 78

Bảng 2.11: Số doanh nghiệp phải bổ sung thông tin để xác định tình trạng kê khai thuế 79

Bảng 2.12: Số lượng hồ sơ phải điều chỉnh qua kiểm tra tại bộ phận một cửa và Phòng KKKTT 81

Bảng 2.13: Số thư và thông báo yêu cầu nộp HSTK 83

Bảng 2.15: Xử lý đối với việc chậm nộp hồ sơ khai thuế 85

Bảng 2.16: Kết quả công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế tỉnh 87

Trang 7

Thái Bình 87 Bảng 2.18: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình 90 Bảng 2.19: Ấn định thuế và kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại doanh nghiệp sau kiểm tra HSKT tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình 91 Bảng 2.20: Kết quả công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại doanh nghiệp .92 Bảng 2.21: Số tiền thuế nợ phân loại theo tính chất nợ tính đến 31/12 hàng năm 95 Bảng 2.23: Số lượng thư mời và tỷ lệ doanh nghiệp đến cơ quan thuế thực hiện đối chiếu tiền thuế nợ 98 Bảng 2.24: Tỷ lệ nguyên nhân dẫn tới sai sót trong việc theo dõi tiền thuế nợ.99 Bảng 2.25: Kết quả công tác cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp 101 Bảng 2.26: Mức động viên thuế, phí, lệ phí và khoản thu khác vào NSNN 103 Bảng 2.27: Tổng hợp số thu thuế Cục Thuế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2013 - 2015 104 Bảng 2.28: Kết quả thu ngân sách nhà nước năm 2013, 2014, 2015 105

DANH MỤC BIỂU

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng conđường công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi sự pháttriển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh đã tăng lên nhanh chóng và tham gia ngày càng tích cực vào thị trường, làmtăng sự sôi động trong nền kinh tế Trong 5 năm qua đã có thêm 285.224 doanhnghiệp ngoài quốc doanh đăng ký hoạt động, gấp 3 lần tổng số doanh nghiệp

thành lập trong 10 năm 2001 - 2010 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò vô

cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là các nướcđang phát triển Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp khoảng 50% GDP và63% việc làm của toàn thế giới, ngoài quốc doanh Việt Nam đóng góp vào GDP là

50% và gần 90% việc làm (Tài liệu Hội thảo “Giải pháp phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh”- do Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông - 2012) Con số

trên đủ nói lên tầm quan trọng và những đóng góp to lớn của các doanh nghiệpngoài quốc doanh đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Làm thế nào để quản lýthu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt kết quả cao là câu hỏi đặt

ra với tất cả các địa phương trên cả nước, trong đó có tỉnh Thái Bình

Thái Bình - một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, với địahình tương đối bằng phẳng, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng tamgiác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đất đai Thái Bình phìnhiêu màu mỡ, nổi tiếng là “bờ xôi ruộng mật” do được bồi tụ bởi hệ thống sôngHồng và sông Thái Bình với tổng diện tích tự nhiên 156.650 ha với hệ thống kết cấu

hạ tầng đã và đang được xây mới, nâng cấp mở rộng mang tính chất liên kết vùng,quốc gia, tạo điều kiện cho các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế - xã hội diễn rathuận lợi hơn Trong thời gian qua, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh TháiBình đã có nhiều bước phát triển quan trọng, ngày càng giữ vai trò to lớn trong sựphát triển kinh tế của tỉnh Trong định hướng phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh là

Trang 9

tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lũy kếđến tháng 11/2015, trên địa bàn tỉnh có 5.680 doanh nghiệp, 482 chi nhánh và văn

phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký khoảng 96.900 tỷ đồng (Số liệu: Sở KH&ĐT Thái Bình), số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động trên

địa bàn Tỉnh khá lớn Theo đánh giá, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địabàn Tỉnh hoạt động kinh doanh đúng pháp luật, đã khai thác được tiềm năng thếmạnh của địa phương như vốn, lao động, tay nghề, bậc thợ, nhất là ở những địaphương có làng nghề truyền thống Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Thái Bình

đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu cho Ngânsách, cải thiện đời sống cho nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đóng góp đáng kể vào

sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh đóng góp vào ngân sách Nhà nước của cả nước nói chung và của tỉnh TháiBình nói riêng có xu hướng ngày càng tăng cao Tổng thu Ngân sách Nhà Nước củacác doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng nhiều từ 30% – 50%tổng số nguồn thu ngân sách của Tỉnh

Thuế là nguồn thu chủ yếu, lâu dài và là bộ phận quan trọng nhất của ngânsách Nhà nước Thông qua việc thu thuế Chính phủ ban hành các chính sách để pháttriển kinh tế xã hội, xây dựng các công trình công cộng, cải thiện hệ thống an sinh

xã hội Vì vậy, việc quản lý thu thuế sao cho thu đúng, thu đủ luôn được đặt ra đểtạo nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuếcủa người dân và doanh nghiệp trong cả nước

Lịch sử càng phát triển, các hệ thống thuế khóa, các hình thức thuế khóa

và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh

tế thị trường Đồng thời, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thịtrường và xu thế hội nhập quốc tế làm cho môi trường kinh tế ngày càng phức tạp

và gia tăng cạnh tranh Trong điều kiện đó Nhà nước có vai trò hoàn thiện và thựchiện hiệu quả hơn nữa công tác quản lý thu thuế nhằm đảm bảo tạo lập môi trườngkinh doanh lành mạnh giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do đó để đảm bảo

Trang 10

phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,việc tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính trong đó hệ thống chính sách thuế

là hết sức cần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giảiquyết tốt các mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng vớicông bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo

Với tầm quan trọng đó, Cục Thuế tỉnh Thái Bình đã rất nỗ lực trong quản

lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tuy nhiên, do phạm vi hoạtđộng rộng, cũng như trình độ quản lý còn nhiều bất cập dẫn đến việc chấp hànhchính sách pháp luật nói chung cũng như pháp luật thuế nói riêng còn hạn chế, dẫnđến thất thu ngân sách nhà nước

Mặt khác, trong giai đoạn vừa qua, kinh tế của Tỉnh Thái Bình cũng chịu tácđộng không nhỏ của những biến động trên thế giới cũng như trong nước Trước bốicảnh chung đó, nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Thái Bình cũng gặp khókhăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tốc độ tăng trưởng giảm, tỷ suất sinh lời

từ vốn đầu tư thấp, năng suất lao động bình quân giảm, hiệu quả kinh doanh thấp.Nhiều doanh nghiệp phải giải thể, phá sản hoặc tạm ngừng kinh doanh Để đứngvững và vượt qua những khó khăn, thách thức trong giai đoạn nền kinh tế thế giới

và trong nước còn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, nhiều nguy cơ xấu hơn đòi hỏicác doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Thái Bình phải không ngừng nâng cao hiệuquả kinh doanh của mình, tăng sức cạnh tranh trên thương trường Do vậy, để đảmbảo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế của mìnhđối với Nhà nước thì việc tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh rất quan trọng và cần thiết Những yếu tố nêu trên đặt ramột yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý thuế Theo chúng tôi đượcbiết, trong thời gian qua đã có nhiều công trình cấp địa phương, trung ương nghiêncứu về vấn đề quản lý thu thuế Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu cụthể quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái

