Trong văn bản Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các cơ sởđào tạo, Bộ Giáo dục & Đào tạo nêu rõ “chất lượng giáo dục trường đại học, caođẳng là sự đáp ứng mục tiêu do nh
Trang 1Cán bộ chấm phản biện 1:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị)
Cán bộ chấm phản biện 2:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị)
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨHỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰNgày tháng năm 20
Trang 2BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn: DƯƠNG THỊ CƯỜNG
Đề tài luận văn: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường
Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ.
Mã số: 60 34 04 12
Cán bộ hướng dẫn: Tiến sĩ, Trịnh Đình Cường.
Tác giả, cán bộ hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày… ………… với các nội dung sau:
………
………
………
………
………
……… ………
Ngày tháng năm 20
Cán bộ hướng dẫn
TS Trịnh Đình Cường
Tác giả luận văn
Dương Thị Cường
Trang 3Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trungthực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luậtViệt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Dương Thị Cường
Trang 5Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ; Khoá: 26A
Cán bộ hướng dẫn: Tiến sĩ, Trịnh Đình Cường
Tên đề tài: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳngCông nghệ Hà Nội
Tóm tắt:
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Chất lượng giáo dục đại học 5
1.1.2 Những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề chất lượng 11
1.1.3 Các thành tố quan trọng trong thiết lập hệ thống đảm bảo chất lượng 14
1.1.4 Các mô hình quản lý chất lượng 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI 32
2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của trường CĐCN Hà Nội 32
2.1.1 Lịch sử phát triển 32
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 33
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và quản lý 33
2.2 Thực trạng công tác đào tạo của trường CĐCN Hà Nội 36
2.2.1 Chương trình và hình thức đào tạo 36
2.2.2 Nội dung và chương trình đào tạo 38
2.2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viện 65
2.2.4 Cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật phục vụ đào tạo 69
2.2.5 Thực trạng kết quả đào tạo và việc làm của học sinh sinh viên 73
2.3 Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của trường CĐCN Hà Nội 78
2.3.1 Chương trình đào tạo 78
2.4 Những kết luận rút ra từ việc đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo 82
Trang 72.4.4 Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ đào tạo 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỞNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NÔI 85
3.1 Các căn cứ để xác định các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo 85
3.1.1 Căn cứ khoa học 85
3.1.3 Định hướng và mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội 87
3.1.2 Căn cứ thực tiễn 88
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nôi 92
3.2.1 Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học 92
3.2.2 Tổ chức quản lý đào tạo 94
3.2.3 Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 95
3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo 99
3.2.5 Đổi mới công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo 100
3.2.6 Xây dựng mối liên hệ trong đào tạo giữa Nhà trường với các cơ quan, doanh nghiệp 102
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2: Đảm bảo chất lượng như một hệ thống tránh lỗi trước và trong lúc có sự cố 20
Trang 10MỞ ĐẦU
Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển củamỗi quốc gia, dân tộc Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những thành tựu tolớn trong quá trình phát triển nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo như:Nhật Bản với quan điểm coi “Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợphài hoà giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức Phương Tâyhiện đại”; hay Singapore với phương châm “Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽthắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; cường quốc như Mỹ cũng luôn chú trọngđến việc “Tập trung cho đầu tư giáo dục - đào tạo và thu hút nhân tài”; một người bạnlớn của Việt Nam là Liên xô trước đây cũng đã khẳng định “Chính sách về con người
là điểm bắt đầu và là điểm kết thúc của mọi chính sách kinh tế - xã hội”
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn thế hệ trẻ “Non sông ViệtNam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quangsánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phầnlớn ở công học tập của các cháu” hay “Vì lợi ích 10 năm phải trồng cây, vì lợi íchtrăm năm phải trồng người”
Lời dạy của Người chứa đựng toàn bộ giá trị chân lý của thời đại mang tênNgười Để không bị tụt hậu, để xây dựng và phát triển thành công một đất nước độclập tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì rất cần phải nhận thức rõ hơn nữa vịtrí và vai trò của giáo dục và đào tạo
Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã luôn khẳng định giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên đi trước một bước so với các chính sáchphát triển kinh tế - xã hội khác Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã có nhiều quan điểmchỉ đạo về phát triển giáo dục và đào tạo Ngày 03/ 9/1945, trong phiên họp đầu tiên củaHội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó
có nhiệm vụ về giáo dục: Diệt giặc dốt
Giáo dục và đào tạo là nền tảng của sự phát triển khoa học và công nghệ, kinh
tế - xã hội Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, đòi hỏi giáo dục và đào tạo
Trang 11cần phải đổi mới kịp thời nội dung, phương pháp dạy và học Việc đổi mới giáo dụcđang diễn ra trên quy mô toàn cầu Hầu hết các quốc gia hướng tới một nền giáodục lành mạnh, hiệu quả, thiết thực, trực tiếp phục vụ cho phát triển, hội nhập vàhợp tác.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản,toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dânchủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển độingũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo
có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phầnquan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam" Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã định hướng: "Phát triển và nâng caochất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiếnlược"
Hiện nay các cơ sở giáo dục và đào tạo được mở rộng, số lượng trường, lớp,giáo viên học sinh tăng lên, hệ thống các cơ sở dạy nghề, hệ thống các trường caođẳng, đại học được tăng về số lượng, phát triển về chất lượng Trường Cao đẳngCông nghệ Hà Nội được thành lập năm 2007 cũng nằm trong tiến trình đầu tư chophát triển giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội, đặc biệt là giáo dục cao đẳng - lĩnh vực có nhiệm vụ đào tạo đội ngũlao động trình độ thực hành cao Với vị trí quốc sách hàng đầu, giáo dục và đào tạo cóvai trò là nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Khi nguồn lực conngười được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia thì phát triển giáodục và đào tạo là phương tiện chủ yếu để quyết định chất lượng con người, là nềntảng của chiến lược con người
Trường CĐCN Hà Nội hiểu rõ tầm quan trọng sứ mệnh của mình nên từ khi đượcthành lập đến nay luôn đề rõ mục tiêu: đào tạo đội ngũ nhân lực vừa hồng vừa chuyên đểxây dựng và phát triển Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung
Từ những vấn đề nêu trên, với kinh nghiệm thực tế quản lý kết hợp với những
kiến thức khoa học quản lý được trang bị trong khóa học, tác giả chọn đề tài “Một
Trang 12số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội”
cho luận văn tốt nghiệp cao học
Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng chất lượng đào tạo ở Trường Caođẳng Công nghệ Hà Nội, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượngđào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường TrườngCao đẳng Công nghệ Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận
có liên quan đến quá trình đào tạo, lý luận dạy - học, mục tiêu, nội dung, phương phápdạy - học, các biện pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo
Nghiên cứu thực tiễn nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sởthực tiễn của đề tài Thống kê toán học để xử lý các số liệu
Cấu trúc và nội dung của luận văn gồm: Ngoài phần Mở đầu và Kết
luận, nội dung cơ bản của luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đào tạo
Chương 2: Thực trạng về chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
Trang 13Vì vậy, chất lượng GDĐH có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng đến sự thịnh suy củađất nước Xác định nội hàm khái niệm chất lượng GDĐH hết sức cần thiết trong nỗlực đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, chất lượng GDĐH dịch chuyển
từ đảm bảo chất lượng tiến dần sang chất lượng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
và thông qua khách hàng Điều này làm thay đổi quan điểm về chất lượng GDĐH.Trong đó, vấn đề thỏa mãn nhu cầu, kì vọng của khách hàng được quan tâm hàngđầu Với cách tiếp cận thông qua khách hàng, các trường đại học, cao đẳng, bêncạnh đảm bảo chất lượng sản phẩm đào tạo còn chú trọng đến việc thỏa mãn nhucầu của khách hàng và đánh giá chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường thôngqua khách hàng
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và những thay đổi của môi trường, đòi hỏitrường đại học, cao đẳng phải có chiến lược tìm hiểu từ khách hàng, đo lường sự hài lòngcủa khách hàng và xây dựng mối quan hệ với khách hàng Nhu cầu của kháchhàng phải được liên kết chặt chẽ với chiến lược của nhà trường Những thôngtin liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn của khách hàng đóng vai tròquan trọng, bởi vì, thông tin này là cơ sở cho việc cải tiến sự thỏa mãn, đáp ứngnhu cầu của khách hàng Chỉ có như vậy, sản phẩm đào tạo của các trường đạihọc, cao đẳng sẽ đáp ứng được nhu cầu của xã hội và của khách hàng sử dụnglao động, đồng thời, làm tăng uy tín, thương hiệu của nhà trường
Giáo dục đại học từ lâu là đòn bẩy của sự phát triển nền kinh tế quốc gia và là
hy vọng thay đổi số phận của hàng triệu con người trên thế giới Trong đó, GDĐHluôn đóng một vai trò quan trọng, bởi lẽ, chính GDĐH đóng góp phần lớn trong
Trang 14việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước với phẩm chất đạo đức tốt,giỏi về chuyên môn, giàu óc sáng tạo, có đủ năng lực bắt kịp với tốc độ hội nhập vàphát triển của thế giới Sản phẩm đào tạo của các trường đại học, cao đẳng quyếtđịnh gần như toàn bộ chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Chính vì vậy, chấtlượng GDĐH được xem là một trong những yếu tố quan trọng vào bậc nhất thúcđẩy sự phát triển của đất nước và luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của toàn xãhội.
