Để làm được những việc đó, đòi hỏi kế toán không chỉ cungcấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà còn phảicung cấp thông tin cụ thể về chi phí, giá thành,
Trang 1Tôi xin cam đoan đây công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêngtôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõràng Đề tài không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố.
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Đoàn Ngọc Thịnh
Trang 2Qua hai năm học tập và nghiên cứu tại lớp cao học kế toán 20 của Trường Đạihọc Thương Mại – Hà Nội khóa học 2014 – 2016, được sự dạy dỗ tận tình của cácgiáo viên bộ môn, sự quan tâm của các thầy cô cùng với sự nỗ lực của bản thân, đặcbiệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Trần Thị Hồng Mai đến nay tôi đã hoànthành luận văn với đề tài: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái ”.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị HồngMai, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên khoa Kế toán,tập thể giáo viên khoa sau Đại học, các thầy cô trong ban Giám hiệu đã giúp đỡ vàtạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này
Ngoài ra để có được kết quả như ngày hôm nay phải kể đến công lao củacác cô, chú anh chị trong phòng kế toán tại Công ty Cổ phần may xuất khẩu ViệtThái Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cô, chú, anh chị trong công
ty, đặc biệt là phòng kế toán công ty đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi tiếp cận vớithực tế về công tác kế toán nói chung và công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
và tính giá thành sản xuất nói riêng, đồng thời tư vấn và giải đáp các thắc mắc giúptôi hoàn thành đề tài này
Xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành
đề tàì này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Đoàn Ngọc Thịnh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 6
6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 8
8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 9
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 9
1.1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kế toán quản trị 9
1.1.2 Nội dung của kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất 13
1.2 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 15
1.2.1 Chi phí sản xuất 15
1.2.2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành 21
1.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 24
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 24
1.3.2 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 29
1.3.3 Xử lý, phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 43
Trang 41.3.5 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí sản xuất 48
1.4 Kinh nghiệm KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trên thế giới 50
1.4.1 Kinh nghiệm kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo mô hình kế toán Pháp 50
1.4.1 Kinh nghiệm kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo mô hình kế toán Mỹ 51
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 55
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT KHẨU VIỆT THÁI 56
2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 56
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 56
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 58
2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất 59
2.1.4 Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty CP may XK Việt Thái 60
2.1.5 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty CP may XK Việt Thái 65
2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP may XK Việt Thái 69
2.2.1 Đặc điểm, phân loại chi phí sản xuất của Công ty 69
2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 71
2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 75
2.2.4 Xử lý, phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 86
2.2.5 Cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 88
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 90
2.3.1 Ưu điểm 90
2.3.2 Hạn chế 92
Trang 5thành sản phẩm tại công ty 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 95
CHƯƠNG 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT KHẨU VIỆT THÁI 96
3.1 Định hướng phát triển và yêu cầu hoàn thiện 96
3.1.1 Định hướng phát triển công ty 96
3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 97
3.2 Những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 98
3.2.1 Hoàn thiện phân loại chi phí sản xuất 98
3.2.2 Hoàn thiện định mức chi phí sản xuất 101
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 103
3.2.4 Hoàn thiện cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 104
3.2.5 Tổ chức bộ máy kế toán phục vụ kế toán quản trị chi phí 107
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 107
3.3.1 Về phía nhà nước và các cơ quan chức năng 107
3.3.2 Về phía công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 109
3.4 Những hạn chế trong nghiên cứu và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 109
3.4.1 Những hạn chế trong nghiên cứu 109
3.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Chữ viết tắt Giải thích
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếpCPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
Trang 7Bảng 2.1: Định mức nguyên phụ liệu 72
Bảng 3.1 Bảng phân loại chi phí sản xuất chung 100
Bảng 3.2: Dự toán giá thành sản phẩm may mặc năm 2015 75
Bảng 3.3: Đăng ký định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm 102
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý doanh nghiệp 12
Sơ đồ 1.2: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo công việc 31
Sơ đồ 1.3: Quá trình vận động chi phí sản xuất theo công việc 33
Sơ đồ 1.4: Quá trình tập hợp CP và tính giá thành theo quá trình sản xuất 35
Sơ đồ 1.5: Quá trình vận động chi phí sản xuât theo quá trình sản xuất 36
Sơ đồ 2.1 - Quy trình công nghệ sản xuất 60
Sơ đồ 2.2 : Bộ máy kế toán của công ty CP may XK Việt Thái 65
Sơ đồ 3.1: Xác định chi phí theo công việc 103
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước năm 1986 khi nền kinh tế nước ta còn là nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung, trong hệ thống lý luận cũng như thực tiễn vè kế toán người ta chỉ sử dụng duynhất khái niệm “kế toán” để nói về hệ thống kế toán doanh nghiệp Hiện nay, kinh
tế đất nước đã và đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng đa dạng hóa các thànhphần kinh tế, đặc biệt là sự tham gia của các công ty liên doanh, công ty cổ phần,công ty có vốn đầu tư nước ngoài làm cho hệ thống kế toán trong các doanhnghiệp đã có nhiều thay đổi nhằm đảm bảo thực hiện được vai trò quan trọng của
nó Và trong nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh và biến động đó, một doanhnghiệp muốn đứng vững, tồn tại và phát triển thì hệ thống kế toán phải khôngngừng phát triển và hoàn thiện nhằm giúp cho doanh nghiệp quản lý chặt chẽ cácyếu tố của quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm Để làm được những việc đó, đòi hỏi kế toán không chỉ cungcấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà còn phảicung cấp thông tin cụ thể về chi phí, giá thành, doanh thu và kết quả của doanhnghiệp để các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá và ra quyết định về giá
cả, đầu tư và lựa chọn phương án sản xuất Chính vì thế mà kế toán quản trị ra đời
và tồn tại cho đến ngày nay như một tất yếu khách quan
Kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí, giá thành nói riêngtrong các doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thiết lập hệ thốngthông tin một cách chi tiết phục vụ cho việc điều hành và quản lý nội bộ doanhnghiệp Tuy nhiên, do đặc thù về hoàn cảnh ra đời cũng như mục đích trong việccung cấp thông tin, cho đến nay khái niệm về KTQT nói chung và KTQT chi phísản xuất và tính giá thành nói riêng vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ tronghầu hết các doanh nghiệp Thực tế cho thấy công tác quản trị trong hệ thống kế toán
ở nước ta chưa thật phát huy được vai trò của mình, các nhà quản trị của cácdoanh nghiệp vẫn đang làm việc và đưa ra các quyết định kinh doanh mà chưa
Trang 9thực sự căn cứ vào các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp vẫn chủ yếu dựavào xu hướng phát triển của thị trường Chính vì thế mà KTQT nói chung vàKTQT chi phí, giá thành nói riêng lại càng trở nên quan trọng cho định hướng và
sự phát triển của doanh nghiệp
TS Nghiêm Văn Lợi trong bài báo Doanh nghiệp Việt còn mơ hồ về kế toán quản trị (năm 2015) đã viết: “Trong bối cảnh hội nhập, phải cạnh tranh với những
đối thủ có tiềm lực về vốn, được đào tạo bài bản về quản trị, có kinh nghiệm thươngtrường, nếu các DN Việt Nam không được trang bị những vũ khí này thì thất bại chỉ