Bình Chính vì lý do trên, nhóm tác giả chọn đề tài “Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình”

Trang 11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Quản lý thuế là nhiệm vụ được chính quyền trung ương và chính quyền địaphương hết sức quan tâm vì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, đặcbiệt trong giai đoạn hiện nay, nguồn thu thuế của ngân sách Nhà nước có phần sụt giảmđáng kể do thời gian đầu hội nhập và suy giảm kinh tế toàn cầu

Hiện nay ở Việt Nam có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thuếđược công bố Các công trình nghiên cứu về thuế có thể được sắp xếp theo ba chủ

đề như sau:

Về “Hoàn thiện chính sách thuế của Việt Nam trong các giai đoạn” có các

luận án tiến sĩ: “Các giải pháp hoàn thiện cải cách hệ thống thuế ở Việt Nam” của NCS Nguyễn Văn Hiệu, năm 2003; “Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (minh họa tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam)” của NCS Trần Ngọc Hoàng, năm 2004; “Các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế góp phần phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2010” của NCS Ngô Bình Chung, năm 2005; “Chính sách thuế với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của NCS Lê Xuân Trường, năm 2006; “Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập ở Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của NCS Nguyễn Xuân Sơn, năm 2007; “Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO” của NCS Vương Thị Thu Hiền, năm 2008;

“Đổi mới chính sách thuế tiêu dùng ở Việt Nam” của NCS Lê Thu Huyền, năm 2008; “Hoàn thiện chính sách thuế đánh vào tài sản ở Việt Nam” của NCS Nguyễn

Đình Chiến, năm 2008

Về “Nâng cao vai trò của thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô” có các luận

án: “Hoàn thiện hệ thống thuế nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để thuế thực sự trở thành công cụ chính của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường” của NCS Chu Văn Tuấn, năm 2001; “Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam” của NCS Tạ Văn Lợi, năm 2003; “Góp phần nâng cao vai trò của thuế ở Việt Nam

Trang 12

trong điều kiện hội nhập” của NCS Lê Phú Hào, năm 2007; “Nâng cao vai trò của thuế - công cụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa ở Việt Nam” của NCS Nguyễn

Kim Quyến, năm 2007

Về “Giải pháp tăng cường quản lý thuế”, có các luận án: “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế xuất nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam” của NCS Nguyễn Danh Hưng, năm 2004; “Đổi mới quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam” của NCS Lê Duy Thành, năm 2007; “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống của Hà Nội)” của NCS Nguyễn Thị Lệ Thúy, năm 2009; “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế” của NCS Lý Phương Duyên, năm 2010; Phạm Thị Hồng Loan (2014), Hoàn thiện thông tác quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Tuyên Quang Luận văn Thạc

sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên Trongnghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích thực trạng trong công tác quản lý thuếtrên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thông qua bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế

Từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế trên địa

bàn tỉnh Tuyên Quang; Nguyễn Phùng Hạnh (2015), Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn thạc

sỹ quản lý kinh tế Luận văn đề cập đến các nội dung cơ bản của công tác quản lýthu thuế đối với doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn của một một tỉnh bao gồmquản lý các thủ tục hành chính về thuế, quản lý quy trình thu thuế và giám sát việctuân thủ pháp luật về thuế Nghiên cứu cũng đề cập đến những yếu tố cơ bản ảnhhưởng đến quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn của mộthuyện và giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu thuế sao cho có hiệu quảCác công trình nêu trên nghiên cứu ở từng khía cạnh như: hoàn thiện chínhsách thuế, tăng cường quản lý thu thuế hay nâng cao vai trò của thuế trong việc điềutiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của Nhà nước, hầu hết thuộc chuyên ngành Tài chính

- Lưu thông tiền tệ và tín dụng hoặc chuyên ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng.Chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp về quản lý thuế theo tiếp cận quản lý kinh

Trang 13

tế Bên cạnh đó, một số địa phương hoặc vùng kinh tế được nghiên cứu trong cácluận án về thuế trước đây, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể quản

lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình tronggiai đoạn 2014 - 2016

Như vậy có thể khẳng định nghiên cứu về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo tiếp cận quản lý kinh tế trong bốicảnh hiện nay là một chủ đề khá mới, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy

đủ, có hệ thống về vấn đề này Do vậy, đề tài “Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình” không trùng lắp với các công trình

nghiên cứu đã được công bố trước đó

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địabàn Tỉnh Thái Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

* Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian

Đề tài nghiên cứu tại các Chi cục thuế và DNNQD trên địa bàn Tỉnh TháiBình

* Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian

Đề tài phân tích dữ liệu giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016 và đề xuất địnhhướng đến năm 2025

* Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung về thuế, thực trạng quản lý thu thuếđối với DNNQD trên địa bàn Tỉnh Thái Bình trên các nội dung sau: Chính sách vàpháp luật về thuế; Tổ chức bộ máy thu thuế; Quản lý quy trình thu thuế; Thanh tra,kiểm tra thuế; Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Phương pháp định tínhđược dùng để khái quát hóa, mô tả các khái quát chung về quản lý thuế, đặc điểmdoanh nghiệp ngoài quốc doanh, Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốcdoanh , từ đó đánh giá thực trạng về công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệpngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàntỉnh Thái Bình

Nhóm tác giả trực tiếp làm việc tại các sở, ngành, các chi cục thuế các huyện,thành phố Thu thập thông tin, tài liệu, xử lý số liệu, phân tích thông tin, tài liệu vềcông tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 2014 -

2016

Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:

- Phương pháp điều tra khảo sát: Đề tài sử dụng mẫu phiếu điều tra, được

thực hiện với hai nhóm đối tượng gồm 150 người nộp thuế (doanh nghiệp ngoàiquốc doanh) và cán bộ thuế thuộc các Chi Cục thuế trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Trang 15

- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu: Tác giả thu thập thông tin

chủ yếu là dữ liệu thứ cấp thông qua tài liệu, giáo trình, đề án, website, báo cáo củacác cơ quan thuế có liên quan, Sau khi đã thu thập được thông tin thứ cấp, tác giảtiến hành xử lý số liệu thể hiện qua bảng biểu, đồ thị

- Phương pháp khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia: Nói chuyện, phỏng vấn các

chuyên gia kinh tế trong nước để nghe ý kiến, quan điểm của chuyên gia về thựctrạng công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Phương pháp thống kê mô tả sử dụng dữ liệu thứ cấp để hỗ trợ quá trình lập

luận: các số liệu thống kê qua các báo cáo, website, thống kê của các cơ quan thuế

để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá toàn diện nội dung hoạt động quản lý thuthuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Phương pháp quy nạp và diễn dịch, đánh giá và so sánh: Trên cơ sở phân tích

những nội dung cơ bản của quản lý thu thuế đối với với doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đề tài sử dụng phương pháp quy nạp để đưa ranhững đánh giá mang tính khái quát về thực trạng quản lý thu thuế đối với với doanhnghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần lời cam đoan, lời cảm ơn, tóm lược, mục lục, các danh mục, phần

mở đầu thì đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thuế và quản lý thu thuế đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh

Chương 2 Thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trên địa bàn Tỉnh Thái Bình

Chương 3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tỉnh Thái Bình

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.1 Khái quát chung về thuế và đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.1.1 Khái quát chung về thuế

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một

sự cần thiết khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thihành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Để có nguồn lựcvật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình,Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cảicủa xã hội Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước cóthể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đónggóp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắtbuộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế

Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện

Theo các nhà kinh điển, “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không

bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” (Lê-nin toàn tập, tập 15) Nhà kinh tế học

Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” (Gaston Jeze, “Finances Publiques”,1934) đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế Theo tác

giả, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện, theo đó: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân

Trang 18

đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”.

