Các nhà quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp dựa trên các thông tin về chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm để đưa ra giá bán sản phẩm và xác định hiệu quảsản xuất kinh doanh.. Do đó
Trang 1ĐOÀN TRUNG NGHĨA
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3ĐOÀN TRUNG NGHĨA
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TẠ QUANG BÌNH
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhântôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Đoàn Trung Nghĩa
MỤC LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 8
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu 11
7 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 13
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp 13
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 13
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất 13
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất 14
1.1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp 19
1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm 19
1.1.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp 20
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 22
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp xây lắp 23
1.2.1 Khái niệm kế toán quản trị 23
1.2.3 Vai trò của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp 27
1.2.4 Nhiệm vụ của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp 29
1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 29
Trang 61.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất 29
1.3.1.1 Định mức chi phí sản xuất 30
1.3.1.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 33
1.3.2 Phương pháp xác định chi phí sản xuất và phương pháp xác định giá thành trong các doanh nghiệp xây lắp 35
1.3.2.1 Phương pháp xác định chi phí sản xuất 35
1.3.2.2 Phương pháp xác định giá thành sản phẩm 38
1.3.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp 39
1.3.4 Tổ chức phân tích sự biến động của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11 50 2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Sông Đà 11 50
2.1.1 Những thông tin chung về Công ty cổ phần Sông Đà 11 50
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Sông Đà 11 54
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 57
2.1.4 Tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần Sông Đà 11 59
2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 62
2.2.1 Thực trạng nhận diện và phân loại chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 62
2.2.2 Thực trạng lập dự toán chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 64
2.2.3 Thực trạng tập hợp chi phí sản xuất và xác định giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Sông Đà 11 69
2.2.4 Thực trạng tổ chức phân tích sự biến động của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp phục vụ cho các nhà quản trị tại công ty cổ phần Sông Đà 11 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
Trang 7CHƯƠNG III: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11 80
3.1 Các kết luận 80
3.1.1 Ưu điểm 80
3.1.2 Tồn tại và nguyên nhân 81
3.2 Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Sông Đà 11 84
3.2.1 Nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 84
3.2.2 Yêu cầu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Sông Đà 11 85
3.3 Các đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Sông Đà 11 86
3.3.1 Hoàn thiện việc phân loại chi phí sản xuất 86
3.3.2 Hoàn thiện về hệ thống chứng từ 91
3.3.3 Hoàn thiện về hệ thống báo cáo Kế toán quản trị chi phí 94
3.3.4 Hoàn thiện bộ máy kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Sông Đà 11 100
3.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 104
3.4.1 Nhà nước và các cơ quan chức năng 104
3.4.2 Về phía công ty cổ phần Sông Đà 11 106
3.5 Những hạn chế và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 107
3.5.1 Những hạn chế của đề tài 107
3.5.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 107
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8Từ viết tắt Đầy đủ tiếng Việt
2 Bảng 3.1 Chi phí về năng lượng của Công ty Cổ phần Sông Đà
3 Bảng 3.2 Tách chi phí hỗn hợp theo phương pháp bình phương
4 Bảng 3.3 Phiếu báo thay đổi định mức nguyên vật liệu 92
Trang 95 Bảng 3.4 Phiếu xuất kho 93
6 Bảng 3.5 Phiếu theo dõi lao động đối với công nhân trực tiếp sản
7 Bảng 3.6 Báo cáo kết quả kinh doanh theo chi nhánh, đơn vị trực
8 Bảng 3.7 Báo cáo kết quả kinh doanh theo công trình - sản phẩm 96
9 Bảng 3.8 Báo cáo so sánh chi phí thực tế và dự toán 97
10 Bảng 3.9 Báo cáo chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí 98
11 Bảng 3.10 Báo cáo so sánh chi phí thực tế và kế hoạch 99
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam đã có nhữngbước phát triển mạnh mẽ, góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế xãhội Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổchức thương mại thế giới đem lại rất nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức chocác doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng Việcxác định giá thành hợp lý luôn là một lợi thế cạnh tranh tốt nhất của các doanhnghiệp xây lắp để đối phó với sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong và ngoàinước Các doanh nghiệp xây lắp cần phải biết kết hợp các yếu tố đầu vào một cáchtối ưu để không chỉ cho ra những sản phẩm đảm bảo chất lượng, đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật, mỹ thuật mà còn phải có một giá thành hợp lý không chỉ đảm bảo mang lạilợi nhuận cho doanh nghiệp mà mang tính cạnh tranh cao đối với doanh nghiệpcùng ngành, thu hút khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng Chính vì vậy, đốivới mỗi doanh nghiệp xây lắp yếu tố chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm luônđóng vai trò quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh
Các nhà quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp dựa trên các thông tin về chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm để đưa ra giá bán sản phẩm và xác định hiệu quảsản xuất kinh doanh Do đó, nhu cầu thông tin kế toán quản trị của các nhà quản trịtrong các doanh nghiệp xây lắp là rất lớn, đặt biệt là thông tin kế toán quản trị chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm luôn giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiệnmục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, nó bao gồm việc cung cấp và phân tíchthông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm để đưa ra quyết định đúng đắn
về giá bán sản phẩm của các nhà quản trị, cung cấp thông tin để hỗ trợ cho việc sảnxuất các sản phẩm với chi phí thấp, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đảm bảo bàngiao sản phẩm đúng thời gian quy định
Công ty Cổ phần Sông Đà 11 là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực xây lắpđường dây tải điện và các công trình điện đã và đang tổ chức kế toán quản trị chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp nhưng trên thực tế việc tổ chức kế toán
Trang 11quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty chưa khoa học,mang nhiều nội dung tự phát, các công việc của kế toán quản trị chi phí sản xuấtđược thực hiện xen kẽ giữa nhiều bộ phận mà không có bộ phận chuyên trách, nộidung của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn bị ảnh hưởngnặng nề bởi nội dung của kế toán tài chính Công ty sử dụng phân loại chi phí theocác khoản mục trên báo cáo tài chính, chưa thực hiện cách phân loại chi phí theomối quan hệ với mức độ hoạt động (chi phí khả biến, chi phí bất biến, chi phí hỗnhợp) cũng như các cách phân loại chi phí theo mục tiêu ra quyết định của nhà quảntrị Do đó, Công ty không thể xác định đúng giá thành của sản phẩm, các nhà quảntrị không đưa ra được quyết định đúng đắn.
Xuất phát từ yêu cầu mang tính khách quan cả về lý luận và thực tiễn nói trên,
tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11” làm luận văn thạc sĩ của
mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Kế toán quản trị là một phân hệ của hạch toán kế toán nhằm cung cấp cácthông tin hữu ích cho các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh Với vai trò quantrọng ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định kinh doanh góp phần tạo sự thànhcông hay thất bại của doanh nghiệp Như vậy, kế toán quản trị nói chung và kế toánquản trị chi phí, giá thành nói riêng mới được các nhà nghiên cứu của Việt Nam đềcập đến từ những năm 1990 Những năm gần đây, thông qua nhiều cách tiếp cận vàgiải quyết vấn đề khác nhau, các tác giả đã từng bước góp phần định hướng vậndụng kế toán quản trị chi phí, giá thành trong doanh nghiệp
Kế toán không phải là mục đích cuối cùng, kế toán chỉ là phương tiện để đạtđược mục đích cuối cùng của người sử dụng thông tin Nhu cầu thông tin kế toáncủa người sử dụng là khác nhau Đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp nhưnhà đầu tư, khách hàng, cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước, đòi hỏi thôngtin kế toán mang tính nguyên tắc, chuẩn mực, phổ biến, công khai Nhưng đối vớinhà quản trị trong doanh nghiệp lại đề cao tính linh hoạt, cá biệt, ngẫu hứng theo
Trang 12chiến lược, yêu cầu quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của thông tin kế toán.