là một sớm một chiều” Thật vậy, một doanh nghiệp muốn thành công thì phải cóchiến lược, có chiến lược nghĩa là phải có mục tiêu và kế hoạch rõ ràng Và kế toánquản trị có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược Đặcbiệt đối với ngành may mặc nói chung và đối với Công ty cổ phần may xuất khẩuViệt Thái nói riêng thì kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng lại càng trở nên cấp thiết Trong điều kiệndoanh nghiệp tiến hành sản xuất với định hướng phục vụ xuất khẩu, làm việc vớicác đối tác nước ngoài, rất cần có hệ thống quản trị và kiểm soát chi phí sản xuất,giá thành sản phẩm một cách chuyên nghiệp, chính xác và kịp thời phục vụ cho cácnhà quản trị trong doanh nghiệp khi điều hành sản xuất và ra quyết định Trong khi
đó hệ thống kế toán hiện tại chủ yếu là kế toán tài chính, nhìn chung mới chỉ đápứng được việc lập các báo cáo tài chính theo quy định, hầu như chưa hỗ trợ đượcnhiều cho mục đích quản trị
Với những yêu cầu cấp thiết về một hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm như vậy, trong điều kiện thực trạng công tác quan trị nóichung còn rất đơn giản và hạn chế, việc tìm hiểu về kế toán quản trị chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm dành cho các doanh nghiệp may xuất khẩu là rất cầnthiết, đặc biệt là tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái Vì lý do đó mà tác
giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái” nhằm
tìm hiểu một cách sâu sắc hơn về kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành
Trang 10sản phẩm đặt trong điều kiện thực tế tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Tháinhằm đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp phát triển vàhoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tạicông ty Đó cũng là cơ sở để các doanh nghiệp may xuất khẩu khác vận dụng vào đơn
vị của mình nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi phí sản xuất, xác định chính xác giáthành sản phẩm để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả hơn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Kế toán quản trị có một tầm quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triểncủa các doanh nghiệp, tuy nhiên thì hiệu quả mà nó mang lại đối với các doanhnghiệp đang áp dụng thì chưa đạt được như mong muốn Chính vì thế mà đến nay
kế toán quản trị nói riêng và kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm nói riêng trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều tác giả Các tác giả đã bắtđầu nghiên cứu về vấn đề này từ những năm 1990 Tuy nhiên những nghiên cứutrong giai đoạn này còn mang tính chất chung cho các doanh nghiệp, tính ứng dụng
về mặt quy mô còn quá rộng trong khi đó tính linh hoạt phụ thuộc vào đặc điểmhoạt động kinh doanh của từng ngành lại rất cao
Đến những năm gần đây, trong sự chuyển biến hội nhập mạnh mẽ của nền kếtoán Việt Nam với nền kế toán thế giới, hệ thống kế toán doanh nghiệp không cònduy nhất một bộ phận kế toán tài chính mà còn bao gồm cả bộ phận kế toán tàichính và bộ phận kế toán quản trị Khi tính ứng dụng của kế toán quản trị càng được
đề cao và hiệu quả mà nó mang lại đã tích cực hơn rất nhiều thì các nghiên cứu về
kế toán quản trị đã trở nên sâu sắc hơn như: nghiên cứu của tác giả Phạm Tô Minh
Tuấn (2011) trong luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn thành phố Thái Bình”.
Đây là một nghiên cứu tương đối cụ thể về đề tài KTQT chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm của các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn Thái Bình Trongluận văn tác giả nghiên cứu rất chi tiết về công tác KTQT của một số doanh nghiệp:
từ khâu lập dự toán đến việc phân tích các thông tin mà KTQT cung cấp đến việc raquyết định của các nhà quản trị Tuy nhiên luận văn vẫn còn một số những hạn chế
Trang 11nhất định như một số giải pháp chưa được nghiên cứu cụ thể như: Giải pháp tính giáthành dựa trên cơ sở hoạt động và giải pháp đề xuất xây dựng hệ thống báo cáo kếtoán chi phí giá thành Điều này gây khó khăn nhất định cho việc áp dụng trong
thực tiễn Hay nghiên cứu của tác giả Hà Thụy Phúc Trầm (2013) “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần cơ điện và xây lắp Hùng Vương”.
Trong luận văn tác giả đã đi phân tích chi phí sản xuất để tìm ra nguyên nhân biếnđộng của từng loại chi phí từ đó đã đưa ra được các biện pháp nhằm hoàn thiệncông tác KTQT chi phí sản xuất của công ty hướng tới mục tiêu tiết kiệm chi phí.Tuy nhiên thì luận văn cũng mới chỉ nghiên cứu trên phạm vi hẹp và tính vận dụngcho nhiều doanh nghiệp khác là không cao
Ngoài ra, còn có một số các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành xoay quanhvấn đề KTQT nói chung và KTQT chi phí và tính giá thành nói riêng như: Trên tạp
chí Tài chính Th.s Lê Thị Hồng đã có bài viết “Giải pháp xây dựng KTQT chi phí trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương” (2013) Bài viết nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của kế toán quản trị doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chưa
có điều kiện xây dựng hệ thống kế toán quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa hoànchỉnh nhưng kế toán quản trị chi phí thì không thể thiếu trong bất kỳ quy mô doanhnghiệp nào Bài viết đã đưa ra được một số giải pháp xây dựng kế toán quản trị chiphí doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thanh Hóa Cũng trên tạp chí tài chính
Th.s Trần Tuấn Anh và Th.s Đỗ Thị Thu Hằng có bài viết “Ứng dụng kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp Việt Nam” (2014) Bài
viết đề cập tới vấn đề học tập kinh nghiệp và vận dụng mô hình tổ chức kế toánquản trị của các nước có nền kinh tế phát triển nhằm xây dựng và hoàn thiện kế toánquản trị nói chung và kế toán chi phí và giá thành sản phẩm nói riêng Cũng đề cậpđến vấn đề ứng dụng kế toán quản trị trọng các doanh nghiệp Việt Nam Nguyễn Thị
Hải Vân – Đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp đã có bài viết “Nâng cao hiệu quả ứng dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam” (2014) Gần đây nhất trong bài viết “Doanh nghiệp Việt còn mơ hồ về kế toán quản trị” (2015) PGS.TS
Nghiêm Văn Lợi đã đưa ra những nhận định sâu sắc về sự vận dụng các vấn đề của
Trang 12kế toán quản trị trong công tác kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam Nhìn chungnhững nghiên cứu trên đây mới chỉ nêu ra những chỉ tiêu mang tính định tính là chủyếu, tính định lượng chưa cao, các chỉ tiêu đề ra mang tính chung chung khái quát,chưa cụ thể.
Nhận thấy tầm quan trọng của kế toán quản trị và những hạn chế của các luậnvăn trước mà tác giả đã lựa chọn cụ thể Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái đểnghiên cứu Tác giả đã phân tích thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
và tính giá thành sản, đánh giá ưu điểm và tồn tại trong công tác kế toán quản trị chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh
3 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Tìm hiểu kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty Cổ phần may xuất nhập khẩu Việt Thái, từ đó đưa ra một sốbiện pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành tạiCông ty
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại công ty Cổ phần may xuất khẩuViệt Thái
Trang 13- Phạm vi thời gian:
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4/2015 đến hết tháng 11/2015
+ Số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập trong phạm vi 3 năm 2013, 2014
và kế hoạch 2015
Nội dung nghiên cứu: Kế toán quản trị chi phí sản xuất.
5 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu
- Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trongdoanh nghiệp?
- Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh, về tổ chức công tác kế toán củacông ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái có tác động đến kế toán quản trị chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm như thế nào?
- Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tạicông ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái?
- Những hạn chế trong kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái? Những giải pháp nào để hoànthiện kế toán quản trị chi phí và tính giá thành tại công ty cổ phần may xuất khẩuViệt Thái
6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng phương phápnghiên cứu định tính gồm tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát, trong nghiên cứucác vấn đề lý luận và thực tiễn
* Phương pháp thu thập dữ liệu
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ sách báo, các tạp chí, các luận văn luận án,
Internet, các số liệu được thu thập từ tài liệu các phòng như tổ chức hành chính,phòng kế toán và các phân xưởng sản xuất
Để thực hiện phương pháp này, tác giả tiến hành sưu tầm, tìm kiếm các thôngtin, tài liệu liên quan đến tổ chức công tác kế toán quản trị nói chung và kế toánquản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng, từ đó tiến hành phântích đối chiếu so sánh và đưa ra các kết luận
Trang 14Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phỏng vấn, gọi điện thoại, quan sátthực tế, điều tra tại doanh nghiệp.