Trên góc độ phân phối thu nhập, Thuế được hiểu là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ Ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Trên góc độ người nộp thuế thì thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.

Trên góc độ kinh tế học: thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Có thể nhận thấy rằng, đứng trên các góc độ khác nhau để nghiên cứu sẽ cónhững nhận định về thuế là khác nhau Tuy nhiên, từ các quan điểm trên ta có thểrút ra được một số đặc trưng chung của thuế là:

- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phátsinh giữa nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội

- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này phát sinh một cách khách quan và

có ý nghĩa xã hội đặc biệt Việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theomệnh lệnh của Nhà nước

- Xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước đượcpháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định

- Nguồn thu từ thuế được Nhà nước sử dụng cho mục đích thực hiện các chứcnăng kinh tế - xã hội

Từ các đặc trưng trên của thuế, ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế:

“Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà

Trang 19

nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.”

Do vậy, thuế có các đặc điểm sau: tính bắt buộc; tính không hoàn trả trực tiếp; tínhpháp lý cao

Thứ nhất, thuế có tính bắt buộc

Tính bắt buộc của thuế là tất yếu khách quan xuất phát từ đặc tính của hànghóa công cộng Với đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung vàkhó có thể loại trừ, Nhà nước luôn là chủ thể cung cấp đại bộ phận hàng hóa côngcộng cho xã hội nhằm đảm bảo độ thỏa dụng tối đa của xã hội Song không ai tựnguyện trả tiền cho việc thu hưởng hàng hóa công cộng do Nhà nước đầu tư cungcấp như quốc phòng, môi trường pháp luật, phòng dịch bệnh, tu sửa đê điều… Vìvậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, tất yếu Nhà nước phải sử dụng quyềnlực của mình để bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải nộp thuế cho Nhà nước.Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi thểnhân và pháp nhân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và được thể chế hóatrong hiến pháp của mọi quốc gia Nhà nước ấn định, ban hành các luật thuế và

tổ chức bộ máy quản lý thu thuế; các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ thựchiện theo đúng luật định Thể chế hóa thu nộp thuế bằng các văn bản pháp luậtmột mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác nhằm tránh tùy tiện trongviệc thu thuế và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

Đặc điểm này chỉ rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, đượchình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viênmang tính chất bắt buộc của nhà nước Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hìnhthức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước mà không kèm theo một sựcấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế

Thứ hai, thuế có tính không hoàn trả trực tiếp

Thuế không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng

từ hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp Các thể nhân, pháp nhân thực

Trang 20

hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định không có quyền đòi hỏi Nhànước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa nào đó hoặc hoàn trả sốthuế họ đã nộp theo đúng luật định Mức độ chuyển giao thu nhập của các thểnhân và pháp nhân cho Nhà nước thông qua thuế được xác định dựa trên cơ sởthực trạng kinh tế - xã hội, mục tiêu phát triển đất nước và nhu cầu tài chínhchung của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể.

Đặc điểm này giúp ta phân biệt thuế với các khoản thu phí, lệ phí vào NSNN.Phí và lệ phí cũng là các khoản thu mang tính bắt buộc của Nhà nước, nhưng phí và

lệ phí được gắn trực tiếp với việc khai thác và hưởng thụ lợi ích từ những dịch vụcông cộng nhất định do Nhà nước cung cấp

Tuy vậy, thuế là khoản động viên của Nhà nước mang tính chất hoàn trả giántiếp Sự hoàn trả này được thể hiện thông qua việc khai thác hưởng thụ lợi ích từhàng hóa công cộng do Nhà nước đầu tư cung cấp của các thể nhân và pháp nhântrong xã hội

Thứ ba, thuế có tính pháp lý cao

Thuế được quy định mang tính bắt buộc bởi hệ thống pháp luật chặt chẽ, do

đó, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế, thời gian cụ thể và các chếtài cưỡng chế khác sẽ phải thực hiện nghĩa vụ một cách nghiêm túc theo pháp luật

Vì vậy, để bắt buộc các công dân: "tự nguyện" nộp thuế thì nhà nước phải sửdụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp Nhà kinh

tế học Joseph E.Stiglitz nói rằng: "Việc chuyển giao bắt buộc này giống như là ăntrộm, chỉ có một điểm khác chủ yếu là trong khi cả hai chuyển đều là không tự nguyện,thì cách chuyển qua Chính phủ có mang tấm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng doquá trình chính trị ban cho" (20, tr 31)

Thứ tư, Thuế là một hình thức phân phối của cải xã hội chứa đựng các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội.

Trang 21

Nhà nước đánh thuế thực chất là Nhà nước tham gia vào phân phối thu nhậpcủa các thể nhân, pháp nhân nhằm tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dânvào trong tay Nhà nước và điều tiết thu nhập giữa các thể nhân, pháp nhân.

Nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau, chính sách thuế củamột quốc gia luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và lợi ích của mọi thể nhân,pháp nhân; vì vậy, chính sách thuế luôn chứa đựng yếu tố chính trị - kinh tế - xã hộirộng lớn

Nguồn thu thuế là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội và thuế có tácđộng đến lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội, tác động đến mọi hoạt động kinh tế -

xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, thấtnghiệp, công bằng xã hội…

1.1.1.2 Vai trò của thuế

Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội

bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứngqua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợnước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế

đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi làkhoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh

tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng Ở nước ta, thuế thực sự trở thànhnguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Nguồn thu từ thuế thường chiếm trên90% tổng thu NSNN Vì vậy, để thuế là nguồn thu vững chắc cho NSNN thì Nhànước phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các sắc thuế, thuế suất, phảiphù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và thu nhập quốc dân

Thứ hai, thuế góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô và kích thích tăng trưởng kinh tế.

