Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mục tiêucủa hầu hết doanh nghiệpsản xuất là tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng caon
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độclập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồngốc rõ ràng
Hà Nội, Ngày tháng năm 2015 Tác giả
Tạ Thị Tuyết Anh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu Trường Đại họcThương Mại, các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợinhất để tôi hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS,TS.Trần Thị Hồng Mai đãtận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cáchtrọn vẹn và hoàn chỉnh
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ,nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam, đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2015
Tác giả
Tạ Thị Tuyết Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
4 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 7
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí 7
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Mục tiêu và đối tượng của kế toán quản trị chi phí 12
1.1.3 Các mô hình kế toán quản trị chi phí 14
1.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí 16
1.2 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 20
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất 20
Trang 41.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 25
1.2.3 Kế toán xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 31
1.2.4 Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở dang cuối kỳ 35
1.2.5 Phương pháp tính giá thành sản phẩm hoàn thành 36
1.2.6 Phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 41
1.2.7 Báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 47
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH KPF VIỆT NAM 48
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH KPF Việt Nam 48
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 48
2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 50
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh 51
2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH KPF Việt Nam53 2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam 56
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuấttại Công ty 57
2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 58
2.2.3 Kế toán xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 60
2.2.4 Phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 68
2.2.5 Báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 68
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam 68
2.3.1 Ưu điểm 68
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
Trang 5CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIẤ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH KPF
VIỆT NAM 74
3.1 Định hướng phát triển và quan điểm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam 74
3.1.1 Định hướng phát triển 74
3.1.2 Quan điểm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam 75
3.2 Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam 76
3.2.1 Hoàn thiện phân loại chi phí 76
3.2.2 Hoàn thiện về hệ thống tài khoản kế toán 78
3.2.3 Hoàn thiện về lập dự toán 78
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống sổ kế toán sử dụng 79
3.2.5 Hoàn thiện phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 79
3.2.6 Hoàn thiện báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 81
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện 84
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 84
3.3.2 Đối với Công ty TNHH KPF Việt Nam 85
3.4 Những hạn chế trong nghiên cứu 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mục tiêucủa hầu hết doanh nghiệpsản xuất là tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng caonăng lực cạnh tranh.Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm làmột trong những công cụ hữu hiệu giúp các nhà quản trị quản lý doanhnghiệp, do thông tin cung cấp cụ thể, chi tiết và kịp thời Khi sử dụng thôngtin chi tiết đã được tóm lược theo yêu cầu sử dụng, nhà quản trị có thể pháthiện vấn đề để giải quyết nhanh chóng, cải tiến kịp thời và đạt hiệu quả hơn
Do vậy, làm tốt kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ýnghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp.Mặt khác để hội nhập với nền kinh tếthế giới thì việc áp dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm là điều tất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam
Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam là Công ty có vốn đầu tưcủa Hàn Quốc tại Hải Dương với ngành nghề chính là chế tạo sản xuất cácloại bulông, đai ốc, đinh ghim, đinh tán phục vụ cho ngành công nghiệp Hiệnnay, Công ty chủ yếu sản xuất sản phẩm để xuất sang thị trường nước ngoài;trong đó Châu Âu chiếm 80% còn lại là Châu Mỹ Qua thực tế công tác kếtoán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF ViệtNam cho thấy chủ yếu vẫn được thực hiện trên góc độ kế toán tài chính còntrên góc độ kế toán quản trị vẫn chưa thực sự được quan tâm, chưa đáp ứngđược hết các nhu cầu thông tin cho nhà quản lý Công ty Điều này có ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của CôngtyTNHH KPF Việt Nam
Trang 9Từ những lý do trên, em quyết định chọn đề tài:“Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam”.
Thông qua đề tài này, có thể tìm hiểu sâu hơn về kế toán quản trị chi phísản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty, thấy được vấn đề còn tồn tại cũngnhư đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về công tác kế toán quản trị chiphí và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm, mỗi tác giả lại có cách nhìn nhận, suy nghĩ khác nhau làm đadạng hơn vấn đề cần nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Mỹ Dung (2011) tại Trường Đại họcKinh tế quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm ở Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn” đã đề cập đếnphương hướng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩmdưới góc độ kế toán tài chính nhưng chưa đề cập sâu dưới góc độ kế toánquản trị Qua đó luận văn đã đề ra một số giải pháp khắc phục những tồn tạitrong việc quản lý chi phí và kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tạiCông ty cổ phần mía đường Lam Sơn Bên cạnh những mặt đạt được thì luậnvăn chỉ tập trung vào kế toán tài chính, chưa quan tâm đến kế toán quản trị chiphí và tính giá thành trong doanh nghiệp Do đó chưa chỉ ra được vai trò kếtoán quản trị chi phí và giá thành đối với các quyết định quản lý của cácdoanh nghiệp
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thúy Hà (2011) tại Trường Đại họcKinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm tại Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Hà Nam” Tác giả đã đềcập đến lý luận cơ bản và thực trạng về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
Trang 10thành sản phẩm cả dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị Từ đóđưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm tại Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Hà Nam
Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2012) TrườngĐại học Thương mại với đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm xây lắptại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng vàphát triển hạ tầng” tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kếtoán quản trị chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệpxây lắp tìm ra được những ưu, nhược điểm từ đó đề xuất các giải pháp hoànthiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xâylắp tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng.Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Huyền (2013) Trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển ngànhNước và Môi trường” tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản về mặt lý luận
và thực trạng của hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắptại các doanh nghiệp xây lắp dưới cả hai góc độ là kế toán tài chính và kế toánquản trị Từ đó tìm ra được những ưu, nhược điểm từ đó đề xuất các giải pháphoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xâylắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển ngành Nước và Môi trường
Trong bài báo của Ths Đỗ Đức Tài đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểmtoán số 11/2013 của Trường Đại học Lao động Xã hội về “Kế toán chi phí vàtính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất trứng gà thương phẩm”tác giả đã hệ thống những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành trứng gà thương phẩm Trình bày các quy định, đặc điểm của kếtoán chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất trứng
Trang 11gà thương phẩm Tuy nhiên tác giả chỉ tập trung dưới góc độ kế toán tài chínhchưa quan tâm đến kế toán quản trịtrong doanh nghiệp
Qua các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống các nội dung
cơ bản về kế toán tài chính và kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm, đề xuất các phương hướng hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của đề tàinhư ngành sản xuất trứng gà thương phẩm, sản xuất mía đường, sản xuất bia,xây dựng cơ bản
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và hệ thống các nộidung về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công tytrách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam doanh nghiệp sản xuất cơ khí Vì vậy, cóthể nói rằng đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmtại Công ty trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam” là một đề tài không trùnglặp với các đề tài khác
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát: Tìm ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện kế toánquản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữuhạn KPF Việt Nam
Trang 124 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của luận văn, các câu hỏi đặt ra trong quá trìnhnghiêu cứu là:
- Cơ sở lý luận của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm trong các doanh nghiệp sản xuất là gì?
- Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Tráchnhiệm hữu hạn KPF Việt Nam đang được thực hiện như thế nào? Thông tin về
kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu thôngtin phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp không?
- Cần phải có những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán quản trị chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPFViệt Nam?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmtại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam mà không nghiên cứu kếtoán quản trị chi phí ngoài sản xuất
Thời gian nghiên cứu: Tập trung vào năm 2014, 2015
6 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu phục vụ cho việc viết đề tài được lấy từ hai nguồn chính
là nguồn dữ liệu sơ cấp và nguồn dữ liệu thứ cấp Nghiên cứu này được thựchiện thông qua các phương pháp:
Phương pháp quan sát: Quan sát thực hiện công tác kế toán từ thu thập
thông tin, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị chi phí và giáthành sản phẩm bulông, đai ốc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF ViệtNam nhằm thu thập số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Trang 13Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả tiến hành nghiên cứu các tài
liệu từ nguồn tài liệu thứ cấp như văn bản pháp luật, giáo trình, sách chuyênkhảo, website của doanh nghiệp về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức quản lý, đặcđiểm hoạt động sản xuất của công ty, các tài liệu của Công ty Trách nhiệmhữu hạn KPF Việt Nam như: chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán có liênquan đến kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu các đối tượng cung cấp thông
tin thuộc Phòng Kế toán, các phòng ban khác như: Bộ phận sản xuất, Bộ phậnthu mua, Bộ phận kiểm tra chất lượng nhằm giúp cho người nghiên cứu cócái nhìn tổng quan về công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm;
Phương pháp xử lý dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được sẽ được kiểm tra,
sàng lọc, sau đó sử dụng công cụ Word, Excel để tiến hành thống kê, phântích Bên cạnh đó, tiến hành xử lý số liệu bằng cách sử dụng sơ đồ, bảngbiểu để phân tích, tổng hợp và đánh giá
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu phụ lục và danh mục tài liệutham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trongdoanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.2 Khái niệm chi phí sản xuất
Hiện tại có khá nhiều khái niệm về chi phí sản xuất như:
Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Thương Mại(2005): “Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng(bộ phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm củadoanh nghiệp”
Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Kinh tế quốc dân(2012): “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao độngsống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh được tính cho một thời kỳ nhất định”
Chi phí sản xuất, dưới góc độ của kế toán quản trị có thể được coi lànhững khoản phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất, có thể lànhững phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước được tổng hợp theo từng bộ phận,từng khâu của quá trình sản xuất
Khái niệm chi phí sản xuất có sự khác với khái niệm chi tiêu Mặc dù chitiêu là cơ sở để phát sinh chi phí Tuy nhiên, chi phí và chi tiêu khác nhau cả
về thời gian phát sinh và về lượng Có những khoản chi tiêu kỳ này nhưngchưa được tính hết ngày vào chi phí trong kỳ này và có những khoản đượctính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu Sự khác nhau giữa chi phí
Trang 15và chi tiêu là do đặc điểm, cách thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sảntrong quá trình sản xuất cũng như yêu cầu kỹ thuật khi hạch toán.
Từ các quan điểm trên ta có thể hiểu chi phí sản xuất là các phí tổn (chiphí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác) phát sinh gắn liềnvới hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp tính cho một thời
kỳ nhất định và được biểu hiện bằng tiền
1.1.1.3 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng trong doanhnghiệp sản xuất Thông qua chỉ tiêu này có thể thấy được năng lực, hiệu quảcủa công nghệ sản xuất, công tác quản lý sản xuất trong việc phối hợp các yếu
tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra Giá thành sản phẩm là cơ sở để xác địnhgiá bán của sản phẩm hàng hóa trên thị trường
Theo giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp của TrườngĐại học Kinh tế quốc dân (2011): “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiềncủa toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống vào lao động vật hóa có liênquan đến khối lượng, công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.”.Theo Giáo trình kế toán quản trị (2009) trường Đại học Kinh tế Thànhphố Hồ Chí Minh: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộnhững hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được tính cho một đạilượng, kết quả, sản phẩm hoàn thành nhất định”
Cùng quan điểm trên Giáo trình Kế toán tài chính (2009) của Đại họcThương Mại (trang 242) cho rằng: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiềncác chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ)nhất định đã hoàn thành”
Tóm lại, từ những khái niệm trên có thể hiểu giá thành sản phẩm làtoàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra tính cho khối lượng sản phẩm đãhoàn thành
Trang 16Giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có mối quan hệ với nhau, giáthành sản phẩm có chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá Để bù đắpchi phí mà doanh nghiệp bỏ ra cho sản xuất sản phẩm thì chính là số tiền thuđược khi tiêu thụ sản phẩm Đây mới chỉ là yêu cầu của tái sản xuất giản đơncòn để mở rộng sản xuất ngoài việc bù đắp được chi phí sản xuất ra sản phẩmtiêu thụ thì còn phải có lãi từ hoạt động sản xuất sản phẩm.
1.1.1.4 Khái niệm kế toán và kế toán quản trị
a) Khái niệm kế toán
Khái niệm về kế toán có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau:Nhà nghiên cứu lý luận, nhà quản trị doanh nghiệp, người sử dụng thông tin
kế toán liên quan cho nên cách trình bày khái niệm kế toán có thể khác nhau.Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (2009) Trường Đại học Thương Mại
đã xác định “Xét dưới góc độ khoa học, Kế toán là môn khoa học thu nhận xử
lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình tài sản và sự vận động của tàisản trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quannhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính củacác đơn vị đó
Xét dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, Kế toán là việc thuthập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dướihình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (2011)Trường Đại học Ngân hàngThành phố Hồ Chí Minh (trang 18): “Kế toán được xem là một hệ thốngthông tin.”