Để thực hiện phương pháp phỏng vấn: trước hết tác giả lên kế hoạch phỏngvấn (mục đích phỏng vấn, xác định thời gian địa điểm, xác định đối tượng phỏngvấn, phương và nội dung phỏng vấn) Với mỗi đối tượng được phỏng vấn khác nhaunhư giám đốc, kế toán trưởng hay nhân viên các phòng ban tác giả sẽ có những nộidung phỏng vấn khác nhau: cụ thể là những câu hỏi đã được chuẩn bị trước phục vụcho quá trình nghiên cứu đề tài Quy trình phỏng vấn có thể là gặp trực tiếp cũng cóthể thông qua gọi điện thoại, hoặc gửi cấc câu hỏi qua mail cho đối tượng được phỏngvấn Kết quả thu được từ cuộc phỏng vấn được tác giả lưu trữ bằng các phương tiệnnhư: giấy, bút, máy ghi âm
Để thực hiện phương pháp quan sát thực tế: tác giả tiến hành tiếp cận với cácthông tin số liệu từ các phòng ban, đặc biệt là phòng kế toán của công ty Nhưng dophần lớn các số liệu đều là các số liệu không có tính chất công khai, đặc biệt là các
số liệu liên quan đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩmnên việc thu thập được các số liệu và được công khai các số liệu tương đối hạn chế.Tất cả các thông tin thu thập được thông qua các phương pháp nêu trên đềuđược chuyển qua khâu phân tích và xử lý dữ liệu
* Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu
Phương pháp xử lý số liệu: sau khi xử lý các số liệu thô, sẽ tiến hành sắp xếp
theo các chỉ tiêu khác nhau phục vụ theo hướng nghiên cứu của tác giả Các số liệuchủ yếu được xử lý qua phần mềm Excel
Tất cả các thông tin thu thập được thông qua phỏng vấn và điều tra, qua việcsưu tầm trên các sách báo, tạp chí, qua internet, được lựa chọn, phân loại, sắp xếpmột cách có hệ thống theo trình tự nội dung nghiên cứu Những thông tin này sẽlàm cơ sở cho việc tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá thực trạng kế toán quảntrị chi phí nói chung và kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng
Trang 15Phương pháp thống kê: phương pháp này được sử dụng để tập hợp số liệu theo
các chỉ tiêu, trên cơ sở đó tính ra các số tương đối, số lượng, cơ cấu, Dựa vào các
số liệu thống kê tiến hành mô tả, phân tích để đưa ra các cách đánh giá chung
Phương pháp so sánh: so sánh các chỉ tiêu qua các thời kỳ, tình hình tăng
giảm như thế nào cả về số tuyệt đối và tương đối So sánh giữa cơ sở lý luận về kếtoán chi phí sản xuất, tính giá thành theo quy định của Luật, chuẩn mực chế độ kếtoán với thực hiện công tác kế toán này tại công ty
Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà quản trị, các
thầy cô là giảng viên có chuyên môn về kế toán trong các trường đại học, cao đẳng
7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Về mặt khoa học: Đề tài nghiên cứu đã trình bày hệ thống và toàn diện về công
tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phầnmay xuất khẩu Việt Thái Trong đó đánh giá được những kết quả đạt được và hạnchế trong công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm củacông ty
Về mặt thực tiễn: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí và
tính giá thành sản phẩm tại công ty, góp phần tạo cơ sở trong việc nâng cao chất lượngcông tác ra quyết định quản lý cho các nhà quản trị công ty Cổ phần may xuất khẩuViệt Thái
8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2 Phân tích thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái
Chương 3 Các kết luận và giải pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kế toán quản trị
* Khái niệm kế toán quản trị
Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nóichung trong các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, nguyên nhân sự pháttriển của kế toán quản trị là do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tập đoàn, quốcgia của tổng thể nền kinh tế Nhưng trong bất kỳ một doanh nghiệp nào thì thông tin
kế toán quản trị với chức năng cơ bản là công cụ hữu hiệu để các cấp lãnh đạo đưa
ra quyết định điều hành mọi hoạt động nhằm hướng tới các mục tiêu tối đa hóa lợinhuận Việc nghiên cứu kế toán quản trị được xem xét từ nhiều quan điểm và góc
Theo Ray H.Garrison: “KTQT có liên hệ với việc cung cấp các tài liệu cho cácnhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc
điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó” (Tr10, Giáo trình Kế toán quản trị, Trường Đại học thương mại, 2006)
Theo giáo sư H.Bouquin, Đại học Paris- Dauphin: “KTQT là một hệ thốngthông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các
Trang 17tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao” (Tr13, Giáo trình Kế toán quản trị, Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2014) Theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ cung cấp
thông tin cho các nhà quản trị, dựa vào thông tin đó các nhà quản trị đưa ra quyếtđịnh điều hành các hoạt động nhằm đạt hiệu quả kinh tế tối ưu
Theo hiệp hội kế toán viên hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1982: “KTQT là quytrình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, truyền đạt các thông tin tài chính vàphi tài chính cho các nhà quản trị để điều hành các hoạt động kinh doanh nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn” (Tr10, Giáo trình Giáo trình Kế toán quản trị, Trường Đại học thương mại, 2006) Quan điểm này nhấn mạnh vai trò của kế toán
quản trị là công cụ không thể thiếu được của các nhà quản trị khi đưa ra các quyếtđịnh kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản
Tại khoản 3, điều 4 của Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày17/6/2003 và thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướngdẫn việc áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp: “KTQT là việc thu thập, xử
lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyếtđịnh kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Theo Luật kế toán Việt Nam,ngoài việc nhấn mạnh vai trò của kế toán quản trị là thông tin hữu ích phục vụ cáccấp quản lý khi đưa ra các quyết định còn cho biết quy trình thu thập và cung cấpthông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động
Các khái niệm trên tuy diễn đạt khác nhau nhưng đều có những điểm chung cơbản như sau:
- Kế toán quản trị là phân hệ kế toán cung cấp những thông tin định lượng
- Đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị là các cấp độ nhà quản trịdoanh nghiệp
- Thông tin kế toán quản trị nhằm đáp ứng nhu cầu cho chức năng hoạt độngcủa các nhà quản trị doanh nghiệp
Như vậy, có thể hiểu khái quát về kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị làmột môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp vớiđịnh tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể Các thông tin đó giúp các nhà
Trang 18quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thựchiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưuhóa các mục tiêu.
Từ các quan điểm về kế toán quản trị có thể thấy bản chất của nó như sau:
- KTQT không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụkinh tế đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép hệ thống hóa trong các sổ kế toán mà còn
xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị
- KTQT chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trongphạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin đó chỉ có ýnghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý doanhnghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài vì vậy người ta nói KTQT
là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản trị, trong khi KTTC khôngphục vụ trực tiếp mục đích này
- KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụquan trọng không thể thiếu đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp
* Vai trò của KTQT trong doanh nghiệp
KTQT là công cụ quản trị, một công cụ rất quan trọng trong quá trình hoạchđịnh và kiểm soát chi phí, thu thập, tính toán hiệu quả quá trình kinh doanh nhằmđưa ra các quyết định quản trị đúng đắn Thật vậy, quá trình sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp ở bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, thành phần kinh tế nàomuốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao cần phải biết được thông tin về tình hìnhhoạt động kinh tế tài chính một cách kịp thời đầy đủ, chính xác và trung thực.Những thông tin về tình hình chi phí mà các doanh nghiệp đã chi ra cho từng họatđộng kinh doanh, từng địa điểm kinh doanh hoặc từng loại sản phẩm Những thôngtin về thu thập và xác định kết quả sản xuất kinh doanh theo từng hoạt động, địađiểm hoặc sản phẩm đó chỉ có thể nhận biết được một cách cụ thể thông qua việcthu nhận, xử lý và cung cấp thông tin của KTQT KTQT là nguồn cung cấp thông tinchủ yếu phục vụ nhà quản trị trong toàn bộ quá trình quản lý từ lập kế hoạch, đếnthực hiện kiểm tra đánh giá nhằm đến mục đích ra quyết định KTQT là kế toán theo
Trang 19chức năng quản lý vì thế vai trò của nó là cung cấp thông tin hữu ích liê quan đếnviệc lập kế hoạch, điều hành hoạt động, kiểm tra và ra quyết định.