Mặc dù, có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng GDĐH vẫn là một kháiniệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của người này cũngkhác so với người kia
Định nghĩa chất lượng GDĐH là việc làm thiết thực nhằm giúp các trường đạihọc, cao đẳng thiết lập các chuẩn mực chất lượng và đề xuất các giải pháp đảm bảo vànâng cao chất lượng của nhà trường Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, kháiniệm chất lượng GDĐH cần phải được xác định một cách toàn diện với cách tiếp cậnmới, đó là, tiếp cận thông qua khách hàng
1.1.1 Chất lượng giáo dục đại học
Sự toàn cầu hóa, công nghệ cao, đặc biệt công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, xã
hội thông tin, xã hội học tập… Những xu thế mới này đặt ra những vận hội và thách
thức mới cho GDĐH Hơn thế nữa, trong xu thế hội nhập hiện nay, khi các nền giáodục của các châu lục, các quốc gia dần tiến đến việc công nhận bằng cấp, chương trìnhđào tạo của nhau thì vấn đề chất lượng GDĐH có ý nghĩa hết sức quan trọng
1.1.1.1 Các quan điểm về chất lượng giáo dục - đào tạo
Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ thời cổđại Tuy nhiên, khái niệm chất lượng nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng là mộtkhái niệm gây nhiều tranh cãi Nguyên nhân bắt nguồn từ nội hàm phức tạp củakhái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và tính đa diện, đa chiều của khái niệmnày Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên của khái niệm chấtlượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trìnhgiảng dạy và học tập Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất
Trang 15lượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực và kiến thức của sinh viên khi
ra trường
Do vậy, không thể nói đến chất lượng như một khái niệm nhất thể, chất lượngcần được xác định kèm theo mục tiêu hay ý nghĩa của nó Điều này đặt ra một yêucầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạc các tiêu chí với những chỉ sốđược lượng hóa, nêu rõ các phương thức đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng
sẽ được sử dụng trong và ngoài
Chất lượng GDĐH được định nghĩa rất khác nhau tùy theo từng thời điểm vàgiữa những người quan tâm: Sinh viên, giảng viên, người sử dụng lao động, các tổchức tài trợ và các cơ quan kiểm định; trong nhiều bối cảnh, nó còn phụ thuộc vàotình trạng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Harvey và Green đề cập đến năm khía cạnh chất lượng GDĐH và đã đượcnhiều tác giả khác thảo luận, công nhận và phát triển:
- Chất lượng là sự vượt trội;
- Chất lượng là sự hoàn hảo;
- Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu;
- Chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền để đầu tư;
- Chất lượng là sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác
Ở Anh, các khái niệm “chất lượng” và “đáng giá đồng tiền” đã trở thành nhữngvấn đề trọng tâm của GDĐH Các khái niệm này và các nguyên tắc chất lượng đượcthể hiện rất rõ ràng trong các mục tiêu GDĐH của Chính phủ Bộ Thương mại vàCông nghiệp của nước Anh định nghĩa chất lượng như sau: “Chất lượng đơn giản làđáp ứng được các yêu cầu của khách hàng”
Ở Úc, một trong những định nghĩa về chất lượng GDĐH được nhiều ngườiđồng ý nhất là: “một đánh giá về mức độ mục tiêu đạt được và các giá trị, sự xứngđáng với mức độ đạt được đó Chất lượng là sự đánh giá về mức độ đạt được củacác đặc điểm mong muốn từ các hoạt động và kết quả có được theo một số chuẩnmực và đối chiếu với một số các tiêu chí hay mục tiêu cụ thể nào đó”
Ở Việt Nam, khái niệm “chất lượng” và các cách tiếp cận khác nhau về chấtlượng được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đề cập trong các ấn phẩm của mình Các
Trang 16định nghĩa về khái niệm chất lượng đều thể hiện “chất lượng là sự phù hợp vớimục tiêu”.
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2002) hiện nay trên thế giới có sáu quanđiểm về chất lượng GDĐH như sau:
(1) Chất lượng được đánh giá “đầu vào”: Theo quan điểm này, một trường ĐH
có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy
có uy tín, có cơ sở vật chất tốt và trang thiết bị hiện đại Tuy nhiên, theo quan điểmnày, sẽ khó giải thích trường hợp một trường dại học, cao đẳng có nguồn lực dồidào nhưng chỉ có hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có nhữngnguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình đào tạohiệu quả
(2) Chất lượng được đánh giá “đầu ra”: Trường đại học, cao đẳng có chất lượngcao nếu đào tạo được nhiều sinh viên tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trìnhkhoa học có giá trị, nhiều khóa học thu hút người học Trên thực tế, quan điểm nàychưa hoàn toàn phù hợp vì một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc,không có nghĩa là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hơn thế nữa cách đánhgiá đầu ra của các trường rất khác nhau
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Trường đại học, caođẳng có chất lượng cao nếu tạo được sự khác biệt lớn trong sự phát triển về trí tuệ
và cá nhân sinh viên sau quá trình đào tạo tại trường Điểm hạn chế của quan điểmnày là khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào”
và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó.(4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Trường đại học, caođẳng có chất lượng cao nếu có được đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có
uy tín lớn Tuy nhiên điểm yếu của quan điểm này là ở chổ, liệu có thể đánh giáđược năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi có xuhướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng.(5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”: Trường đại học,cao đẳng có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt độngkhông ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực
Trang 17công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực GDĐH.
