Là một bộ phận của NSNN, Ngân sách nhà nước cấp thành phố vừa mangnhững đặc điểm chung của NSNN, vừa có những đặc điểm riêng gắn với việc thựchiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài chính N
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
GS,TS NGUYỄN BÁCH KHOA
Hà Nội, Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi, dưới sự hướng dẫncủa GS,TS Nguyễn Bách Khoa Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài luậnvăn này là trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡcho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn
đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày 10 tháng 02 năm 2017
HỌC VIÊN
PHẠM MINH ĐỨC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới GS,TS Nguyễn BáchKhoa, người đã tận tình hướng dẫn về mặt khoa học để tôi hoàn thành luận văn này.Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Thươngmại đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức giúp tôi trong suốt thời gian học tập tạitrường
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các anh (chị) đồngnghiệp tại Sở Tài chính Hải Dương đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành côngtác nghiên cứu và học tập của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, nội dung nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 4
1.1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản 4
1.1.1 Khái quát về ngân sách nhà nước 4
1.1.2 Ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh 6
1.1.3 Quản lý ngân sách nhà nước nói chung và cấp thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng 9
1.2 Các yếu tố nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh 12
1.2.1 Các yếu tố nội dung cơ bản của quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh 12
1.2.2 Quá trình quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh 15
1.2.3 Đánh giá quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh 22
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh 22
1.3.1 Yếu tố môi trường, thể chế, chính sách quản lý NSNN vĩ mô 22
1.3.2 Yếu tố kinh tế xã hội thành phố 23
Trang 61.3.3 Yếu tố nội tại quản lý NSNN cấp thành phố 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG 26
2.1 Khái quát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chi NSNN tại Thành phố Hải Dương 26
2.1.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hải Dương 26
2.1.2 Môi trường, thể chế, chính sách quản lý NSNN tại Thành phố Hải Dương 27
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý NSNN Thành phố Hải Dương hiện nay 28
2.2 Thực trạng các yếu tố chi NSNN tại Thành phố Hải Dương 30
2.2.1 Thực trạng chi thường xuyên 33
2.2.2 Thực trạng chi đầu tư phát triển 34
2.2.3 Một số kết luận rút ra 34
2.3 Thực trạng quá trình quản lý chi NSNN tại Thành phố Hải Dương 35
2.3.1 Lập dự toán và trình duyệt với quản lý nhà nước cấp tỉnh 35
2.3.2 Triển khai, thực chi, giải ngân, quyết toán chi NSNN 38
2.3.3 Kiểm tra, giám sát và kiểm soát chi NSNN Thành phố 47
2.4 Đánh giá chung và nguyên nhân 49
2.4.1 Những ưu điểm quản lý chi NSNN Thành phố 49
2.4.2 Những hạn chế quản lý chi NSNN Thành phố 50
2.4.3 Nguyên nhân các hạn chế 53
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI 56
ĐOẠN TỚI 56
3.1 Định hướng, quan điểm hoàn thiện quản lý chi NSNN nói chung, các cấp thành phố, thành phố thuộc tỉnh Hải Dương nói riêng giai đoạn tới 56
3.1.1 Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước nói chung và quản lý NSNN nói riêng của tỉnh Hải Dương 56
3.1.2 Quan điểm hoàn thiện quản lý chi NSNN tại thành phố Hải Dương giai đoạn tới 59
Trang 73.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện các nội dung quản lý chi NSNN và nâng cao
chất lượng chi NSNN tại thành phố Hải Dương 62
3.2.1 Hoàn thiện nội dung quản lý chi thường xuyên 62
3.2.2 Hoàn thiện nội dung quản lý chi đầu tư phát triển 65
3.2.3 Giải pháp tăng nguồn thu NSNN và luật hóa đối tượng thụ hưởng chi ngân sách 66
3.2.4 Giải pháp khắc phục bội chi NSNN 67
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện các khâu quá trình quản lý chi NSNN 68
3.2.6 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức quản lý và thụ hưởng chi NSNN 72
3.2.7 Giải pháp hoàn thiện tổ chức quản lý chi NSNN tại thành phố Hải Dương 73
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT TÊN TIẾNG VIỆT
2 NSNN Ngân sách Nhà nước
3 NSTW Ngân sách Trung ương
4 HĐND Hội đồng nhân dân
5 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
2.1 Cân đối ngân sách thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015 30
2.2 Quyết toán chi NS thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015 32
2.3 Chi thường xuyên thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015 40
2.4 Cơ cấu chi thường xuyên thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015 41
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt Các điềukiện kinh tế, xã hội được cải thiện đáng kể, cuộc sống nhân dân ngày một khởi sắc,diện mạo đất nước ngày một vững bước đi lên
Có được điều đó là do Đảng, Nhà nước đã có một chính sách phát triển đúngđắn hợp lý gắn liền với thời cuộc Trong đó, phải kể đến quan điểm phát triển kinh
tế vẫn dựa trên nội lực là chính và đã thu được nhiều thành tựu Đất nước đang đẩymạnh cải cách, phát triển tài chính nhằm tạo dựng nền tài chính quốc gia vữngmạnh, cơ chế tài chính phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là công nghiệp hóa, hiện đại hóathúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững, giữ vững an ninh tài chính quốc giatrong phát triển và hội nhập Mặt khác, Đảng cũng chủ trương phát triển toàn diệngiữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi, thu hẹp tối đa khoảng cáchgiàu nghèo
Song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước là mộttrong những công cụ quan trọng với tính chất là nội lực cho sự phát triển của nềnkinh tế quốc dân
Sự tồn tại và phát triển của một Nhà nước luôn cần thiết phải có nguồn lực tàichính đảm bảo cho hoạt động chi tiêu thường xuyên của tổ chức, cơ quan đơn vịthuộc bộ máy quản lý nhà nước Để đáp ứng nguồn kinh phí đảm bảo cho các hoạtđộng của các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng vũ trang, sự nghiệp văn hóa, giáodục, y tế, phúc lợi xã hội, đầu tư phát triển kinh tế đất nước, Nhà nước cần phải tạodựng được các nguồn thu để đảm bảo, bao gồm thuế, phí, lệ phí và các nguồn thukhác Tất cả quá trình thu nộp và sử dụng kinh phí đó của Nhà nước được phản ánhqua hệ thống ngân sách nhà nước
Ngân sách thành phố với tư cách là một bộ phận cấu thành của ngân sách nhànước, cùng ra đời, tồn tại và phát triển cùng sự tồn tại phát triển của hệ thống Ngânsách nhà nước Nó là công cụ để chính quyền cấp thành phố thực hiện các chức
Trang 11năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình quản lý kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng.Tuy nhiên, do ngân sách cấp thành phố là một cấp ngân sách trung gian ở giữa ngânsách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã nên chưa thể hiện thật rõ nét được vai trò của mìnhvới kinh tế địa phương Nguồn thu ngân sách thành phố bị hạn chế do quá trình thucòn nhiều kẽ hở, bỏ sót nguồn thu Công tác chi ngân sách thành phố chưa chặt chẽgây thất thoát và lãng phí ngân sách.
Trong quá trình làm việc tại Sở Tài chính Hải Dương, tôi nhận thấy công tácquản lý chi ngân sách thành phố còn nhiều bất cập, thu ngân sách hàng năm không
đủ chi, tỉnh phải trợ cấp cân đối thì vấn đề hoàn thiện quản lý chi ngân sách thành
phố càng trở nên cấp bách, do vậy, trong bối cảnh đó tôi chọn đề tài: “Quản lý chi ngân sách nhà nước tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương”.
Hoàn thiện quản lý chi ngân sách, đổi mới quản lý chi ngân sách sẽ tạo điềukiện sử dụng ngân sách tiết kiệm, có hiệu quả hơn Vì thế, hơn bao giờ hết, hoànthiện quản lý chi ngân sách nhà nước cấp thành phố là một nhiệm vụ luôn đượcquan tâm
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước, quản lý chingân sách thành phố, đánh giá đúng thực trạng tình hình quản lý chi ngân sáchthành phố Hải Dương, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lýchi ngân sách thành phố Hải Dương
3 Đối tượng, nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi ngân sách nhà nước tại thành phố Hải
Dương và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN thành phố
Nội dung nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số khái niệm, vai trò, những vấn đề cơ bản, cơ sở lý luận
về NSNN, quản lý chi NSNN cấp thành phố
- Phân tích thực trạng quản lý chi NSNN tại thành phố Hải Dương giai đoạn2012-2015 Qua đó rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhâncủa hạn chế
Trang 12- Đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN tại thànhphố Hải Dương.