Từ đó, trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán doanh nghiệp hình thành nênhai phân hệ kế toán khác nhau để đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin kế toán đó là
kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán quản trị ra đời, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để các nhàquản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị Với vai trò quan trọng ảnhhưởng trực tiếp đến các quyết định kinh doanh góp phần tạo sự thành công hay thấtbại của doanh nghiệp nên kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí, giáthành nói riêng mới được các nhà nghiên cứu của Việt Nam đề cập đến từ nhữngnăm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20) Trong luận án của tác giả Nguyễn Việt (1995) đãtrình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kếtoán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những đề xuất về kế toánquản trị trong công trình này chỉ mang tính cơ bản nhất của hệ thống kế toán quảntrị
Tác giả Phạm Văn Dược (1997) đã có những nghiên cứu cụ thể và đề xuất cácbiện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn trong các doanh nghiệp ViệtNam Tác giả đưa ra lý luận chung về kế toán và kế toán quản trị như: thông tin của
kế toán với hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thông tin kế toán tài chính, kếtoán quản trị trong nền kinh tế thị trường, từ đó thấy được vai trò của kế toán quảntrị Bên cạnh đó, tác giả đã đánh giá thực trạng hệ thống kế toán doanh nghiệp củaViệt Nam và thực tế vận dụng kế toán quản trị vào doanh nghiệp Việt Nam Tác giả
đã xây dựng nội dung tổ chức kế toán quản trị như xây dựng bộ máy kế toán quảntrị, phân tích chi phí - doanh thu - lợi nhuận ảnh hưởng đến quá trình ra quyết địnhcủa doanh nghiệp, đồng thời tác giả đưa ra phương pháp lập dự toán, phương phápkiểm tra, đánh giá thực hiện Từ đó tác giả cũng đưa ra giải pháp để vận dụng tổchức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên những nghiêncứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khitính linh hoạt của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt độngkinh doanh của từng ngành
Trang 13Từ năm 2000 đến nay, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào từng lĩnhvực của kế toán quản trị như: Nội dung kế toán quản trị chi phí; Báo cáo kế toánquản trị chi phí; tổ chức kế toán quản trị chi phí; kế toán quản trị chi phí và giáthành,
Liên quan đến nội dung kế toán quản trị chi phí, các nghiên cứu này tập trungvào các nội dung sau: nhận diện chi phí, dự toán chi phí, phân bổ chi phí, phân tíchchi phí Về nhận diện chi phí, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) đã đi sâu vàophân tích kế toán chi phí trong lĩnh vực đặc thù là vận tải hàng hoá Tác giả đã phânloại chi phí theo hai cách: (1) theo mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động, (2)theo cách ứng xử chi phí Theo đó căn cứ để xác định biến phí hay định phí là số
km hoặc tấn/km vận chuyển Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập đến phương phápước tính chi phí nào phù hợp đối với doanh nghiệp vận tải khi tách chi phí hỗn hợp
mà tác giả giới thiệu các phương pháp: phương pháp cực đại - cực tiểu, phươngpháp bình phương bé nhất, phương pháp đồ thị phân tán để doanh nghiệp vận tải tựlựa chọn Về dự toán chi phí, tác giả Vũ Thị Kim Anh (2012) đã xác định nội dunglập dự toán và dự toán là quan trọng cần thiết trong các doanh nghiệp vận tải đườngsắt Theo đó mô hình lập dự toán trong các doanh nghiệp này là mô hình từ dưới lên(xuất phát từ các đơn vị cấp dưới) với các loại dự toán: Dự toán chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung,
dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp Tác giả Nguyễn Phú Giang (2013) cho rằnglập dự toán cần xem xét theo quy mô của doanh nghiệp, cụ thể: (1) Đối với doanhnghiệp thép siêu nhỏ không cần lập dự toán, (2) Đối với doanh nghiệp thép quy mônhỏ nên lập dự toán tỉnh với mô hình dự toán ấn định thông tin từ trên xuống, (3)Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn lập cả dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt và cóthể áp dụng mô hình dự toán: Mô hình dự toán từ trên xuống, mô hình dự toán từdưới lên và mô hình kết hợp Tuy nhiên tác giả cho rằng xây dựng dự toán cần thiếtcho các đơn vị kể cả doanh nghiệp siêu nhỏ, đồng thời xây dựng dự toán cần xuấtphát từ nhu cầu quản trị doanh nghiệp trong việc cụ thể hoá các mục tiêu của doanhnghiệp
Trang 14Về phân bổ chi phí, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) đã nghiên cứuphương pháp phân bổ chi phí theo hoạt động (ABC), tác giả cho rằng phương phápnày sẽ giúp doanh nghiệp vận tải quản trị chi phí tốt hơn, thông tin chi phí chính xáchơn Tác giả đã xác định các hoạt động, tỷ lệ phân bổ cho các hoạt động khi thựchiện dịch vụ vận tải Mặc dù tác giả khẳng định rằng phương pháp ABC trongdoanh nghiệp vận tải là rất tốt, tuy nhiên nghiên cứu cho rằng hiện tại các doanhnghiệp vận tải vẫn nên áp dụng các phương pháp xác định chi phí truyền thống vàchuẩn bị các điều kiện để tiếp cận dần phương pháp hiện đại.