(6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm định”: Trường đại học, cao đẳng cóchất lượng cao nếu kết quả kiểm định chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập đủthông tin cần thiết và những người ra các quyết định về GDĐH có đủ thông tin cầnthiết, sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng.Điểm yếu của quan điểm này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở đàotạo có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những quyết địnhchưa phải là tối ưu
Trên cơ sở phân tích sáu quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Đức Chính nêu rõ
“chất lượng là một khái niệm tương đối, động, đa chiều” và “chất lượng là sự phù hợpvới mục đích hay đạt được các mục đích đề ra trước đó”
Trong văn bản Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các cơ sởđào tạo, Bộ Giáo dục & Đào tạo nêu rõ “chất lượng giáo dục trường đại học, caođẳng là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêuGDĐH của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước”
Chất lượng GDĐH được quan niệm là sự phù hợp với mục tiêu của cơ sở giáodục - đào tạo, cao đẳng; mà mục tiêu theo nghĩa rộng bao gồm sứ mạng, mục đích,đối tượng và các đặc trưng khác của nhà trường Sứ mạng và mục tiêu GDĐH củamột quốc gia nói chung được xác định là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội củađất nước thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo ở những trình độnhất định
Sứ mạng trên của trường đại học, cao đẳng có thể không đổi; nhưng để đápứng được mục tiêu của GDĐH thông qua hai hoạt động đề cập trên, chất lượngGDĐH phải là một khái niệm động, không thể bất biến do sự vận động khôngngừng của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội của đất nước Tiến trình phát triểnkinh tế xã hội đòi hỏi ngày càng cao hơn về chất lượng nguồn nhân lực; do đó, đảmbảo và không ngừng nâng cao chất lượng GDĐH là một yêu cầu bắt buộc đối vớimột trường đại học, cao đẳng
1.1.1.2 Khái niệm chất lượng GDĐH với cách tiếp cận thông qua khách hàng
Trang 18Trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu sắc như hiện nay, quan tâm
và tập trung vào chất lượng là vấn đề sống còn của bất kì cơ sở đào tạo nào, dù đó,
là nhà trường phổ thông hay trường đại học, cao đẳng Trong xu thế đó, chất lượngGDĐH dịch chuyển từ đảm bảo chất lượng tiến dần sang chất lượng thỏa mãn nhucầu của khách hàng và thông qua khách hàng Sự chuyển động này không phải xuấtphát từ đảm bảo chất lượng với một vài yếu tố của chất lượng thông qua khách hàng
mà chủ yếu từ khái niệm chất lượng thông qua khách hàng có sự hỗ trợ của đảm bảochất lượng
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng thông qua khách hàng làm thay đổi quanđiểm về chất lượng GDĐH Thay vì, như cách tiếp cận truyền thống trước đây, kháiniệm chất lượng GDĐH được thiết lập bởi các trường đại học, cao đẳng hay bởi cácchuyên gia, các nhà nghiên cứu giáo dục Nhiệm vụ các trường đại học, cao đẳng làquản lý theo kế hoạch nhằm đảm bảo sản phẩm đào tạo đáp ứng được chuẩn chấtlượng đã thiết kế mà không lưu tâm đến nhu cầu của khách hàng, không tiến hànhđánh giá, lấy ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm đào tạo Đây
là cách tiếp cận chưa toàn diện bởi lẽ khách hàng hiện nay không chỉ đơn thuầnmong chờ họ được cung ứng cái gì, mà được cung ứng như thế nào, bao giờ và ởđâu với những kỹ năng và con người cung ứng như thế nào Vì vậy, khái niệm chấtlượng GDĐH cần được đề cập với cách tiếp cận mới toàn diện và phù hợp với bốicảnh, xu thế phát triển GDĐH hiện nay đó là tiếp cận thông qua khách hàng
Cách tiếp cận chất lượng GDĐH thông qua khách hàng thể hiện khái niệm chấtlượng GDĐH Trong đó vấn đề đáp ứng nhu cầu, kì vọng của khách hàng được ưu tiênhàng đầu Chất lượng sản phẩm được thể hiện qua các tính năng của sản phẩm và phảithỏa mãn nhu cầu sử dụng của khách hàng
Khách hàng là quan tòa của chất lượng Vì vậy, các trường đại học, cao đẳng,bên cạnh đảm bảo chất lượng sản phẩm đào tạo, quan tâm thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng sẽ yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào cũng như uy tín, thươnghiệu của một nhà trường Chất lượng sản phẩm đào tạo của các trường phải đượcđánh giá bởi khách hàng và kết quả đánh giá là cơ sở để các trường xây dựng kếhoạch cải tiến và tiến hành cải tiến nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 19của nhà trường
Các trường cần cam kết với khách hàng về chất lượng sản phẩm đào tạo Điềunày thật sự mang lại niềm tin cho khách hàng đồng thời một khi khách hàng hài lòng,chính họ sẽ quảng cáo thương hiệu của nhà trường
Với cách tiếp cận chất lượng thông qua khách hàng, cần làm rõ khái niệmkhách hàng Đối với các tổ chức kinh doanh hàng hóa và dịch vụ thì khách hàng của
họ được xác định và phân loại dễ dàng Nhưng đối với các cơ sở giáo dục thì kháchhàng của họ là ai? Có phải là sinh viên, phụ huynh sinh viên, giảng viên, người sửdụng lao động và xã hội Vì vậy, các cơ sở giáo dục cần xác định ai là khách hàngchính của mình để thiết lập các biện pháp thỏa mãn nhu cầu của họ
Đối với giáo dục - đào tạo, khách hàng được hiểu theo nghĩa rộng nhất lànhững người sử dụng sản phẩm giáo dục Như vậy, có khách hàng bên ngoài vàkhách hàng bên trong dịch vụ Theo đó, khách hàng bên ngoài của trường là nhàtuyển dụng; phụ huynh sinh viên; sinh viên tốt nghiệp Khách hàng bên trong(khách hàng nội bộ) có thể được hiểu là mối quan hệ qua lại giữa giảng viên vớisinh viên thông qua quá trình dạy học
Từ những quan điểm về chất lượng GDĐH và phân tích nêu trên cùng với cách tiếpcận mới - tiếp cận thông qua khách hàng, chất lượng GDĐH được hiểu là:
- Khái niệm tương đối, động, đa chiều;
- Phù hợp với mục tiêu của nhà trường, mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầuphát triển của xã hội;
- Thỏa mãn nhu cầu, kì vọng của khách hàng
1.1.1.3 Định nghĩa của Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo quốc tế
Ngoài các định nghĩa trên, Tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạoquốc tế đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng GDĐH là:
- Tuân theo các chuẩn quy định
- Đạt được các mục tiêu đề ra
Theo định nghĩa thứ nhất, cần có bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục - đào tạo vềtất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào
Trang 20bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có bộ tiêu chí chuẩn thì việc thẩm định chấtlượng GDĐH sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mụctiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước và những điều kiện đặc thù của trường đó.