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là quản lý chi NSNN trên địa bàn thành phố Hải Dươnggiai đoạn 2012-2015
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê kinh tế: Sử dụng để thu thập, tổng hợp và phân tích
tài liệu phục vụ nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở số liệu đã thu thập, lựa chọn, phân tíchđối chiếu, so sánh và rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: Nghiên cứu mức độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế
xã hội trong kỳ nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp thành phốtrực thuộc tỉnh
Chương 2: Thực trạng quản lý chi NSNN tại thành phố Hải Dương, tỉnh HảiDương
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN tại thànhphố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giai đoạn tới
Trang 13CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CẤP THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH
1.1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản
1.1.1 Khái quát về ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước
Trong lịch sử nhân loại sự tồn tại và phát triển của tất cả các thể chế chính trị,trước hết đều phải có những nguồn lực tài chính nhất định nhằm thực hiện chứcnăng và nhiệm vụ, cũng như các mục tiêu và định hướng của Nhà nước Nguồn lựctài chính đó được gọi là Ngân sách Nhà nước hay Ngân sách Chính phủ Ngân sáchNhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Để củng cố và duy trìquyền lực chính trị, Nhà nước đã sử dụng ngân sách như một công cụ hữu hiệu, gắnchặt với bản chất của Nhà nước, thể hiện ở việc Ngân sách Nhà nước phục vụ chonhững giai cấp thống trị xã hội và thể hiện quyền lực của giai cấp thống trị đối vớicác giai cấp khác
Thuật ngữ “ Ngân sách Nhà nước “ được sử dụng rất phổ biến trên mọi quốcgia, trong mọi lĩnh vực của đời sống nhưng khái niệm chưa thống nhất như mộtđịnh nghĩa chuẩn mang quy ước quốc tế Khái niệm Ngân sách Nhà nước đượcQuốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy đinh trong luật Ngân sách
Nhà nước ban hành ngày 16/12/2002 như sau : “ Ngân sách Nhà nước là toàn bộ
các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước cố thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 01 năm để đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước ”
Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dânchủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn vớitrách nhiệm.Quốc hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sáchtrung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước
1.1.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nước
Yêu cầu tiên quyết đối với Ngân sách Nhà nước là phải thống nhất các khoảnthu - chi trên cơ sở dự toán và hạch toán Do đó Ngân sách Nhà nước phải tập hợp
Trang 14và cân đối thu chi của Nhà nước, bắt buộc mỗi khoản chi phải theo dự toán, mỗikhoản thu phải theo luật định, chấm dứt sự tuỳ tiện trong quản lý thu - chi của Nhànước Như vậy ta có thể kết luận chức năng của Ngân sách Nhà nước bao gồm :Một là: điều tiết thu nhập đối với nguồn thu nhập của các tổ chức, cá nhân đểđảm bảo công bằng xã hội đối với chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.
Hai là: quản lý, khai thác nguồn thu Ngân sách Nhà nước theo luật Ngân sáchNhà nước
Ba là: cân đối thu, chi Ngân sách Nhà nước về : Chi thường xuyên, Chi Đầu tưPhát triển, Chi thanh toán nợ công, Chi dự phòng
Bốn là, quản lý và điều hành hoạt động tài chính công để hạn chế hiện tượngbội chi Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động củanền kinh tế, trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng và các nhiệm vụngoại giao của Nhà nước, hay nói chung là đảm bảo các nguồn thu để đáp ứng nhucầu chi tiêu của Nhà nước Xét riêng trong nền kinh tế thị trường, Ngân sách nhànước là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế, xã hội Mục tiêu của Ngân sách Nhà nước không phải để Nhà nước đạt được lợinhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình trước cácđối thủ cạnh tranh trên thị trường Ngân sách nhà nước ngoài việc duy trì sự tồn tạicủa bộ máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môitrường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
Ngân sách nhà nước được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tếnhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinhdoanh Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh
tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu
tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặcqua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tưnhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãiđối với những hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng Nhờ đó mà có thể đảm bảo sựcân đối, công bằng trong nền kinh tế
Trang 151.1.1.3 Phân cấp và hệ thống ngân sách nhà nước
Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngânsách là một tất yếu khách quan Thực chất của phân cấp ngân sách là giải quyếtmối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động của NSNN Thôngqua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trongthu chi NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp NSNN còn phản ánhmối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phương,giữa địa phương với quốc gia Phân cấp ngân sách gắn liền với nội dung phâncấp hành chính Phân cấp ngân sách không chỉ tập trung vào việc nâng cao tính
tự chủ của chính quyền địa phương mà còn phải hướng đến nâng cao tính tráchnhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch
* Nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách là:
- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việcban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức tài chính Đây là nội dungchủ yếu của phân cấp ngân sách
- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu, nhiệm
vụ chi và cân đối ngân sách Đây là mối quan hệ lợi ích nên trong thực tế giảiquyết mối quan hệ này rất phức tạp, gay cấn Do đó phải xác định rõ nhiệm vụkinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền Phân cấp này phải ổn định và đảmbảo cho ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thulớn để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thờinhững nhiệm vụ nào ổn định mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộngphân cấp cho chính quyền địa phương
- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách
Đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách
1.1.2 Ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
Ngân sách cấp thành phố thuộc tỉnh là một cấp ngân sách hoàn chỉnh vớinguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định cụ thể để đảm bảo hoàn thành chứcnăng nhiệm vụ của cấp thành phố thuộc tỉnh
Trang 16Là một bộ phận của NSNN, Ngân sách nhà nước cấp thành phố vừa mangnhững đặc điểm chung của NSNN, vừa có những đặc điểm riêng gắn với việc thựchiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài chính Nhà nước ở thành phố:
- Là một quỹ tiền tệ của Nhà nước, do thành phố quản lý sử dụng để duy trì sựtồn tại của bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng, nhiệm của của Nhà nước tạithành phố;
- Là một cấp ngân sách trung gian, vừa trực thuộc ngân sách tỉnh, vừa có ngânsách phường, xã trực thuộc;
- Quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu – chi ngân sách thành phố làquan hệ lợi ích chung của một bên đại diện là chính quyền thành phố và một bên làcác chủ thể kinh tế khác trong xã hội;
- Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố được phân định cụ thể và
có tính chất pháp lý
1.1.2.2 Nguồn ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
Theo luật NSNN hiện hành, ngân sách cấp thành phố thuộc tỉnh là một cấpngân sách hoàn chỉnh với nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định cụ thể đểđảm bảo hoàn thành chức năng nhiệm vụ của cấp thành phố thuộc tỉnh Tuynhiên do luật ngân sách cũng đã quy định đối với các khoản thu phân chia giữacác cấp ngân sách thì Quốc hội quyết định tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa Trungương và địa phương, còn HĐND tỉnh thì quyết định tỷ lệ điều tiết giữa ngân sáchtỉnh, ngân sách thành phố (và quận, thành phố, thị xã) và ngân sách xã Do đó cóthể thấy rằng quy mô ngân sách, khả năng tự cân đối của ngân sách cấp thànhphố thuộc tỉnh hoàn toàn phụ thuộc vào việc phân cấp nguồn thu, phân cấpnhiệm vụ chi của tỉnh đối với thành phố cũng như tỷ lệ điều tiết ngân sách giữangân sách tỉnh và ngân sách thành phố Hay có thể nói ngân sách thành phố có tựcân đối chủ động trong điều hành được hay không phần lớn phụ thuộc vào ý chícủa HĐND, UBND tỉnh
Do không phải là cấp có thể hình thành các chính sách, chế độ về thu, chingân sách nên nội dung thu, chi của ngân sách thành phố do tỉnh (cụ thể làHĐND &UBND tỉnh) quyết định, do đó trong thực tiễn hay phát sinh mâu
Trang 17thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương cũng như nhữngnhiệm vụ chi được giao thêm với cân đối ngân sách đã được ổn định (với thời gian
từ 3-5 năm theo luật ngân sách quy định) Điều này đặt ra yêu cầu là các cơ quanhoạch định chính sách, xây dựng chính sách chế độ thu, chi ngân sách, tham mưuviệc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết cho ngân sách cấp Thành phốphải xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ để tham mưu cơ quan cóthẩm quyền của tỉnh quyết định, tránh yếu tố cảm tính, thiếu cơ sở khoa học Đồngthời phân cấp phải trên quan điểm tăng quyền chủ động của ngân sách thành phốcũng như xã phường để tạo điều kiện cho thành phố và xã phường hoàn thành ngàycàng tốt hơn nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương
1.1.2.3 Vai trò ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính
cơ bản, tổng hợp của Nhà nước Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính
và có vai trò quyết định sự phát triển của nền kinh tế xã hội Vai trò củaNSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trongtừng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đođánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã h ộ i ch ủ n g h ĩa ở nước tahiện nay, NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy động nguồn
tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của cấp thành phố và thực hiện sự cânđối thu chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trongmọi mô hình kinh tế Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ của mình
Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế Sử dụng NSNN như là công cụtài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyếtcác nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định kinh tế xã hội
Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết
của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy
Trang 18phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thứcriêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó.