Về phân tích chi phí, tác giả Vũ Thị Kim Anh (2012) đã phân tích chi phí vậntải để ra quyết định kinh doanh: (1) Phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợinhuận; (2) Xác định giá cước vận tải theo biến phí toàn bộ Khi phân tích mối quan
hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận tác giả đã phân tích sản lượng hòa vốn, doanh thuhòa vốn, vùng an toàn, đòn bẩy kinh doanh, điều này rất hữu ích đối với các nhàquản trị vận tải đường sắt vì hạn chế được rủi ro hoạt động, đảm bảo an toàn và pháttriển bền vững Khi xác định giá phí toàn bộ tác giả cho rằng cần xác định phạm vilinh hoạt của giá cước vận tải trong các trường hợp: Khi năng lực vận tải còn dưthừa; hoạt động trong điều kiện khó khăn; phải cạnh tranh với các loại vận tải khác.Tuy nhiên nghiên cứu chưa đi sâu phân tích các thông tin phục vụ cho quá trình raquyết định: chấp nhận hay từ chối đơn hàng vận tải
Liên quan đến báo cáo kế toán quản trị chi phí Tác giả Phạm Quang (2002)trình bày một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về bản chất của kế toán quản trị.Qua đó, tác giả đi sâu nghiên cứu xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị nhưbáo cáo hàng tồn kho, báo cáo chi phí, xây dựng quá trình thu thập, xử lý dữ liệu đểlập báo cáo thu nhập, báo cáo ngân sách Kết quả nghiên cứu cho thấy tác giả tậptrung vào xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị và vận dụng vào các doanhnghiệp Việt Nam nói chung Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) đã đề cập đến hệthống báo cáo kế toán quản trị chi phí vận tải, theo đó hệ thống bao gồm: Báo cáođánh giá trách nhiệm quản lý; báo cáo cung cấp thông tin cho việc xây dựng kếhoạch; báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, đánh giá; báo cáo cung
Trang 15cấp thông tin cho quá trình ra quyết định Ứng với mỗi loại báo cáo tác giả đã đềcấp đến cơ sở và căn cứ lập cũng như tác dụng của từng loại báo cáo Tuy nhiên tácgiả chưa đề cập đến tần xuất của các loại báo cáo này khi cung cấp thông tin chonhà quản trị doanh nghiệp vận tải Tác giả Vũ Thị Kim Anh (2012) đã đề xuất hệthống báo cáo kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp vận tải đường sắt, baogồm: Báo cáo dự toán phục vụ cho chức năng lập kế hoạch; Báo cáo đánh giá tráchnhiệm của trung tâm chi phí thông qua báo cáo tình hình thực hiện chi phí của trungtâm chi phí; Báo cáo phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý thông qua báocáo phân tích chệnh lệch chi phí vận tải Tuy nhiên tác giả mới so sánh chi phí thực
tế và chi phí dự toán để xác định chênh lệch mà chưa phân tích nhân tố nào tác độnglàm phát sinh chênh lệch, nguyên nhân dẫn đến chênh lệch chi phí
Liên quan đến tổ chức kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị chi phí, cáccông trình nguyên cứu tập trung vào tổ chức kế toán quản trị và kế toán quản trị chiphí và xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị ở các doanh nghiệp ở Việt Nam.Tác giả Lê Đức Toàn (2002) đã đánh giá thực trạng kế toán quản trị và phân tích chiphí sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Sau đó đi vào xây dựng
mô hình kế toán quản trị và phân tích chi phí, tập trung vào tình hình hoàn thiện dựtoán chi phí, phân tích đánh giá tình hình tài chính theo biến động của các yếu tố,phân tích trung tâm chi phí, Luận án phân tích cho ngành sản xuất nói chungnhưng nhược điểm chính của luận án là các giải pháp vẫn mang nặng tính chủtrương hơn là vận dụng cụ thể, trong phần lựa chọn mô hình kế toán quản trị tác giảchưa chỉ rõ được các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình của mình.Tác giả Hoàng Văn Tưởng (2010) đã đề cập đến tổ chức kế toán quản trị theo chứcnăng và chu trình của thông tin kế toán, tổ chức theo nội dung công việc như tổchức yếu tố sản xuất, tổ chức kế toán trách nhiệm, tổ chức kế toán chi phí và xâydựng mô hình kế toán quản trị được vận dụng cụ thể trong các doanh nghiệp xâylắp Tuy nhiên phần tổ chức công tác kế toán theo hướng thu nhận thông tin, xử lýthông tin và lập báo cáo kế toán quản trị chưa đề cập sâu cho ngành xây lắp vànhững đề xuất của tác giả mới dừng lại ở mức độ đề xuất chưa xây dựng cụ thể, chi
Trang 16tiết cho từng bộ phận từ khâu cung cấp thông tin đến xây dựng báo cáo và cung cấpthông tin để kiểm soát, đánh giá và ra quyết định kinh doanh cho từng trung tâm chiphí
Liên quan đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đã cómột số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu nàyđều chưa nghiên cứu chuyên sâu về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp Tác giả Trần Văn Dung (2002) đã
đề cập đến hoàn thiện kế toán quản trị chi phí và giá thành trong doanh nghiệp sảnxuất như: Xây dựng trung tâm chi phí, phân loại chi phí theo yêu cầu quản trị, xácđịnh đối tượng tập hợp chi phí và giá thành, vận dụng chứng từ, tài khoản, sổ sách
và báo cáo về kế toán quản trị, hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí cũng nhưđịnh mức chi phí Xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí và giá thành , tổ chứccác phần hành và bố trí nhận sự kế toán
Tác giả Hồ Văn Nhàn (2010) đã nghiên cứu kế toán tập hợp chi phí và tínhgiá thành dịch vụ vận chuyển Từ đó, tác giả đề cập đến lập dự toán chi phí và phântích tình hình thực hiện dự toán chi phí vận chuyển, sau đó định giá bán dịch vụ vậnchuyển dựa vào thông tin kế toán quản trị cung cấp Tác giả Nguyễn Thị NgọcThạch (2012) đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề tổ chức kế toán quản trị chiphí và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam, đưa ranhững nội dung cần hoàn thiện trong tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí và giáthành trong doanh nghiệp này
Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết trên tạp chí chuyên ngành của các tác giả
về kế toán quản trị chi phí và giá thành Tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm (2010) đãđưa ra nhận xét chung về thực trạng kế toán quản trị chi phí và giá thành tại cácdoanh nghiệp sản xuất Việt Nam qua các nội dung: Nhận thức về kế toán quản trị;
về phân loại chi phí; về hệ thống định mức và dự toán chi phí; về phương pháp xácđịnh chi phí và giá thành; Mối liên hệ cung cấp thông tin giữa các bộ phận doanhnghiệp; Mô hình kế toán quản trị, Sau đó, tác giả đưa ra nhận xét các doanhnghiệp Việt Nam chưa nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của kế toán
Trang 17quản trị chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quảntrị Từ đó, tác giả kiến nghị các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam nên tổ chức kếtoán quản trị kết hợp chặt chẽ với kế toán tài chính để giúp các doanh nghiệp dễdàng xác định và kiểm soát chi phí
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên cho thấy các tác giả đã nghiên cứunhững vấn đề cơ bản về kế toán quản trị, kế toán quản trị chi phí, giá thành sảnphẩm Các tác giả đã nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau từ tổng quát đến từnglĩnh vực, ngành sản xuất cụ thể và đã khẳng định được tầm quan trọng của kế toánquản trị nói chung và kế toán toán quản trị chi phí nói riêng trong các doanh nghiệp.Mặt khác, Việt Nam đang từng bước hội nhập thế giới, nền kinh tế đang trongthời kỳ phát triển, số lượng các doanh nghiệp tăng lên rất nhanh, sự cạnh tranh ngàycàng khốc liệt đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược, giải pháp hiệu quả Kế toánquản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một trong những công cụ hữuhiệu giúp các nhà quản trị quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp vớiđặc điểm sản phẩm, quy trình sản xuất, điều kiện nhân lực và vật lực khác nhau nên
có những nhận thức khác nhau về các yếu tố quyết định công tác kế toán quản trịchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chính vì vậy, từ việc tham khảo các nghiên cứu trước đây về kế toán quản trị
và kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tác giả tập trung nghiêncứu kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp áp dụng riêngcho Công ty Cổ phần Sông Đà 11
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Về mặt lý luận: Phân tích, hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề cơ bản về kếtoán quản trị, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanhnghiệp xây lắp làm nền tảng cho việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở lý luận, xem xét, tìm hiểu việc thực hiện kếtoán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phầnSông Đà 11; phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11, đưa ra các kết luận về ưu
Trang 18điểm, tồn tại và xác định nguyên nhân dẫn đến các vấn đề còn tồn tại, từ đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu các vấn đề về kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩmxây lắp, tác giả đã sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp thu thập dữliệu và phương pháp xử lý dữ liệu
* Phương pháp thu thập dữ liệu:
Trong quá trình khảo sát thực tế tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11, tác giả đã sửdụng một số phương pháp để thu thập những dữ liệu cần thiết phục vụ cho đề tài:
- Phương pháp phỏng vấn: Tác giả gặp gỡ và đặt câu hỏi trực tiếp cho Ban
giám đốc, trưởng phòng kế toán và các nhân viên kế toán tại Công ty Cổ phần Sông
Đà 11 với nội dung tìm hiểu quan điểm của nhà quản lý về nhu cầu sử dụng thôngtin kế toán quản trị chi phí, lấy ý kiến đánh giá về việc tổ chức thực hiện cũng như
hiệu quản công tác kế toán quản trị chi phí (phụ lục 01) Trong đó, các câu hỏi từ 1