Trong Luật kế toán (2003) cho rằng “Kế toán là việc thu thập, xử lýkiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giátrị, hiện vật và thời gian lao động”
Trang 17Các khái niệm về kế toán nêu trên cho thấy những quan niệm về kế toán
ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn kế toán với việc phục vụcho công tác quản lý Do vậy, kế toán là công cụ không thể thiếu được trong
hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cungcấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh
tế tài chính trong các đơn vị nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh
tế tài chính của đơn vị
b) Khái niệm kế toán quản trị
Theo mục đích cung cấp thông tin chúng ta có hai hệ thống kế toán tàichính cung cấp thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
và kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị các cấp trongdoanh nghiệp.Có nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị:
Theo hiệp hội kế toán các quốc gia Mỹ - National Asociation ofAccountans (NAA) - Văn kiện số 1A tháng 3 năm 1981: “Kế toán là quá trìnhcung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệptrong việc lập và thực hiện
kế hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp.Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong,đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấpthông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản trị xử lý các thông tin này theohướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”
Theo quan điểm của giáo trình Nguyên lý kế toán (2010)Trường Đại họcCông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh: “Kế toán quản trị là quy trình thu thập,
xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị
và ra quyết định trong nội bộ đơn vị kế toán.”
Theo quan điểm của giáo trình Kế toán quản trị - Học viện Tài chính(2002): “Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cụ thể, phục vụ
Trang 18cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra vàđánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp.”
Trong Luật kế toán Việt Nam (2003), Kế toán quản trị được khái niệmnhư sau: “ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấpthông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tàichính trong nội bộ đơn vị kế toán”.[khoản 3, điều 4]
Từ những quan điểm trên có thể thấy kế toán quản trị là một phận của kếtoán nói chung có chức năng quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho cácnhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy, có thể hiểu kế toán quản trị là một bộ mônkhoa học có nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin định lượng được
về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho các nhà quản trị trong việcđiều hành và quản lý doanh nghiệp
1.1.1.5 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Đối với những nhà quản lý các cấp thì các chi phí là mối quan tâm hàngđầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp củanhững chi phí đã chi ra Kế toán quản trị chi phí cung cấp cả những thông tinquá khứ và những thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dựtoán trên cơ sở định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thờilàm căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, ký kết hợpđồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài
Kế toán quản trị chi phí quan tâm đến việc lập dự báo của thông tin vàtrách nhiệm của nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phíqua hệ thống trung tâm chi phí được cung cấp bởi các trung tâm chi phí trongdoanh nghiệp
Trong bài báo “Kế toán quản trị chi phí và ứng dụng của kế toán quản trịchi phí vào các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam” của tác giả ĐàoThị Minh Tâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tài chính - kế toán số 03/2009
Trang 19thì “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thựchiện việc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việcthực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoach định, tổ chức thực hiện,kiểm tra và ra quyết định”
Kế toán quản trị chi phínhằm cung cấp thông tin cụ thể về chi phí phátsinh tại những thời điểm cụ thể, với những đặc điểm và bối cảnh chi tiết để từ
đó có những giải pháp nhằm kiểm soát chi phí Vì vậy, kế toán quản trị chiphí ghi chép theo loại sản phẩm hoặc công việc, theo đơn vị hoạch toán nội
bộ, theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Vậy kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trịnhằm cung cấp thông tin về chi phí để xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giáhoạt động và ra các quyết định hợp lý trong hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp
1.1.2 Mục tiêu và đối tượng của kế toán quản trị chi phí
Mục tiêu của kế toán quản trị chi phí:
Đối với kế toán quản trị, mô hình doanh nghiệp được thể hiện dưới dạnggắn các mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi với các nguồn lực mà doanhnghiệp có thể huy động và với việc tiêu dùng các nguồn lực này Như vậy, mụctiêu của kế toán quản trị chi phí là liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực vànhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó
Mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi có thể rất đa dạng, như: Bán đượcmột lượng hàng hóa nào đó; tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụthể Để thực hiện được mục tiêu này, cần phải huy động các nguồn lực vàođầu tư thiết bị, dự trữ hàng tồn kho, lao động nghĩa là doanh nghiệp phảiđương đầu với một nhu cầu đầu tư về vốn cố định và vốn lưu động Vì vậy,một trong các nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí là tính toán và đưa ra môhình về nhu cầu vốn cho một loại sản phẩm một thời hạn giao hàng nào đó
Trang 20Trong thực tế, kế toán quản trị chi phí phải tính toán, đo lường giá phí,giá thành của từng loại hàng tồn kho, từng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, từngloại tài sản cố định cũng như xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinhcủa chi phí nhằm tăng cường trách nhiệm vật chất của các bộ phận, cá nhântrong doanh nhiệp tăng cường hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp.
Việc đo lường chi phí của một hoạt động theo một mục đích nào đó làkết quả cụ thể của kế toán quản trị Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng hơncủa kế toán quản trị là phải giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lêncác chi phí này nghĩa là cần phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để cóthể can thiệp, tác động vào các nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh các chi phí.Nghĩa là cần:
Phân tích một các cụ thể để hiểu các chi phí được hình thành như thếnào Biết được từng thành phần chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sảnxuất, giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ
Xây dựng được các khoản dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt độngcủa doanh nghiệp Dựa trên đặc điểm của từng doanh nghiệp, quy trình côngnghệ của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý đối với từng doanh nghiệp màdoanh nghiệp tiến hành xây dựng định mức cho phù hợp làm cơ sở để xâydựng dự toán hợp lý
Kiểm soát việc thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữachi phí theo dự toán và thực tế Qua việc phân tích các thông tin về chi phísản xuất do kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cung cấp
sẽ tìm ra nguyên nhân của chênh lệch giữa chi phí theo dự toán mà đơn vị đãlập so với thực tế hoạt động sản xuất
Mặt khác, khuyến khích những người, những bộ phận có khả năng tớicác thành phần chi phí làm việc phù hợp với chính sách và quy định củadoanh nghiệp nhằm tiết kiệm và hạ thấp chi phí một cách hợp lý nhất