1.1.3 Quản lý ngân sách nhà nước nói chung và cấp thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng
1.1.3.1 Khái niệm và thực chất nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
Một là, quản lý các khoản chi Ngân sách địa phương đảm bảo tiết kiệm và có
hiệu quả vừa là nguyên tắc, vừa là yêu cầu của quản lý kinh tế tài chính Quản lýchặt chẽ các khoản chi Ngân sách địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc tậptrung nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội; thực hành tiết kiệm, chốngcác hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí; góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền
tệ và làm lành mạnh hoá nền tài chính địa phương nói riêng và quốc gia nói chung.Bên cạnh đó, nó còn góp phần nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy được vai tròcủa các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sửdụng Ngân sách địa phương
Hai là, các khoản chi Ngân sách địa phương thường mang tính không hoàn trả
trực tiếp Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện ở chỗ các đơn vị được Ngân sáchcấp phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả lại trực tiếp cho Nhà nước số kinh phí đósau một thời gian sử dụng, mà phải “hoàn trả” cho Nhà nước bằng chính kết quảcông việc đã được Nhà nước giao cho Tuy nhiên, việc lượng hoá các kết quả củacác khoản chi Ngân sách địa phương thường rất khó khăn và nhiều khi không toàndiện Mặt khác, lợi ích của các khoản chi Ngân sách địa phương mang lại thường ítgắn với lợi ích cụ thể, cục bộ Vì thế, sự quan tâm của người sử dụng Ngân sách địaphương phần nào bị hạn chế Do vậy, cần thiết phải có các cơ quan chức năng cóthẩm quyền thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của Ngân sách địa phương
để đảm bảo cho việc Nhà nước sẽ nhận được những kết quả tương xứng với số tiền
mà Nhà nước đã bỏ ra
Ba là, xuất phát từ tính chất, đặc điểm của các khoản chi Ngân sách địa
phương là diễn ra trên phạm vi rộng, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội.Trong khi đó, cơ chế quản lý chi Ngân sách địa phương thì chỉ quy định đượcnhững vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc, không thể bao quát hết tất cả các
Trang 19vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chi Ngân sách địa phương Hơn nữa, cùngvới sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động chi Ngân sách địa phương cũng ngàycàng đa dạng hơn, phức tạp hơn Điều này làm cho cơ chế quản lý chi nhiều khikhông theo kịp với sự biến động của hoạt động chi Ngân sách địa phương Ví dụnhư: cấp phát nhưng thực chất chỉ mang tính chất xuất quỹ Ngân sách địa phương,cho đơn vị rút về chi tiêu; phân bổ dự toán không chính xác; hệ thống tiêu chuẩn,định mức không đồng bộ, xa rời thực tế; cơ chế quản lý chi một số lĩnh vực đặc biệtnhư chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi chương trình mục tiêu, chi Ngân sách xã chưaphù hợp; công tác kế toán, quyết toán chưa nghiêm túc, chặt chẽ Tình trạng này
đã tạo ra những kẽ hở trong cơ chế quản lý chi Ngân sách địa phương, tạo môitrường cho tham nhũng, lãng phí nảy sinh Vì vậy, phải có cơ quan có thẩm quyềnthực hiện kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thờinhững hiện tượng tiêu cực; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý
Từ đó, có những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung hay kịp thời ban hành những cơchế quản lý phù hợp, chặt chẽ hơn
1.1.3.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
- Phân cấp NSNN phải phù hợp với Hiến pháp, với Luật tổ chứcHĐND và UBND các cấp Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗichính quyền về quyền hạn trách nhiệm trong điều hành NSNN các cấp Đồng thờiphân cấp NSNN phải đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế nhằm đảm bảo sự phùhợp giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi được giao
- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính hiệu quả Nguyên tắc này yêu cầuphân cấp NSNN không dẫn đến sự chia cắt nguồn thu ngân sách, làm suy yếu vàphân tán nguồn tài chính quốc gia Phân cấp NSNN phải đảm bảo sự phối hợpđồng bộ giữa các cấp trong hệ thống ngân sách để hướng vào phục vụ lợi íchchung của quốc gia Bên cạnh đó, phân cấp NSNN phải mang tính ổn định đểtạo điều kiện cho các cấp ngân sách chủ động khai thác và bồi dưỡng nguồnthu, tiến đến cân đối ngân sách địa phương nhằm thực hiện tốt chức năng nhiệm
vụ được giao
Trang 20- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính công bằng Mục đích của phân cấp lànhằm sử dụng nguồn lực tài chính công có hiệu quả hơn trong việc cung cấphàng hóa công cho xã hội Do đó phân cấp nguồn thu phải tương ứng vớinhiệm vụ chi được giao để các cấp chính quyền cung cấp hàng hóa, dịch vụcông cho dân một cách tốt nhất Ngoài ra, phân cấp ngân sách phải đảm bảophát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương, tạo cho người dân được hưởngthụ lợi ích phúc lợi công cộng do Nhà nước cung cấp là như nhau.