-> 8 mục I là các câu hỏi dành cho Ban giám đốc; các câu hỏi số 1, 10, 11, 12, 13mục II là các câu hỏi dành cho Kế toán trưởng; các câu hỏi còn lại của mục II là cáccâu hỏi dành cho các nhân viên kế toán
- Phương pháp điều tra: Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu về quan điểm, ý
kiến của những người sử dụng thông tin kế toán quản trị chi phí và những người
Trang 19thiết lập thông tin KTQT chi phí thông qua việc gửi phiếu câu hỏi cho hai đối tượng
là các nhà quản trị doanh nghiệp (thành viên Ban giám đốc, Hội đồng quản trị) và
kế toán trưởng, kế toán viên của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 với nội dung chính
như sau:
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp (thành viên Ban giám đốc, Hội đồng
quản trị), tác giả gửi phiếu câu hỏi theo mẫu (Phụ lục 02) với mục đích tìm hiểu các
thông tin liên quan đến cách thức sử dụng thông tin từ kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm trong quá trình ra quyết định, lấy ý kiến đánh giá củacác nhà quản trị doanh nghiệp về hiệu quả thông tin kế toán chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm hiện nay và khả năng sẵn sàng đầu tư cho hệ thống kế toán quản trịchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Phần này đánh giá nhu cầu về thông tin kếtoán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của các nhà quản trị tại Côngty
Đối với kế toán trưởng và các kế toán viên, tác giả sử dụng phiếu câu hỏi theo
mẫu (Phụ lục 03) nhằm đánh giá thực trạng tổ chức hệ thống kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập dữ liệu thông qua nghiên cứu hệ
thống Chuẩn mực kế toán quốc tế, Chuẩn mực kế toán Việt Nam, Chế độ kế toándoanh nghiệp hiện hành, giáo trình về kế toán, các luận án, luận văn, các bài báo,các công trình nghiên cứu có liên quan tới kế toán Kế toán quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm Đồng thời tìm hiểu về hệ thống tài liệu, sổ sách, cơ sở vậtchất phục vụ công tác thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán quản trị chi phísản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11
Mục đích: Tìm hiểu xem Công ty hiện đang áp dụng Chế độ kế toán, Chuẩnmực kế toán vào công việc kế toán ra sao? Các cách tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá,
đề xuất, kiến nghị,… về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tạicác luận án, luận văn cũng như các công trình nghiên cứu như thế nào?
* Phương pháp xử lý dữ liệu
Trang 20Sau khi thu thập được các dữ liệu từ việc phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu, tácgiả tiến hành thống kê, hệ thống hóa, phân tích số liệu để rút ra các kết luận về kếtoán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Từ đó đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tạiCông ty cho phù hợp.
6 Câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của Luận văn, Luận văn cần phân tích cácvấn đề liên quan đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắptại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 nhằm trả lời các câu hỏi sau:
- Những vấn đề cơ bản của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm xây lắp?
- Việc thực hiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xâylắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 như thế nào?
- Những vấn đề còn tồn tại, chưa hợp lý? Nguyên nhân của những tồn tại đó?
- Những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại trong kế toán quản trị chi phísản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11?
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, luận văn có bố cục 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmxây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11
Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11
Trang 21CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY
LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, chi phí được hiểu theo những quan điểmkhác nhau Theo Chuẩn mực kế toán số 01 - Chuẩn mực chung thì chi phí bao gồmchi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thôngthường của doanh nghiệp (như giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lýdoanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay và những chi phí liên quan đến hoạt động cho cácbên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền, ) và các chi phí khác (nhưchi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt
do vi phạm hợp đồng, ) Chi phí được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai cóliên quan tới việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác địnhmột cách đáng tin cậy Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các
kỳ sau
Theo quan điểm của kế toán quản trị: Chi phí có thể là dòng phí tổn thực tếgắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.Chi phí cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất
đi do lựa chọn dự án, hy sinh cơ hội kinh doanh khác
Theo tiến sỹ Đặng Thị Hoà (Kế toán quản trị, 2005, tr.34): Chi phí sản xuất lànhững khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ phận) sản xuất gắn liền vớicác hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 22Theo Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Ngọc Quang (Kế toán quản trị, 2012, tr.28):Chi phí sản xuất đó chính là sự tiêu hao các yếu tố sản xuất, các nguồn lực trongmột tổ chức hoạt động nhằm đặt được các mục tiêu đã xác định.
Như vậy, có nhiều quan điểm và cách nhìn khác nhau về chi phí song đều cóđiểm chung là sự tiêu hao của các yếu tố sản xuất và các nguồn lực tài chính saumột kỳ hoạt động để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại có nội dung,công dụng và tính chất khác nhau, do đó việc nhận diện và phân loại chi phí cho cácmục đích khác nhau theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp là cơ sở của các quyếtđịnh đúng đắn trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của các nhà quản trị Đểthuận lợi cho việc quản lý chi phí sản xuất cần phải thực hiện việc phân loại chi phítheo các tiêu thức thích hợp Trên quan điểm kế toán quản trị, chi phí sản xuất đượcphân thành nhiều loại theo nhiều tiêu thức khác nhau phù hợp với mục đích sử dụng
Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động
Cách phân loại này giúp dễ dàng kiểm soát chi phí phát sinh ở các giai đoạnsản xuất khác nhau từ đó có thể xác định chi phí theo từng thời điểm phát sinh để cóthể gắn trách nhiệm của nhà quản lý trong đơn vị với từng địa điểm phát sinh Đồngthời, vận dụng cách phân loại này kế toán có thể xây dựng định mức chi phí để sảnxuất một đơn vị sản phẩm và khối lượng sản phẩm theo dự toán tiêu thụ được xâydựng
Tiêu thức này chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đượcchia thành các loại sau:
a) Chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất là loại chi phí chế tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp Chi phísản xuất bao gồm ba khoản mục chi phí: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí về nguyên liệu, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế tạo sản
Trang 23phẩm, cung cấp dịch vụ Chi phí về nguyên vật liệu chính thường dễ nhận diện chotừng đối tượng chịu chi phí Còn chi phí vật liệu phụ và nhiên liệu có thể liên quanđến nhiều đối tượng tập hợp chi phí cần phải phân bổ cho các đối tượng tập hợp chiphí theo những tiêu thức phù hợp (phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu chính, phân
bổ theo định mức chi phí,…)
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản chi phí phải trả cho người lao
động trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch vụ,bao gồm lương chính, lương phụ và các khoản phải trả cho công nhân trực tiếptham gia vào hoạt động sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân trựctiếp sản xuất như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ Chi phí nhân công trực tiếp có thểliên quan trực tiếp đến một hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí Chi phí nhân côngtrực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí cần phải phân bổ cho các đốitượng tập hợp chi phí theo những tiêu thức phù hợp
- Chi phí sản xuất chung: Là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh tại
phân xưởng sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và nhâncông trực tiếp để phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, độisản xuất như lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phânxưởng, khấu hao tài sản cố định dùng sản xuất sản phẩm và quản lý phân xưởng sảnxuất, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phíbằng tiền khác phục vụ cho sản xuất ở tổ, phân xưởng sản xuất;
b) Chi phí ngoài sản xuất sản xuất:
Chi phí ngoài sản xuất là những khoản chi phí doanh nghiệp phải chi để thựchiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ máy quản lýdoanh nghiệp Căn cứ vào chức năng hoạt động chi phí ngoài sản xuất được chiathành hai loại:
- Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thông và tiếp thị trong quá trình bán sản
phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ (chi phí giao hàng, quảng cáo, lương nhân viênbán hàng,…)
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là chi phí liên quan đến việc tổ chức, quản lý
Trang 24hành chính và phục vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp.Chi phí bán hàng và chi phí quản lý là những khoản mục chi phí có nội dungphức tạp, liên quan đến nhiều bộ phận trong doanh nghiệp Vì vậy, việc kiểm soát,quản lý và phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho các đốitượng chịu chi phí là rất khó khăn, đôi khi dẫn đến việc đánh giá sai kết quả hoạtđộng của từng bộ phận.