Ngoài ra, kế toán quản trị còn giúp người ra quyết định lựa chọn các giảipháp phù hợp khi lựa chọn phương án kinh doanh
Trang 21Đối tượng của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị không những được áp dụng cho các doanh nghiệp màcòn được áp dụng cả cho những tổ chức, các đoàn thể Dưới đây chỉ đề cậpđến đối tượng của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp, các tổ chứchoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
Kế toán quản trị không phản ánh toàn bộ đối tượng của kế toán nóichung, mà chỉ phản ánh thông tin cụ thể về từng loại tài sản, từng loại chi phísản xuất kinh doanh hoặc từng quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứngyêu cầu quản trị doanh nghiệp
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kế toán quản trị chi phí là quá trìnhphát sinh các loại chi phí khác nhau nhằm hướng đến mục đích kiểm soát vàquản lý chặt chẽ, hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp
1.1.3 Các mô hình kế toán quản trị chi phí
Mô hình kế toán quản trị chi phí của doanh nghiệp phải phù hợp với đặcđiểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa bàn tổ chức sản xuất, kinh doanh phùhợp với mức độ phân cấp quản trị Hiện nay đang có ba mô hình vềkế toánquản trị trong doanh nghiệp là mô hình kế toán chi phí sản xuất và giá thànhtheo chi phí thực tế, mô hình kế toán chi phí sản xuất và giá thành theo chi phíthực tế kết hợp ước tính, mô hình kế toán chi phí sản xuất theo định mức, cụthể như sau:
(1) Mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế
Theo mô hình kế toán chi phí sản xuất thực tế, các yếu tố đầu vào của chi phísản xuất phải tính và hạch toán ngay từ đầu theo chi phí phát sinh thực tế
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp đượctập hợp trực tiếp cho các đối tượng chịu chi phí từ các chứng từ nội bộ
Trang 22công ty cung cấp, như các phiếu xuất kho nguyên vật liệu, lệnh sản xuất,phiếu thời gian
Chi phí sản xuất chung thực tế thường cuối kỳ mới xác định được đầy
đủ Chi phí sản xuất chung được tập hợp và phân bổ cho các đối tượng chịuchi phí theo tiêu thức phân bổ phù hợp Chi phí sản xuất chung phụ thuộc chủyếu vào các chứng từ bên ngoài như hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, chấtđốt, … các hóa đơn này đến cuối kỳ hoặc đầu kỳ saucác nhà cung cấp mớitính và gửi cho doanh nghiệp
Những chi phí sản xuấtliên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sảnxuất thường tập hợp thành từng nhóm và chọn tiêu thức để phân bổ cho từngđối tượng chịu chi phí
Thực hiện mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩmtheo chi phí thực tế doanh nghiệp chỉ có được thông tin về giá thành sản phẩmsau khi kết thúc quá trình sản xuất, giá thành sản phẩm thể hiện chi phí sảnxuất trong quá khứ, rất phù hợp với thông tin theo yêu cầu của kế toán,nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán chung khi lập và trình bầy báo cáo tàichính Vì vậy, thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thường chậmtrễ và đôi khi không còn tác dụng cho các quyết định sản xuất kinh doanhtrong kỳ Điều này làm cho thông tin chi phí và giá thành chỉ phục vụ đượccho hai mục tiêu chủ yếu là định giá và kiểm soát chi phí sau khi thực hiện
(2) Mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế kết hợp ước tính
Đặc điểm của mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm theo chi phí thực tế kết hợp ước tính là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trực tiếp đều được tập hợp cho các đối tượng chịu chi phítheo chi phí thực tế Chi phí sản xuất chung tính cho các đối tượng tập hợp chiphí theo số ước tính Cuối kỳ, trên cơ sở số chi phí sản xuất thực tế đã tập hợp
Trang 23được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí Do đó có thể phát sinh chênhlệch giữa chi phí thực tế và chi phí ước tính đã phân bổ nên cuối kỳ kế toántiến hành đối chiếu, xử lý chênh lệch chi phí sản xuất chung.Nếu chênh lệchtrong định mức thì sẽ được phân bổ vào giá vốn hàng bán.Nếu chênh lệchvượt định mức thì phần vượt định mức được phân bổ vào giá vốn hàng bántrong kỳ.
Thông tin về giá thành đơn vị sản phẩm khi áp dụng mô hình này có thểtính được ở bất cứ thời điểm nào trong tháng, từ đó cung cấp thông tin mộtcách kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý, đáp ứng đượcnhu cầu thông tin trong quản trị chi phí
(3) Mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí định mức
Mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phíđịnh mức là quá trình tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp và chi phí sản xuất chung trên cơ sở định mức tiêu hao để sảnxuất ra một sản phẩm
Căn cứ vào các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy cách chất lượng nguyên vật liệu,tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị, trình độ công nhân doanh nghiệptiến hành xây dựng hệ thống các định mức chi phí theo quá trình sản xuất.Căn cứ vào mục tiêu quản trị chi phí doanh nghiệp sẽ phân loại chi phí sảnxuất sản phẩm thực tế trong kỳ theo từng đối tượng tập hợp chi phí Tổng hợpchi phí sản xuất định mức để xác định giá thành sản phẩm theo chi phí địnhmức Cuối kỳ trên cơ sở tổng hợp chi phí sản xuất thực tế đối chiếuvới chi phíđịnh mức từ đó xác định chênh lệch chi phí và phân bổ Theo mục tiêu quảntrị chi phí doanh nghiệp tiến hành phân tích biến động chi phí
Mô hình này giúp doanh nghiệp chủ động trong cách tính giá thành, địnhgiá bán sản phẩm nhanh chóng kịp thời, nhưng cách tính này độ chính xác
Trang 24thấp do thị trường thường xuyên biến động và giá nguyên vật liệu thay đổiliên tục
1.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí
Muốn thực hiện hiệu quả công việc của kế toán quản trị chi phí doanhcần tổ chức bộ máy nguồn nhân lực và điều kiện trang thiết bị hiện có của đơn
vị Hiện nay, có ba loại mô hinh tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí đểcác doanh nghiệp có thể lựa chọn vận dụng
(1) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng kết hợp
Đây là mô hình kết hợp hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tàichính trong cùng một bộ máy kế toán của đơn vị
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng kết hợp thể hiệnqua sơ đồ (phụ lục 1.01)
Theo mô hình này thì tổ chức bộ máy kế toán như sau: Kế toán quản trị
và KTTC được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, không phân chia thành
bộ phận KTQT và bộ phận KTTC mà chỉ phân chia thành các bộ phận kế toánthực hiện từng phần hành công việc kế toán theo chức trách, nhiệm vụ đượcphân công Các bộ phận này vừa làm nhiệm vụ KTQT, vừa làm nhiệm vụKTTC.Với kế toán đảm nhiệm phần hành kế toán chi phí theo dõi chi phí phátsinh để hoàn thành hệ thống thông tin chi phí trên báo cáo tài chính đồng thờitheo dõi chi tiết thông tin chi phí theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp, xâydựng định mức chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích chênh lệch chi phí thực
tế so với chi phí định mức
Theo cách tổ chức bộ máy kế toán trên thì KTTC sử dụng các tài khoản
kế toán tổng hợp, còn KTQT sử dụng các tài khoản kế toán chi tiết và cácphương pháp khác như: thống kê, toán… Để hệ thống hoá, xử lý và cung cấpthông tin cho nhà quản trị
Trang 25Từ các tài khoản kế toán sử dụng trên thì kế toán tài chính ghi sổ kế toántổng hợp và sổ kế toán chi tiết, còn KTQT căn cứ vào yêu cầu quản trị cụ thểđối với từng chỉ tiêu để mở sổ KTQT nhằm thu nhận được các thông tin phục
vụ nhà quản trị