Như vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng bộ tiêu chí cósẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu
đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, các trường đại học sẽđược xếp loại theo 3 cấp độ (1) Chất lượng tốt; (2) Chất lượng đạt yêu cầu; (3) Chấtlượng không đạt yêu cầu Cần chú ý là các tiêu chí hay các chuẩn phải được lựa chọnphù hợp với mục tiêu kiểm định
Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và nhiều học giả cho rằng
không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác Tuy vậy, việc xácđịnh một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều cần thiết
và có thể làm được
1.1.2 Những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề chất lượng
1.1.2.1 Khái niệm truyền thống về chất lượng
Theo khái niệm truyền thống về chất lượng, một sản phẩm có chất lượng làsản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền
Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sử hữu nó Trong giáo dục - đào tạo, chấtlượng có thể tương đồng với các trường đại học như Oxford và Cambridge.Tuy nhiên, khái niệm về chất lượng như vậy khó có thể dùng để đánh giá chấtlượng trong toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo Nếu mỗi trường đại học đượcđánh giá bằng các tiêu chuẩn như đã sử dụng cho trường đại học Oxford vàCambridge thì đa số các trường sẽ bị quy là có chất lượng kém Vả lại, không cầnthiết phải làm cho tất cả các trường đại học đều giống như Oxford hay Cambridge.Cách tiếp cận truyền thống đã tuyệt đối hoá khái niệm chất lượng
1.1.2.2 Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)
Cách tiếp cận chất lượng từ góc độ tiêu chuẩn hay các thông số kỹ thuật cónguồn gốc từ ý tưởng kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ.Trong bối cảnh này, tiêu chuẩn được xem là công cụ đo lường, hoặc bộ thước đo -
Trang 21một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có của một sản phẩmhay dịch vụ Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của
nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó
Trong giáo dục đại học, cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường đại họcmuốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về cáclĩnh vực trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường mình và phấnđấu theo các chuẩn đó
Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn này đượcxây dựng nên trên cơ sở nào Hơn nữa, thuật ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm về mộthình mẫu tĩnh tại, nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì khôngphải xem xét lại chúng nữa Trong khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ đang cónhững bước tiến mới, tri thức loài người ngày càng phong phú thì “tiêu chuẩn” củagiáo dục đại học không thể là một khái niệm tĩnh
Trong một vài trường hợp, tiêu chuẩn trong giáo dục đại học với nghĩa là nhữngthành tựu của sinh viên khi tốt nghiệp được xem là chất lượng trong giáo dục - đào tạo vàđược sử dụng để chỉ đầu ra của giáo dục đại học với ý nghĩa là trình độ, kiến thức, kỹnăng đạt được của sinh viên sau quá trình học tập tại trường
1.1.2.3 Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng được đa số các nhà hoạch định chính sách
và quản lý giáo dục đại học, kể cả tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc
tế sử dụng là tính phù hợp với mục đích hay đạt được các mục đích đề ra trước đó.Những người ủng hộ cách tiếp cận này cho rằng chất lượng không có ý nghĩa gì nếukhông gắn với mục đích của sản phẩm hay dịch vụ đó Chất lượng được đánh giá bởimức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố
Cách tiếp cận này cho phép cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí
mà một sản phẩm hay dịch vụ cần có Nó là một khái niệm động, phát triển theothời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tuỳ thuộcvào đặc thù của từng loại trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượnggiáo dục - đào tạo ở các cấp độ khác nhau
Còn nếu để xét chất lượng về một khoá học nào đó thì chất lượng sẽ được xemxét trên góc độ là khối lượng, kiến thức, kỹ năng, mà khoá học đã cung cấp, mức độ
Trang 22nắm, sử dụng các kiến thức và kỹ năng của sinh viên sau khoá học v.v Nhược điểmcủa cách tiếp cận này là rất khó xác định mục tiêu của giáo dục - đào tạo trong từngthơì kỳ và cụ thể hoá nó cho từng khối trường, từng trường cụ thể, thậm chí cho từngkhoa, hay khoá đào tạo Hơn nữa giáo dục đại học có thể có nhiều mục đích, một sốmục đích cụ thể có thể xung đột với nhau (như giữa yêu cầu tăng quy mô và nâng caochất lượng) và trong trường hợp đó cũng khó có thể đánh giá chất lượng của mộttrường đại học.
1.1.2.4 Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường đại học
Theo cách tiếp cận này, một trường đại học có chất lượng cao là trường tuyên
bố rõ ràng sứ mạng của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệusuất nhất Cách tiếp cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩnchất lượng và mục tiêu đào tạo của trường mình Thông qua kiểm tra, thanh trachất , các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng củanhà trường Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có nguồn lựchạn chế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an toàn những nguồnlực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một cách hiệu quả nhất
1.1.2.5 Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Trong 20 năm gần đây, người ta không chỉ nói tới việc sản phẩm phải phù hợpvới các thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới sự đáp ứng nhucầu của người sử dụng sản phẩm đó Vì vậy, khi thiết kế một sản phẩm hay dịch vụ,yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có được nhữngđặc tính mà khách hàng mong muốn và với giá cả mà họ sẽ hài lòng trả
Trong giáo dục - đào tạo, định nghĩa này gây ra một số khó khăn trong việcxác định khái niệm khách hàng Đó là sinh viên (người sử dụng dịch vụ như thưviện, ký túc xá, phòng thí nghiệm .) hay là Chính phủ, các doanh nghiệp (ngườitrả tiền cho các dịch vụ đó) hay đó là cán bộ giảng dạy, cha mẹ sinh viên …
1.1.2.6 Quan niệm về chất lượng trong giáo dục - đào tạo
Mặc dù, khó có thể đưa ra được một định nghĩa về chất lượng trong giáodục - đào tạo mà mọi người đều thừa nhận, song các nhà nghiên cứu cũng cố gắngtìm ra những cách tiếp cận phổ biến nhất Cơ sở của các cách tiếp cận này xem
Trang 23chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và với nhữngngười ở các cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét
nó Đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên của khái niệm chất lượngphải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trìnhgiảng dạy và học tập Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chấtlượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực và kiến thức của sinh viênkhi ra trường Do vậy, không thể nói tới chất lượng như một khái niệm nhất thể,chất lượng cần được xác định kèm theo với mục tiêu hay ý nghĩa của nó và ở khíacạnh này, một trường đại học có thể có chất lượng cao ở một lĩnh vực này nhưng
1.1.3 Các thành tố quan trọng trong thiết lập hệ thống đảm bảo chất lượng
1.1.3.1 Đặt vấn đề
Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng phụ thuộc vào cách một hệthống được sắp xếp, vào sự đầy đủ các nguồn nhân lực và tài chính, vào cách cácđánh giá trong và ngoài được tổ chức Nó cũng phụ thuộc vào sứ mạng của một
hệ thống giáo dục - đào tạo và các mục đích cũng như mục tiêu chuyên môn Đảmbảo chất lượng xem xét đầu vào, quá trình và đầu ra Theo Annesley, King, vàHarte, để đảm bảo rằng kết quả của một hệ thống giáo dục đạt được chất lượngmong muốn, một hệ thống đảm bảo chất lượng phải quan tâm đến các quá trìnhcác hoạt động giảng dạy sau đây: thiết kế và nội dung của các môn học; chuyển tải
và đánh giá; đánh giá, giám sát và xem xét, quản lý nói chung
Theo Freeman, có ba bước cơ bản trong việc thành lập một hệ thốngđảm bảo chất lượng: thiết lập sứ mạng của nhà trường, thiết kế các phươngpháp và lập các chuẩn mực
Một quan điểm khác của đảm bảo chất lượng được Frazer cho rằng có bốn thànhphần chính trong một hệ thống đảm bảo chất lượng:
Trang 24Thứ nhất, tất cả mọi người trong hệ thống phải có trách nhiệm duy trì chất
lượng của sản phẩm hay dịch vụ mà tổ chức làm ra
Thứ hai, tất cả mọi người phải có trách nhiệm củng cố chất lượng của sản phẩm
hay dịch vụ đó
Thứ ba, tất cả mọi người ‘hiểu, sử dụng, và cảm thấy mình là người làm chủ hệ
thống đang hoạt động đúng hướng nhằm duy trì và củng cố chất lượng
Thứ tư, những người hưởng lợi (người quản lý hay khách hàng) cần phải
thường xuyên kiểm tra hệ thống và có trách nhiệm kiểm tra chất lượng của sảnphẩm hay dịch vụ
Lim đề nghị rằng cần có nhiều bước chi tiết trong cách tiếp cận việc thiết lậpmột hệ thống đảm bảo chất lượng Các bước đó là:
- Xác định sứ mạng hay mục đích của các trường đại học;
- Xác định các chức năng mà các trường đại học thực hiện, và tầm quan trọngtương ứng trong việc thực hiện sứ mạng;
- Xác định các mục tiêu của mỗi chức năng và đặt ra các chỉ số thực hiện địnhtính và định lượng của chúng;
- Thành lập một hệ thống quản lý đảm bảo chất lượng, và các quá trình quản lýnhằm đảm bảo rằng các mục tiêu này có thể đạt được và thành lập một hệ thốngkiểm định chất lượng nhằm đánh giá việc các trường đại học thực hiện các chứcnăng và xác định các lĩnh vực nơi cần có sự cải tiến
Các đề nghị có liên quan đến việc làm thế nào thành lập một hệ thống đảm bảochất lượng nói chung thường tập trung vào việc có được các đánh giá trong và đánh giángoài Điều này cho thấy tầm quan trọng của đánh giá trong và ngoài trong đảm bảochất lượng Tuy nhiên, các nghiên cứu của Freeman, Peters cho thấy rằng yếu tố quyếtđịnh duy nhất của chất lượng trong một trường đại học là từ bên trong của chính trường
đó Nó được quyết định bởi chất lượng quản lý và năng lực của các nhà lãnh đạo vàquản lý Cũng rất quan trọng khi những người có trách nhiệm trong việc đưa ra cácquyết định về mục đích, mục tiêu của trường phát triển được các đặc điểm chung trongkiểm soát chất lượng trong toàn bộ các hoạt động của nhà trường Một khi các quy định
về kiểm soát chất lượng đã được nhà trường áp dụng, đánh giá đồng cấp, đánh giá
Trang 25trong và đánh giá ngoài cần phải được củng cố và giúp các trường tập trung vào việcphát huy các mặt mạnh và khắc phục các mặt yếu của mình.