Thuế được coi là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô nhạy bén và có hiệu quả.Chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấuđầu tư và sự phát triển hoặc suy thoái của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường,

Trang 22

Nhà nước sử dụng thuế để góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thíchđầu tư, phân phối lại sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội Ngoài

ra, thuế là công cụ rất quan trọng để bảo hộ sản xuất trong nước và tăng cường khảnăng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế

1.1.1.3 Các sắc thuế chủ yếu đối với doanh nghiệp

Hiện nay, hệ thống thuế ở Việt Nam có 9 sắc thuế: Thuế thu nhập cá nhân;Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế giá trị gia tăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế tàinguyên; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Thuế bảo vệ môi trường; Thuế sử dụngđất nông nghiệp; Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Chuyển thuế môn bài thành mộtkhoản thu lệ phí quản lý hoạt động kinh doanh hàng năm Trong các sắc thuế trong

hệ thống thuế hiện nay ở Việt Nam thì sắc thuế chủ yếu đối với doanh nghiệp là:thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên, thuế xuất nhậpkhẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

* Thuế thu nhập doanh nghiệp

Để hiểu rõ khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp, trước hết cần hiểu về thunhập Xét về khía cạnh kinh tế, thu nhập là chỉ một bộ phận tài sản tăng thêm trongmột thời gian nhất định và luôn gắn với một chủ thể nhất định thể hiện tính sở hữucủa thu nhập như của một cá nhân, thu nhập của một doanh nghiệp…; Xét về khíacạnh pháp lý, không phải toàn bộ thu nhập phải chịu thuế mà thu nhập chịu thuế làthu nhập thực tế phát sinh, tức là thu nhập nhận được sau khi đã trừ đi các chi phí.Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập thực tế phát sinh của cá nhân và phápnhân Trường hợp đánh vào thu nhập thực tế của cá nhân được gọi là thuế thu nhập

cá nhân Trường hợp đánh vào thu nhập thực tế của pháp nhân, nó được gọi là thuếthu nhập doanh nghiệp

Vậy, Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí hợp lí, hợp pháp liên quan đến thu nhập của đối tượng nộp thuế

Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đốitượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, người có nghĩa vụ nộp thuế đồng thời làngười chịu thuế trên thu nhập thực tế mà mình được hưởng Chính vì vậy, thuế trực

Trang 23

thu không được tính vào cơ cấu giá thành hàng hoá dịch vụ và không được trừ vàochi phí khi tính thu nhập tính thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh.

Thuế thu nhập doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình và phản ánh mức độ

và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Sự vận hành củaloại thuế này được thực hiện trên cơ sở những quy định của luật Thuế thu nhập donhà nước ban hành, theo đó, chênh lệch giữa doanh thu, thu nhập, chi phí để xácđịnh định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định dựa trên cơ sở tínhthuế theo qui định của luật thuế Trong khi đó, việc xác định và ghi nhận các khoảndoanh thu, thu nhập, chi phí này được thực hiện trên cơ sở những quy định củachuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành và sự lựa chọn chính sách kếtoán của doanh nghiệp, do đó lợi nhuận kế toán được xác định trên cơ sở ghi nhậncủa kế toán Sự khác biệt về cơ sở tính thuế thu nhập và cơ sở ghi nhận của lợinhuận kế toán đã làm nảy sinh những chênh lệch giữa thu nhập tính thuế và lợinhuận kế toán, đây là nguồn gốc phát sinh của những chênh lệch tạm thời và chênhlệch vĩnh viễn, trong đó chênh lệch tạm thời làm phát sinh thuế thu nhập doanhnghiệp hoãn lại Vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thuế thu nhập doanhnghiệp hiện hành và thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

Thuế TNDN một nguồn thu lớn cho NSNN và có các đặc điểm riêng biệt đểphân biệt với các sắc thuế khác như sau:

Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu: Tính chất trực thu

của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đốitượng chịu thuế

Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế phải nộp cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự: Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn

có của thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, điều này để phân biệt thuế TNDNvới các hình thức huy động tài chính khác của Ngân sách Nhà nước Đặc điểm nàyxác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những quan hệ tiền tệ được hìnhthành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt Phân phối mang tính bắtbuộc dưới hình thức thuế TNDN là một phương thức phân phối của Nhà nước mà

Trang 24

kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của doanh nghiệp được chuyểngiao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nàokhác cho người nộp thuế.

Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN được biểu hiện trên

các khía cạnh:

Một là, việc nộp thuế không mang tính đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầnglớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ ngườinộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp.Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa,dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhậpcho Nhà nước, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũngkhông nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao

Hai là, việc nộp thuế không được hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là người nộp thuếsuy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấpchung cho cả cộng đồng giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng vớikhoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước

Thứ tư, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế được quy định trước bằng pháp luật: Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt

khác phản ánh việc nộp thuế không mang tính tùy tiện mà dựa trên những cơ sởpháp luật nhất định và đã được xác định trước trong luật thuế TNDN Những tiêuthức thường được xác định trong luật thuế TNDN là đối tượng chịu thuế, đối tượngnộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chếkhác Các khoản chuyển giao thuế thu nhập dưới hình thức thuế thu nhập doanhnghiệp chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lýcủa Nhà nước đối với con người và tài sản

Thứ năm, Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập

cá nhân Thu nhập mà cá nhận nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần,

lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết là phần thu nhập được

Trang 25

chia sau khi nộp thuế TNDN.

* Thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được áp dụngđầu tiên trên thế giới tại Pháp vào năm 1954, với ưu điểm nổi bật của thuế GTGT làđảm bảo nguồn thu kịp thời cho ngân sách nhà nước và khắc phục được tình trạngtrùng lắp của thuế doanh thu Cho đến nay, thuế GTGT đã được áp dụng phổ biếntrên thế giới, ở Việt Nam thuế GTGT được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 1999 Thuế GTGT là loại thuế tính trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phátsinh từ các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Người nộp thuếchỉ tính số thuế phải nộp trên cơ sở khoản chênh lệch giữa số thuế tính trên sảnphẩm bán ra và số thuế tính trên sản phẩm mua vào, người tiêu dùng là người gánhchịu toàn bộ số thuế này vì họ là người thực hiện mua hàng nhưng không thực hiệnviệc bán hàng

Như vậy, thuế GTGT tính trên phần giá trị mới được tạo ra (giá trị gia tăng)của hàng hóa dịch vụ trên mỗi công đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông, tiêudùng Không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, khắc phụcđược tình trạng “thuế chồng lên thuế“, từ đó khuyến khích sản xuất kinh doanh,xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu ngân sách nhà nước

Thuế GTGT có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, thuế GTGT là thuế gián thu: Đối tượng nộp thuế GTGT là người

cung ứng hàng hóa, dịch vụ Người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Ngườibán hàng khi bán hàng sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán hàng hóa, dịch vụ màngười mua phải trả khi mua hàng hóa, dịch vụ Tiền thuế GTGT được tính trong giáthanh toán của hàng hóa, dịch vụ được các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp vào ngânsách nhà nước thay cho người tiêu dùng

Như vây, tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện là người mua (người tiêudùng cuối cùng) là người chịu khoản thuế này nhưng không trực tiếp đứng ra nộpthuế vào ngân sách nhà nước, mà họ phải trả khoản thuế cho người bán hàng hóadịch vụ khi thực hiện việc mua của hàng hóa dịch vụ đó, người bán thực hiện nộp

Trang 26

khoản thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước theo phương pháp khấu trừthuế hoặc phương pháp trực tiếp.