Căn cứ vào các sổ kế toán sử dụng và do mỗi bộ phận kế toán có chứcnăng thu nhận, cung cấp thông tin kế toán ởdạng tổng hợp hay ởdạng chi tiếttheo yêu cầu quản lý Căn cứ vào các thông tin này, bộ phận kế toán tổng hợplập báo cáo tài chính, báo cáo KTQT để cung cấp thông tin phục vụ cho cácđối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Tổ chức bộ máy kế toán như trên nên có thể kết hợp giữa quản lý tổnghợp và quản lý chi tiết từng chỉ tiêu, dễ phân công công việc, chuyên môn hóasâu và có điều kiện quản lý chặt chẽ khối lượng công việc của nhân viên kếtoán, thuận lợi cho việc áp dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ công việc kếtoán, tạo điều kiện tiết kiệm thời gian và chi phí công việc trong công việc kếtoán tài chính của doanh nghiệp
Tuy nhiên cách tổ chức này đòi hỏi người tổ chức phân công công việcphải hiểu được trình độ năng lực cụ thể của nhân viên kế toán và phải xácđịnh rõ công việc của kế toán tài chính và kế toán quản trị trong từng phầnhành Ngược lại, cũng yêu cầu nhân viên kế toán cần phải hiểu rõ công việccủa kế toán tài chính và kế toán quản trị.Thông tin không chuyên môn hóa,việc cung cấp thông tin chưa đảm bảo tính kịp thời
(2) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng tách biệt
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng tách biệt thể hiệnqua sơ đồ(phụ lục 1.02)
Theo mô hình này thì tổ chức bộ máy kế toán: Kế toán quản trị và kếtoán tài chính được tổ chức thành hai hệ thống riêng biệt Tuỳ vào điều kiện
và nhu cầu của từng doanh nghiệp mà tổ chức nên các phần hành kế toán
Trang 26quản trị sao cho phù hợp nhất Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp theo môhình này sẽ gồm hai bộ phận chính là bộ phận kế toán tài chính và kế toánquản trị Hai bộ phận này có thể ở trong cùng một phòng và cũng có thể thànhhai phòng chức năng.
Bộ phận kế toán tài chính: Căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinhphản ánh trên các chứng từ kế toán theo mẫu quy định kế toán ghi vào các tàikhoản, sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết theo quy định của từng phầnhành kế toán đảm nhiệm sau đó tổng hợp để lập báo cáo tài chính theo quyđịnh của chế độ kế toán.Thông tin do kế toán tài chính cung cấp chủ yếu phục
vụ cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các cơ quan chức năng củanhà nước, các nhà đầu tư
Bộ phận kế toán quản trị: Bộ phận kế toán quản trị ngoài việc sử dụngcác chứng từ bắt buộccòn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ hướng dẫn phảnánh các nghiệp vụ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp Căn cứ vào các chứng
từ kế toán này kế toán phản ánh vào các tài khoản kế toán dùng trong kế toánquản trị được xây dựng thành một hệ thống riêng, mang ký hiệu riêng, phảnánh chỉ tiêu giá trị và hiện vật.Vì vậy, bộ phận kế toán quản trị xây dựng hệthống sổ kế toán riêng phục vụ cho việc ghi chép các nghiệp vụ thuộc kế toánquản trị, từ đó lập nên các báo cáo kế toán quản trị Các báo cáo kế toán quảntrị được lập riêng dưới dạng các bảng cân đối bộ phận với kỳ hạn ngắn hơncác báo cáo tài chính Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các Bảng cân đối bộ phậncòn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời gian lao động; ngoài cácchỉ tiêu quá khứ, các chỉ tiêu được thực hiện, kế toán quản trị còn thiết lập cáccân đối trong dự đoán, trong kế hoạch
Mô hình này tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa giữa kế toán tàichính và kế toán quản trị nên việc lập các báo cáo kế toán sẽ dễ dàng hơn vàviệc cung cấp thông tin sẽ nhanh chóng hơn
Trang 27Tuy nhiên nhà quản trị sẽ không có cái nhìn tổng quát về tình hình doanhnghiệp nếu chỉ đưa vào những thông tin mà kế toán quản trị cung cấp Mặtkhác, cách tổ chức theo mô hình này sẽ làm tăng qui mô của bộ máy kế toán,gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp.
(3) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng hỗn hợp
Mô hình là sự kết hợp cách thức tổ chức của hai mô hình kết hợp và môhình tách biệt Với mô hình này thì một số bộ phận kế toán quản trị được tổchức tách biệt với kế toán tài chính, trong khi một số bộ phận khác lại tổ chứckết hợp Mô hình này có ưu điểm là làm bước đệm cho các doanh nghiệpchưa thực hiện kế toán quản trị tiến thẳng lên mô hình kế toán tách biệt vìtrình độ quản lý cũng như quy mô chưa đủ để tổ chức ngay bộ máy kế toánquản trị tách biệt
1.2 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Để cung cấp thông tin cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc đưa
ra quyết định tại từng khâu của quá trình sản xuất cần làm tốt công tác kế toánquản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Công tác kế toán quản trị chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm cần đảm bảo tính đồng bộ giữa các nộidung của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, bộ máy kếtoán quản trị với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Làm tốt công tác kế toánquản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chính là thực hiện tốt các nộidung của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm từ phân loạichi phí, lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, xác định chi phísản xuất và giá thành sản phẩm, phân tích thông tin chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm, cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmthông qua hệ thống các báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm
Trang 281.2.1 Phân loại chi phí sản xuất
Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin thích hợp vềchi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Vìvậy, đối với kế toán quản trị chi phí không đơn thuần nhận thức chi phí như
kế toán tài chính mà chi phí còn được nhận thức theo các khía cạnh nhận diệnthông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Kế toán quản trị chiphí thường chú trọng đến các cách phân loại chi phí sản xuất
1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động
Cách phân loại này giúp dễ dàng kiểm soát chi phí phát sinh ở các giaiđoạn sản xuất khác nhau từ đó có thể xác định chi phí theo từng thời điểmphát sinh để có thể gắn trách nhiệm của nhà quản lý trong đơn vị với từng địađiểm phát sinh Đồng thời, vận dụng cách phân loại này kế toán có thể xâydựng định mức chi phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm và khối lượng sảnphẩm theo dự toán tiêu thụ được xây dựng
Chi phí sản xuất là loại chi phí chế tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp.Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục chi phí: Chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên vật liệuđược sử dụng cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Thuộc chi phí nguyênvật liệu trực tiếp có thể là nguyên liệu, vật liệu chính; vật liệu phụ sử dụng trựctiếp cho sản xuất sản phẩm Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể liên quantrực tiếp đến một hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí Chi phí nguyên vật liệutrực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí cần phải phân bổ chocác đối tượng tập hợp chi phí theo những tiêu thức phù hợp
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về tiền lương và cáckhoản phải trả cho công nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, cáckhoản trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất như BHXH,
Trang 29BHYT, BHTN, KPCĐ Chi phí nhân công trực tiếp có thể liên quan trực tiếpđến một hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí Chi phí nhân công trực tiếp liênquan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí cần phải phân bổ cho các đối tượngtập hợp chi phí theo những tiêu thức phù hợp.được tập hợp và phân bổ theonhững tiêu thức phù hợp.