Các chức năng quản lý doanh nghiệp được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý doanh nghiệp
(Nguồn: Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Kinh tế quốc dân, 2014)
Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý được
cụ thể như sau:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: đưa ra kế hoạch cho việc thựchiện ngắn hạn và dài hạn của một doanh nghiệp Kế hoạch mà người quản lý đưa rathường có dạng số lượng và giá trị
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Nhà quản lý
có nhu cầu rất lớn về thông tin kế toán trong việc lãnh đạo hoạt động hàng ngày.Chẳng hạn, lãnh đạo Công ty cần đưa ra giá bán một mặt hàng nào đó thì họ phảidựa trên các thông tin kế toán để đảm bảo giá bán đó phù hợp, hoặc bộ phận quản lýdựa trên các thông tin kế toán để đánh giá giá trị của hàng tồn kho, hàng đang kinhdoanh Như vậy, công việc của kế toán và quản lý gắn với nhau chặt chẽ trong việcđiều hành các hoạt động hàng ngày
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Việc lập kế hoạch như trên làchưa đủ, một khi kế hoạch ngân sách đã được lập, người quản lý cần những thôngtin có liên quan đến việc thực hiện Kế toán quản trị giúp cho việc tập hợp các thông
thực hiện
Trang 20tin cần thiết bằng cách cung cấp các báo cáo thực hiện Báo cáo thực hiện bao gồmcác chi tiết để quản lý, so sánh các số liệu dự toán với các số liệu thực tế trong mộtthời điểm nhất định Khi báo cáo thực hiện chỉ ra một vấn đề tồn tại ở một khâunào đó của DN, người quản lý sẽ phải tìm nguyên nhân của vấn đề và biện phápgiải quyết Nếu báo cáo thực hiện chỉ rõ mọi việc đều thực hiện tốt thì ngườiquản lý sẽ để tâm vào công việc khác Tóm lại, việc thực hiện kế hoạch là bướcphản hồi của người quản lý và có tác dụng giúp người quản lý thực hiện tốt vaitrò quản lý của mình.
- Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định: Chức năng ra quyết định đòi hỏinhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau được đưa
ra Kế toán có nhiệm vụ thu thập các số liệu về chi phí và lợi nhuận để thông tin chongười quản lý Ví dụ để tung sản phẩm ra nhằm cạnh tranh với các doanh nghiệpkhác trên thị trường cần quyết định phương án hạ giá, mở rộng việc quảng cáo hoặckết hợp cả hai việc này để chiếm lĩnh thị trường, doanh nghiệp phải gắn chặt với các
số liệu về giá thành và lợi nhuận do kế toán cung cấp Tuy nhiên, không phải lúc nàocác số liệu cần thiết cũng có ngay theo yêu cầu thực tế, do vậy kế toán sẽ thực hiệnphân tích chung kể cả việc dự toán để có được những số liệu đó
Như vậy, để có những quyết định đúng đắn cần phải có đầy đủ các thông tincần và chính xác Nếu các thông tin không đầy đủ, không chính xác thì sẽ dẫn đếnquyết định bị sai lệch Mặt khác, nhu cầu chính của quản trị không phải là các thôngtin chi tiết rời rạc mà là các bảng tóm tắt, từ đó người quản lý sẽ thấy được nơi nào
có vấn đề và nơi đâu cần sự quan tâm của nhà quản lý hơn nữa để cải tiến làm chocông việc có hiệu quả hơn
1.1.2 Nội dung của kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất
Xuất phát từ những đặc thù về cung cấp thông tin như đối tượng sử dụngthông tin mà KTQT bao hàm rất nhiều nội dung và nó được phản ánh một cách tỉ mỉcho từng vấn đề nhằm thực hiện vai trò cơ sở để ra quyết định của nhà quản trị
+ Xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, có thể kháiquát kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm:
Trang 21Kế toán quản trị các yếu tố SXKD (mua sắm, sử dụng đối tượng lao động hàng tồn kho; Tư liệu lao động - tài sản cố định; Tuyển dụng và sử dụng lao động -lao động và tiền lương )
Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm (nhận diện, phân loại chi phí, giáthành; lập dự toán chi phí; Tập hợp tính toán, phân bổ chi phí, giá thành; lập báo cáophân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyết định )
- Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh (phân loại doanh thu; Xácđịnh giá bán, lập dự toán doanh thu; tính toán, hạch toán chi tiết doanh thu, phân bổchi phí chung, xác định kết quả chi tiết; lập báo cáo phân tích kết quả chi tiết theo
bộ phận, theo các tình huống ra quyết định )
- Kế toán quản trị các khoản nợ
- Kế toán quản trị về các hoạt động đầu tư tài chính
- Kế toán quản trị các hoạt động khác về doanh nghiệp
Trong các nội dung nói trên trọng tâm của kế toán quản trị là lĩnh vực chi phí + Xét theo chức năng của kế toán quản trị
Tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, kế toán quản trị tồn tại dưới hai môhình chuyên môn hóa theo từng bộ phận sản xuất và theo từng quá trình sản xuất Những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hệ thống quản lý chủ yếu dựatrên nền tảng chuyên môn hóa từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạtđộng quản lý, thì nội dung kế toán quản trị được xây dựng theo hướng cung cấpthông tin định lượng về tình hình kinh tế tài chính theo từng bộ phận chuyên mônhóa để phục vụ cho việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết địnhcủa nhà quản lý ở từng cấp quản trị
Nội dung mô hình kế toán quản trị này thường gồm:
- Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng phạm vi chuyên môn, hoặccấp bậc quản trị
- Xác định, kiểm soát, đánh giá giá thành sản phẩm, chủ yếu là giá thành trongtừng quá trình sản xuất
Trang 22- Dự toán ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm theo từng bộphận và đánh giá trách nhiệm quản lý ở từng cấp bậc quản trị.
- Thu thập, phân tích dữ liệu, từ đó thiết lập thông tin thích hợp, phục vụ choviệc xây dựng giá bán, phương án kinh doanh ngắn hạn và dài hạn theo từng bộphận, cấp bậc quản trị
- Phân tích, dự báo chỉ số tài chính ở từng bộ phận hoạt động
Còn với những doanh nghiệp có hệ thống quản lý chủ yếu dựa trên nền tảngtừng quá trình hoạt động, nội dung kế toán quản trị được xây dựng theo hướng cungcấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế tài chính theo từng quá trình hoạt động
để phục vụ cho việc hoạch định, tổ chức, phối hợp thực hiện, đánh giá hiệu quả củatừng nhóm thực hiện quá trình hoạt động (những người có chuyên môn khác nhaucùng thực hiện một quá trình kinh doanh) Cụ thể:
- Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng quá trình hoạt động
- Dự toán ngân sách của từng quá trình hoạt động và đánh giá hiệu quả củatừng nhóm thực hiện quá trình
- Thu thập, phân tích dữ liệu để xây dựng thông tin thích hợp, phục vụ cho việc lựachọn từng quá trình hoạt động và phối hợp thực hiện của nhóm thực hiện quá trình
- Phân tích, dự báo các chỉ số tài chính của từng quá trình hoạt động
1.2 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (Tr44, Giáo trình Giáo trình Kế toán quản trị, Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2014).
Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoảnphí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, trên góc
độ của kế toán quản trị, với mục đích cung cấp thông tin thích hợp về chi phí phục
vụ kịp thời cho việc ra quyết định thì doanh nghiệp không chỉ nhìn nhận chi phí như
kế toán tài chính, mà chi phí còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông
Trang 23tin phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Vì vậy, chi phí có thể là phí tổn thực
tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng có thể là chi phí ướctính khi thực hiện dự án hay giá trị mất đi khi lựa chọn phương án, hoạt động này mà
bỏ qua phương án, hoạt động khác Chi phí sản xuất có các đặc điểm như sau:
+ Những phí tổn về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh gắnliền với mục đích kinh doanh
+ Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu haotrong kỳ và giá của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí
+ Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đo lường bằngthước đo tiền tệ và được xác định trong một khoảng thời gian xác định
* Phân loại chi phí sản xuất
Trong doanh nghiệp có rất nhiều loại chi phí khác nhau tùy thuộc từng cáchphân loại chi phí, mỗi cách phân loại đều cung cấp những thông tin dưới những góc
độ khác nhau để nhà quản trị đưa ra được các quyết định Vì vậy để kiểm soát đượcchi phí sản xuất hiệu quả thì trong kế toán quản trị cần phải phân loại các chi phíkhác nhau
(1) Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế của chi phí
Cách phân loại này căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để tập hợp, sắpxếp những chi phí có cùng tính chất, nội dung vào một yếu tố chi phí mà khôngphân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu, nơi nào chịu chi phí Theo cách này, chi phícủa doanh nghiệp được chia thành các yếu tố:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loạitrừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Yếu tố chi phí nhân công trực tiếp: gồm các khoản tiền lương, phụ cấp và cáckhoản trích theo lương như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thấtnghiệp, bảo hiểm y tế của người lao động
- Yếu tố khấu hao tài sản cố định: gồm khấu hao của tất cả tài sản cố địnhdùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
Trang 24- Yếu tố dịch vụ mua ngoài: gồm giá dịch vụ mua ngoài cung cấp cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí điện nước, bảo hiểm tàisản, thuê nhà, đất canh tác, phương tiện
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: gồm tất cả các chi phí khác bằng tiền chưaphản ánh ở các yếu tố khác dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
(2) Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí
Căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong giá thành sản phẩm và đểthuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo 5 khoản mục chiphí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụngtrực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trựctiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuấtnhư kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…
- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việcphục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng đội sản xuất, chi phí sảnxuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau
+ Chi phí nhân viên phân xưởng bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả,các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng và đội sản xuất
+ Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sảnxuất với mục đích là phục vụ quản lý sản xuất
+ Chi phí dụng cụ: bao gồm về chi phí công cụ, dụng cụ ở phân xưởng đểphục vụ sản xuất và quản lý sản xuất
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộccác phân xưởng sản xuất quản lý sử dụng
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chohoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất
+ Chi phí khác bằng tiền: là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục
vụ và quản lý và sản xuất ở phân xưởng sản xuất
Trang 25- Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quátrình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ loại chi phí này có: chi phí quảngcáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phíkhác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục
vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh nghiệp Chiphí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý chi phí vật liệu quản
lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn bộ doanh nghiệp,các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí tiếp khách, hội nghị
(3) Phân loại theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáotài chính
+ Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sảnphẩm hoặc quá trình mua hàng hóa để bán
Trong doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh thì chi phí sản phẩmtrong doanh nghiệp sản xuất là chi phí ở khâu sản xuất tính cho sản phẩm đã hoànthành và sản phẩm chưa hoàn thành trong sản xuất và khi sản phẩm đã được bán thìchi phí sản phẩm trở thành giá vốn hàng bán Hay nói cách khác chi phí sản xuất làchi phí sản phẩm
Còn trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì chi phí sản phẩm là giá vốnmua vào hoặc bán ra đã bao gồm giá của hàng hóa và các chi phí liên quan
+ Chi phí thời kỳ: Là các khoản chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳkhông tạo nên giá trị của hàng tồn kho – tài sản mà trưc tiếp ảnh hưởng đến lợinhuận trong kỳ Chi phí này bao gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanhnghiệp và các chi phí khác
(4) Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kếtoán tập hợp chi phí và được quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí Chính
vì vậy nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí sẽ thuận lợi cho việc kiểmsoát chi phí và xác định được nguyên nhân tạo ra chi phí
Trang 26+ Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toántập hợp khác nhau Chính vì vậy phải tập hợp chi phí theo từng nơi phát sinh và sau
đó phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức thích hợp
Cách phân loại này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật, quy nạp chi phí vào các đốitượng tập hợp chi phí sản xuất Thông qua đó kế toán có thể tư vấn các nhà quản trịdoanh nghiệp đưa ra và thực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lýnhằm mục đích có thể quy nạp trực tiếp các khoản chi phí cho từng đối tượng tập hợpchi phí Từ đó giúp cho việc kiểm soát chi phí được thuận lợi hơn
(5) Theo mối quan hệ của chi phí với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
+ Chi phí cơ bản: Là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệsản xuất, chế tạo sản phẩm như: CPNVLTT, CPNCTT, chi phí công cụ, dụng cụ sảnxuất, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm
+ Chi phí chung: Là chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý phân xưởng cótính chất chung như: chi phí quản lý ở các phân xưởng sản xuất, chi phí quản lýdoanh nghiệp
Cách phân loại chi phí này có thể giúp các nhà quản trị đưa ra các phương ántiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm bằng cách quản lý và sử dụng chi phítheo định mức tiêu hao, cải tiến quy trình công nghệ đối với các chi phí cơ bản,đồng thời hạn chế hoặc loại trừ những khoản chi phí chung không cần thiết, tăngcường công tác quản lý theo dự toán
(6) Theo mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động:
- Biến phí (chi phí biến đổi, chi phí khả biến): Là những chi phí có sự thay đổi
về tổng số khi có thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp,
Mức độ hoạt động của đơn vị có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, sốlượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy chạy, doanh thu bán hàng thực hiện, Loại chiphí này có đặc điểm nếu xét theo tổng số thì biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức
độ hoạt động nhưng khi xét trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì biến phí có thể
là một hằng số
Trang 27Với cách phân loại chi phí này, để tiết kiệm và kiểm soát tốt chi phí, doanhnghiệp cần:
+ Lựa chọn mức độ hoạt động phù hợp