1.1.3.2 Các mô hình đảm bảo chất lượng
- Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử Nó bao gồm việckiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêuchuẩn đã đề ra Nó là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đó được làm xong,loại bỏ hoặc từ chối những sản phẩm có lỗi Việc làm này thường kéo theo lãng phítương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu
Sơ đồ 1 Quá trình Kiểm soát chất lượng
Nói chung, kiểm soát chất lượng là một quá trình mà trong đó một sản phẩmhay một dịch vụ, hoặc bất cứ bộ phận nào trong quá trình có liên quan đến việc sản
Quá trình
Cơ chế quản lý Chất lượng đề nghị
Phương pháp
làm việc
Các nguồn lực
Kiểm soát
chất lượng
Sản phẩm
Nhận thức của khách hàng
Loại bỏ sản phẩm
Trang 26xuất hay vận chuyển sản phẩm, được kiểm tra theo một tiêu chuẩn đã được định trước
và sẽ bị loại bỏ hay làm lại nếu như nó không đạt chuẩn (theo Sơ đồ 1)
Nói cách khác, kiểm soát chất lượng tập trung vào việc theo dõi lại các lỗitrong quá khứ Kiểm soát chất lượng trong môi trường sản xuất là “một phươngthức cần thiết cho việc thanh tra và loại bỏ, những sản phẩm có khiếm khuyết.Russo định nghĩa chất lượng như “một quá trình thanh tra mà ở đó mỗi mộtsản phẩm hay một mẫu sản phẩm, được kiểm soát” Theo Russo, khái niệm chủyếu trong kiểm soát chất lượng là “quá trình này không nhằm vào gốc rễ của vấn
đề Kiểm soát chất lượng chỉ giải quyết các vấn đề sau khi chúng bị phát hiện”.Trong khi kiểm soát chất lượng được xem là một khái niệm cũ nhất của đảmbảo chất lượng trong lĩnh vực sản xuất hay công nghiệp, khái niệm này lại tương đốimới và ít được chấp nhận trong môi trường đại học Điều này, là do trong giáo dục,khó có thể định nghĩa thế nào là chất lượng và giáo dục bao giờ cũng là một quá trìnhhai chiều Hơn thế nữa, khó có thể xác định rõ ràng được các sản phẩm của giáo dục
vì chất lượng của quá trình giáo dục trong đại học luôn đòi hỏi sự đóng góp của cácsinh viên
- Đảm bảo chất lượng
Đây là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòngchống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩmđược thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo nhữngtiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảochất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động, thường làm việc trong các đơn vịđộc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên Mặc dù, thanh tra cũng có thể có vai trònhất định trong đảm bảo chất lượng
Trong môi trường kinh doanh, đảm bảo chất lượng được xem là một quá trình
“nơi mà một nhà sản xuất đảm bảo với khách hàng là sản phẩm hay dịch vụ của mìnhluôn đáp ứng được các chuẩn mực” Lý thuyết chủ đạo của hệ thống đảm bảo chấtlượng xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào giáo dục
Trong giáo dục - đào tạo, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệthống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từtrước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng
Trang 27Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng đượctính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng ở đạihọc Theo Russo, đảm bảo chất lượng “xem xét các quá trình được sử dụng nhằmkiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm Nếunhư chúng ta có hệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ tránh đi việc có thể có các phếphẩm”.
Đảm bảo chất lượng như một hệ thống quản lý, theo Freeman, đảm bảo chấtlượng là “một cách tiếp cập mà công nghiệp sản xuất sử dụng nhằm đạt đượcchất lượng tốt nhất…Đảm bảo chất lượng là một cách tiếp cận có hệ thống nhằmxác định nhu cầu thị trường và điều chỉnh các phương thức làm việc nhằm đápứng được các nhu cầu đó.” Theo cách hiểu đó, đảm bảo chất lượng là một cáchtiếp cận việc tổ chức công việc, nhằm đảm bảo rằng:
+ Sứ mạng và mục đích của tổ chức được tất cả mọi người trong tổ chức biếtmột cách rõ ràng (tính phổ biến, tính minh bạch)
+ Hệ thống mà theo đó công việc được thực hiện là được suy tính cẩn thận,
rõ ràng và được truyền đạt đến tất cả mọi người (tính kế hoạch)
+ Tất cả mọi người đều biết rõ trách nhiệm của mình (tính tự chịu trách nhiệm)
+ Cái mà tổ chức cho là chất lượng đều được định nghĩa rõ ràng và có lưutrữ lại trong tài liệu của tổ chức (sự đồng tâm)
Có thể thấy rõ là nếu như việc quản lý ở tất cả các cấp độ không xem đảmbảo chất lượng là vấn đề nghiêm túc, hệ thống đảm bảo chất lượng đó sẽ khônghọat động có hiệu quả Trong giáo dục - đào tạo, “các hệ thống đảm bảo chất lượngkhông đảm bảo cho việc dạy và học tốt…nhưng việc dạy và học tốt thường đượcphát huy khi vấn đề chất lượng được mọi người trong một trường đại học quantâm như một vấn đề quan trọng của tổ chức trường đại học đó” Tuy nhiên, vấn
đề thiếu hụt cơ sở vật chất và các nguồn lực nhằm đảm bảo chất lượng cũng làcác khó khăn quan trọng cho các trường đại học của các nước đang phát triển.Trong giáo dục - đào tạo, đảm bảo chất lượng được xem là “tổng số các cơ chế vàquy trình được áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng đã được định trước hoặc việc
Trang 28cải tiến chất lượng liên tục – bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyếnkhích, đánh giá và kiểm soát chất lượng”.