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đếnphục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất nhưlương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, khấuhao TSCĐ dùng sản xuất sản phẩm và quản lý phân xưởng sản xuất, chi phívật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiềnkhác phục vụ cho sản xuất ở tổ, phân xưởng sản xuất;
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo yếu tố đầu vào của sản xuất
Phân loại chi phí theo yếu tố đầu vào của sản xuất thì toàn bộ chi phí sảnxuất được chi thành chi phí ban đầu và chi phí chuyển đổi
Chi phí ban đầu là các chi phí doanh nghiệp phải chuẩn bị từ đầu để tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh Chi phí ban đầu phát sinh trong mốiquan hệ của doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài Chi phí ban đầuđược chia thành các yếu tố chi phí sau: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phínhân công, chi phí đào tạo nhân công
Chi phí chuyển đổi phát sinh là do có sự kết hợp các yếu tố đầu vào củaquá trình sản xuất kinh doanh Sự kết hợp giữa lao động, đối tượng lao động
và tư liệu lao động Vì vậy, chi phí chuyển đổi là các chi phí tổng hợp, đượccấu thành bởi nhiều yếu tố chi phí đơn nhất ban đầu Chi phí chuyển đổi baogồm: Chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung
Phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm là theo chi phí ban đầu có
ý nghĩa quan trọng trong quản lý vĩ mô và các nhà quản trị doanh nghiệp
1.2.1.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Trang 30Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế xây dựng
mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận, xácđịnh điểm hòa vốn cũng như đưa ra các quyết định kinh doanh quan trọng.Mặt khác việc phân biệt này còn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác địnhđúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí và xây dựng dựtoán chi phí hợp lý Theo cách phân loại này chi phí được chia thành:
Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi mứchoạt động của doanh nghiệp Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩmsản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động, doanh thu bánhàng thực hiện Nếu xét về tổng số, biến phí thay đổi tỉ lệ thuận với khốilượng hoạt động, nhưng nếu xét trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì biếnphí có thể là hằng số đối với mọi mức hoạt động Trong một doanh nghiệp sảnxuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chiphí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng Những chi phí này, khi mức độhoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì chúng cũng gia tăng tỉ lệ thuận vàngược lại
Định phí là những chi phí mà về tổng số không thay đổi khi có sự thayđổi mức độ hoạt động của đơn vị Nếu xét tổng chi phí thì định phí khôngthay đổi Ngược lại, nếu xét định phí trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì
tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt độnghay không thì vẫn tồn tại định phí và khi doanh nghiệp gia tăng mức độ hoạtđộng thì định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần
Chi phí hỗn hợp: Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cảcác yếu tố của định phí và biến phí
Tác dụng của cách phân loại này là để thiết kế và xây dựng mô hình chiphí trong mối quan hệ chi phí, khối lượng và lợi nhuận Mặc khác phân loại
Trang 31theo cách này còn để xem xét, xác định điểm hòa vốn và xem xét các quyếtđịnh trong sản xuất kinh doanh.
1.2.1.3 Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành hai loại: Chiphí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đốitượng kế toán tập hợp chi phí, chúng có thể được quy nạp trực tiếp cho từngđối tượng tập hợp chi phí Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trịchi phí nói riêng, nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽthuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhângây ra chi phí
Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kếtoántập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đốitượng tập hợp chi phí được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phíkhi chúng phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương phápphân bổ gián tiếp
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phívào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Tuy nhiên, thông qua cách phân loạichi phí này, các nhân viên kế toán quản trị có thể tư vấn để các nhà quản trịdoanh nghiệp đưa ra và thực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanhhợp lý để đa số các khoản chi phí có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượngtập hợp chi phí Từ đó giúp cho việc kiểm soát chi phí được thuận lợi hơn
1.2.1.4 Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cách phân loại này, nếu gắn quyền kiểm soát chi phí với một cấpquản lý nào đó thì phân biệt chi phí thành: chi phí kiểm soát được và chi phíkhông kiểm soát được
Trang 32- Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở mộtcấp quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyềnquyết định về sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được nhữngchi phí này.
- Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí phát sinh mà các nhàquản trị ở một cấp quản lý nào đó không thể dự đoán chính xác sự phát sinhcủa nó và không có thẩm quyền quyết định đối với khoản chi phí đó
Cách phân loại này nhằm cung cấp thông tin để đánh giá hiệu quả củangười quản lý, giúp các nhà quản trị thuộc từng cấp quản lý trong doanhnghiệp hoạch định được dự toán chi phí đúng đắn hơn, hạn chế sự bị động vềhuy động nguồn lực để đảm bảo cho các khoản chi phí Mặt khác, còn giúpcác nhà quản trị cấp cao đưa ra phương hướng để tăng cường chi phí kiểmsoát được cho từng cấp như mở rộng, phát triển các quy trình sản xuất kinhdoanh có tỷ lệ định phí cao hơn, phân cấp quản lý chi tiết, rõ ràng hơn vềnhững chi phí gián tiếp, phục vụ quản lý sản xuất kinh doanh
1.2.1.5 Nhận diện các chi phí khác phục vụ cho việc ra quyết định
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất gồm:
- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án sản xuấtkinh doanh này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuấtkinh doanh khác Chi phí chênh lệch là thông tin thích hợp cho việc xem xét,lựa chọn phương án tối ưu
- Chi phí cơ hội: là lợi ích mất đi do chọn phương án sản xuất kinhdoanh này thay vì chọn phương án sản xuất kinh doanh khác Chi phí cơ hộiluôn luôn là thông tin thích hợp cho xem xét, lựa chọn phương án tối ưu
- Chi phí chìm: là những chi phí đã phát sinh,có trong tất cả các phương
án sản xuất kinh doanh được đưa ra xem xét, lựa chọn Đây là những chi phí
Trang 33mà các nhà quản trị phải chấp nhận không có sự lựa chọn Chi phí chìm luôn làthông tin không thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu.