+ Xây dựng hoàn thiện định mức biến phí ở từng cấp bậc tương ứng
- Định phí (chi phí cố định, chi phí bất biến): Là những chi phí mà về tổng sốkhông thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị Loại chi phi này
có đặc điểm, nếu xét theo tổng số thì định phí là không đổi, ngược lại, xét theo trênmột đơn vị khối lượng hoạt động thì định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động.Như vậy đối với loại chi phí này thì doanh nghiệp có hoạt động hay không thì luôntồn tại định phí và ngược lại, khi doanh nghiệp tăng cường mức độ hoạt động thìđịnh phí sẽ giảm dần
- Chi phí hỗn hợp: Là những khoản chi phí mà trong đó bao gồm cả biến phí
và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của chiphí, qua mức độ đó lại thể hiện đặc điểm của biến phí
(7) Theo thẩm quyền ra quyết định:
- Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở một cấpquản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó và có thẩm quyền quyết địnhđối về sự phát sinh chi phí đó
- Chi phí không kiểm soát được: là những chi phí mà nhà quản trị ở một cấpquản lý nào đó không thể dự đoán được chính xác sự phát sinh của nó và không cóthẩm quyền quyết định đối với các khoản chi phí đó
Thông qua cách phân loại này giúp cho các nhà quản trị ở từng cấp hoạch địnhđược dự toán chi phí đúng đắn hơn, hạn chế sự bị động về việc huy động nguồn lực
để đảm bảo cho các khoản chi phí Đồng thời giúp cho các nhà quản trị cấp cao đưa
ra phương hướng để tăng cường chi phí kiểm soát được cho từng cấp như mở rộng,phát triển các quy trình sản xuất kinh doanh có tỷ lệ định phí cao hơn, phân cấpquản lý chi tiết rõ ràng hơn về những chi phí gián tiếp phục vụ cho quản lý sản xuấtkinh doanh
Trang 28Nhận diện các loại chi phí được sử dụng trong việc lựa chọn các phương án:
- Chi phí thích hợp: Là chi phí có thể áp dụng cho một quyết định có mối liên
hệ với phương án được chọn của nhà quản trị Một trong những chi phí thích hợpcần xem xét khi lựa chọn các phương án là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là chi phí
bị mất đi do lựa chọn phương án này thay vì lựa chọn phương án khác Ngoài ra chiphí chênh lệch cũng thích hợp trong việc lựa chọn các phương án
- Chi phí không thích hợp: Là loại chi phí có thể bỏ quan khi xem xét lựa chọnphương án Một trong những chi phí không thích hợp quan trọng cần xem xét khi lựachọn phương án là chi phí chìm Chi phí chìm là loại chi phí mà doanh nghiệp sẽ phảigánh chịu bất kể đã lựa chọn phương án nào Do chi phí chìm tồn tại ở mọi phương ántrên nên không có tính chênh lệch và không phải xét đến khi so sánh lựa chọn phương
án tối ưu Chi phí không chênh lệch cũng là loại chi phí không thích hợp
1.2.2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: chi phí sản xuất
và kết quả sản xuất Tất cả các khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trướcchuyển sang) và chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm lao vụ,dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khácgiá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí mà doanhnghiệp bỏ ra bất kể kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thànhtrong kỳ
Giá thành sản phẩm có bản chất là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vậtchất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối vớicông tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung
Trang 29Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa,giá thành sản phẩm lại là một chỉ tiêu tính toán không thể thiếu của quản lý theonguyên tắc hạch toán kinh tế Đặc điểm đó dẫn đến sự cần thiết phải xem xét giáthành trên góc độ nhằm sử dụng chỉ tiêu giá thành có hiệu quả trong việc xác địnhhiệu quả kinh doanh, thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch giá thành cũngnhư yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ,nhiều phạm vi tính toán khác nhau Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau giá thànhsản phẩm được chia thành các loại sau:
- Phân loại theo phạm vi tính toán chi phí Theo cách phân loại này giá thànhsản phẩm được chia thành các loại sau:
+ Giá thành sản xuất toàn bộ: Giá thành sản xuất toàn bộ là giá thành mà trong
đó bao gồm toàn bộ biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành (Tr70, Giáo trình kế toán quản trị doanh nghiệp, Học viện Tài chính, 2009).
Chỉ tiêu giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ chỉ xác định khi sản phẩm đượctiêu thụ và được sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ (phụ lục 1.1)
+ Giá thành sản xuất theo biến phí: Là giá thành mà trong đó chỉ bao gồm biến
phí thuộc CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC tính cho sản phẩm hoàn thành (Tr71, Giáo trình kế toán quản trị doanh nghiệp, Học viện Tài chính, 2009) Theo phương pháp
này thì toàn bộ định phí sản xuất được tính vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ
mà không nằm trong giá thành sản xuất sản phẩm
Do giá thành sản xuất chỉ có biến phí sản xuất nên gọi là giá thành bộ phận,
DN sẽ xác định số dư đảm phí (còn gọi là phần đóng góp) và cho phép mô hình hóamột cách đơn giản mối quan hệ giá thành – khối lượng – lợi nhuận một cách tổngquát, chúng ta có mô hình sau:
Ztt = V x Q + F
Trong đó:
Ztt: Giá thành thực tế toàn bộ
Trang 30V: Biến phí đơn vị sản xuất
F: Định phí
Q: Khối lượng sản phẩm sản xuất
Giá thành sản xuất theo biến phí giúp cho nhà quản trị tính toán đơn giản,nhanh chóng chỉ tiêu giá thành, là cơ sở để xác định điểm hòa vốn, cung cấp số liệucho nhà quản trị ra quyết định ngắn hạn Tuy nhiên những quyết định thường xuyên
có thể ảnh hưởng dài hạn đến định phí, việc phân việt định phí và biến phí chỉ làtương đối
+ Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định: bao gồm toàn bộbiến phí sản xuất (trực tiếp, gián tiếp), phần định phí được phân bổ trên cơ sở mứchoạt động thực tế so với mức hoạt động chuẩn (theo công suất thiết kế và địnhmức) Phần định phí còn lại là chi phí hoạt động dưới công suất được coi là chi phíthời kỳ
Chỉ tiêu giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định khắc phục đượcnhược điểm của chỉ tiêu giá thành theo biến phí và được sử dụng trong kiểm soátquản lý ở doanh nghiệp
+ Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Giá thành toàn bộ của sản phẩmtiêu thụ gồm giá thành sản xuất cộng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanhnghiệp (phụ lục 1.2)
- Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành: theo cách phân loạinày giá thành sản phẩm được chia thành các loại: giá thành kế hoạch, giá thành địnhmức và giá thành sản xuất thực tế
+ Giá thành kế hoạch: Là loại giá thành được tính trên cơ sở chi phí sản xuất
kế hoạch và sản lượng kế hoạch Loại giá thành này được xác định trước khi tiếnhành sản xuất và đó là mục tiêu của các doanh nghiệp nhằm tiết kiệm được chi phísản xuất đồng thời đánh giá tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch để hạ giá thànhsản phẩm
+ Giá thành định mức: Là loại giá thành được tính trên cơ sở các định mức chiphí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản xuất Loại giá thành này được xác định
Trang 31trước khi tiến hành sản xuất Giá thành định mức là công cụ để quản lý chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm; Là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tàisản, lao động, tiền vốn trong sản xuất; Là căn cứ để đánh giá đúng đắn kết quả thựchiện các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra trong quá trình sảnxuất kinh doanh.
+ Giá thành sản xuất thực tế: Là loại giá thành được xác định trên cơ sở cácchi phí thực tế đã phát sinh và số lượng sản phẩm được sản xuất thực tế trong kỳ.Loại giá thành này được xác định sau khi đã hoàn thành quá trình sản xuất Đây làchỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc sửdụng các giải pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sảnphẩm Giá thành sản xuất thực tế là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
1.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiệnviệc xử lý và cung cấp thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện cácchức năng của nhà quản trị như: hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết
định (Thông tư 53/2006/TT-BTC).