Thứ hai, thuế GTGT là thuế đánh nhiều giai đoạn không trùng lắp: Thuế

GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạncủa quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm củamỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuếtính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán cuối cùng Tuy nhiên, trênthực tế khó xác định được đâu là khâu bán cuối cùng, đâu là khâu trung gian Dovậy, cứ khi thực hiện mua hàng hóa, dịch vụ là phải tính thuế, người tiêu dùng sẽ làngười chịu toàn bộ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó Tổng số thuế ngườitiêu dùng trả cuối cùng bằng tổng số thuế phát sinh đã được người bán (cơ sở sảnxuất kinh doanh) kê khai và nộp qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinhdoanh hàng hóa dịch vụ

Thứ ba, tính trung lập cao: Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp của kết

quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay măt ngườitiêu dùng nộp hộ các khoản thuế vào ngân sách nhà nước Do vậy, thuế GTGTkhông phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thuế đượccộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa dịch vụ đó

Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trìnhsản xuất kinh doanh, vì quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sảnphẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế phải nộp của tất

cả các giai đoạn vẫn đúng bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng

Thứ tư, thuế GTGT là thuế lũy thoái so với thu nhập: Thuế GTGT tính vào

hàng hóa dịch vụ và người tiêu dùng là người phải trả khoản thuế đó, không phânbiệt thu nhập cao hay thấp, số thuế phải nộp là như nhau nếu mua cùng một loạihàng hóa, dịch vụ Như vậy khi so sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thìngười có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn người có thu nhập thấp

Trang 27

Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ: Thuế GTGT tính trong phạm vi lãnh

thổ một quốc gia, đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổquốc gia đó

* Thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượngnộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ởnước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Ðồng thời, tùy theo tínhchất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhậpthường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp Lần đầutiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như mộthình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp

và được chính thức áp dụng vào năm 1942 Sau đó nhiều nước tư bản phát triểnkhác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp 1916

và Liên Xô năm 1922

Hiện nay trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế:

Cách thứ nhất: Tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân.

Được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Ðiển, các nước Châu Phi, Liên Xô,Hungari, Tiệp khắc Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thukịp thời vào ngân sách Nhà nước Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầuphân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng được sựcông bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều khẩu ăn theo

Cách thứ hai: Tính thuế trên tổng thu nhập của cả hộ gia đình Được áp dụng

ở Pháp, Hà Lan Các chuyên gia cho rằng cách này có ưu điểm là công bằng hơn vềmặt đạo đức xã hội Nhưng nhược điểm là không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ítnhất hai người trở lên Ðã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau,

do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu vớinơi phát sinh thu nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách thứhai

Trang 28

Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thịtrường đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trongviệc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội Chođến nay theo thống kê của ERNST& YOUNG tại “The global Excutive” hiện naythế giới có hơn 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhântrên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinhdoanh Thuế thu nhập cá nhân được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàncảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảmthuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.

Vì vậy, thuế thu nhập cá nhân được hiểu là: Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thời gian tính thuế thường là một năm)

Về bản chất, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vàothu nhập của cá nhân trong kỳ tính thuế Như vậy đối với loại thuế này thì ngườinộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế, do đó cá nhân khó có thể chuyển thuếđược sang cho chủ thể khác

Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập sau khi đãgiảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mangtính chất xã hội và các khoản giảm trừ cần thiết khác

Thuế thu nhập cá nhân có các đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các sắc thuếkhác như sau:

Thứ nhất, Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu

Đặc điểm trực thu của sắc thuế này được biểu hiện sự đồng nhất của ngườichịu thuế đồng thời là người nộp thuế Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cánhân có thu nhập chịu thuế, không phân biệt cá nhân đó có tư cách chủ thể, tức là

độ tuổi hay xác định năng lực trách nhiệm pháp luật…

Thứ hai, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng

Trang 29

Tính chất diện thu thuế rất rộng được biểu hiện trên khía cạnh liên quan trựctiếp đến lợi ích người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội.

Vì vậy, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nướcngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả

số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhậpphát sinh trong nước hay ngoài nước.Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu chongân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao

Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân không bóp méo giá cả hàng hoá dịch vụ

Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so vớicác loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéotheo những biến đổi về cơ cấu kinh tế

Thứ tư, Thuế thu nhập cá nhân mang tính luỹ tiến cao

Mức độ điều tiết phần thu nhập cao là rất lớn theo mức thuế suất tỷ lệ lũy tiếntừng phần Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân làđiều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Dovậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phầnthu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

Thứ năm, Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có lưu ý đến hoàn cảnh của cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia, hầuhết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xãhội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…) Là loại thuế khi tính thuế

có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một sốkhoản được giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế

* Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng khá phổ biến ở các nước trên thế giới.Đây là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnhnhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà

Trang 30

nước Trên thế giới, loại thuế này có lịch sử lâu đời, xuất hiện từ thời Hy Lạp, La

Mã cổ đại Tại các nước trên thế giới, thuế tiêu thụ đặc biệt có những tên gọi khácnhau như: ở Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt, ở Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt, ởTrung Quốc gọi là thuế tiêu thụ Tại Việt Nam, tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệthiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951 Ðến năm 1990 Bộ tài chínhsoạn thảo dự án luật thuế mới, đổi thuật ngữ thuế hàng hóa thành thuế tiêu thụ đặcbiệt và được Quốc hội thông qua ngày 30- 6- 1990 Kể từ khi ban hành đến nay, luậtthuế tiêu thụ đặc biệt đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với chính sáchkinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển

Khái niệm về thuế tiêu thụ đặc biệt như sau: Thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ nhằm điều tiết hướng dẫn sản xuất, điều tiết tiêu dùng của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.

Những hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở mỗiquốc gia xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính sách điều tiết, hướng dẫn sảnxuất tiêu dùng của Nhà nước, phong tục, tập quán, lối sống, văn hóa và thu nhậpbình quân đầu người Nhìn chung các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệtthường có một hoặc nhiều tính chất sau:

+ Những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích sản xuất, tiêudùng, có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng không tốt đến môi trường

+ Những hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, cao cấp chưa thật cần thiếtcho nhu cầu xã hội

+ Hàng hóa, dịch vụ có tỷ suất lợi nhuận cao và được tiêu dùng bởi những đốitượng có thu nhập cao Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào đối tượng này nhằmđiều tiết thu nhập, góp phần tạo ra sự công bằng cho xã hội

Thuế tiêu thụ đặc biệt có các đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các sắc thuếkhác như sau:

Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu.