Cách phân loại này là căn cứ cho việc lựa chọn phương án kinh doanhphù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất
Trong các doanh nghiệp, chi phí là yếu tố luôn được các nhà quản trịquan tâm, tiết kiệm chi phí là cơ sở để nâng cao lợi nhuận, tăng sức cạnhtranh của doanh nghiệp Để quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, kiểm tra giámsát tính hợp pháp, hợp lý của chi phí cần xây dựng định mức chi phí khoahọc, hợp lý cho từng khâu sản xuất kinh doanh, từng khoản mục chiphí.Định mức chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng dự toán chi phí sản xuất
1.2.2.1 Định mức chi phí sản xuất
Định mức chi phí là việc xác định số tiền tối thiểu để hoàn thành mộtđơn vị sản phẩm, dịch vụ hoặc công việc Xây dựng các định mức chi phí sảnxuất kinh doanh là công việc phức tạp và khó khăn, đòi hỏi các nhà quản trịdoanh nghiệp phải chú ý đến đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, yêu cầuquản lý cụ thể, loại sản phẩm, dịch vụ, loại vật liệu sử dụng cho từng loại sảnphẩm, dịch vụ, địa điểm kinh doanh, nguồn hàng cung cấp, đơn giá vật tư,đơn giá lao động Một số định mức chi phí chủ yếu trong quá trình sản xuấtkinh doanh
- Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:Định mực chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp là cơ sở để xây dựng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Để xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu cần xem xét hai yếu tố là số lượng nguyên vật liệu tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm và đơn giá vốn thực tế của nguyên vật liệu đó.
phẩm
X
Định mức giáNVL trực tiếp
Trang 34Số lượng NVL hao hụt cho phép trong sản xuất một đơn
vị sản phẩm
+
Số lượng NVL
hư hỏng cho phép trong sản xuất 1 đơn vị sản phẩm
Xây dựng đinh mức chi phí nhân công trực tiếp:
Định mức chi phí nhân công trực tiếp phụ thuộc vào thời gian lao độngtrực tiếp cần thiết để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm và đơn giá của thời gian laođộng đó Về lý luận cũng như thực tế, định mức thời gian lao động trực tiếpđược thực hiện bằng một trong hai phương pháp sau đây:
- Bấm giờ để xác định thời gian cần thiết hoàn thành một đơn vị sản phẩm;
- Chia công việc hoàn thành theo từng thao tác kỹ thuật, xác định thờigian của từng thao tác kỹ thuật để hoàn thành sản phẩm và tổng hợp lại nhằmxác định thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm
Khi sử dụng phương pháp bấm giờ để xác định thời gian cần thiết hoànthành một đơn vị sản phẩm và đơn giá giờ công lao động trực tiếp nhằm xácđịnh, định mức chi phí nhân công trực tiếp cho 1 đơn vị sản phẩm người ta sửdụng công thức sau:
×
Định mức đơn giá giờcông lao động trựctiếp cho 1 ĐVSPTrong trường hợp định mức chi phí nhân công trực tiếp ở những đơn vị
khoán lương sản phẩm, định mức chi phí nhân công trực tiếp được xác định
theo công thức sau:
Định mức chi phí nhân
công trực tiếp cho 1 ĐVSP =
Khối lượng sảnphẩm hoàn chỉnh ×
Đơn giá chi phí nhân côngtrực tiếp cho 1 ĐVSP
Trang 35- Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung bao gồm định phí và biến phí Do đó, khi xâydựng định mức chi phí sản xuất chung cũng có thể định mức theo từng loạichi phí, nhằm tạo điều kiện cho việc đánh giá tình hình thực hiện các dự toánchi phí sau nàydự toán chi phí sản xuất chung được xây dựng riêng cho biếnphí và định phí sản xuất chung:
Định phí sản xuất chung: là chi phí không thay đổi trong phạm vi phù hợp của khốilượng sản xuất, bao gồm định phí bắt buộc và định phí tùy ý Định phí bắt buộc với đặcđiểm là tồn tại lâu dài trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,chúng không thể cắt giảm đến bằng không trong khoảng thời gian ngắn, do đó dự toán địnhphí bắt buộc được xây dựng trên cơ sở định phí bắt buộc của kỳ trước Định phí tùy ý vớiđặc điểm là có thể thay đổi từ các quyết định của nhà quản lý do đó định mức định phí tùy ýđược căn cứ vào quyết định của nhà quản lý trong kỳ để xác định:
Định mức
định phí SXC =
Mức độ hoạt độngbình quân 1 sản phẩm x
Hệ số phân bổđịnh phí SXCBiến phí sản xuất chung:Tùy thuộc mối quan hệ giữa biến phí sản xuấtchung với khối lượng sản xuất, trình độ quản lý và tổng chi phí sản xuất Nếuchi phí sản xuất chung liên quan đến từng loại đối tượng và xác định đượcmối quan hệ chi phí sản xuất chung với chi phí trực tiếp thì định mức biến phísản xuất chung được xác định như sau:
bổ biến phí sản xuất chung thì định mức biến phí SXC được xác định:
Định mức biến phí
sản xuất chung =
Mức độ hoạt động bìnhquân 1 sản phẩm x
Hệ số phân bổbiến phí SXCTrên cơ sở định mức định phí sản xuất chung và định mức biến phí sảnxuất chung, xác định định mức chi phí sản xuất chung:
Trang 36Định mức chi phí
sản xuất chung =
Định mứcbiến phí SXC +
Định mứcđịnh phí SXC
1.2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Dự toán là dự kiến chi tiết về tình hình huy động và sử dụng các yếu tốsản xuất cụ thể hóa bằng con số Dự toán được sử dụng cho mục đích lập kếhoạch và kiểm soát Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm bao gồm:
Trang 37a) Dự toán chi phí sản xuất
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổngchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bịảnh hưởng bởi số lượng nguyên vật liệu và đơn giá nguyên vật liệu Khốilượng sản phẩm sản xuất càng cao thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp càngcao và ngược lại Để xác định dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sửdụng công thức dưới đây:
×
Số lượng NVLtiêu hao cho 1ĐVSP
× Đơn giá NVLxuất dùng
Riêng đối với đơn giá NVL có thể có sự gia tăng do tính thời vụ hoặckhả năng về nguồn cung cấp có thể có sự thay đổi, kế toán quản trị cần chú ýđến nhân tố giá để việc lập dự toán được chính xác