1.1.3.3 Nội dung quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
Về cơ bản nội dung chi của các cấp ngân sách là giống nhau Nhưng việc thựchiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ở mỗi cấp ngân sách là không hoàn toàngiống nhau, do đó nội dung chi ngân sách ở mỗi cấp ngân sách vẫn có những điểmkhác biệt Theo đó, nội dung chi ngân sách thành phố bao gồm:
- Chi thường xuyên của ngân sách thành phố gồm: Chi hoạt động sự nghiệpkinh tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa, xã hội, thông tin liên lạc, thể dục thể thao, sựnghiệp kiến thiết thị chính, sự nghiệp môi trường và các hoạt động thường xuyênkhác do thành phố quản lý như: Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; chi cho các hoạt độngcủa các cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị xã hội do thành phố quản lý
- Chi đầu tư phát triển của ngân sách thành phố là quá trình phân phối sử dụngmột phần vốn tiền tệ từ quỹ NS thành phố để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước nói chung, củathành phố nói riêng nhằm thực hiện mục tiêu ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội, bao gồm:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không cókhả năng thu hồi vốn do thành phố quản lý;
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do các cơ quanthành phố thực hiện;
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
- Chi bổ sung cho ngân sách Phường xã
- Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau
Trang 211.2 Các yếu tố nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
Quản lý chi NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh là quá trình thực hiện có hệthống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của thành phố tập trung nhằmphục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chấtquản lý chi NS là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của thành phố từ khâulập kế hoạch đến khâu sử dụng NS đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệuquả, phù hợp với yêu cầu thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của Nhànước phục vụ các mục tiêu KT-XH
NSNN được quản lý theo năm NS và chu trình NS Chu trình NS dùng để chỉtoàn bộ hoạt động của một NS kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúcchuyển sang NS mới Một chu trình NS gồm ba khâu nối tiếp nhau: lập NS, chấphành NS và quyết toán NS Chu trình NS thường bắt đầu từ trước năm NS và kếtthúc sau năm NS Trong một năm NS đồng thời diễn ra cả ba khâu của chu trình NS
đó là: chấp hành NS của chu trình NS hiện tại; quyết toán NS của chu trình NStrước đó và lập NS cho chu trình tiếp theo
1.2.1 Các yếu tố nội dung cơ bản của quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh
1.2.1.1 Quản lý chi thường xuyên
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN đểđáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước
về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nướcvẫn phải cung ứng
- Theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên của NSNN bao gồm các lĩnh vực chi
+ Chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn – xã:
Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội, liên quan đến sự phát triểnđời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư Chi văn hóa xã hội gắn liền với quá trìnhđầu tư phát triển nhân tố con người Hoạt động sự nghiệp văn – xã thuộc phạm vichi thường xuyên của NSNN bao gồm nhiều loại hình đơn vị tham gia vào các lĩnh
Trang 22vực này như: các đơn vị sự nghiệp Giáo duc – Đào tạo, sự nghiệp y tế, sự nghiệpvăn hóa, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp phát thanh truyền hình Tuy nhiên,mức cấp kinh phí cho các đơn vị là bao nhiêu lại tùy thuộc vào nhiệm vụ mà mỗiđơn vị phải đảm nhận và cơ chế quản lý tài chính mà Nhà nước cho phép mỗi đơn
vị thuộc hoạt động sự nghiệp văn – xã được phép áp dụng và hiện đang có hiệu lựcthi hành
+ Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước:
Việc thành lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗingành và phục vụ chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết.Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện này, hầu như ngành nào cũng có một sốđơn vị sự nghiệp kinh tế do ngành đó quản lý Các hoạt động sự nghiệp do Nhànước thực hiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các thành phầnkinh tế Tuy nhiên, kết quả do các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nàytạo thành không nhất định chỉ mang lại lợi ích riêng của ngành đó, mà nhiều khi lạimang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Khoản chi này nhiều lúc Nhànước không hướng tới nguồn thu và lợi nhuận
Một bộ phận kinh phí để đáp ứng cho nhu cầu của đa số các đơn vị sự nghiệpkinh tế được hình thành thông qua số chi thường xuyên của NSNN và các đơn vịđược cấp phát từ nguồn vốn của NSNN tại Kho bạc nhà nước Bên cạnh đó, một bộphận nguồn kinh phí do các đơn vị tự thu, được phép giữ lại để dùng vào quản lýqua NSNN như các khoản phí, lệ phí, các khoản thu sự nghiệp khác Về thực chấtcác khoản này vẫn được tính vào cơ cấu chi thường xuyên của NSNN và được xử lýqua các nghiệp vụ ghi thu – ghi chi của NSNN tại Kho bạc nhà nước
+ Chi cho các hoạt động quản lý Nhà nước:
Khoản chi này phát sinh hầu hết ở các ngành trong nền kinh tế quốc dân Bởivới chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội, nên bộ máy hành chính Nhànước được thiết lập từ Trung ương đến địa phương và có ở toàn bộ các ngành, lĩnhvực của nền kinh tế quốc dân Chi quản lý hành chính Nhà nước nhằm đảm bảo sựhoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước Theo nghĩa rộng, các
Trang 23khoản chi này bao quát 5 lĩnh vực cơ bản: Chi về hoạt động của các cơ quan quyềnlực Nhà nước; hệ thống cơ quan pháp luật, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở cáccấp, các tổ chức chính trị xã hội và quản lý vĩ mô nền KT-XH cho hệ thống các cơquan quản lý KT-XH và chính quyền các cấp.
+ Chi cho các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấpphát từ nguồn NSNN
Được xếp vào các tổ chức này bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Các tổchức chính trị đoàn thể - xã hội như: Đoàn thanh niên cộng sản HCM, Ủy ban mặttrận tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ Có thể đây
là nét đặc thù trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN ở nước ta vì các tổ chứcchính trị - xã hội coi như là cánh tay nối dài để tổ chức các hoạt động mà Đảng vànhà nước giao cho các tổ chức đó
+ Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội:
Chi quốc phòng, an ninh được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quantrọng, vì đây là lĩnh vực mà hoạt động của nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ổnđịnh trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ Khoản chi này được chia làm 2 bộ phận
cơ bản: Các khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ Nhà nước, chống lại
sự xâm lược và đe dọa của nước ngoài; Các khoản chi nhằm bảo vệ, giữ gìn chế độ
xã hội, an ninh của dân cư trong nước
Ngoài các khoản chi lớn được sắp xếp vào năm lĩnh vực trên còn có các khoảnchi khác cũng xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như: chi trợ giá theo chính sách củaNhà nước, chi trả tiền lãi do Chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ BHXH, chi thườngxuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước…
1.2.1.2 Quản lý chi đầu tư phát triển
Chi đầu tư phát triển là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từquỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất và
dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ
mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Trang 24Chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với những mục đíchkhác nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau Căn cứ vào mục đích các khoản chithì các khoản chi đầu tư phát triển bao gồm:
+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không cókhả năng thu hồi vốn nhằm phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội của nền kinh tế quốcdân như: công trình đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không; các công trình
đê điều, hồ đập, kênh mương, phúc lợi công cộng
+ Chi đầu từ hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, góp vốn cổ phần, liên doanhvào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước;
+ Chi dự trữ ngân sách;
+ Chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước như: chươngtrình 135; chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo
1.2.2 Quá trình quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh
Cơ chế quản lý chi là một quy trình thống nhất bao gồm từ khâu lập dự toánđến thẩm định dự toán, chấp hành dự toán, kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả vàđiều chỉnh NS
1.2.2.1 Hoạch định triển khai và lập kế hoạch chi NSNN
Dự toán chi NS thành phố là một bản tổng hợp chi NS thành phố, nó thể hiệntổng số và chi tiết các khoản chi NS thành phố trong năm tài chính đó Qua đó, cơquan chủ quản cấp thành phố như UBND và HĐND thấy được nhiệm vụ chi củacấp mình quản lý
Yêu cầu của việc lập dự toán chi NS thành phố:
Lập dự toán chi là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý NS Để chu trình quản
lý NS được thực hiện hiệu quả, quá trình lập dự toán NS thành phố cần đảm bảo:
- Dự toán chi NS thành phố phải tổng hợp theo từng lĩnh vực chi và theo cơ cấugiữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển Bên cạnh đó khi lập dự toán NS thành phốphải đảm bảo tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên
- Dự toán chi NS thành phố phải được lập theo đúng nội dung, biểu mẫu, thờihạn và phải thể hiện đầy đủ các khoản chi theo Mục lục NSNN và hướng dẫn của
Bộ Tài chính
Trang 25Đối với lập dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào những dự án đầu tư
có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định và quy chế quản lý vốn đầu tư xâydựng, phù hợp với kế hoạch tài chính của thời kỳ ổn định NS và khả năng NS hàngnăm Đồng thời ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai của các chươngtrình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định và đang thực hiện dở dang.Đối với lập dự toán chi thường xuyên phải tuân theo các chính sách, chế độ,tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Các địnhmức chi lại phải đảm bảo các yêu cầu: Định mức chi phải được xây dựng một cáchkhoa học từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức;định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là, nó phải phản ánh mức độ phù hợpcủa các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động; định mức chi phải đảmbảo thống nhất đối với từng khoản chi và với từng đối tượng thụ hưởng NSNN cũngloại hình hoặc cùng hoạt động và định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao
- Dự toán chi NS thành phố phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn
cứ tính toán
Căn cứ lập dự toán chi NS thành phố:
Việc lập dự toán chi NS thành phố phải căn cứ vào:
- Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước nói chung vàcủa tỉnh, thành phố nói riêng
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng củathành phố
- Các chính sách, chế độ của NSNN hiện hành
- Quyết định phân cấp nhiệm vụ chi NS địa phương của HĐND tỉnh trong thời
kỳ ổn định NS ở địa phương
- Số kiểm tra về dự toán chi NS thành phố do UBND tỉnh, thành phố thông báo
- Kết quả phân tích tình hình thực hiện dự toán chi NS thành phố năm hiệnhành và năm trước chẳng hạn: Tính phù hợp của các chính sách, chế độ, định mức;Tính phù hợp của các hình thức cấp phát, phương thức quản lý tài chính, về cơ cấu,
xu hướng của các khoản chi
Trang 26Trình tự lập dự toán NS thành phố phải tuân theo các bước:
Bước 1: Hướng dẫn lập và thông báo số kiểm tra
Căn cứ hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính, hướng dẫn và thông báo sốkiểm tra về dự toán NS của UBND tỉnh cho UBND thành phố, UBND thành phốhướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán NS cho các cơ quan, đơn vị trựcthuộc và UBND phường xã
Bước 2: Lập, tổng hợp và trình phê duyệt kế hoạch
Các cơ quan, đơn vị trực thuộc và các phường xã căn cứ hướng dẫn và số kiểmtra tiến hành lập dự toán chi NS của đơn vị mình trong phạm vi nhiệm vụ đượcgiao, báo cáo Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố
Phòng Tài chính – Kế hoạch xem xét dự toán NS của các cơ quan, đơn vị trựcthuộc và các phường xã, sau khi thảo luận với các cơ quan, đơn vị cùng trực thuộc,UBND các phường xã, Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố sẽ thực hiện tổnghợp và lập dự toán chi NS thành phố trình Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND thànhphố, đồng thời gửi Sở Tài chính và UBND tỉnh xem xét phê duyệt
Đối với lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản: chủ đầu tư các dự án sửdụng vốn đầu tư phát triển căn cứ vào tiến độ mục tiêu thực hiện dự án lập kế hoạchvốn đầu tư xây dựng cơ bản của dự án gửi cơ quan quản lý cấp trên Chủ đầu tư các
dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư căn cứ vào nhu cầu sửa chữa, cảitạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có của đơn vị lập kế hoạch vốn đầu
tư xây dựng cơ bản gửi cơ quan quản lý cấp trên
Đối với lập dự toán chi thường xuyên: căn cứ vào mức độ phân cấp về chithường xuyên, Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố xem xét và tổng hợp dự toánkinh phí của các cơ quan đơn vị dự toán cấp I của NS cấp thành phố để lập dự toánchi thường xuyên của NS thành phố; đồng thời báo cáo dự toán chi thường xuyêncủa NS thành phố cho Sở Tài chính
Bước 3: Phân bổ, thẩm tra và thông báo kế hoạch
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ chi NS của UBND tỉnh, phòngTài chính – Kế hoạch thành phố có nhiệm vụ giúp UBND thành phố trình HĐNDthành phố quyết định dự toán chi NS thành phố, phương án phân bổ NS
Trang 27UBND thành phố có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh, Sở Tài chính dự toánchi NS thành phố và kết quả phân bổ dự toán chi NS thành phố được HĐND thànhphố quyết định.
Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND, UBND thành phố quyết định giao nhiệm
vụ chi NS cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc thành phố được HĐND thành phốquyết định
Sau khi các cơ quan, đơn vị trực thuộc thành phố nhận được quyết định giaonhiệm vụ chi NS của UBND thành phố; các cơ quan, đơn vị sẽ lập dự toán chi NS
và phương án phân bổ chi tiết Các cơ quan đơn vị có trách nhiệm báo cáo UBNDthành phố, phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố về dự toán NS đã giao và kết quảphân bổ dự toán NS
Đối với lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Phòng Tài chính – Kếhoạch thành phố cùng các cơ quan chức năng của thành phố tham mưu cho UBNDcấp thành phố phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do thành phố quản lý Bộ máyquản lý tài chính NS trực thuộc sẽ tham mưu cho lãnh đạo đơn vị lập phương ánphân bổ vốn đầu tư cho các dự án thuộc phạm vi quản lý được phân cấp Việc phân
bổ vốn đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc nguồn vốn NS thành phố quản lý phảituân thủ các nguyên tắc: Đảm bảo các điều kiện của dự án được ghi kế hoạch đầu tưhàng năm; Khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư; Tuân thủ các quyđịnh về vốn bổ sung có mục tiêu từ NS trung ương cho NS địa phương; Bố trí đủvốn để thanh toán cho các dự án đã được đưa vào sử dụng và đã được phê duyệtquyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành mà còn thiếu vốn, vốn để thanhtoán chi phí kiểm toán, thẩm tra quyết toán của dự án hoàn thành nhưng chưa đượcthanh toán do chưa phê duyệt quyết toán; Ghi chú rõ vốn đầu tư được bố trí vốntrong kế hoạch thực hiện đầu tư nhưng để thực hiện công tác chuẩn bị thực hiện dự
án Đối với các dự án do cấp thành phố, đơn vị quản lý thì phòng Tài chính – Kếhoạch thành phố hoặc bộ phận tài chính NS cấp dưới có trách nhiệm thông báo kếhoạch vốn đầu tư cho KBNN để làm căn cứ kiểm soát thanh toán vốn cho các dự
án, đồng thời gửi cho các ngành quản lý có dự án để theo dõi và phối hợp quản lý
Trang 28Đối với đầu tư xây dựng cơ bản, việc điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư năm phảiđảm bảo kế hoạch vốn đầu tư của dự án sau khi điều chỉnh không thấp hơn số vốnKBNN đã thanh toán, trường hợp thừa thì số vốn thừa được điều chỉnh cho đơn vịkhác theo quyết dịnh của cơ quan có thẩm quyền.
1.2.2.2 Tổ chức triển khai chi NSNN qua Kho bạc NN thành phố
Các đơn vị dự toán NS và các tổ chức được NS thành phố hỗ trợ thường xuyênphải mở tài khoản tại KBNN thành phố theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; chịu sựkiểm tra của Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố và KBNN thành phố trong quátrình thanh toán, sử dụng kinh phí Các khoản thanh toán về cơ bản theo nguyên tắcchi trả trực tiếp qua KBNN
Mọi khoản chi NS được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
Có trong dự toán chi NS thành phố được giao; Đúng theo chế độ, tiêu chuẩn,định mức chi do cấp có thẩm quyền quy định; Được thủ trưởng đơn vị sử dụng NShoặc người được ủy quyền quyết định chi Đối với trường hợp sử dụng vốn, kinhphí NS để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc vàcác công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá phải có tổ chức đầu thầuhoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật
1.2.2.3 Thực thi cấp và giải ngân, quyết toán NSNN theo đối tượng chi
Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm trang trải các chi phí đầu tư xâydựng các công trình thuộc các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn NS cấp Cấp pháttạm ứng, thu hồi tạm ứng phải đảm bảo đúng các quy định về đối tượng tạm ứng vàmức vốn tạm ứng Cấp phát thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành phảiđảm bảo các quy định về xác định khối lượng hoàn thành và mức vốn cấp phátthanh toán, kiểm soát và cấp phát thanh toán khối lượng hoàn thành
Việc quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng đốitượng, đúng mục đích, đúng kế hoạch, thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư vàxây dựng, có đủ các tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt
Nguyên tắc cấp phát:
Căn cứ vào dự toán chi NS thành phố và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi,Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố tiến hành cấp phát kinh phí theo nguyên tắc
Trang 29cấp phát trực tiếp đến các đơn vị sử dụng NS và thanh toán trực tiếp từ KBNN chongười hưởng lương, người cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người nhận thầu.