Trang 31

Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá và dịch

vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hoá, dịch

vụ mà người đó tiêu dùng Người sản xuất và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịuthuế tiêu thụ đặc biệt là người nộp thuế cho nhà nước thay cho người tiêu dùng

Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế một giai đoạn

Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu một lần trong quá trình sản xuất, nhập khẩu hànghóa, kinh doanh dịch vụ Khi hàng hóa và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thôngthì không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, nên không gây ra sự trùng lắp qua cáckhâu của quá trình luân chuyển hàng hóa

Thứ ba, thuế tiêu thụ đặc biệt có đối tượng chịu thuế hẹp

Thuế tiêu thụ đặc biệt có đối tượng chịu thuế hẹp, việc quy định các hàng hóa,dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn tùy thuộc vào chính sáchđiều tiết của từng quốc gia, hoạt động sản xuất tiêu dùng của từng nước Tùy thuộcvào thu nhập quốc dân và phong tục và tập quán tiêu dùng của một số loại hàng hóa,dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể Danh mục các hànghóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không nhiều và có thể thay đổi phụ thuộcvào điều kiện phát triển kinh tế xã hội, chính sách định hướng tiêu dùng và mứcsống của dân cư

Thứ tư, thuế tiêu thụ đặc biệt có mức thuế suất cao

Thuế tiêu thụ đặc biệt có đặc điểm là mức thuế suất cao, đặc điểm này thể hiệnquan điểm của Nhà nước là thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt để điều chỉnh sản xuất

và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đặc biệt theo định hướng của Nhà nước Xét ởkhía cạnh phân phối thu nhập, đối tượng tiêu dùng các hàng hóa này phần lớn lànhững người có thu nhập cao, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu nhập củanhững người tiêu dùng này vào ngân sách Nhà nước một cách công bằng, hợp lý

* Thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu hàng hóa hoặc các trường hợp được coi là xuất khẩu

Trang 32

Thuế xuất nhập khẩu được hình thành khi có quan hệ giao thương buôn bángiữa các quốc gia trên thế giới Việc sử dụng loại thuế này tùy thuộc vào điều kiệnphát triển của mỗi nước Thuế xuất nhập khẩu có nguồn gốc từ lâu đời và được sửdụng rộng rãi trên thế giới

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thựcchiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu Căn cứ vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi nước

mà thuế quan được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau Tuy nhiên, ở góc độchung nhất có thể nhận thấy rằng đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩuđược thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu

Nhà nước sử dụng thuế xuất khẩu, nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoạithương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá của hàng hóa xuất, nhập khẩu Việctăng, giảm thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác động trực tiếp đến giácủa hàng hóa xuất, nhập khẩu Từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu lựa chọn hàng hóa củangười tiêu dùng

Thứ hai, Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương

Thuế xuất khảu, nhập khẩu là một công cụ quan trọng của Nhà nước để kiểmsoát hoạt động ngoại thương thông qua việc kê khai, kiểm tra, tính thuế đối vớihàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Thứ ba, Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản xuất trong nước

Việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trongnước có thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu có tác dụng kích thích sản xuất trong nước, mở rộng đầu tư, phát triển sảnxuất…

Thứ tư, Thuế xuất khẩu, nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như:

Trang 33

Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế… Thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia.

Sự biến động của kinh tế thế giới tác động trực tiếp đến hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu của các quốc gia, nhất là trong xu thế thương mại hóa toàn cầu; mở cửa và hộinhập như hiện nay

* Thuế môn bài

Thuế môn bài là một sắc thuê trực thu và thường là định ngạch đánh vào giấyphép kinh doanh (môn bài) của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Thuế môn bài thu

một năm một lần nhằm mục đích hoàn thiện việc kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước đốivới các cơ sở kinh doanh qua đó có căn cứ phân loại cơ sở kinh doanh theo quy môlớn, vừa hay nhỏ để có biện pháp quản lý thích hợp với từng đơn vị và động viên mộtphần đóng góp của cơ sở kinh doanh ngay từ đầu mỗi năm để đáp ứng nhu cầu chi tiêucho ngân sách Nhà nước trong khi nhiều khoản thuế chưa phát sinh nguồn thu

* Thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiênnhiên của tố chức, cá nhân Hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiệnpháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên (không phải hoạt động sử dụng tài nguyênthiên nhiên) Việc thu thuế tài nguyên hiện nay dựa trên cơ sở của Luật thuế tàinguyên năm 2009

Ở Việt Nam, nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhànước thống nhất quản lý Nhà nước sử dụng thuế tài nguyên để quản lý đối với cáchoạt động khai thác tài nguyên, tạo nguồn thu cho NSNN nhằm thực hiện các mụctiêu, định hướng cho việc khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tạo lậpnguồn tài chính cho bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên

Thuế tài nguyên có đặc điểm sau đây:

- Thuế tài nguyên là một loại thuế gián thu, đánh vào sản phẩm khai thác chịuthuế là các tài nguyên được quy định rõ tại Điều 2 Luật thuế tài nguyên 2009

- Thuế tài nguyên được tính trên cơ sở sản lượng và giá trị thương phẩm củatài nguyên khai thác và được áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên

Trang 34

mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên.

- Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùngtài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Theo Luật doanh nghiệp số: 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 vànay là Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014, "Doanhnghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thànhlập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh."

Theo Tổng cục thống kê thì khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước là cácdoanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân mộtngười hoặc nhóm người, hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệtrở xuống

Như vậy, DNNQD là DN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, không thuộcquyền sở hữu của Nhà nước, có vốn trong nước thuộc về chủ doanh nghiệp Chủdoanh nghiệp quyết định toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và phân phối lợinhuận sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước DNNQD bao gồm:Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh, Công ty tư nhân, Hợp tác xã

1.1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanhmang một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, về tính sở hữu

Khác với doanh nghiệp Nhà nước, DNNQD thuộc sở hữu của tư nhân Toàn

bộ vốn, tài sản đều thuộc về chủ doanh nghiệp hoặc chủ cơ sở sản xuất Tất cảdoanh thu, lợi nhuận đều do chủ doanh nghiệp hoặc chủ cơ sở sản xuất kinh doanhquyết định sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước mà không chịu

sự chi phối hay quản lý của Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý khác Nhà nướccũng không can thiệp vào phương thức sản xuất và toàn bộ hoạt động của DN nếu

Trang 35

như các hoạt động đó đúng pháp luật.

Thứ hai, về quy mô, phạm vi, lĩnh vực hoạt động

DNNQD có quy mô vừa và nhỏ vì DN này do tư nhân thành lập để tiến hànhcác hoạt động sản xuất kinh doanh, có bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt, dễ thay đổi cáchình thức hoạt động, dễ di chuyển đến các địa điểm khác nhau, và đáp ứng nhanhnhạy với mọi biến đổi của nền kinh tế Số lượng DNNQD rất lớn, hoạt động sảnxuất, kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, gia công, chếbiến, xây dựng, vận tải đến các loại hình thương mại, dịch vụ; phạm vi hoạt độngrất rộng, từ thành thị tới nông thôn, góp phần mở rộng lưu thông hàng hóa, dịch vụ,thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở mọi miền trên cả nước

Thứ ba, về nguồn lực

Do có quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư không nhiều nên DNNQD vẫn chưathực sự chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để phục vụ cho hoạtđộng sản xuất, kinh doanh Tỷ lệ lao động trong DNNQD tuy chiếm tỷ lệ lớn trongtổng số lao động của nền kinh tế nhưng có trình độ, năng lực chưa cao Công tácđào tạo, bồi dưỡng cho nguồn nhân lực còn hạn chế do nguồn vốn còn hạn hẹp Bêncạnh đó, cơ sở vật chất và công nghệ thông tin vẫn chưa được đầu tư đúng mức,máy móc trang thiết bị vẫn còn lạc hậu, chưa bắt kịp được sự phát triển của khoahọc kỹ thuật, do vậy, năng suất lao động của DNNQD còn thấp, khả năng cạnhtranh chưa cao