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp là việc dự kiến tổng số lượng thờigian cần thiết để hoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá thờigian lao động trực tiếp Căn cứ để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp làkhối lượng sản phẩm cần sản xuất, định mức thời gian sản xuất một đơn vịsản phẩm và đơn giá giờ công trực tiếp sản xuất
×
Định mức thờigian SX hoànthành 1 SP
×
Đơn giágiờ côngtrực tiếpTrường hợp doanh nghiếp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, phảilập dự toán chi phí nhân công trực tiếp riêng cho từng loại sản phẩm, sau đótổng hợp lại để tính dự toán cho toàn doanh nghiệp
Trang 38- Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung gồm nhiều khoản chi phí có liên quan đến nhiềuđối tượng chịu chi phí Để thuận tiện cho việc phân tích kiểm tra đánh giá tìnhhình thực hiện các định mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất chung được xâydựng riêng cho biến phí và định phí sản xuất chung
Dự toán biến phí sản xuất chung
Trường hợp biến phí sản xuất chung được xây dựng theo từng yếu tố chiphí (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp ) theo mỗi đơn vịhoạt động thì quá trình lập dự toán biến phí sản xuất chung được thực hiệntương tự như dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhâncông trực tiếp
Trường hợp biến phí sản xuất chung được xác định bằng một tỷ lệ trênbiến phí trực tiếp thì dựa vào dự toán biến phí trực tiếp, tỷ lệ biến phí sản xuất
để lập dự toán biến phí sản xuất chung
Dự toán biến phí
sản xuất chung =
Dự toán biếnphí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phísản xuất chung
Dự toán định phí sản xuất chung:
Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung bắt buộc, căn cứ vào định phísản xuất chung hàng năm chia đều cho 4 quý để xác định định phí sản xuấtchung hàng quý
Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung tuỳ ý, căn cứ vào hành độngnhà quản trị xác định thời điểm chi tiêu để tính vào chi phí cho kỳ dự toánthích hợp Căn cứ vào dự toán biến phí và dự toán định phí sản xuất chungtổng hợp thành dự toán chi phí sản xuất chung:
Dự toán chi phí sản
Dự toán biến phísản xuất chung +
Dự toán định phísản xuất chung
b) Dự toán giá thành sản phẩm
Trang 39Dự toán giá thành sản phẩm là tổng chi phí dự toán để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nhất định Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các dự toán chi phí sản xuất Dự toán giá thành sản phẩm được xác định như sau:
+
Dự toánchi phí nhâncông trực tiếpsản xuất sảnphẩm hoànthành
+
Dự toánchi phí sảnxuất chungsản xuất sảnphẩm hoànthành
Dự toán giá thành sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc định giá bánsản phẩm
1.2.3 Kế toán xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Xác định chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng nhằm thu thập thông tin
về chi phí cấu thành nên giá sản phẩm giúp nhà quản trị có thể đưa ra cácquyết định Các doanh nghiệp tùy thuộc vào điều kiện thực tế tại đơn vị đểvận dụng phương pháp xác định chi phí và tập hợp chi phí đảm bảo tính hiệuquả trong cung cấp thông tin cho các nhà quản trị
1.2.3.1 Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm theo công việc
Phương pháp xác định chi phí theo công việc thường được áp dụng tạicác doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ theo đơn đặt hàng,sản phẩm sản xuất mang tính đơn chiếc có giá trị cao, kích thước lớn Phươngpháp này ghi chép lại một cách chi tiết thông tin của từng sản phẩm riêng biệthoặc của nhóm sản phẩm tương tự nhau
Doanh nghiệp tập hợp các chi phí phát sinh riêng cho từng đơn đặt hàng.Mỗi đơn đặt hàng khi đưa vào sản xuất sẽ được mở một phiếu chi phí côngviệc để theo dõi toàn bộ chi phí cho đơn hàng đó
Quá trình tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm (phụ lục 1.03)
Trang 40Theo phương pháp này, chi phí sản xuất sản phẩm gồm các khoản mụcchi phí sau: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chiphí sản xuất chung.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được kế toán quản trị tập hợp căn cứvào phiếu xuất kho, hóa đơn, bảng phân bổ nguyên vật liệughi vào tài khoản
“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” được mở chi tiết theo từng đối tượng tậphợp chi phí sản xuất đã được xác định là từng công việc, đơn đặt hàng Chiphí nguyên vật liệu được ghi vào phiếu chi phí theo công việc theo trình tựthời gian Sau khi công việc hoặc đơn đặt hàng hoàn thành kế toán sẽ cộngtổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp làm cơ sở để xác định giá thành
Chi phí nhân công trực tiếp được kế toán quản trị tập hợp căn cứ vào cácchứng từ sử dụng là: bảng chấm công tại từng phân xưởng sản xuất, phiếu xácnhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, bảng lương sản phẩm, ghi vào tàikhoản “Chi phí nhân công trực tiếp” được mở chi tiết theo từng đối tượng tậphợp chi phí sản xuất đã được xác định như từng công việc, đơn đặt hàng Chiphí nhân công trực tiếp ghi vào phiếu chi phí theo công việc Sau khi côngviệc hoặc đơn đặt hàng hoàn thành kế toán cộng tổng chi phí nhân công trựctiếp làm cơ sở xác định giá thành
Chi phí sản xuất chung được kế toán quản trị tập hợp căn cứ vào bảngphân bổ nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ; bảng phân bổ tiền lương và cáckhoản trích theo lương, bảng tính và phân bổ khấu hao, ghi vào tài khoản
“Chi phí sản xuất chung”được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phísản xuất đã được xác định.Nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất một đơn đặt hàngthì chi phí sản xuất chung cũng được tập hợp trực tiếp cho từng đơn đặt hàng,công việc Nếu doanh nghiệp sản xuất nhiều đơn đặt hàng trong kỳ thì chi phísản xuất chung không thể tập hợp ngay khi phát sinh nên dược tập hợp trênmột thẻ chi phí riêng Đến cuối kỳ, toàn bộ chi phí sẽ được tổng hợp và phân