Nội dung của kế toán quản trị chi phí gồm:
- Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
- Xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
- Xử lý, phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
- Cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Dự toán chi phí là quá trình tính toán chi tiết các khoản chi phí cho kỳ tới,nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu đã được xác định Mụcđích của lập dự toán là để lập kế hoạch, phân bổ các nguồn lực, kiểm soát lợi nhuận,đánh giá kết quả, trách nhiệm quản lý và khen thưởng Do đó, dự toán chi phí có vai
Trang 32trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để đảm bảo dự toán
có tính khả thi cao khi xây dựng dự toán cần dựa vào những cơ sở sau:
- Dựa vào kết quả hoạt động của kỳ trước
- Dựa trên những điều kiện thực tế của doanh nghiệp như: quy mô hoạt động,nguồn lực lao động, chất lượng lao động
- Dựa trên điều kiện dự kiến trong tương lai như: xu hướng biến động giá cảtrên thị trường, các chính sách kinh tế sắp ban hành, kế hoạch phát triển dài hạn củadoanh nghiệp
- Dựa trên hệ thống định mức chi phí tiêu chuẩn Đây là cơ sở quan trọng nhấtkhi xây dựng dự toán Định mức chi phí phải được xây dựng một cách khoa học phùhợp với thực tế Khi xây dựng định mức chi phí phải tính đến những biến động củathị trường như: giá cả, lạm phát, tình hình lao động, máy móc thiết bị của doanhnghiệp,
Dựa vào trình độ chuyên môn của các chuyên gia xây dựng dự toán Cácngành nghề khác nhau đòi hỏi các chuyên gia xây dựng dự toán phải có trình độ amhiểu về kinh tế, kỹ thuật và những nhân tố tác động riêng
Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (phụ lục 1.3)
1.3.1.1 Xây dựng hệ thống định mức chi phí sản xuất
Việc lập dự toán chi phí sản xuất phải căn cứ vào định mức chi phí Xây dựngđịnh mức chi phí phải theo nguyên tắc chung là tìm hiểu xem xét một cách kháchquan nghiêm túc toàn bộ tình hình thực hiện chi phí sản xuất đối với mỗi đơn vị sảnphẩm về mặt hiện vật của kỳ trước, đánh giá chất lượng sản phẩm và các vấn đề liênquan đến năng suất và hiệu quả lao động của doanh nghiệp
Định mức chi phí thường chia thành hai loại: định mức lý tưởng và định mứcthực tế
- Định mức lý tưởng được xây dựng trong điều kiện SXKD hoàn hảo nhất vềmáy móc, thiết bị sản xuất, sự lành nghề của lao động và các điều kiện khác cũnghoàn hảo, không có sự gián đoạn trong thời gian sản xuất
Trang 33- Định mức thực tế là định mức được xây dựng chặt chẽ trên cơ sở phù hợpvới điều kiện thực tế và có khả năng đạt được Hệ thống định mức chi phí trongdoanh nghiệp bao gồm:
+ Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Để tính định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải tính được mức giá vàđịnh mức lượng của NVL
Định mức lượng NVL
cho một đơn vị SP =
Lượng NVL cần thiếtsản xuất 1 đơn vị SP +
Mức hao hụtcho phépĐịnh mức giá một đơn vị nguyên vật liệu bằng giá mua cộng với chi phí thumua Định mức này do nhân viên kỹ thuật kết hợp với kế toán giá thành xác định.Định mức chi phí
nguyên vật liệu =
Định mức lượngnguyên vật liệu x
Định mức giánguyên vật liệu
+ Định mức chi phí nhân công trực tiếp
Để tính được định mức chi phí nhân công trực tiếp cần tính được mức giánhân công trực tiếp và định mức lượng nhân công trực tiếp tham gia sản xuất mộtđơn vị sản phẩm
Định mức giá nhân công trực tiếp bao gồm cả lương cơ bản, phụ cấp theolương và các khoản ngoài lương mà công nhân được hưởng
Định mức chi phí lao
động trực tiếp =
Định mức lượnglao động trực tiếp x
Định mức giá laođộng trực tiếp
+ Định mức chi phí sản xuất chung
Định mức chi phí sản xuất chung xác định trên định mức biến phí và định mứcđịnh phí sản xuất chung
Định mức biến phí sản xuất chung: được xây dựng theo định mức giá và địnhmức lượng thời gian cho phép Định mức giá phản ánh biến phí của đơn vị giá chiphí sản xuất chung phân bổ Định mức thời gian phản ánh số giờ hoạt động được chọnlàm căn cứ phân bổ chi phí sản xuất chung cho một đơn vị sản phẩm
Định mức biến phí
sản xuất chung =
Định mức giá biếnphí sản xuất chung x
Định mức lượng thời gianlao động trực tiếpĐịnh mức định phí sản xuất chung: Loại định mức này cũng được xây dựngtương tự như định mức biến phí sản xuất chung
Trang 34Định mức định phí
sản xuất chung =
Định mức giá địnhphí sản xuất chung x
Định mức lượng thời gianlao động trực tiếp
1.3.1.2 Lập dự toán chi phí sản xuất
Lập dự toán sản lượng sản phẩm sản xuất
Xác định số lượng sản phẩm cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ dự liến
và mức dự trữ hàng tồn kho theo công thức
Sản phẩm tồnkho đầu kỳDoanh nghiệp cần lập kế hoạch lượng sản phẩm tồn kho để chủ động và tránhtình trạng tồn kho quá nhiều làm ứ đọng vốn và phát sinh những chi phí không cầnthiết Mặt khác cũng tránh tình trạng thiếu sản phẩm dẫn đến nhu cầu sản phẩm cầnsản xuất có thể vượt quá năng lực sản xuất của DN
Lập dự toán chi phí sản xuất
Quá trình xây dựng các dự toán chi phí sản xuất bao hàm tất cả các chức năng
và các cấp quản lý, nó gắn liền với quạn trị sản xuất kinh doanh của cơ sở, tạo điềukiện trong việc phát huy tính chủ động sáng tạo của đơn vị cơ sở và tính khả thi của
dự toán đã lập, mặt khác tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát của đơn vị cấp trên Căn
cứ hệ thống định mức các chi phí sản xuất kinh doanh, DN tiến hành lập các dựtoán chi phí sản xuất gồm:
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán CPNVLTT được lập trên cơ sở dự toán sản xuất và định mức chi phínguyên vật liệu trực tiếp nhằm xác định nhu cầu về nguyên vật liệu đảm bảo chosản xuất
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định theo công thức
BM = Q x M x PM
Trong đó:
BM: Chi phí nguyên vật liệu dự toán
Q: Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch
M: Định mức lượng nguyên vật liệu / Sản phẩm
Trang 35PM: Đơn giá nguyên vật liệu
Định mức lượng nguyên vật liệu cần sử dụng được xác định trên cơ sở mốiquan hệ đầu ra – đầu vào Mối quan hệ này thường do bộ phận thiết kế kỹ thuật xácđịnh, hoặc căn cứ vào mức hao phí nguyên vật liệu trực tiếp tính đến trung bình chomột đơn bị sản phẩm của những kỳ trước mà quá trình sản xuất đạt mức hiệu năngbình thường
Đơn giá nguyên vật liệu không chỉ là giá mua trên hóa đơn mà còn bao gồmcác chi phí phát sinh trong quá trình thu mua Mức giá nguyên vật liệu do bộ phậnmua hàng xác định Bộ phận mua hàng cần lựa chọn những nhà cung cấp nguyênvật liệu có chất lượng cao với mức giá hợp lý nhất Các nhà quản lý cần đưa ra mứcgiá dự kiến hợp lý trên cơ cở phân tích quá khứ cũng như xem xét xu hướng biếnđộng giá đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp sử dụng
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán CPNCTT xác định tổng thời gian lao động trực tiếp cần thiết và cácchi phí nhân công liên quan đến mức sản xuất dự kiến Chi phí nhân công trực tiếp
dự toán được xác định theo công thức
BL = Q x L x PL
Trong đó:
BL: Chi phí nhân công trực tiếp dự toán
Q: Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch
L: Định mức thời gian lao động/ sản phẩm
PL: Đơn giá tiền lương/ giờ lao động
Mức độ sử dụng nhân công trực tiếp cũng được quyết định bởi mối quan hệ vềmặt kỹ thuận giữa lao động và sản phẩm đầu ra, tức là định phí thời gian lao động/sản phẩm
Đối với đơn giá tiền lương, mặc dù đơn giá tiền lương có thể được xác địnhbởi quyết định của nhà quản lý hoặc hợp đồng lao đông nhưng việc xác định mứcđơn giá tiền lương tiêu chuẩn cho một sản phẩm để lập dự toán có thể gặp khó khănbởi vì có thể có những người làm cùng một công việc trong kỳ nhưng lại được
Trang 36hưởng các mức lương khác nhau (do trình độ lao động hay do thỏa thuận) Để xácđịnh đơn giá tiền lương tiêu chuẩn, có thể tính bình quân mức lương trả cho tất cảcác nhân công trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm.
- Dự toán chi phí sản xuất chung
Mục đích của dự toán chi phí sản xuất chung là chỉ ra mức độ dự kiến của tất cả các chi phí sản xuất gián tiếp Khác với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, không sẵn có một mối quan hệ đầu ra – đầu vào cho khoản chi phí sản xuất chung Tuy nhiên chi phí sản xuất chung bao gồm biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung Vậy dự toán chi phí sản xuất chung bao gồm dự toán định phí sản xuất chung và dự toán biến phí sản xuất chung Việc chia nhỏ các khoản mục chi phí và sử dụng các số liệu thống kê trong quá khứ sẽ giúp chúng ta xác định chi phí sản xuất chung sẽ biến động như thế nào theo mức độ hoạt động của DN bằng việc
áp dụng các phương pháp ước tính chi phí
Dự toán chi phí sản
xuất chung =
Dự toán biến phí sảnxuất chung +
Dự toán định phísản xuất chung
- Dự toán giá thành sản phẩm sản xuất
Dự toán giá thành sản xuất giúp cho doanh nghiệp định hướng được giá thành kế hoạch sản phẩm từ đó theo dõi kiểm soát chi phí trong quá trình sản xuất Để lập giá thành kế hoạch cần căn
cứ vào dự toán các khoản mục chi phí và dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất.
1.3.2 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều địađiểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao vụ khácnhau Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí phát sinh đó ở đâu,dùng để sản xuất sản phẩm nào… Chính vì vậy chi phí sản xuất kinh doanh phátsinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi, giới hạn nhất định
1.3.2.1 Xác định chi phí sản xuất
* Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phísản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó Xác định đối tượng kế toán chi phí sản
Trang 37xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất Thực chất của việcxác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí (phânxưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tượng chịu chi phí (sảnphẩm, đơn đặt hàng…).
Khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất trước hết các nhà quản trị phảicăn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ chứcsản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loạihình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi phí sản xuấttrong các doanh nghiệp có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng
- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp
Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý là cơ sở để tổchức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổnghợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết …
Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp xác định theo các đối tượng kếtoán chi phí sản xuất sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đốitượng đã xác định
* Xác định chi phí sản xuất
Trên góc độ của KTTC, chi phí được nhìn nhận như những khoản chi phí đãphát sinh gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí phátsinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
và các chi phí khác Những khoản chi phí này được kế toán ghi nhận trên cơ sởchứng từ, tài liệu phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ Trong khi đó,dưới cái nhìn của KTQT, mục đích của KTQT chi phí là cung cấp các thông tinthích hợp về chi phí, kịp thời đưa ra các quyết định về sản xuất, kinh doanh Bởivậy KTQT không chỉ đơn thuần là nhận diện các chi phí như KTTC mà còn là sựnhận diện thông tin phục vụ cho công tác quản lý Vì vậy, chi phí được phản ánh cóthể là những chi phí hiện tại hoặc cũng có thể là những chi phí ước tính, dự đoán,
Trang 38thông qua đó có thể lựa chọn được những phương án tối ưu nhất và đưa ra quyếtđịnh đúng đắn.
Việc xác định chi phí được thực hiện theo 2 phương pháp: phương pháp xác địnhchi phí theo công việc và phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
Phương pháp xác định CPSX sản phẩm theo công việc
- Đối tượng áp dụng: Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm theocông việc thường được vận dụng tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sảnphẩm dịch vụ theo đơn đặt hàng, quy trình công nghệ sản xuất khép kín như doanhnghiệp xây dựng, sản phẩm là các công trình, hạng mục công trình, các doanhnghiệp thiết kế, sửa chữa ô tô Tóm lại, phương pháp xác định chi phí theo côngviệc được áp dụng cho những sản phẩm được thực hiện theo đơn đặt hàng và theoyêu cầu của từng khách hàng riêng biệt
- Quá trình tập hợp chi phí chi phí theo công việc được phản ánh qua sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.2: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo
công việc
( Tr 59, Giáo trình Kế toán quản trị, Trường Đại học Thương mại, 2006)
Chi phí được tập hợp vào phiếu chi phí theo công việc Phiếu tập hợp này ghichép và tổng kết tất cả những chi phí như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân côngtrực tiếp và chi phí sản xuất chung cho từng công việc riêng biệt
Thông thường mỗi sản phẩm gồm ba khoản mục chi phí sản xuất chủ yếu: chiphí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC
Phiếu chi phí theo công việc (Phiếu tính giá thành theo ĐĐH)
Đơn
đặt
hàng
Lệnh sản xuất
Phiếu theo dõi lao động
Phiếu xuất kho nguyên vật liệu
Mức phân
bổ chi phí sản xuất chung
Tập hợp phí sản xất trên cơ sở
Chi phí được tập hợp vào
Trang 39Nguyên vật liệu cần cho từng công việc sẽ được các bộ phận gửi phiếu yêu cầuđến kho Phiếu xuất kho nguyên vật liệu sẽ là cơ sở để ghi sổ chi tiết NVL và ghi nhậnchi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp được xác định dựa trên bảng chấm công của côngnhân hoặc phiếu giao nhận sản phẩm, hợp đồng giao khoán công việc Trường hợpmột phân xưởng trong kỳ đảm nhiệm sản xuất nhiều ĐĐH, các CPNVLTT,CPNCTT trước hết được tập hợp theo từng khoản mục cho từng phân xưởng, trongmỗi phân xưởng sẽ chi tiết cho từng ĐĐH
- Đối với khoản mục CPSXC: Nếu mỗi phân xưởng tiến hành thực hiện mộtđơn đặt hàng riêng biệt thì CPSXC cũng là chi phí trực tiếp nên sẽ được tập hợptrực tiếp cho từng đơn đặt hàng Ngược lại, nếu phân xưởng đó thực hiện đảm nhậnnhiều đơn hàng thì CPSXC sẽ được tập hợp theo từng phân xưởng sau đó tiến hànhphân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức thích hợp
Có hai phương pháp để tính toán chi phí sản xuất chung cho công việc:
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo chi phí thực tế: Khi kết thúc côngviệc (hay đơn đặt hàng) chi phí SXC sẽ được tổng kết dựa theo thực tế phát sinh.Chi phí SXC phân bổ ước tính, theo cách này mức phân bổ chi phí sản xuấtchung được xác định theo công thức:
Hệ số phân bổ chi phí
Tổng chi phí sản xuất chung ước tínhTổng mức độ hoạt động chung ước tínhMức phân bổ ước tính chi
phí sản xuất chung cho
từng công việc
= Hệ số phân bổ chiphí sản xuất chung x
Mức hoạt động ước tínhchung của từng công việc
Như vậy tất cả chi phí sản xuất được tập hợp vào phiếu chi phí công việc hoặcđơn đặt hàng Phiếu tập hợp chi phí sẽ được lưu tại phân xưởng sản xuất trong quátrình sản xuất, sau đó là căn cứ để tính tổng giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn thànhtrong kỳ
- Quá trình phản ánh chi phí sản xuất vào sổ sách kế toán
Trang 40Quá trình phản ánh chi phí sản xuất vào sổ sách kế toán được phản ánh qua sơ
đồ 1.3
Sơ đồ 1.3: Quá trình vận động chi phí sản xuất theo công việc
(Tr 98, Giáo trình Kế toán quản trị, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2006)
Tập hợp chi phí theo công việc kế toán sử dụng các tài khoản kế toán: TK chiphí NVL TT; TK Chi phí NCTT; TK Chi phí SXC; TK Chi phí SXKD dở dang; TKThành phẩm; TK Giá vốn hàng bán
Về nguyên tắc, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp vàmức phân bổ chi phí sản xuất chung được hạch toán trực tiếp vào tài khoản: sảnphẩm dở dang Đồng thời các khoản chi phí này cũng được phản ánh vào các phiếuchi phí công việc tương ứng
Giá trị sản phẩm hoàn thành
Giá vốn hàng bánThành phẩm
Phiếu chi phícông việc
Phiếu chi phícông việc
Chuyển vào
Phiếu chi phícông việcChuyển vào
Giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán
NVL TTNhân công trực tiếpChi phí sản xuất chung
CP SXKD DD
Giá trị sản phẩm hoàn thành
Chi phí nhân
công trực tiếp
Nhân công trực tiếp
1`
Nguyên liệu trực tiếp