Thứ tư, về ý thức tuân thủ pháp luật về thuế

DNNQD chiếm số đông trong tất cả các tổ chức tham gia hoạt động sản xuấtkinh doanh trong nền kinh tế Tuy nhiên, thực tế đây là các đối tượng có nhiều hành

vi vi phạm pháp luật về thuế như trốn thuế, gian lận thuế, nợ thuế, không thực hiệntốt chế độ kế toán, kê khai theo quy định Ý thức tuân thủ pháp luật về thuế tạinhiều DNNQD còn kém, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quản lý thu thuế của các

cơ quan quản lý Nhà nước về thuế

Trang 36

1.2 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý thu thuế

1.2.1.1 Khái niệm quản lý thu thuế

Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý làtập thể con người để khơi nguồn các động lực sáng tạo, phối hợp và hướng hoạtđộng của họ vào thực hiện mục tiêu đã xác định

Theo giáo trình Quản lý thuế, Học viện tài chính thì: “Quản lý thu thuế là việc

tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước bao gồm: xây dựng chính sách thuế,ban hành pháp luật thuế và hoạt động tổ chức hành thu Cụ thể các nội dung: Vậndụng bản chất, chức năng của thuế để hoạch định chính sách; Xây dựng tổ chức bộmáy ngành thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quản lý thu thuế; Vậndụng các phương pháp thích hợp tác động đến quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp thuếcủa NNT phù hợp với quy luật khách quan, bao gồm các hoạt động tuyên truyền,

hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra thuế”

Quản lý thu thuế đảm bảo cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnhtrong thực tiễn Quản lý tốt việc thu thuế chính là điều hành, giám sát để ai là NNTthì phải nộp thuế và NNT phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số thuế phải nộpvào NSNN, nhờ đó các vai trò, chức năng của thuế sẽ được thực hiện tốt Vì vậy, cóthể khẳng định quản lý thu thuế có vai trò quyết định đối với sự thành công củatừng chính sách thuế

1.2.1.2 Mục tiêu của quản lý thu thuế

Quản lý thu thuế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và cơquan thuế Thực hiện tốt nhiệm vụ này không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt

hệ thống cơ quan Nhà nước mà còn có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuếvào NSNN Mục tiêu đặt ra cho quản lý thu thuế là:

Thứ nhất, tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu thuế cho NSNN trên cơ sở phát triển nguồn thu.

Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN ở hầu hết các quốc gia trên thuế giới,

Trang 37

có vai trò rất lớn đối với phát triển kinh tế xã hội Do vậy, quản lý thu thuế phảiluôn hướng đến mục tiêu khai thác tối đa nguồn thu này, huy động đầy đủ, kịp thờitrên cơ sở phát triển nguồn thu để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý, điềutiết các quan hệ trong xã hội Để thực hiện mục tiêu này, Nhà nước cần có hệ thốngchính sách, pháp luật về thuế hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển của kinh tế.

Thứ hai, phát huy tối đa vai trò của thuế trong nền kinh tế.

Ngoài vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN, thuế còn có vai trò điều tiếtnền kinh tế vĩ mô thông qua các hoạt động quản lý của Nhà nước Thuế được coinhư là một công cụ để góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu

tư, phân phối lại sản phẩm xã hội nhằm đạt được mục tiêu công bằng xã hội Ngoài

ra, thuế còn là được coi là công cụ nhằm bảo hộ sản xuất nội địa và duy trì tăngcường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Như vậy, thuế có vai trò hết sức to lớnđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia và mục tiêu của quản lý thuthuế là phát huy tối đa vai trò này

Thứ ba, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật về thuế của NNT

Cũng như các hoạt động quản lý Nhà nước khác, quản lý thu thuế diễn ratrong khuôn khổ pháp luật cho phép Để đạt hiệu quả cao, quản lý thu thuế thôngqua pháp luật, chính sách nhằm điều chỉnh những hành vi của NNT Tuy nhiên,trong xã hội còn tồn tại rất nhiều cá nhân, tổ chức không chấp hành, không tuân thủpháp luật, thường xuyên có nhiều sai phạm về thuế làm ảnh hưởng xấu đến nguồnthu NSNN Chính vì vậy, mục tiêu đặt ra cho cơ quan quản lý thu thuế là phải tăngcường thanh tra, kiểm tra để phát hiện những vi phạm, xử lý nghiêm và truyêntruyền, hỗ trợ NNT để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thuế

Thứ tư, tối thiểu hóa chi phí hành thu

Tất cả mọi hoạt động quản lý đều hướng đến mục tiêu tối thiểu hóa chi phí.Quản lý thu thuế cũng vậy, để đạt hiệu quả cao, cơ quan thuế phải thực hiện cáchoạt động một cách tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả Cơ chế hành thu làcách thức mà cơ quan thuế lựa chọn để tác động đến hành vi kê khai thuế, nộp thuế

Trang 38

của NNT, là cách thức tổ chức thu nộp thuế Như vậy, tối thiểu hóa chi phí hành thuđồng nghĩa với việc tối thiểu hóa các chi phí tuân thủ pháp luật về thuế của NNT.

Để tổ chức hành thu, cơ quan thuế phải đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị máymóc, chi phí cho công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT, công tác cải cách thủ tục hànhchính, công tác tổ chức kiểm tra, giám sát, thu nợ thuế Do dó, cơ quan thuế cần tốithiểu hóa các chi phí này để tăng hiệu quả quản lý thu thuế Tuy nhiên, trong việctối thiểu hóa chi phí hành thu, cơ quan thuế nên hài hòa mối quan hệ giữa cơ quanthuế và NNT Nếu cơ quan thuế chỉ quan tâm đến tối thiểu hóa chi phí cho bộ máyhành thu mà đẩy gánh nặng chi phí cho NNT thì chi phí tuân thủ của NNT tăng lên

và đây sẽ là nguyên nhân gây ra tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, gây khó khăncho cơ quan thuế trong thực hiện quản lý thu thuế

1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý thu thuế:

Quản lý thu thuế là một quy trình, ngoài cơ quan chuyên trách là Tổng cụcthuế, cục thuế các tỉnh và chi cục thuế các huyện, thị xã, thành phố, các cấp cơ quanquản lý Nhà nước khác đều tham gia quy trình và có nhiệm vụ khác nhau Tuynhiên, hoạt động quản lý thu thuế của tất cả các cơ quan đều phải tuân theo nhữngnguyên tắc nhất định Cụ thể:

Thứ nhất là nguyên tắc tuân thủ pháp luật:

Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các bên trong quan hệ quản lý thu thuếbao gồm cả cơ quan Nhà nước và người nộp thuế Nội dung của nguyên tắc này làquyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuếđều do pháp luật quy định Trong quan hệ quản lý, các bên liên quan có thể đượclựa chọn những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi quy định của phápluật về quản lý thuế

Thứ hai là đảm bảo tính hiệu quả:

Giống như mọi hoạt động quản lý khác, hoạt động quản lý thu thuế phải tuânthủ nguyên tắc hiệu quả Các hoạt động quản lý thu thuế được thực hiện, cácphương pháp được lựa chọn phải đảm bảo số thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng

Trang 39

luật thuế Đồng thời, chi phí quản lý là tiết kiệm nhất Ví dụ như bộ máy quản lý thuthuế, các thủ tục về thuế đơn giản, gọn nhẹ phù hợp với điều kiện thực tế và trình độcủa người nộp thuế sẽ mang lại nguồn thu cao hơn do tiết kiệm được chi phí vậnhành bộ máy quản lý và thu thuế và chi phí phải bỏ ra để phục vụ người nộp thuế.