Phân loại chi phí theo yếu tố đầu vào của sản xuất thì toàn bộ chi phí sản xuấtđược chi thành chi phí ban đầu và chi phí chuyển đổi
Chi phí ban đầu là các chi phí doanh nghiệp phải chuẩn bị từ đầu để tiến hànhcác hoạt động sản xuất kinh doanh Chi phí ban đầu phát sinh trong mối quan hệ củadoanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài Chi phí ban đầu được chia thànhcác yếu tố chi phí sau: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công, chi phí đàotạo nhân công
Chi phí chuyển đổi phát sinh là do có sự kết hợp các yếu tố đầu vào của quátrình sản xuất kinh doanh Sự kết hợp giữa lao động, đối tượng lao động và tư liệulao động Vì vậy, chi phí chuyển đổi là các chi phí tổng hợp, được cấu thành bởinhiều yếu tố chi phí đơn nhất ban đầu Chi phí chuyển đổi bao gồm: Chi phí nhâncông, chi phí sản xuất chung
Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố đầu vào của sản xuất có ý nghĩa quantrọng trong quản lý vĩ mô và các nhà quản trị doanh nghiệp
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế xây dựng môhình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận, xác định điểmhòa vốn cũng như đưa ra các quyết định kinh doanh quan trọng Mặt khác việc phânbiệt này còn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định đúng đắn phương hướng
để nâng cao hiệu quả của chi phí và xây dựng dự toán chi phí hợp lý Theo tiêu thứcnày, chi phí được phân thành ba loại: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
- Biến phí (chi phí khả biến): Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự
Trang 25thay đổi mức hoạt động của doanh nghiệp
Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩmtiêu thụ, số giờ máy hoạt động, doanh thu bán hàng thực hiện Nếu xét về tổng số,biến phí thay đổi tỉ lệ thuận với khối lượng hoạt động, nhưng nếu xét trên một đơn
vị khối lượng hoạt động thì biến phí có thể là hằng số đối với mọi mức hoạt động.Trong một doanh nghiệp sản xuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng Những chi phínày, khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì chúng cũng gia tăng tỉ lệthuận và ngược lại
- Định phí (chi phí cố định): Là những chi phí không thay đổi về tổng số khi
mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp Xét về tổng chi phí, định phíkhông thay đổi nhưng nếu xem xét chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, địnhphí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động haykhông thì vẫn tồn tại định phí và khi doanh nghiệp gia tăng mức độ hoạt động thìđịnh phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần
- Chi phí hỗn hợp: Là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố định phí và
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế
toán tập hợp chi phí, chúng có thể được quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tậphợp chi phí Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị chi phí nói riêng,nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểmsoát chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi phí
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập
hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp
Trang 26chi phí được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh,sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp.
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phí vào đốitượng tập hợp chi phí sản xuất Tuy nhiên, thông qua cách phân loại chi phí này, cácnhân viên kế toán quản trị có thể tư vấn để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra vàthực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lý để đa số các khoản chi phí
có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí Từ đó giúp cho việckiểm soát chi phí được thuận lợi hơn
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành: chi phí kiểm soát được vàchi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được: Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó chi
phí mà lãnh đạo cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởng đến chi phí đó
- Chi phí không kiểm soát được: Chi phí không kiểm soát được ở một cấp nào
đó là chi phí mà lãnh đạo cấp đó không có thẩm quyền chi phối và ra quyết định.Cách phân loại này nhằm cung cấp thông tin để đánh giá hiệu quả của ngườiquản lý, giúp các nhà quản trị thuộc từng cấp quản lý trong doanh nghiệp hoạchđịnh được dự toán chi phí đúng đắn hơn, hạn chế sự bị động về huy động nguồn lực
để đảm bảo cho các khoản chi phí Mặt khác, còn giúp các nhà quản trị cấp cao đưa
ra phương hướng để tăng cường chi phí kiểm soát được cho từng cấp như mở rộng,phát triển các quy trình sản xuất kinh doanh có tỷ lệ định phí cao hơn, phân cấpquản lý chi tiết, rõ ràng hơn về những chi phí gián tiếp, phục vụ quản lý sản xuấtkinh doanh
Theo cách phân loại này chi phí chia thành ba loại đó là: chí phí chênh lệchchi phí chìm, chi phí cơ hội
- Chi phí chênh lệch: Là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất kinh
doanh này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuất kinh doanh
Trang 27khác Xác định chi phí chênh lệch giữa các phương án là căn cứ quan trọng đểdoanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư hay phương án sản xuất kinh doanh.
- Chi phí chìm: Là những chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ vẫn phải
chịu cho dù doanh nghiệp chọn phương án hay hành động nào Chi phí chìm xuấthiện ở mọi phương án xem xét, nên dù chọn phương án nào nhà quản trị vẫn phảichấp nhận khoản chi phí này Chi phí chìm không bao giờ thích hợp cho việc raquyết định vì chúng không có tính chênh lệch
- Chi phí cơ hội: Chi phí cơ hội có thể được hiểu là một lợi ích tiềm tàng bị
mất hoặc phải hy sinh khi lựa chọn phương án này để thay thế cho một phương ánkhác Chi phí cơ hội không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quantrọng cần phải xem xét mỗi khi lựa chọn phương án kinh doanh
Cách phân loại này là căn cứ cho việc lựa chọn phương án kinh doanh phù hợpvới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng trong các doanhnghiệp xây lắp Thông qua chỉ tiêu này có thể thấy được năng lực, hiệu quả củacông nghệ sản xuất, công tác quản lý sản xuất trong việc phối hợp các yếu tố đầuvào để tạo ra sản phẩm đầu ra Giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán củasản phẩm hàng hóa trên thị trường
Theo Giáo sư, tiến sỹ Đặng Thị Loan (Kế toán tài chính trong các doanhnghiệp, 2011, tr.88): Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ cáckhoản hao phí về lao động sống vào lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng,công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành
Theo Phó giáo sư, tiến sỹ Bùi Văn Dương (Giáo trình kế toán tài chính, 2009):Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về lao độngsống và lao động vật hóa được tính cho một đại lượng, kết quả, sản phẩm hoànthành nhất định
Trang 28Tóm lại, từ những khái niệm trên có thể hiểu giá thành sản phẩm xây lắp làtoàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và chi phí khác thể hiệnbằng tiền mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây lắp côngtrình, hạng mục công trình theo quy định.