Không giống như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng phải diễn ratrước và trong tiến trình sự kiện nhằm tránh lỗi, và dựa rất nhiều vào việc trìnhbày công khai (Sơ đồ 2) Mục đích đầu tiên của đảm bảo chất lượng là tránhcác lỗi có thể có ngay từ đầu
Một hệ thống đảm bảo chất lượng hiệu quả là một hệ thống có thể họccách tránh, tìm ra và sửa các lỗi có thể xảy ra trong quá trình Nó được thiết kếnhằm hỗ trợ một tổ chức đạt được các mục tiêu đã được đề ra Freeman gọi đảm bảochất lượng là một hệ thống học tập và tự sửa lỗi: “nó thay đổi để thể hiện các nhucầu đang thay đổi.” Đảm bảo chất lượng, do đó, vượt khỏi việc chỉ chấp nhận hayloại bỏ sản phẩm Người ta mong muốn rằng hệ thống này được thiết kế một cáchmềm dẻo và dễ thay đổi theo môi trường đang không ngừng thay đổi TheoFreeman, để làm cho việc thay đổi được diễn ra thuận lợi hơn, cần thiết phải cóviệc sửa các lỗi trong một hệ thống đảm bảo chất lượng Có hai dạng lỗi: mộtdạng do con người gây ra và một dạng là do hệ thống đã lỗi thời Đối với dạngthứ nhất, hệ thống đảm bảo chất lượng sửa các lỗi hay các thất bại có thể có Đốivới dạng thứ hai, cần phải thay đổi phương pháp
Trang 29Sơ đồ 2: Đảm bảo chất lượng như một hệ thống tránh lỗi
trước và trong lúc có sự cố
- Đảm bảo chất lượng: Giá trị bên trong và tác động bên ngoài
Có hai mô hình đảm bảo chất lượng trái ngược nhau trong giáo dục - đàotạo thời Trung cổ: mô hình của Pháp và mô hình của Anh Mô hình của Pháp đượcxem như là nguyên mẫu của kiểm soát chất lượng thông qua tính tự chịu tráchnhiệm Trong mô hình này, quyền đưa ra các giải quyết vấn đề có liên quan đếnviệc dạy cái gì và ai dạy, thuộc về những người có quyền lực ở bên ngoài tổchức Các giảng viên chỉ có trách nhiệm về nội dung giảng dạy Mô hình củaAnh giống như việc xem xét chất lượng của các đồng nghiệp Giảng viên đượcquyền đưa ra cách quyết định có liên quan đến chương trình giảng dạy và cácvấn đề riêng khác của trường
Quá trình
Hệ thống ĐBCL Chất lượng đề nghị
Phương pháp
làm việc
Các nguồn lực
Hệ thống
sửa lỗi
Nhận thức của khách hàng
Loại bỏ sản phẩm
Cơ chế quản lý
Trang 30Van Vught cho rằng cần phải kết hợp hai mô hình vì “việc tập trung chỉvào một trong hai mô hình sẽ dẫn đến việc đánh giá quá cao và đầy mạo hiểm một
số chức năng cụ thể và việc thực hiện của các trường đại học Theo Van Vught, giáodục - đào tạo luôn cần cả hai chất lượng ở từ bên trong lẫn bên ngoài Chất lượng
từ bên trong là nhằm tìm kiếm chân lý và theo đuổi kiến thức Chất lượng từ bênngoài là nhằm để cung cấp dịch vụ cho xã hội Bất cứ hệ thống đảm bảo chất lượng
ở đại học nào cũng phải dựa vào sự kết hợp này
Không giống như các nghiên cứu về chất lượng có tác động từ bên trong vốn cómột lịch sử phát triển lâu đời, các nghiên cứu về chất lượng tác động từ bên ngoài chỉbắt đầu từ những năm 60 Tuy nhiên, càng ngày nó càng trở nên quan trọng khi giáodục - đào tạo thế giới đang thay đổi sứ mạng của mình
Mối quan tâm ngày càng cao của phụ huynh, giáo viên và các nhà chính trị
về chất lượng của hệ thống giáo dục trong đất nước của mình đối với sự pháttriển trong tương lai đã khiến cho các nhà giáo dục tập trung vào đảm bảo chấtlượng Trong một xã hội hiện đại, các giá trị và thái độ được truyền đến cho sinhviên từ những người trưởng thành đang chịu trách nhiệm trong việc nuôi nấng dạy
dỗ và thông qua giáo dục, qua truyền thanh đại chúng và qua nhà trường Tươnglai của một dân tộc phụ thuộc vào việc cải tiến chất lượng của mỗi thế hệ Chấtlượng giáo dục phụ thuộc không những vào chất lượng và động cơ của lựclượng giảng dạy mà còn vào động cơ của sinh viên Các giá trị và thái độ của xãhội có ảnh hưởng trực tiếp đến cả hai động cơ này
Để đảm bảo một hệ thống giáo dục có thể đạt được chất lượng như mong muốn,một hệ thống đảm bảo chất lượng trong thế kỷ mới phải quan tâm đến các quá trìnhsau đây: thiết kế và nội dung của các môn học, sự truyền tải và đánh giá kết quả, đánhgiá tổ chức, giám sát, quản lý nói chung
Điều cần thiết cho một khung chương trình đảm bảo chất lượng hiện nay trongcác hệ thống giáo dục là việc Chính phủ và các nhà quản lý của các trường đại họccần thiết lập một hệ thống hợp pháp nhằm đảm bảo chất lượng của nhà trường Đặcđiểm chủ yếu của hệ thống này là tính tự chịu trách nhiệm của các trường đại họctrước cộng đồng về chất lượng giáo dục và đào tạo của mình Chính phủ có thể sẽ hỗ
Trang 31trợ các sáng kiến nhằm củng cố hệ thống giáo dục - đào tạo bằng cách tập trung vàokết quả Ở các trường đại học phương Tây, cụ thể là ở Australia, các cuộc khảo sáthằng năm nhằm thu được các phản ánh của sinh viên về mức độ hài lòng của họ đốivới khóa học và khảo sát kết quả tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp, được thiết kếnhằm đảm bảo rằng sinh viên hài lòng với chất lượng của khóa học và rằng có thể sosánh các trường đại học với nhau một cách công khai.
1.1.3.3 Thanh tra chất lượng
Thanh tra chất lượng là việc của các cơ quan hữu quan tổ chức để xemxét một cách kỹ lưỡng quá trình đảm bảo chất lượng và kiểm tra chất lượng tạimột cơ sở giáo dục có được thực hiện một cách hợp lý và có đúng kế hoạchhay không
1.1.3.4 Kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng có thể được áp dụng cho một trường đại học, hoặc chỉcho một chương trình đào tạo của một môn học Kiểm định đảm bảo với cộng đồngcũng như với các tổ chức hữu quan rằng một trường đại học (hay một chương trìnhmột môn học nào đó) có những mục tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp;
có được những điều kiện để đạt được những mục tiêu đó, và có khả năng phát triểnbền vững Kiểm định nhằm hai mục đích: (i) Đảm bảo với những đối tượng tham giavào công tác giáo dục rằng một chương trình đào tạo, hay một trường khoa nào đó đãđạt hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất lượng; (ii) Hỗ trợ trường liên tục cảitiến chất lượng Cơ chế tự quản lý chất lượng này được áp dụng cho toàn bộ hệ thốnggiáo dục quốc dân, từ bậc phổ thông cơ sở tới bậc đại học và sau đại học
1.1.3.5 Đánh giá chất lượng
Chất lượng giáo dục - đào tạo như đã trình bày ở phần trên, là một khái niệmđộng, đa chiều và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người vàngười Do vậy, không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá và đo lường chấtlượng trong giáo dục - đào tạo Trong giáo dục - đào tạo người ta thường dùng một
bộ thước đo bao gồm các tiêu chí và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trìnhđào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường đại học Bộ thước
đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể
Trang 32đánh giá đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường đại học Các chỉ số đó
có thể là chỉ số định lượng, tức là đánh giá và đo được bằng điểm số Cũng có thể cócác chỉ số định tính, tức là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá.Việc đánh giá, đo lường chất lượng có thể được tiến hành bởi chính cán bộgiảng dạy, sinh viên nhằm mục đích tự đánh giá các điều kiện đảm bảo chấtlượng đào tạo cũng như đánh giá chất lượng đào tạo của trường mình Ví dụ, mộttrường đại học tự điều tra số lượng sinh viên tìm được việc làm phù hợp với ngànhđào tạo trong thời gian 6 tháng sau khi tốt nghiệp để tìm hiểu mức độ đáp ứng yêucầu xã hội của sinh viên trường mình hoặc thống kê số công trình nghiên cứukhoa học của cán bộ đã công bố trong 5 năm cuối để có thể có chế độ khuyếnkhích những người có nhiều thành tích trong nghiên cứu khoa học và xem đó
là việc tăng cường yếu tố đảm bảo chất lượng cho trường mình Việc đánh giá, đolường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do các cơ quan hữuquan thực hiện với các mục đích khác nhau…(khen - chê, xếp hạng, kiểm địnhcông nhận )
1.1.3.6 Chính sách chất lượng và kế hoạch chiến lược chất lượng