Quyết toán NS là khâu cuối cùng của một chu trình NS Mục đích của việcquyết toán chi NS thành phố là tổng kết đánh giá lại toàn bộ quá trình chi NS trongmột năm NS đã qua, cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành chi cho các đốitượng quan tâm như: HĐND thành phố, nhà tài trợ, người dân Việc quyết toán chi
NS được thực hiện tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn lại quá trình chấp hànhchi NS trong một năm đã qua, rút ra bài học kinh nghiệm để bổ khuyết cho công táclập dự toán NS cũng như chấp hành chi NS năm tiếp theo Ngoài ra, kết quả quyếttoán chi NS thành phố còn giúp cho UBND thành phố đánh giá về tình hình pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn để có sự điều chỉnh, quản lý cho phù hợp
Nguyên tắc lập quyết toán chi NS:
Về số liệu: phải chính xác, trung thực, đầy đủ Số liệu quyết toán chi NS là số chi
đã thực chi thanh toán hoặc được phép thanh toán chi NS thành phố theo quy định
Về nội dung: Báo cáo quyết toán chi NS phải đúng các nội dung trong dự toánđược giao và theo Mục lục NSNN Báo cáo quyết toán chi NS thành phố khôngđược quyết toán chi lớn hơn thu, phải có sự thuyết minh đi kèm chỉ rõ nguyên nhântăng, giảm các chỉ tiêu chi NS so với dự toán
Về trách nhiệm: Thủ trưởng đơn vị sử dụng NS phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của báo cáo
Trình tự lập, gửi xét duyệt, thẩm định và phê chuẩn quyết toán
Trang 30Thực hiện lập theo trình tự từ dưới lên Sau khi thực hiện xong công tác khóa
sổ cuối ngày 31 tháng 12, số liệu trên sổ kế toán của đơn vị phải đảm bảo cân đốikhớp đúng với số liệu của cơ quan tài chính và KBNN cả về tổng số và chi tiết, khi
đó đơn vị mới tiến hành lập báo cáo quyết toán năm
Khi năm NS kết thúc, NS thành phố được phép dành một khoảng thời gian đểchỉnh lý sổ sách và thanh toán các khoản chi Số liệu quyết toán phải được đối chiếu
Quá trình lập, phê duyệt, thẩm định quyết toán chi NS thành phố phải đảm bảocác khoản chi không đúng quy định phải được thu hồi đủ cho NS thành phố
1.2.2.4 Kiểm tra, kiểm soát chi NSNN
Hoạt động kiểm soát chi ngân sách trước đây là hoạt động kiểm soát cácchứng từ chi tiêu trong công tác kế toán được nâng cấp, chuẩn hoá và từng bướchoàn thiện trong quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống KBNN Việc kiểmsoát chi được thực hiện cả trước, trong và sau quá trình chi tiêu, thực hiện tại đơn vị
sử dụng ngân sách và tại cơ quan kiểm soát chi Ngoại trừ các khoản chi sử dụnghình thức cấp phát là Lệnh chi tiền do cơ quan tài chính kiểm soát , các khoản chicòn lại do KBNN kiểm soát chi
Việc tổ chức kiểm soát chi tại đơn vị sử dụng ngân sách cho phép nâng caochất lượng kiểm soát chi tại KBNN nhờ giảm tải công việc, qua đó tập trung côngsức để kiểm tra những yếu tố, nội dung mang tính trọng yếu Hoạt động kiểm soátchi tại KBNN là kiểm soát sau chuẩn chi được thực hiện trên mặt chứng từ vì vậybên cạnh việc kiểm soát lại các điều kiện chi theo quy định của Luật NSNN trướckhi xuất quỹ, là kiểm soát thanh toán chuyển tiền và hành tự kế toán trong kế toán
Trang 31KBNN Thực hiện chức năng duy trì hoạt động của Bộ máy nhà nước của chiNSNN, KBNN thông qua kiểm soát chi để giám sát và chế tài việc chi tiêu công củacác đơn vị sử dụng ngân sách nhưng quan trọng hơn và chủ yếu hơn là hỗ trợ và tưvấn để các đơn vị sử dụng ngân sách chi tiêu đúng chế độ, mục đích, đối tượng vàtiết kiệm.
1.2.3 Đánh giá quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh
Chi NS phải tuân theo định mức, tiêu chuẩn của Nhà nước Tuy nhiên, địnhmức, tiêu chuẩn của Nhà nước không tránh khỏi sự bất cập, lỗi thời Để định mức,tiêu chuẩn chi NSNN thực sự trở thành căn cứ pháp lý thì định mức, tiêu chuẩn đóphải không ngừng được hoàn thiện để nâng cao tính phù hợp của các đinh mức, cảitiến các hình thức cấp phát kinh phí và phương thức quản lý tài chính sao cho phùhợp hơn, theo hướng nhanh gọn mới dễ kiểm tra
Mục đích cuối cùng của quản lý chi NS là quản lý sao cho sử dụng NS mộtcách có hiệu quả nhất để đảm bảo được cân đối thu – chi mà vẫn đáp ứng được cácnhu cầu bức thiết của xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Để đạtđược mục đích đó thì phải không ngừng nâng cao chất lượng công tác quản lý chi
NS, trong đó có hoàn thiện cơ chế quản lý chi NS
Xuất phát từ đặc điểm của chi NS là có phạm vi, quy mô rộng lớn, bao trùmmọi lĩnh vực đời sống xã hội, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới mọi cá nhântrong xã hội; các nội dung chi ngân sách có những đặc điểm riêng biệt; lợi ích chi
NS thường ít gắn liền với lợi ích cá nhân, cục bộ Do đó việc quản lý chi NS là hếtsức phức tạp và trong thực tế quản lý không tránh khỏi những thiếu sót cần phảikhắc phục
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh
1.3.1 Yếu tố môi trường, thể chế, chính sách quản lý NSNN vĩ mô
Nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng tới quản lý chi NS là giới hạn thu NS
Dự toán về chi NSNN được lập có khoa học và dựa nguồn lực tài chính công huyđộng được, tức là căn cứ vào thực tiễn thu NS và các khoản thu khác các năm trước
và dự báo tăng thu trong năm nay, vì vậy, chi NSNN không được vượt quá nguồnthu huy động được, đồng thời cũng căn cứ vào nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa
Trang 32phương để lập dự toán chi NSNN hàng năm Bài toán điển hình trong quản lý NS
đó là cân đối thu – chi, là giải quyết vấn đề muôn thủa "nguồn lực thì có hạn mànhu cầu là vô hạn" Thu NS địa phương bao gồm các khoản thu phân chia giữa NStrung ương và NS địa phương theo quy định Đặc biệt đối với NS thành phố cónguồn thu không nhiều thì việc giải quyết hài hòa mối quan hệ thu chi dựa trên quản
lý chi tiết kiệm, hiệu quả có ý nghĩa hết sức quan trọng để giảm sự phụ thuộc của
NS cấp trên
Ngoài ra, sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận khôngthể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản lý chi NSTP nói riêngtrong kinh tế thị trường Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiệncho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổpháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, quychuẩn và đồng bộ Vì vậy, hệ thống pháp luật, các chính sách, chế độ, định mức liênquan đến quản lý chi NS sẽ có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy hoạt động quản lýhiệu quả hay không hiệu quả chi NSNN ở địa phương
Định mức phân bổ, định mức chi tiêu của Nhà nước là một trong những căn cứquan trọng để xây dựng dự toán, phân bổ dự toán và kiểm soát chi NSNN, cũng làmột trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng quản lý và điều hành NSNN củacác cấp chính quyền địa phương Việc ban hành các định mức chi một cách khoahọc, cụ thể, kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc quản lý chi tiêu NSNN đượcchặt chẽ hơn, hiệu quả hơn Sự phân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan,các cấp chính quyền trong việc quản lý chi NSTP cũng ảnh hưởng không nhỏ đếnchất lượng công tác quản lý chi NSTP Trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan,địa phương được phân định rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý chi NSTPđạt hiệu quả, không lãng phí công sức, tiền của Sự phân định trách nhiệm, quyềnhạn phải được tôn trọng, rõ ràng, minh bạch và thể chế hóa thành Luật, qua đó công việcđược tiến hành trôi chảy, góp phần nâng cao chất lượng quản lý chi NSTP
1.3.2 Yếu tố kinh tế xã hội thành phố
Quản lý chi NS thành phố chịu ảnh hưởng bởi điều kiện KT-XH Với môitrường kinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng tiến độ Ngược
Trang 33lại, nền kinh tế mất ổn định, mức tăng trưởng kinh tế chậm, Nhà nước sẽ thắt chặttín dụng để kìm chế lạm phát, các dự án sẽ bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư, chiNSNN giảm Lạm phát cũng làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm chi phí côngtrình tăng điều này có thể hoãn thực hiện dự án vì không đủ vốn đầu tư để thựchiện Vì vậy, có thể nói các yếu tố về KT-XH có ảnh hưởng không nhỏ đến quản lýchi NSTP Hải Dương.