Sản phẩm xây lắp có thể là khối lượng công việc hoặc giai đoạn công việc có
dự toán riêng, có thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành Khác với cácdoanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính cá biệt, mỗihạng mục công trình, công trình, hay khối lượng xây lắp khi đã hoàn thành đều cógiá thành riêng
1.1.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Trong các doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm thường các cách phânloại giá thành sau:
Trong xây lắp cần phân biệt các loại giá thành công tác xây lắp sau:
- Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình, hạng mục công trình Giá thành dự toán được xác định theođịnh mức và khung giá quy định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ Giá thành dựtoán nhỏ hơn giá trị dự toán công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính trước (thunhập chịu thuế tính trước được tính theo định mức quy định)
Giá thành dự toán của
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định từ những điều kiện cụ thể
của mỗi doanh nghiệp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp
Trang 29dụng trong doanh nghiệp dựa vào năng lực thực tế của doanh nghiệp xây lắp Giáthành kế hoạch được xác định nhằm định ra mục tiêu tiết kiệm chi phí so với giáthành dự toán và là căn cứ để doanh nghiệp xây lắp xác định giá bỏ thầu trongviệc đấu thầu công trình.
+
Mức hạ giá thành
dự toán theo
kế hoạch
+ Chênh lệch
định mức -
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở đặc điểm
kết cấu công trình, phương pháp tổ chức thi công theo các định mức chi phí đãđạt được của doanh nghiệp xây lắp ở thời điểm bắt đầu thi công công trình Vìvậy, giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức
và chi phí đạt được trong quá trình thi công Giá thành định mức được tính toántrước khi tiến hành sản xuất thi công công trình, là công cụ quản lý định mức củadoanh nghiệp xây lắp, là thước đo để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, laođộng trong sản xuất xây lắp, giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh
tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động thi côngcông trình nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ của công trình, hạng mục công trình.Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được khi kết thúc quá trình thi công xâylắp Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả của doanhnghiệp trong việc tổ chức và sử dụng nguồn lực để thực hiện sản xuất thi công, là
cơ sở xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp
- Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh
liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản
Trang 30xuất Đối với các đơn vị xây lắp, giá thành sản xuất bao gồm chi phí nguyên vậtliệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung.
- Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản
ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm
Giá thành toàn bộ được tính theo công thức:
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh củatừng sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh Tuy nhiên, do những hạn chế nhấtđịnh khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanhnghiệp cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân bổ loại này chỉ cònmang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ vớinhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm Chí phí biểu hiện mặt hao phí còn giáthành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất Đây là hai mặt thống nhất củamột quá trình, vì vậy chúng giống nhau về chất Giá thành và chi phí sản xuất đềubao gồm chi phí về lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình tạo ra sảnphẩm Chi phí sản xuất là căn cứ để tính giá thành sản phẩm
Tuy nhiên, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên giá thành vàchi phí sản xuất khác nhau về lượng, được thể hiện qua công thức:
CPSX dở dang cuối kỳ
Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn chúng cho một thời kỳ nhất định,không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa, còn khi nói đếngiá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định, tính cho mộtđại lượng kết quả hoàn thành nhất định Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để
Trang 31xem xét, thì quá trình sản xuất là một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giáthành sản phẩm là một điểm cắt có tính chu kỳ để so sánh chi phí với đại lượng kếtquả, nên tại thời điểm tính giá thành có thể có khối lượng sản phẩm chưa hoànthành, chứa đựng một lượng chi phí cho nó, gọi là chị phí sản xuất dở dang cuối kỳ.Tương tự, đầu kỳ có thể có một lượng sản phẩm sản xuất chưa hoành thành ở kỳtrước chuyển sang kỳ này để tiếp tục sản xuất chứa đựng một lượng chi phí sản xuấtcho nó, gọi là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Như vậy, giá thành sản phẩm hoànthành trong kỳ gồm chi phí sản xuất ở kỳ trước chuyển sang và một phần chi phíphát sinh trong kỳ Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chủ quan, phụ thuộcvào phương pháp tính toán phân bổ như việc ghi nhận trước vào giá thành sản phẩmnhững khoản được coi là chi phí nhưng thực tế chưa phát sinh hoặc những chi phíthực tế đã chi ra nhưng được phân bổ cho nhiều kỳ, nhằm đảm bảo một sự ổn địnhtương đối cho giá thành sản phẩm qua các thời kỳ.
Như vậy, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trong mộtthời kỳ nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí chi ra bất kỳ
ở thời điểm nào nhưng gắn liền với việc sản xuất và hoàn thành một khối lượngcông việc xây lắp nhất định được nghiệm thu, bàn giao và thanh toán
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1 Khái niệm kế toán quản trị
Theo mục đích cung cấp thông tin chúng ta có hai hệ thống kế toán tài chínhcung cấp thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và kế toánquản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp Cónhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị:
Theo hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ (1982) thì “Kế toán quản trị là quy trìnhđịnh dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải thích và thông đạt các sốliệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõiviệc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp để đảm bảo choviệc sử dụng hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”
Trang 32Trong Luật kế toán Việt Nam (2003), Kế toán quản trị được khái niệm nhưsau: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn
vị kế toán”.[khoản 3, điều 4]
Nhằm nhấn mạnh vào mục tiêu của kế toán quản trị, PGS TS Đoàn XuânTiên (2005) cho rằng: “Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cụ thể,phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra vàđánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp.”
Một cách đầy đủ hơn, Tiến sĩ Trần Phước (2010) định nghĩa: “Kế toán quản trị
là quy trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theoyêu cầu quản trị và ra quyết định trong nội bộ đơn vị kế toán.”