Điều quan trọng đối với một nền giáo dục - đào tạo cũng như của mộttrường đại học là phải có một chủ trương rõ ràng về chất lượng Chính sách chấtlượng là một tuyên ngôn về sự cam kết của mình đảm bảo sẽ cung cấp một nềngiáo dục - đào tạo có chất lượng Chủ trương đó phải được thể hiện bằng nhữngphương châm cụ thể
- Các trường đại học trong hệ thống giáo dục - đào tạo Việt nam sẽ sửdụng hệ thống tự kiểm định chất lượng của mình để phát triển các điểm mạnh,khắc phục các điểm yếu, trên cơ sở đó có thể sử dụng công cụ kiểm định thốngnhất trong toàn quốc làm tiền đề cho việc hoà nhập vào hệ thống kiểm định chấtlượng của giáo dục - đào tạo khu vực và thế giới.v.v
Các lĩnh vực dạy - học, nghiên cứu khoa học, dịch vụ cộng đồng là nềntảng cơ sở để các trường đại học thiết kế các công cụ kiểm định Trên cơ sởchính sách chất lượng đó các trường phải xây dựng cho mình một kế hoạchchiến lược chất lượng
Trang 33Chất lượng không tự nhiên xuất hiện, mà phải có kế hoạch chiến lược cho nó.Chất lượng phải là vấn đề quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của mỗi trường
và phải được tiếp cận thông qua một quá trình kế hoạch hoá chặt chẽ Kế hoạch chiếnlược là một trong những vấn đề lớn nhất của Quản lý chất lượng tổng thể Không cómột định hướng dài hạn và rõ ràng thì nhà trường không thể có kế hoạch tiến tới chấtlượng cao Trình tự của quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược có thể được mô tảnhư sau:
+ Tầm nhìn, sứ mạng và xác định các giá trị
+ Phân tích bối cảnh xã hội
+ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và các điều kiện cần đểthành công
+ Chính sách chất lượng và kế hoạch chiến lược chất lượng
+ Chi phí chất lượng
+ Đánh giá phản hồi
Theo trình tự này, chiến lược chất lượng là một bộ phận cần thiết của kếhoạch chiến lược và có tầm quan trọng đặc biệt đối với uy tín của nhà trường Kếhoạch đó nhằm đưa ra một chương trình hành động cụ thể nêu rõ chương trình cảitiến và nâng cao chất lượng được tiến hành và duy trì như thế nào Kế hoạch chiếnlược chất lượng phải có các mục đích và mục tiêu rõ ràng cho từng thời kỳ, khả thi
và có thể đo đếm được Trong kế hoạch chiến lược chất lượng cũng phải chi tiếthoá các cơ chế thông qua đó các giáo chức và cán bộ phục vụ cũng như sinh viên cóthể tham gia vào quá trình cải tiến chất lượng không ngừng
1.1.4 Các mô hình quản lý chất lượng
Khi đảm bảo chất lượng được xem như một hệ thống quản lý, có nghĩa là đượcđặt vào tay những người có trách nhiệm bên trong một trường đại học, câu hỏi có thểđược đặt ra là liệu hệ thống quản lý đó có phải được kiểm soát từ bên ngoài nhằmgiúp các trường đảm bảo rằng quá trình đó là công bằng và khách quan không Có thểthấy rõ mối quan tâm về các cơ chế có tính tự chịu trách nhiệm nhằm có thể cải tiếnkhả năng đảm bảo chất lượng chuyên môn của tấm bằng đại học ngày càng cao Bên
Trang 34cạnh đó, một số hệ thống các trường đại học đang theo đuổi cơ chế chính sách thịtrường trong quản lý Trong đó có mô hình BS 5750/ ISO 9000; mô hình quản lý chấtlượng tổng thể (TQM) và mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational ElementsModel).
1.1.4.1 Mô hình BS 5750/ ISO 9000.
Bản chất của mô hình BS 5750/ISO 9000 là một hệ thống các văn bản quyđịnh tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trìnhsản xuất đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quy cách,các thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra “phùhợp với mục đích” BS 5750/ ISO 9000 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đối vớinhững người sử dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian.Mọi người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cáchnghiêm túc BS5750/ ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục - đào tạo Do có nguồn gốc
từ lĩnh vực sản xuất hàng hoá nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này khôngphù hợp
Trong những năm 1980 và 1990, cùng với chủ nghĩa nghệ thuật quản lý vàphong trào tiếp thị hóa, ISO bắt đầu được đưa vào các lĩnh vực kinh doanh, vàsau đó được giới thiệu vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo Tư tưởng chủ đạo của cácchuẩn ISO có vẻ rất đơn giản: nói những gì bạn làm, làm những gì bạn nói, ghi lạinhững gì bạn đã làm, kiểm tra lại kết quả và hành động khi có sự khác biệt Có thểthấy là nếu như quá trình chất lượng của một công ty được tiến hành trôi chảy thì
nó sẽ cho ra được những sản phẩm có chất lượng
Không giống như kiểm soát chất lượng, ISO không phải là một hệ thống cótính thanh tra mà ISO đòi hỏi bằng chứng nhận ISO được viết cho các lĩnh vựcsản xuất và được làm ra cho các tổ chức kinh doanh các sản phẩm nhất định Do đó,các tiêu chí cần phải chính xác và nghiêm nghặt Trong giáo dục, nhằm có được cáctiêu chí thích hợp với tổ chức cần phải có các thay đổi phù hợp, vì câu hỏi có thể đặt
ra là: sản phẩm trong giáo dục là gì? Có nhiều tranh luận rằng sản phẩm của giáo dục
là những người tốt nghiệp, không hoàn toàn nằm trong dây chuyền sản xuất, vàngười học như những bình rỗng sẽ được lấp đầy với sự thông thái của người dạy
Trang 35và trong quá trình đến trường – quá trình nhận được sù giáo dục và rèn luyện kỹnăng Một ý kiến khác cho rằng người tốt nghiệp đóng ba vai trò trong quá trìnhgiáo dục: như khách hàng, như người diễn viên trong quá trình sự giáo dục diễn ra
và như một phần của sản phẩm
1.1.4.2 Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management - TQM)
Cũng giống như một hệ thống đảm bảo chất lượng, TQM tập trung vào năm lĩnhvực: sứ mạng và chú trọng đến khách hàng; cách tiếp cận các hoạt động có hệ thống;việc phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực; các tư tưởng dài hạn và sự phục vụ hết mực.Theo Sherr và Lozier, có năm thành phần chính ảnh hưởng đến việc cải tiến chất lượng ởđại học: sự trung thực, chia sẻ quan điểm, kiên nhẫn, hết lòng làm việc, và lý thuyếtTQM Trong năm thành tố trên, chỉ có cái cuối cùng là có thể dạy và học được
Về mặt lý thuyết, TQM đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các bộ phận vànhân viên của một tổ chức Tuy nhiên, dù TQM được xem là một hệ thống cóhiệu quả trong việc đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực kinh doanh thì chỉ có một
số nhỏ các trường đại học thông báo là họ suy nghĩ đến khả năng áp dụng TQMtrong trường của mình Điều đó cho thấy rằng phần lớn các trường có vẻ nghi ngờmức độ hiệu quả của TQM trong lĩnh vực chuyên môn Đối với những trường nghĩđến việc áp dụng TQM thì hầu như họ chỉ làm điều này trong các lĩnh vực nhưquản lý vì chúng giống như quản lý kinh doanh hay trong công nghiệp hơn
Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể - một mô hình cũng có xuất xứ từthương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục - đào tạo Đặctrưng của mô hình Quản lý chất lượng tổng thể là ở chỗ nó không áp đặt một hệthống cứng nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo đại học nào, nó tạo ra một nền “Văn hoáchất lượng” bao trùm lên toàn bộ quá trình đào tạo Triết lý của Quản lý chất lượngtổng thể là tất cả mọi người bất kỳ ở cương vị nào, vào bất kỳ thời điểm nào cũngđều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao và hoàn thành nómột cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thoả mãn nhu cầu của khách hàng
- Cải tiến liên tục
Triết lý quan trọng nhất của quản lý chất lượng tổng thể là cải tiến khôngngừng, và có thể đạt được do quần chúng và thông qua quần chúng Sự cải tiếnliên tục này được thể hiện trong kế hoạch chiến lược của trường đại học bằng
Trang 36các chu kỳ cải tiến, nâng cao dần theo vòng xoáy trôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợiích lâu dài, từ trình độ xuất phát ở một thời điểm nhất định vươn khôngngừng tới các trình độ cao hơn.