1.3.3 Yếu tố nội tại quản lý NSNN cấp thành phố
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSthành phố là trình độ quản lý và sử dụng NS của cấp chính quyền thành phố cũngnhư của từng đơn vị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viênchức Nếu đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chi NSTP có năng lực chuyên môncao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong trong công tác quản lý chi NSTP, kiểm soátđược toàn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định về quản lýnguồn tài chính công đảm bảo theo dự toán đã đề ra Bên cạnh năng lực chuyênmôn thì đối với cán bộ công chức cũng cần phải tránh bệnh xu nịnh, chiều ý cấptrên, thói quen “xin – cho”, hạch sách, thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân Thậmchí là sa sút về phẩm chất đạo đức như đòi hối lộ, đưa đút lót, thông đồng, mócngoặc, gian lận… đây là những nhân tố ảnh hưởng không tốt tới quá trình quản lýchi NSTP, gây giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công nghiêm trọng Trình
độ lãnh đạo, quản lý của cấp chính quyền thành phố, của các đơn vị tốt và năng lựcchuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức tốt sẽ góp phần vào việc nâng caohiệu quả chi NSTP và ngược lại
Ngoài năng lực chuyên môn thì ý thức, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần tráchnhiệm, lòng yêu nghề của mỗi cán bộ, công chức, viên chức cũng có ảnh hưởngkhông nhỏ tới hiệu quả quản lý chi NS Khi đã có ý thức, đạo đức nghề nghiệp, cótinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề thì mỗi cá nhân sẽ hết lòng vì công việc củamình, không vụ lợi, không che dấu khuyết điểm, sai phạm, không trốn tránh tráchnhiệm và hoàn thành tốt công việc của mình, góp phần vào việc hoàn thành tốt mụctiêu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đơn vị mà mình tham gia làm việc
Trang 34Ngoài ra, kết quả quản lý chi NS còn bị ảnh hưởng rất nhiều từ công tác phổbiến, hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý chi NS củaNhà nước, HĐND, UBND tỉnh, các mục tiêu, định hướng phát triển mà HĐND,UBND thành phố đã đề ra Nếu công tác này được thành phố thực hiện thườngxuyên, liên tục và có chất lượng thì sẽ hạn chế được rất nhiều sai sót của đơn vị.Bên cạnh đó, sự phối hợp quản lý giữa phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố với
Sở Tài chính, với KBNN thành phố, các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn cũng
là một yếu tố rất quan trọng Sự phối hợp này càng chặt chẽ, nhịp nhàng thì kết quảquản lý chi NS thành phố sẽ ít mất thời gian để giải quyết những công việc mangtính sự vụ, và sẽ đạt được hiệu quả cao hoặc ngược lại
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI THÀNH PHỐ HẢI
DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG 2.1 Khái quát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chi NSNN tại Thành phố Hải Dương
2.1.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hải Dương
Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của tỉnh HảiDương Nằm tại trung tâm tỉnh Hải Dương, thành phố cách thủ đô Hà Nội 57km vềphía tây và cách Thành phố Hải Phòng 45 km về phía đông theo Quốc lộ 5A
Vị trí của thành phố Hải Dương, phía Bắc giáp thành phố Nam Sách, phíaNam giáp thành phố Gia Lộc và Tứ Kỳ, phía Đông giáp thành phố Thanh Hà vàKim Thành, phía Tây giáp thành phố Cẩm Giàng
Sau mở rộng địa giới hành chính theo Nghị định số 30/NĐ-CP ngày 30 tháng
3 năm 2008, thành phố Hải Dương có diện tích tự nhiên 7.176,03 ha với 21 đơn vịhành chính, trong đó có 17 phường và 4 xã
Thành phố có hệ thống giao thông thuận lợi, có tuyến đường sắt Hà Nội - HảiPhòng đi qua; có trên 10 km đường Quốc lộ 5A nối liền các Thành phố Hà Nội -Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh; Quốc lộ 37 nối thành phố Hải Dương với tỉnhQuảng Ninh Có hệ thống giao thông đường thuỷ, trong đó sông Thái Bình baoquanh phía Đông và phía Bắc thành phố
Nằm ở vị trí địa lý hết sức thuận lợi về giao thông và ở giữa trung tâm vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ, thành phố Hải Dương có điều kiện rất thuận lợi cho phát triểncông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ kho bãi, trung chuyển và thương mại.Dân số trung bình năm 2015 của Thành phố là 231.532 người, chiếm khoảng12,78 % dân số toàn tỉnh Mật độ dân số là 3.241 người/km2, cao gấp gần 3 lần sovới mật độ trung bình cả tỉnh, nhưng phân bố không đồng đều, tập trung cao nhất ởcác phường khu vực trung tâm thành phố
Dân số đô thị năm 2015 là 206.512 người, chiếm 89,2% dân số của thành phố
và bằng 46,54% dân số thành thị của cả tỉnh Hải Dương Tỷ lệ dân số nông thônchiếm 10,8% dân số của thành phố và bằng 3,27% dân số nông thôn toàn tỉnh
Trang 36Năm 2015, dân số trong độ tuổi lao động trên địa bàn Thành phố là 154.884người, chiếm 66,6% tổng dân số Đây là tỷ lệ khá lớn do Hải Dương cũng như nhiềuđịa phương khác trong cả nước đang trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế củatỉnh trong việc thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư phát triển sản xuất trên địa bànnhưng cũng tạo ra áp lực cho thành phố trong việc giải quyết việc làm và các vấn đề xãhội
Trình độ văn hoá của lực lượng lao động thành phố đạt mức khá Năm 2014, sốlao động có trình độ từ tốt nghiệp cấp II trở lên chiếm 93,1% (trong đó số tốt nghiệpcấp III chiếm 76%) - cao hơn mức trung bình của tỉnh Hải Dương (81% và 74,3%) Chất lượng của lực lượng lao động thành phố chia theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật đã có những chuyển biến tích cực Giai đoạn 2011-2015, trung bình mỗinăm, số lao động qua đào tạo (từ sơ cấp học nghề trở lên) tăng 13%/năm (trong đó
từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên tăng 11,9%/năm) Cùng với những chươngtrình đào tạo nghề tỷ lệ lao động qua đào tạo (cao đẳng trở lên) của thành phố ngàycàng tăng Năm 2014, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25%
2.1.2 Môi trường, thể chế, chính sách quản lý NSNN tại Thành phố Hải Dương
Là trung tâm kinh tế của cả tỉnh, thành phố Hải Dương có điều kiện huy độngnguồn lực cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Giai đoạn 2011-2015, doảnh hưởng suy thoái kinh tế chung cả nước và chính sách cắt giảm đầu tư công từChính phủ, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của thành phố sự sụt giảm nhưngvẫn ở mức khá Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2012-2015đạt 11,4%/năm, trong đó: nhóm ngành dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất ởmức 15,1%/năm, ngành công nghiệp, xây dựng giữ tốc độ tăng trưởng tương đối ổnđịnh so với thời kỳ trước ở mức 10,4%/năm, ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản gầnnhư không tăng trưởng, chỉ đạt mức 0,03%/năm
Giai đoạn 2012-2015, do ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế cả nước gặp nhiềukhó khăn, nên tốc độ tăng vốn đầu tư cũng sụt giảm so với giai đoạn trước nhưngvẫn đạt mức khá so với các địa phương khác trong tỉnh Tính chung trong giai đoạn2012-2015, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt 4.978,2 tỷ đồng, đạt mứctăng trưởng bình quân 6,4%/năm Giai đoạn này, tỷ lệ đầu tư từ NS (do địa phương
Trang 37quản lý) giảm đáng kể, chỉ còn 11% so với tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn(không kể vốn do tỉnh và Trung ương quản lý).
Dưới tác động của suy thoái kinh tế thế giới cũng như các cuộc khủng hoảngnăng lượng, tài chính, môi trường; kinh tế trong nước (2012-2015) gặp nhiều khókhăn, thị trường bất động sản trầm lắng kéo dài, nhiều dự án không triển khaiđược các doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm, sản xuất giảm sút, thiếuvốn, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc giải thể, các đơn vị nợ tiền sửdụng đất kéo dài ảnh hưởng không nhỏ đến thu NSNN trên cả nước nói chung,tỉnh Hải Dương nói riêng Thu NS sụt giảm đã tác động không nhỏ đến chi NS, việccân đối thu chi gặp nhiều khó khẳn Tuy nhiên, với sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạothành phố, các cấp các ngành từ thành phố đến cơ sở, nhìn chung công tác thu trênđịa bàn thành phố những năm qua cơ bản đã đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu,nhiệm vụ của HĐND – UBND thành phố đề ra
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý NSNN Thành phố Hải Dương hiện nay
Phòng Tài chính-Kế hoạch là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân thànhphố, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân thành phố thực hiện chức năngquản lý nhà nước thuộc lĩnh vực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật
Phòng Tài chính-Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định củapháp luật về lĩnh vực Tài chính và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
1.Trình Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành các quyết định, chỉ thị, quyhoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về lĩnh vực tài chính; chương trình,biện pháp thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực Tàichính thuộc trách nhiệm quản lý của phòng
2.Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, cácquy hoạch, kế hoạch chương trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thông tin,tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực Tài chính trên địa bàn
3 Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán thuộc thành phố, Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; xây dựng trình Uỷ bannhân dân thành phố dự toán ngân sách thành phố theo hướng dẫn của Sở Tài chính
Trang 384 Lập dự toán thu ngân sách Nhả nước đối với các khoản thu phân cấp quỷan
lý, dự toán chi ngân sách cấp thành phố và tổng hợp dự toán ngân sách cấp xã,phường, phương án phân bổ ngân sách thành phố trình Uỷ ban nhân dân thành phố,lập dự toán ngân sách điều chỉnh trong trường hợp cấp thiết để trình uỷ ban nhândân thành phố, tổ chức thực hiện dự toán ngân sách đã được quyết định
5 Hướng dẫn, kiểm tra quản lý tài chính,ngân sách, giá, thực hiện chế độ kếtoán của chính quyền cấp xã; tài chính hợp tác xã, tài chính kinh tế tập thể và các cơquan, đơn vị hành chính của Nhà nước thuộc cấp thành phố
6 Phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc quản lý công tác thu ngân sáchnhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật
7.Thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư do thành phố quản lý, thẩm định quyếttoán thu chi ngân sách xã; lập quyết toán thu, chi ngân sách thành phố; tổng hợp,lập báo cáo quyết toán thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố và quyết toánthu chi ngân sách cấp thành phố (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp thànhphố và quyết toán thu chi ngân sách cấp xã) báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố đểtrình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn
Tổ chức thẩm tra, trình chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp thành phố phê duyệtquyết toán đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của chủ tịch Uỷ ban nhân dâncấp thành phố Thẩm tra, phê duyệt quyết toán các dự án dầu tư bằng nguồn vốn sựnghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách thành phố quản lý
8 Quản lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệpthuộc cấp thành phố quản lý theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tàichính Thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân cấp thành phố quyết định theo thẩm quyềnviệc mua sắm, thuê, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán, tiêu huỷ tài sản Nhà nước
9 Quản lý nguồn kinh phí được uỷ quyền của cấp trên, quản lý các dịch vụ tàichính theo quy định của pháp luật
10 Quản lý giá theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; kiểm tra việcchấp hành niêm yết giá và bán theo giá niêm yết của các tổ chức, cá nhân kinhdoanh hoạt động trên địa bàn
11.Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật; xây dựng hệ thống thôngtin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý tài chính và chuyên môn nghiệp vụ được giao
Trang 3912.Thực hiện chế độ thông tin báo cáo định kỳ và đột xuất về tài chính, ngânsách, giá thị trường với Uỷ ban nhân dân cấp thành phố và Sở tài chính
13.Chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan kiểm tra việc thihành pháp luật tài chính, giúp Uỷ ban nhân dân cấp thành phố giải quyết các tranhchấp, khiếu naị, tố cáo về tài chính theo quy định của pháp luật
14.Quản lý cán bộ, công chức và tài chính, tài sản được giao theo quy định củapháp luật và phân công của Uỷ ban nhân dân cấp thành phố
15.Thực hiện các nhiệm vụ khác về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chínhtheo phân công, phân cấp hoặc uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp thành phố vàtheo quy định của pháp luật
2.2 Thực trạng các yếu tố chi NSNN tại Thành phố Hải Dương
Công tác thu NS của thành phố trong những năm qua gặp nhiều khó khănnhưng thành phố vẫn tập trung chỉ đạo thu NS vượt kế hoạch từ 2-5% (chỉ tiêu Đạihội tăng từ 5% trở lên) Thành phố đã quản lý chặt chẽ và khai thác tốt các nguồnthu, chủ động đưa ra các biện pháp chống thất thu thuế và phí, lệ phí trên địa bàn.Bên cạnh đó, do thu NS còn khó khăn nên thành phố đã tập trung cơ cấu lại cáckhoản chi, bố trí đảm bảo các khoản chi thiết yếu, chi an sinh xã hội
Bảng 2.1 Cân đối ngân sách thành phố Hải Dương
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
A Tổng thu NSTP 586.041 567.075 646.869 764.593
1 - Thu cân đối NSTP 416.829 409.829 365.509 428.251
2 - Thu quản lý qua ngân sách 17.935 19.137 18.075 18.240
3 - Thu bổ sung NS cấp trên 151.277 138.109 263.285 318.102
a + Thu bổ sung cân đối từ NS cấp trên 111.579 106.169 186.309 225.271
b + Thu bổ sung có mục tiêu từ NS cấp trên 39.698 31.940 76.976 92.831
B Tổng chi NSTP 584.591 562.641 646.493 764.374
(Nguồn: Quyết toán chi ngân sách thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015)
Trang 40Theo số liệu quyết toán thu, chi ngân sách thành phố Hải Dương giai đoạn2012-2015 thì tổng thu ngân sách hàng năm có tăng lên, chủ yếu là do tăng thu bổsung từ NS cấp trên (chiếm tỷ trọng lớn khoảng 41% trong tổng thu NS hằng nămcủa thành phố): tổng thu NS thành phố năm 2012 đạt 586.041 triệu đồng, trong đóthu cân đối là 416.829 triệu đồng; Tổng thu NS thành phố năm 2013 đạt 567.075triệu đồng trong đó thu cân đối giảm chỉ còn 409.829 triệu đồng, Tổng thu NS thànhphố đến năm 2014 đạt 646.869 triệu đồng trong đó thu cân đối giảm sâu hơn, chỉ365.509 triệu đồng; Tổng thu NS thành phố đến năm 2015 đạt 764.593 triệu đồng,trong đó thu cân đối có dấu hiệu phục hồi, đạt 428.251 triệu đồng
Trong điều kiện kinh tế chung của tỉnh và cả nước gặp nhiều khó khăn, thànhphố đã thực hiện quản lý tốt chi NS trên địa bàn, thực hành tiết kiệm, đảm bảo chithường xuyên và các nhiệm vụ chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh
tế xã hội; thực hiện tốt Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm,chống lãng phí Ngoài các khoản chi tiết kiệm từ đầu năm khi giao dự toán, UBNDthành phố đã chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi và triển khai tới các đơn vị chủđộng thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên 9 tháng còn lại năm 2012 là 853triệu đồng; tiết kiệm 15% chi thường xuyên 6 tháng cuối năm 2013 là 808 triệuđồng; tiết kiệm 10% chi thường xuyên 7 tháng cuối năm 2014 là 550 triệu đồng;cắt giảm những khoản chi mua sắm lớn và giãn tiến độ một số dự án chưa thực
sự cần thiết