Thứ ba là thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế trong quản lý thuế:

Để đảm bảo hoạt động thu, nộp thuế đúng pháp luật, Nhà nước nào cũng cầntăng cường các hoạt động quản lý đối với người nộp thuế Hiện nay, trong điều kiệnquản lý thu thuế mới, nâng cao vai trò tự khai, tự tính và tự nộp của người nộp thuế,vai trò của Nhà nước được hướng vào sự kiểm tra, kiểm soát kết quả thực hiệnnghĩa vụ thuế phù hợp với quy định của pháp luật Để đảm bảo nguyên tắc này đượcthực hiện cần có hệ thống các văn bản pháp luật thuế đầy đủ, rõ ràng, phù hợp; cócác biện pháp đủ mạnh để răn đe, trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật thuế

Thứ tư là nguyên tắc công khai, minh bạch:

Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên mọi hoạt động quản lýcủa Nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng đều phải được công khai Côngkhai trong quản lý thu thuế là công khai từ các chính sách thuế, quy trình quản lýđến thủ tục thu nộp thuế Công khai các thông tin liên quan sẽ giúp cho người nộpthuế hiểu được quy trình các bước thủ tục cần làm, tránh sự đi lại phiền hà, lãng phíthời gian cho doanh nghiệp và tránh sự nhũng nhiễu của cán bộ thuế

Nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định về quản lý thu thuế phải rõ ràng,tránh sự hiểu sai, không nhất quán cho doanh nghiệp và các bên liên quan trongquản lý thu thuế Nguyên tắc minh bạch cũng đòi hỏi không quy định những ngoại

lệ trong thực thi pháp luật thuế, theo đó, cơ quan thuế hoặc công chức thuế đượcquyết định áo dụng những ngoại lệ cho là để hoạt động quản lý của Nhà nước đượcmọi công dân giám sát, là môi trường tốt để phòng chống tham nhũng, cửa quyền;qua đó, thúc đẩy hoạt động quản lý thu thuế đúng luật, trong sạch và tạo điều kiệnthúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

Trang 40

Cuối cùng, quản lý thu thuế phải tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực vàthông lệ quốc tế.

Ngày nay, trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi quản lý thu thuếkhông những đáp ứng nhu cầu của mỗi doanh nghiệp trong nước, còn cần phải phùhợp với các tiêu chuẩn quốc tế, tuân thủ các hiệp định đã được ký kết nhằm xâydựng mối quan hệ hợp tác và tránh mắc phải những sai phạm chung đã được thỏathuận Từ đó, tạo môi trường ổn định cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế

xã hội

1.2.2 Phương pháp và công cụ quản lý thu thuế

1.2.2.1 Phương pháp quản lý thu thuế

Quản lý thu thuế là một nội dung có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ quanquản lý Nhà nước về thuế Hoạt động này không chỉ đảm bảo cho nguồn thu NSNN

ổn định, bền vững mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều vấn đề trong phát triểnkinh tế và xã hội Do vậy, cơ quan quản lý thu thuế cần phải lựa chọn nhữngphương pháp quản lý thu thuế phù hợp để thuế phát huy được vai trò to lớn củamình Các phương pháp quản lý thu thuế bao gồm: Phương pháp hành chính,phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục

- Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của các chủ thểhành chính Nhà nước lên đối tượng bằng quyết định hành chính mang tính bắt buộc

và vô điều kiện Phương pháp hành chính được sử dụng trong quản lý thu thuế làviệc ban hành văn bản quy phạm, văn bản áp dụng quy phạm pháp luật và thực hiệncác hoạt động trong quy trình quản lý thu thuế mang tính pháp lý Phương pháphành chính dựa trên mối quan hệ quyền lực phục tùng từ mối quan hệ quyền hànhtrong tổ chức Do vậy, trong khi sử dụng phương pháp này, các tổ chức phải tránhcách quản lý quan liêu, lạm dụng quyền hành và gắn chặt quyền, trách nhiệm củatừng bộ phận khi thực hiện nhiệm vụ

- Phương pháp kinh tế là cách thức tác động vào đối tượng quản lý thông quacác lợi ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động cóhiệu quả Tác động thông qua lợi ích kinh tế tạo ra động lực thúc đẩy cá nhân hoặc

Ngày đăng: 19/03/2017, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Số lượng DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.1 Số lượng DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình (Trang 69)
Bảng 2.2: Lao động Cục Thuế tỉnh Thái Bình năm 2013 - 2015 T - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.2 Lao động Cục Thuế tỉnh Thái Bình năm 2013 - 2015 T (Trang 74)
Đồ thị 2.5: Đánh giá của người nộp thuế về công tác Tuyên - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
th ị 2.5: Đánh giá của người nộp thuế về công tác Tuyên (Trang 80)
Bảng 2.6: cách giải quyết vướng mắc của người nộp thuế - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.6 cách giải quyết vướng mắc của người nộp thuế (Trang 81)
Bảng 2.8: Số lượng doanh nghiệp thay đổi, bổ sung thông tin - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.8 Số lượng doanh nghiệp thay đổi, bổ sung thông tin (Trang 87)
Bảng 2.11: Số doanh nghiệp phải bổ sung thông tin để xác - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.11 Số doanh nghiệp phải bổ sung thông tin để xác (Trang 90)
Bảng 2.19: Ấn định thuế và kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại doanh nghiệp sau kiểm tra HSKT tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.19 Ấn định thuế và kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại doanh nghiệp sau kiểm tra HSKT tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình (Trang 103)
Bảng 2.20: Kết quả công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.20 Kết quả công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế (Trang 104)
Bảng 2.24: Tỷ lệ nguyên nhân dẫn tới sai sót trong việc theo - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.24 Tỷ lệ nguyên nhân dẫn tới sai sót trong việc theo (Trang 111)
Bảng 2.26: Mức động viên thuế, phí, lệ phí và khoản thu khác - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.26 Mức động viên thuế, phí, lệ phí và khoản thu khác (Trang 115)
Bảng 2.27: Tổng hợp số thu thuế Cục Thuế tỉnh Thái Bình giai - luận văn thạc sĩ  quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 2.27 Tổng hợp số thu thuế Cục Thuế tỉnh Thái Bình giai (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w