Quản lý chất lượng tổng thể là một quá trình tự quản lý nhằm giảm lỗitrong từng chu kỳ/giai đoạn sản xuất Các thanh tra được thay thế bằng chínhcác công nhân sản xuất và chính họ là những cán bộ tham gia trong quá trình
q uản lý chất lượng tổng thể làm cho công việc sản xuất của họ hoàn thiện hơn.Mặc dầu quản lý chất lượng tổng thể từ trước tới nay đều được áp dụng trongquy trình sản xuất công nghiệp nhưng các nguyên tắc tương tự này cũng có thểđựơc áp dụng trong các ngành dịch vụ như giáo dục Tuy nhiên, để có thể ápdụng phương pháp này trong các ngành dịch vụ, chúng ta phải có một số điềuchỉnh trong tư duy
Nhưng làm thế nào để có thể xác định được một sinh viên tốt nghiệp cóbằng cấp đạt chất lượng Hiện không có một bộ chuẩn nào có thể giúp đo được
chính xác tính hiệu quả của quá trình “sản xuất” ra một sinh viên tốt nghiệp.
Thay vào đó, các trường đại học thường nhìn vào các năng lực mà sinh viên tốt nghiệp
đã được đào tạo hơn là vấn đề liệu sinh viên có sử dụng được các năng lực đó hay cótiềm năng thành công trong công việc tương lai hay không Nói cách khác, một sinhviên “hoàn hảo” phải được xem xét từ góc độ những thành tích họ đạt được ngoàinhững năng lực cơ bản đã được đào tạo Đối với một sinh viên tốt nghiệp đại học, vấn
đề chất lượng không phải là khái niệm “sản phẩm không mắc lỗi” mà là mức độ thành
đạt của sinh viên trong công việc ngoài các bằng cấp tối thiểu
Trong công tác đảm bảo chất lượng trong các ngành dịch vụ như giáo dục,
chúng ta không thể xác định được một sản phẩm “không mắc lỗi” mà không làm
giảm đi nhiều khả năng có thể đạt được mức độ hoàn hảo Do đó, quá trình đảmbảo chất lượng nhất thiết phải xuất phát từ một hệ thống đảm bảo chất lượng màtrong đó có sự chú trọng đến khái niệm cải tiến chất lượng liên tục Khái niệm
một sinh viên tốt nghiệp đạt chất lượng “không mắc lỗi” được xét theo một cách rất
hạn chế - đó là trên phương diện những bằng cấp tối thiểu
- Cải tiến từng bước
Trang 37Quản lý chất lượng tổng thể được thực hiện bằng một loạt dự án quy mônhỏ có mức độ tăng dần Về tổng thể, quản lý chất lượng tổng thể có quy môrộng, bao quát toàn bộ hoạt động của một trường đại học, song việc thực hiệnnhiệm vụ đó trong thực tế lại có quy mô hẹp, khả thi, thiết thực và có mức độtăng dần Các dự án đồ sộ nhiều khi không phải là con đường tốt nhất vì thiếukinh phí và nếu thất bại sẽ gây ra hạu quả lớn Các dự án nhỏ sẽ dễ thành công,tạo ra sự tự tin và làm cơ sở cho các dự án sau lớn hơn.
Cách tiếp cận cải tiến chất lượng theo mức độ tăng dần cho thấy rằng,việc cải tiến không nhất thiết phải là quy trình tốn kém Chi phí tự thân nókhông tạo ra chất lượng, còn nếu chi phí có mục tiêu rõ ràng, khả thi thì nó cótác dụng to lớn
- Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng.
Chìa khoá của sự thành công trong quản lý chất lượng tổng thể là tạo ra sự gắn bó hữu
cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường vai trò của các cán bộ quản lý cấptrường là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo v i ê n , sinh viên, chứkhông phải chỉ là lãnh đạo kiểm tra họ Trong quản lý chất lượng tổng thể môhình cấp bậc trong hệ thống tổ chức quản lý nhà trường phải là mô hình đảongược (Sơ đồ 3)
Sự đảo ngược về thứ tự trong hệ thống tổ chức quản lý của trường đại họctheo mô hình quản lý chất lượng tổng thể không làm ảnh hưởng tới cơ cấuquản lý của trường đại học, cũng không làm giảm sút vai trò lãnh đạo của cán bộlãnh đạo trường, khoa Trong thực tế sự lãnh đạo của các cán bộ quản lý vẫn giữvai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể Đảo ngược thứ bậc chỉ nhằmnhấn mạnh mối tương quan trong quá trình đào tạo hướng tới sinh viên nhưnhân vật trung tâm
Trang 38Sơ đồ 3 Quản lý chất lượng tổng thể trong GDĐH
1.1.4.3 Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model)
Mô hình này đưa ra 5 yếu tố để đánh giá như sau:
- Đầu vào: sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào
tạo, quy chế, luật định, tài chính
- Quá trình đào tạo: phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo
- Kết quả đào tạo: mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả
năng thích ứng của sinh viên
- Đầu ra: sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp
ứng nhu cầu kinh tế và xã hội
- Hiệu quả: kết quả của giáo dục - đào tạo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội.
Dựa vào 5 yếu tố đánh giá trên các học giả đã đưa ra 5 khái niệm về chấtlượng giáo dục - đào tạo như sau:
- Chất lượng đầu vào: trình độ đầu vào thỏa mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra.
Cán bộ phục vụCán bộ giảng dạy
Cán bộ quản lý cấp khoa
Cán bộ lãnh đạo cấp trường
Sinh viên
Cán bộ giảng dạ
y và phục vụ
Cán bộ lãnh đạ
o ng, khoa trườ
Trang 39- Chất lượng quá trình đào tạo: mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy và
học và các quá trình đào tạo khác
- Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (sinh viên tốt
nghiệp, kết quả nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác) so với Bộ tiêu chíhoặc so với các mục tiêu đã định sẵn
- Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt các yêu cầu công tác của sinh viên
tốt nghiệp qua đánh giá của chính bản thân sinh viên, của cha mẹ, của cơ quancông tác và của xã hội
- Chất lượng giá trị gia tăng: mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp
(kiến thức, kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội và đặc biệt hệ thốnggiáo dục đại học
Trong các mô hình quản lý chất lượng GDĐH nêu trên, nếu xem “chất lượng GDĐH là sự trùng khớp với mục tiêu” thì sử dụng mô hình TQM là phù hợp hơn
cả Mô hình này cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược của GDĐHtrong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước vàcác chính sách lớn của Chính phủ đối với GDĐH Từ đó, tùy thuộc vào nguồn lựchiện có, các nhà quản lý chất lượng GDĐH có thể chủ động tác động tới nhữngkhâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và từ đónâng cao dần chất lượng giáo dục – đào tạo theo kế hoạch đã đề ra
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
“Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” là một định nghĩa phù hợp nhất đối
với giáo dục đại học của chúng ta nói chung và đối với từng ngành đào tạo nóiriêng Mục tiêu trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng và do từng trườngđại học, cao đẳng xác định
Đảm bảo chất lượng là mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học phù hợpvới điều kiện của nước ta hiện nay Đảm bảo chất lượng là những quan điểm,chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, màthông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng các mục tiêu đã đề
ra đang được thực hiện, các chuẩn mực học thuật phù hợp đang được duy trì vàkhông ngừng nâng cao ở cấp trường và ở chương trình đào tạo của nhà trường.Trong chương 1, luận văn đã nghiên cứu những cơ sở lý luận chung về chất lượngGDĐH, các cách tiếp cận chất lượng, các thành tố của hệ thống bảo đảm chất lượngcũng như các mô hình quản lý chất lượng để làm cơ sở cho những nghiên cứu ở cácchương sau của luận văn