Các khái niệm trên tuy cách phát biểu khác nhau, nhưng đều có những vấn đềchung thể hiện bản chất của kế toán quản trị, đó là:
- KTQT là một bộ phận cấu thành không tách rời của hệ thống kế toán doanhnghiệp và là công cụ quan trọng không thể thiếu được trong công tác quản lý nội bộdoanh nghiệp
- Người sử dụng thông tin do KTQT cung cấp là các nhà quản trị doanhnghiệp Thông tin của KTQT là nguồn thông tin chủ yếu giúp cho nhà quản trị thựchiện các chức năng quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức điều hành thực hiện kế hoạch,kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và ra quyết định
1.2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó tới công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Sản xuất kinh doanh xây lắp là một ngành có tính chất công nghiệp, nó tạo ra cơ
sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội Tuy nhiên đây là một ngành công nghiệpsản xuất mang tính đặc biệt Sản phẩm xây lắp cũng được tiến hành sản xuất mộtcách liên tục từ khâu thăm dò, điều tra, khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toáncông trình khi hoàn thành Sản xuất xây lắp cũng có tính dây chuyền, giữa các khâucủa hoạt động sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khâu ngừng trệ
Trang 33sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các khâu khác.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp có những đặcđiểm mang tính đặc thù chi phối cách thức quản lý doanh nghiệp và như vậy cũngchi phối tới nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức công tác kế toán nói chung
và tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm nói riêng Những đặc điểm đólà:
Thứ nhất, sản phẩm xây lắp thường mang tính đơn chiếc, thường được sản
xuất theo đơn đặt hàng của từng chủ đầu tư, do đó tính chất hàng hóa của sản phẩmxây lắp không thể hiện rõ Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điềukiện sản xuất (máy móc, thiết bị thi công, người lao động ) phải di chuyển theo địađiểm đặt sản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tàisản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mấtmát hư hỏng Chính bởi đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải tổchức theo dõi chặt chẽ và phải có phương pháp quản lý phù hợp với những nguyênnhân gây ra để tiết kiệm chi phí
Thứ hai, sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc rất đa
dạng, có kết cấu phức tạp, khó chế tạo, khó sửa chữa, yêu cầu chất lượng cao Do
đó, việc tổ chức quản lý và tổ chức kế toán quản trị sản phẩm xây lắp phải lập dựtoán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với
dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểmcho công trình xây lắp Điều này làm cho các doanh nghiệp xây lắp có thể tổ chức
kế toán quản trị tương đối chính xác giá trị công trình, từ đó lên kế hoạch về tàichính cũng như giám sát các chi phí phát sinh đối với từng công trình
Thứ ba, để nhận được sản phẩm xây lắp, các doanh nghiệp xây lắp thường
phải trải qua đấu thầu vì thế công tác xác định giá dự toán của công trình cần phảiđược coi trọng và từ đó xác định giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả của hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ tư, sản phẩm xây lắp thường có kích thước quy mô lớn, chi phí nhiều, thời
gian tạo ra sản phẩm dài và thời gian khai thác cũng kéo dài, trong thời gian thi
Trang 34công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụngnhiều chi phí về vật tư, nhân lực điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình
và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu tại công trình đangxây dựng Vì vậy, các doanh nghiệp xây dựng phải lựa chọn phương án xây dựnghợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, theo dõi các khoản mục chi phí chặt chẽ nhằmđảm bảo việc sử dụng vốn có hiệu quả
Ngoài ra, do thời gian thi công dài nên kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắpkhông xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định tùythuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình được thể hiện qua phươngpháp lập dự toán và phương pháp thanh toán giữa các bên giao thầu và nhận thầu.Thêm vào đó, cũng do chu kỳ sản xuất sản phẩm dài nên đối tượng tính giá thànhsản phẩm xây lắp có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành hoặc cũng có thể một giaiđoạn quy ước trong hợp đồng xây dựng Sản phẩm xây lắp thường có kích thước,trọng lượng lớn nên đòi hỏi số lượng lao động, số lượng nguyên vật liệu công cụdụng cụ phục vụ sản xuất lớn, khác nhau, vì vậy giá thành sản phẩm xây lắp rấtphức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn Việc xác định đúng đốitượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp sẽ đáp ứng yêu cầu quản
lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất của công trình hạng mục công trình theotừng giai đoạn
Thứ năm, sản phẩm xây dựng là công trình bị cố định tại nơi xây dựng, phụ
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương và thường đặt ngoài trời
và bị gián đoạn do những thay đổi bất thường của thời tiết Do đặc điểm này đòi hỏicác doanh nghiệp xây lắp trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật
tư chặt chẽ đảm bảo thi công đúng tiến độ trong điều kiện thời tiết không thuận lợi.Khi gặp các điều kiện không thuận lợi gây thiệt hại cho công trình và phải phá đilàm lại thì đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải có phương pháp quản lý phù hợp
để tiết kiệm chi phí
Những đặc điểm trên ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp, công tác kế toán quản trị vừa
Trang 35phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệpsản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp.
1.2.3 Vai trò của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp
Kế toán quản trị là công cụ quản trị rất quan trọng trong quá trình hoạch định
và kiểm soát chi phí, thu nhập, tính toán hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanhnhằm đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn Quá trình sản xuất của một doanhnghiệp ở bất kỳ hình thái xã hội nào, thành phần kinh tế nào cũng muốn đạt đượchiệu quả cao, cũng cần biết được nhưng thông tin về tình hình hoạt động kinh tế tàichính một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác và trung thực Những thông tin về tìnhhình chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp xây lắp đã chi ra cho từng công trình,hạng mục công trình, những thông tin về thu nhập và kết quả hoạt động cho từngcông trình, hạng mục công trình chỉ có thể nhận biết được một cách cụ thể thôngqua việc thu nhận, xử lý và cung thông tin của kế toán quản trị Trên cơ sở thông tin
đã thu nhận được, kế toán quản trị có nhiệm vụ phân tích diễn giải, lập dự toán chitiết phục vụ cho nhà quản trị lựa chọn, quyết định phương án tối ưu nhất trong quản
lý Việc quyết định đưa ra các chi phí nào vào các công trình hạng mục công trìnhthì giá thành là bao nhiêu? Và lợi nhuận như thế nào? Tại sao chi phí thực tế chocác công trình, hạng mục công trình so với dự toán lại vượt và phải có biện pháp gì
để giảm chi phí, tăng lợi nhuận… những vấn đề này chỉ có thể được quyết định khicác nhà quản trị có đầy đủ tài liệu do kế toán quản trị cung cấp
Chính vì vậy, vai trò của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp là rấtquan trọng, được thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý cụ thể như sau:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán: Trên cơ sở đã ghi
chép, tính toán, phân tích chi phí, doan thu, kết quả từng hoạt động, từng sản phẩm,từng ngành hàng… lập các bảng dự toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận, kế toán viêncủa bộ phận quản trị sẽ cung cấp các số liệu, thông tin có cơ sở để nhà quản trị lựachọn phương án tối ưu nhất trong việc chọn được sản phẩm sinh lợi cao nhất, huyđộng các nguồn lực hợp lý và có hiệu quả nhất, định được giá bán hợp lý và có tính
Trang 36cạnh tranh nhất Những thông tin này sẽ là căn cứ cho nhà quản trị lập kế hoạch, dựtoán đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: Trong quá trình tổ chức
thực hiện kế hoạch đã được lập đầy đủ và hợp lý, nhà quản trị phải kiểm tra và đánhgiá từng bước thực hiện nhằm đảm bảo kế hoạch được thực hiện ở mức tốt nhất vàhiệu quả nhất Do đó, nhà quản trị cần được các kế toán quản trị cung cấp các báocáo thực hiện để so sánh với kế hoạch đã lập, giúp nhận diện vấn đề còn tồn tại vàcần có tác động của quản lý Các báo cáo này có tác dụng như một hệ thống phảnhồi để các nhà quản trị biết được kế hoạch đang được thực hiện như thế nào, đồngthời nắm được các vấn đề hạn chế cần có sự điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạtđộng của tổ chức về mục tiêu đã xác định
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Tất cả các quyết định đều
dựa trên nền tảng thông tin và phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp.Trong số những thông tin đã thu thập được, kế toán quản trị phải phân tích, chọn lọcnhững thông tin cần thiết, thích hợp rồi tổng hợp lại, trình bày theo yêu cầu của nhàquản trị Cho nên kế toán quản trị không chỉ giúp các nhà quản trị bằng cách cungcấp thông tin mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích những tình huống
cụ thể trong từng phương án kinh doanh, để từ đó giúp cho các nhà quản trị lựachọn ra quyết định đúng đắn nhất
Tóm lại, hoạt động quản trị doanh nghiệp là một quá trình liên tục từ lập kếhoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định Kế toán quản trị luôn cung cấpthông tin cụ thể cho từng khâu của quá trình đó, có thể nói: Kế toán quản trị là mộtcông cụ, một phương tiện xử lý các dữ liệu về hoạt động kinh tế tài chính của doanhnghiệp để làm cơ sở cho việc ra quyếtđịnh quản trị hợp lý nhằm phát triển doanhnghiệp theo chiều hướng có lợi nhất
1.2.4 Nhiệm vụ của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp
Việc cung cấp thông tin trong quá trình ra quyết định có vai trò rất lớn tronghoạt động sản xuất của doanh nghiệp Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ
Trang 37thống kế toán của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêucầu quản trị của các nhà quản trị Vì vậy, kế toán quản trị trong các doanh nghiệpxây lắp có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Chọn lọc và ghi chép số liệu về các loại chi phí
- Phân tích sự thay đổi chi phí, mối quan hệ giữa các loại chi phí
- Lập dự toán và truyền đạt thông tin
- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động thông tin từ trước, trong và sau quá trình hoạtđộng kinh doanh
- Lập báo cáo về chi phí, hỗ trợ cho nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định.Các nhà quản trị doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm soát chiphí vì mọi sự thay đổi lớn hay nhỏ của chi phí đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận Vì vậy, kế toán quản trị chi phí phải phân loại các chi phí rõ ràng cũng nhưlựa chọn phương pháp xác định chi phí phù hợp, từ đó giúp cho công tác dự toán,
dự báo được chính xác cũng như cung cấp cho các nhà quản trị ra quyết định
1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất
Lập dự toán chi phí sản xuất là một trong những nội dung của kế toán quảntrị, có vai trò như một công cụ quản lý khoa học có hiệu quả nhằm kịp thời xử lý
và cung cấp thông tin về chi phí, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trịphục vụ chức năng của mình Một hệ thống dự toán chi phí sản xuất tốt sẽ giúpcho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn
Việc lập dự toán chi phí phải căn cứ vào định mức chi phí Định mức chi phíxác định chi phí cần thiết để hoàn thành một đơn vị sản phẩm hoặc một đơn vịkhối lượng hoạt động, còn dự toán chi phí là xác định chi phí cần thiết để hoànthành toàn bộ khối lượng sản phẩm hoặc toàn bộ khối lượng công việc phải hoànthành Như vậy, định mức chi phí và dự toán chi phí có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau
Trang 381.3.1.1 Định mức chi phí sản xuất
Định mức chi phí là việc xác định chi phí cần thiết cho việc sản hoàn thànhmột đơn vị sản phẩm hoặc đơn vị khối lượng sản xuất, một công việc nhất định.Việc xây dựng định mức chi phí phải đảm bảo phù hợp với điều kiện sản xuất kinhdoanh, trình độ quản lý và tính khả thi Căn cứ vào điều kiện xây dựng, định mứcchi phí được chi thành hai loại: Định mức chi phí lý tưởng và định mức chi phí thựchiện
Định mức chi phí lý tưởng là định mức chi phí được xây dựng trong điều kiệnsản xuất kinh doanh hoàn hảo, tối ưu với máy móc thiết bị tiêu chuẩn và trình độ taynghề cao của người lao động và môi trưởng sản xuất kinh doanh thuận lợi không bịtác động của các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh Định mức thựchiện là định mức được xây dựng trong điều kiện sản xuất kinh doanh trung bình vớimáy móc thiết bị và trình độ thành thạo của người lao động là trung bình
Việc xây dựng định mức chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là công việcphức tạp và khó khăn, để xây dựng định mức chi phí đảm bảo tính tiên tiến đòi hỏingười xây dựng phải am hiểu có trình độ chuyên môn và kinh doanh về lĩnh vựchoạt động sản xuất kinh doanh và có tinh thần trách nhiệm Một số định mức chi phíchủ yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Định mức chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp là cơ sở để xây dựng dự toán chi phí nguyên vật liệutrực tiếp Để xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu cần xem xét hai yếu tố
là số lượng nguyên vật liệu tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm và đơn giá vốnthực tế của nguyên vật liệu đó
+
Số lượng NVL hao hụt cho phép trong sản xuất một đơn
vị sản phẩm
+
Số lượng NVL
hư hỏng cho phép trong sản xuất 1 đơn vị sản phẩm
Trang 39Định mức giá NVL trực tiếp:
Định mức chi phí NVL trực
tiếp cho 1 đơn vị sản phẩm =
Định mức lượng NVL trực tiếp cho 1 đơn vị sản phẩm X
Định mức giá NVL trực tiếp
- Xây dựng đinh mức chi phí nhân công trực tiếp:
Định mức chi phí nhân công trực tiếp phụ thuộc vào lượng thời gian lao độngtrực tiếp cần thiết hoàn thành một khối lượng công việc và đơn giá của thời gian laođộng đó Định mức đơn giá thời gian là số tiền phải trả cho một đơn vị thời giannhư giờ, ngày và được xác định theo hợp đồng lao động gồm tiền lương cơ bản, cáckhoản phụ cấp và các khoản tính theo lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,kinh phí công đoàn
ĐVSP
× Định mức đơn giá 1
đơn vị thời gian
- Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là loại chi phí hỗn hợp gồm nhiều yếu tố chi phí khácnhau, việc xác định định mức chi phí cho từng yếu tố thuộc chi phí sản xuất chung
là khó khăn và không cần thiết Chi phí sản xuất chung xét theo mô hình ứng xử chiphí được chia thành biến phí và định phí, do đó việc định mức chi phí sản xuấtchung được thực hiện cho từng loại biến phí và định phí
Định mức biến phí sản xuất chung: Định mức biến phí sản xuất chung đượcxác định tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp vàmối quan hệ giữa chi phí sản xuất chung trong tổng chi phí sản xuất và các loại sảnphẩm của doanh nghiệp Nếu chi phí sản xuất chung mối quan hệ chặt chẽ với chiphí trực tiếp thì định mức biến phí sản xuất chung được xác định như sau:
Định mức biến phí sản
xuất chung =
Định mức biến phí trực tiếp X
Tỷ lệ biến phí SXC với biến phí trực tiếp
Nếu doanh nghiệp xác định được tiêu chuẩn phân bổ chi phí sản xuất chung hợp
lý và xây dựng được định mức của tiêu chuẩn phân bổ thì để xác định định mức biến
Trang 40phí sản xuất chung trên cơ sở ước tính tổng chi phí sản xuất chung và dự toán khốilượng hoạt động xác định đơn giá phân bổ chi phí sản xuất chung
Đơn giá phân bổ
biến phí SXC =
Tổng biến phí SXC ước tính Tổng tiêu thức phân bổ
Tỷ lệ phân bổ
định phí SXC =
Tổng định phí SXC Tổng tiêu thức phân bổ
Định mức
định phí SXC =
Tỷ lệ phân bổ định phí SXC X
Đơn vị tiêu chuẩn phân
Định mức định phí SXC 1.3.1.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Dự toán là việc tính toán, dự kiến phối hợp giữa các mục tiêu cần đạt được vớikhả năng huy động các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh theo các chỉtiêu số lượng, giá trị trong khoảng thời gian nhất định trong tương lai Dự toán được
sử dụng cho mục đích lập kế hoạch và kiểm soát Dự toán chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm bao gồm: