1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty cổ phần công trình hàng không

158 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 359,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.2 Xây dựng định mức chi phí sản xuất và lập dự toán chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm trong công ty xây dựng...251.2.3 Kế toán thu thập thông tin về chi phí sản xuất và giá thành

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TẠ QUANG BÌNH

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các tưliệu, tài liệu trong luận văn là nguồn từ công ty mà tôi thu nhập được, kết quảnghiên cứu lao động trung thực của tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Thị Thúy Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trường Đại họcThương Mại, khoa Sau Đại Học, các thầy giáo, cô giáo của Trường đã đào tạo, bồidưỡng những kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu để tôi thực hiện luậnvăn này

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học TS

Tạ Quang Bình, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng bảo vệluận văn đã chỉ dẫn, bổ sung những ý kiến quý báu giúp tôi nhận thức sâu sắc hơn

về nội dung nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà quản lý, các cán bộ công nhânviên của Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không đã giúp đỡ và tạo điều kiệncung cấp cho tôi những số liệu và thông tin hữu ích để tôi thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới những người bạn, những đồngnghiệp đặc biệt là gia đình tôi đã dành cho tôi sự động viên, khích lệ và giúp đỡ tôitrong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài ngoài nước có liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4

4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Kết cấu luận văn 7

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 8

1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 8

1.1.1 Khái niệm, bản chất của kế toán quản trị 8

1.1.2 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị 10

1.1.3 Đối tượng của kế toán quản trị 11

1.1.4 Đặc điểm hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm 12

1.2 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng 14

1.2.1 Nhận diện, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các công ty xây dựng 14

Trang 6

1.2.2 Xây dựng định mức chi phí sản xuất và lập dự toán chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm trong công ty xây dựng 251.2.3 Kế toán thu thập thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựngphục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp 301.2.4 Tổ chức phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụquản trị trong các doanh nghiệp xây dựng 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT

VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH HÀNG KHÔNG 46 2.1 Tổng quan về Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 46

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ Phần Công Trình HàngKhông 462.1.2 Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ Phần Công Trình HàngKhông 472.1.3 Đặc điểm về tổ chức công tác kế toán của Công ty Cổ Phần Công Trình HàngKhông 492.1.4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 52

2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 64

2.2.1 Đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây dựng trong Công ty CổPhần Công Trình Hàng Không 642.2.2 Xây dựng hệ thống dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty

Cổ phần Công Trình Hàng Không 652.2.3 Thu thập các thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng tạiCông ty Cổ phần Công Trình Hàng Không 68

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH HÀNG KHÔNG 76

Trang 7

3.1 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản

phẩm xây dựng tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 76

3.2 Nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm xây dựng trong Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 78

3.3 Các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 79

3.3.1 Phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm xây dựng phục vụ quản trị doanh nghiệp 79

3.3.2 Hoàn thiện tổ chức hệ thống sổ sách chứng từ sử dụng trong kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 81

3.3.3 Hoàn thiện hệ thống dự toán chi phí sản xuất 83

3.3.4 Hoàn thiện công tác lập báo cáo kế toán quản trị 84

3.4 Điều kiện cơ bản để thực hiện các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không 87

3.4.1 Về phía nhà nước và cơ quan chức năng 87

3.4.2 Về phía doanh nghiệp 89

3.5 Những hạn chế trong nghiên cứu và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 90

3.5.1 Những hạn chế nghiên cứu của đề tài 90

3.5.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 90

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

3 CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

5 CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp

6 CPSXC Chi phí sản xuất chung

Trang 9

Bảng 2.3 Bảng khối lượng dự toán công trình

Bảng 2.4 Bảng dự toán kinh phí công trình

Bảng 2.5 Lệnh chi

Bảng 2.6 Hóa đơn giá trị gia tăng

Bảng 2.7 Phiếu xuất kho

Bảng 2.15 Bảng tổng hợp chi phí sản xuất quý II

Bảng 2.16 Bảng tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Bảng 3.1 Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Bảng 3.2 Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp

Bảng 3.3 Sổ chi tiết chi phí sử dụng máy thi công

Bảng 3.4 Định mức chi phí chung tính trên chi phí nhân công

Bảng 3.5 Định mức thu nhập chịu thuế tính trước

Bảng 3.6 Định mức tỷ lệ (%) chi phí chung

Bảng 3.7 Báo cáo chi phí dự toán cấp đội

Bảng 3.8 Báo cáo thực hiện cấp đội

Bảng 3.9 Báo cáo chi phí sản xuất

Bảng 3.10 Phiếu chi phí công việc

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý tại công ty

2 Sơ đồ 2.2 Khái quát bộ máy tổ chức

3 Sơ đồ 2.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật kí chung

4 Sơ đồ 2.4 Quy trình sản xuất sản phẩm xây dựng

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụquản lý kinh tế tài chính, có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát cáchoạt động kinh tế Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán quản trị

là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính đảm nhiệm hệ thống tổchức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế đặc biệt là thông tin về chi phí vàgiá thành sản phẩm Thêm vào đó, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhviệc quản lý tốt chi phí luôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu.Kiểm soát và quản lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinhdoanh hợp lý, hiệu quả nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranhtrong các doanh nghiệp Chính vì vậy, kế toán quản trị chi phí và tính giá thành sảnphẩm là rất cần thiết đối với bất kì một doanh nghiệp nào muốn thành công trênthương trường

Công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất phải tùy thuộc vào đặc điểm tổchức sản xuất, quy trình công nghệ, trình độ và yêu cầu quản lý của mỗi doanhnghiệp Do các nguyên nhân chủ quan và khách quan mà kế toán quản trị chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các công ty xây dựng hiện nay còn khámới mẻ, nhận thức và tổ chức còn nhiều bất cập, chẳng hạn như việc tổ chức và ứngdụng nó vào trong các quyết định quản lý còn gặp nhiều khó khăn từ chính nhữngngười làm quản lý, cán bộ làm công tác kế toán Mặt khác, do đặc thù của doanhnghiệp xây dựng là mỗi sản phẩm có tính chất đơn chiếc và được sản xuất theo hợpđồng giao nhận thầu nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhaugiữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo thiết kế mẫu nhưng đượcxây dựng ở các địa phương khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chiphí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của từng công trình cũng khác nhau Công

ty Cổ phần Công trình Hàng Không là doanh nghiệp xây dựng công trình chủ yếu làcác công trình phục vụ ngành hàng không tại các sân bay trong cả nước và công tycũng có nhiều hợp đồng thi công các công trình dân dụng Chính vì vậy việc quản lý

Trang 12

và tính toán chi phí gặp nhiều vấn đề khó khăn, đối với các công trình hàng khôngthì chủ yếu xây dựng bằng vốn được cấp trên đưa xuống, việc quản lý chi phí vàtính giá thành phải bắt buộc trong định mức cho phép, còn các công trình dân dụng

do có sự cạnh tranh với doanh nghiệp ngoài nên công ty cần có nhiều cân nhắctrong việc tính toán chi phí và giá thành sản phẩm cho từng công trình sao cho vừađem lại lợi nhuận vừa cạnh tranh được với các doanh nghiệp xây dựng khác Vìvậy, việc áp dụng các hình thức quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm dưới góc

độ kế toán quản trị là việc làm cần thiết

Từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài “ Kế toán quản trị chi phí sản

xuất và giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không” để nghiên cứu.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài ngoài nước có liên

quan đến đề tài

Kế toán quản trị (KTQT) được coi là một trong những công cụ quản lý hữuhiệu trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bởi tính linh hoạt và kịp thời của thôngtin kế toán phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp Ở Việt Nam hiện nay,tình hình nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị sảnxuất và giá thành sản phẩm xây dựng đã có một số công trình khoa học và bài viếtcủa các tác giả trong nước nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thànhsản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất và xây dựng Tác giả Vũ Thế Hoàn (2012)

đã trình bày khái quát về kế toán quản trị chi phí sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp thuộc Tổng Công Ty Công Trình Giao Thông 4, tuy nhiên luận văn chỉ dừnglại ở việc đưa ra phương pháp nghiên cứu và phân tích thực trạng kết quả kế toánquản trị chi phí sản xuất kinh doanh nói chung tại các doanh nghiệp Tác giả HoàngThị Việt Hà (2012) đã đánh giá về thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tổng Công Ty Vinaconex,đưa ra các nguyên tắc chung, các quan điểm cơ bản và nội dung hoàn thiện và giảipháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm tại các doanh nghiệp hiện nay Các công trình nghiên cứu này, các

Trang 13

tác giả tập trung phân tích những lý luận về tổ chức kế toán quản trị nói chung, kếtoán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm nói riêng, đồng thời phân tích thựctrạng công tác kế toán quản trị chi phí ở các loại hình doanh nghiệp đặc thù ở cáckhía cạnh như: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành,phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, phương pháp tính giá thành… Đồng thời

đề xuất giải pháp hoàn thiện

Mặt khác, một số tác giả tập trung nghiên cứu vào việc xây dựng mô hình kếtoán quản trị chi phí cho một số loại hình doanh nghiệp cụ thể: tác giả Phạm ThịThủy (2007) đã đánh giá thực trạng hệ thống kế toán quản trị chi phí trong cácdoanh nghiệp Dược phẩm theo hướng có thể cung cấp thông tin hữu ích cho các nhàquản trị trong quá trình ra quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranh khắcnghiệt Tác giả Huỳnh Lợi (2008) đã trình bày về quan điểm mục tiêu xây dựng kếtoán quản trị phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam, mô hình, cơ chế vận hành môhình kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam và các giải pháp hỗ trợ cần thiết

để đảm bảo xây dựng khả thi kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam Trongcác công trình này, người viết cũng tập trung phân tích các vấn đề lý luận về kế toánquản trị chi phí đồng thời phân tích đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chiphí sản xuất tại các doanh nghiệp trên các khía cạnh đối tượng tập hợp chi phí sản xuất,đối tượng tính giá thành, dự toán chi phí sản xuất, phương pháp tính giá thành… vàđưa ra đề xuất hoàn thiện

Kế toán quản trị được coi là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu trongđiều kiện nền kinh tế thị trường, bởi tính linh hoạt và kịp thời của thông tin kế toánphục vụ yêu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thốngKTQT chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam chưa đượcchú trọng, hoặc có làm nhưng hiệu quả chưa cao Tại sao các doanh nghiệp sản xuấtViệt Nam chưa thực sự quan tâm đến KTQT chi phí và giá thành? Cần phải làm gì

để KTQT phát huy tác dụng trong hoạt động của doanh nghiệp? Tác giả NguyễnThị Minh Tâm (2010) đã nêu thực trạng công tác kế toán quản trị hiện nay ở một sốdoanh nghiệp tại Hà Nội nói riêng và của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung

Trang 14

Bài viết đã đưa ra những luận điểm, căn cứ và những nhận xét, đánh giá rõ ràng về

kế toán quản trị trong các doanh nghiệp hiện nay Khảo sát thực tiễn cho thấy kếtoán quản trị ở các doanh nghiệp sản xuất cho đến thời điểm hiện nay chỉ có một sốtập đoàn kinh tế lớn áp dụng KTQT bằng cách thiết lập hẳn bộ phận KTQT riêngbiệt với bộ phận KTTC nhằm cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế -tài chính phục vụ việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định củanhà quản trị Còn ở các doanh nghiệp nhỏ thì hiếm thấy các nội dung của KTQTtrong công tác kế toán của doanh nghiệp

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kế toán quảntrị chi phí và giá thành sản phẩm xây dựng tại doanh nghiệp

- Phân tích đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩmxây dựng tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không Từ đó tìm ra các kết quảđạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong kế toán quản trị chi phí

và giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không

4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu

- Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và xây dựng công trình hàng không?-Đã có những nghiên cứu nào trước đây về vấn đề kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm xây dựng?

- Tình hình thực tế về vấn đề còn tồn tại của kế toán quản trị chi phí và giáthành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không ?

- Công ty đã và đang có những biện pháp gì để quản lý chi phí và cách tínhgiá thành sản phẩm xây dựng?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Xác định đối tượng nghiên cứu là kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không

Trang 15

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ngành xây dựng có những đặc điểm riêngmang tính đặc thù chi phối cách thức quản lý doanh nghiệp cũng như chi phối đếnnội dung, phương pháp và cách thức tổ chức kế toán nói chung và công tác kế toánquản trị chi phí sản xuất sản phẩm nói riêng,

- Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về kế toánquản trị chi phí sản xuất nói chung tại các doanh nghiệp xây dựng và thực tế côngtác kế toán quản trị chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty

Cổ Phần Công Trình Hàng Không

- Phạm vi thời gian thực hiện đề tài: Tháng 05/2016 – 11/2016

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu các vấn đề về kế toán quản trị chi phí và giá thành tôi đã sử dụng hai phương pháp chủ yếu đó là phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu

a.Phương pháp thu thập dữ liệu :

Trong quá trình khảo sát thực tế tại Công ty cổ phần Công Trình HàngKhông, tôi đã sử dụng một số phương pháp để có thể thu thập được những dữ liệucần thiết phục vụ cho bài viết của mình như sau:

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Đối với những dữ liệu sơ cấp, tôi đã sửdụng kết hợp giữa các phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra và phươngpháp quan sát thực tế để thu thập

Phương pháp phỏng vấn: Là phương pháp được thực hiện thông quaviệc phỏng vấn trực tiếp những người làm công tác kế toán tại Công ty cổ phầnCông Trình Hàng Không Đây là phương pháp thu thập thông tin rất thông dụng vàrất hiệu quả Người nghiên cứu đặt câu hỏi trực tiếp cho đối tượng được điều tra vàthông qua câu trả lời của họ sẽ nhận được những thông tin mong muốn.Các bước đểthực hiện một cuộc phỏng vấn được tiến hành như sau:

Bước 1: Lập kế hoạch phỏng vấn bao gồm: Thời gian phỏng vấn; Các câu hỏiphỏng vấn; Tên, chức vụ của người được phỏng vấn

Bước 2: Thực hiện phỏng vấn và ghi chép lại những câu trả lời củanhững người được phỏng vấn

Trang 16

Mục đích của phương pháp: Thu thập được những thông tin chính xác,kịp thời về tổ chức bộ máy kế toán nói chung, về chính sách kế toán, ưu nhượcđiểm của các nội dung tổ chức công tác kế toán trong Công ty.

Phương pháp điều tra: Phương pháp điều tra là phương pháp được tiếnhành thông qua việc điều tra chọn mẫu, áp dụng bảng câu hỏi điều tra để thu thập sốliệu, khảo sát số liệu và dẫn chứng thực tế đánh giá khách quan vấn đề nghiên cứu,hạn chế tính chủ quan của người tiến hành nghiên cứu Các bước thực hiện điều tranhư sau:

Bước 1: Lập bảng câu hỏi cho phiếu điều tra Các câu hỏi này phải liênquan đến kế toán quản trị chi phí và tính giá thành của công ty

Bước 2: Xác định đối tượng điều tra: Do hạn chế về quá trình điều tra màviệc thực hiện điều tra sẽ chọn lấy ý kiến của 20 phiếu điều tra cho các thành viêntrong Công ty là Giám đốc, kế toán trưởng và một số kế toán viên trong Công ty

Bước 3: Tiếp cận và thực hiện phát phiếu điều tra cho những ngườitrong danh sách

Bước 4: Thu lại phiếu điều tra, tiến hành tổng hợp và xử lý các số liệuthu được từ phiếu phục vụ cho việc đánh giá, phân tích

Mẫu phiếu khảo sát (Bảng 1.1 – phần Phụ Lục)

Tổng hợp kết quả phiếu điều tra (Bảng 1.2 – phần Phụ Lục)

Mục đích của phương pháp: Tìm hiểu những thông tin tổng quát về tổ chức

bộ máy kế toán, những thông tin tổng quát về kế toán quản trị chi phí nói chung

Phương pháp quan sát thực tế: Quan sát là phương pháp thu thập thôngtin thông qua việc sử dụng các giác quan và các thiết bị hỗ trợ để ghi nhận cáchiện tượng hoặc các hành vi của con người phục vụ cho công tác nghiên cứu mộtvấn đề khoa học Trong quá trình khảo sát tại đơn vị, tôi đã trực tiếp quan sát nhữnghoạt động đang diễn ra tại phòng kế toán của DN, quan sát những tài liệu về kếtoán cũng như tìm hiểu về các nghiệp vụ kế toán của DN

Mục đích của phương pháp: Nhằm tiếp cận trực tiếp, theo dõi được cáchoạt động, các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày, các thao tác và quá trình làm việc củaphòng kế toán

Trang 17

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Phương pháp được sử dụng để thuthập dữ liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu tài liệu Đây là phương pháp màngười nghiên cứu sẽ tìm đọc những tài liệu có liên quan tới đề tài của mình, sau đóchắt lọc ra những điểm, những mục cần thiết và ghi chép lại theo một trình tự logic

để phục vụ cho bài viết của mình Mục đích của phương pháp này là thông quanhững thông tin thu thập được sẽ có được những dẫn chứng tin cậy nhất cho nhữngquan điểm và lập luận của mình

b) Phương pháp phân tích dữ liệu

Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp :

Đối với những thông tin thu thập được thông qua việc phỏng vấn cácnhà lãnh đạo và nhân viên kế toán của DN sẽ được tổng hợp lại thành 1 bảng kếtquả phỏng vấn theo nội dung

Đối với những thông tin thu thập được thông qua phương pháp điều tra sẽ đượctổng hợp lại thành 1 bảng kết quả điều tra trắc nghiệm theo những chủ điểm

Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp: Phương pháp được sử dụng để thuthập dữ liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu tài liệu Căn cứ vào các dữ liệu thứcấp thu thập được, sẽ chắt lọc các thông tin cho phù hợp với luận điểm trình bày Sosánh để đánh giá mức độ phù hợp của thông tin kế toán với hệ thống chuẩn mực kếtoán Việt Nam, chính sách kế toán hiện hành

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Trang 18

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan về kế toán quản trị

1.1.1 Khái niệm, bản chất của kế toán quản trị

1.1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị

Theo Luật kế toán Việt Nam (2003): Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý,phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản lý và quyết địnhkinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán ( Khoản 3- Điều 4 - Luật Kế toán ViệtNam - số 03)

Theo Ray H Garrison (2006) “ Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấptài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có tráchnhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó”

Theo PGS.TS Nguyễn Phú Giang (2008) “ Kế toán quản trị là một khoa họcdựa trên cơ sở các số liệu kế toán, tiến hành thu nhập, xử lý, phân tích tổng hợp vàthiết kế các thông tin kế toán thành các thông tin hữu ích phục cụ cho việc ra cácquyết định ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp”( Trang 8 – Kế toán quản trị )

Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trịnhư sau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tinđịnh lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của đơn vị cụ thể, giúp các nhàquản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thựchiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị

Như vậy, kế toán quản trị chi phí là việc thu thập, xử lý, phân tích và cungcấp các thông tin về chi phí của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị doanhnghiệp thực hiện tốt các chức năng quản trị chi phí trong quá trình kinh doanh

Trang 19

1.1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị

Kế toán là công cụ không thể thiếu trong quản lý kinh tế Kế toán chủ yếu tậptrung vào ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài chính của một tổ chức, các báocáo này nhằm để truyền đạt thông tin tài chính của một tổ chức Chức năng của

kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài sảntrong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụngthông tin với các mục đích sử dụng khác nhau Sự khác nhau đó là tiêu thức đểchia hệ thống thông tin kế toán thành hai bộ phận Một bộ phận chuyên cung cấpcác thông tin cho đối tượng bên ngoài gọi là kế toán tài chính và một bộ phậnchuyên cung cấp thông tin theo yêu cầu của nhà quản lý trong nội bộ gọi là kếtoán quản trị

Theo Luật Kế toán Việt Nam (2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTC (2006)của Bộ tài chính hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp: KTQT

là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêucầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán như chiphí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích,đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản

lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khốilượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắnhạn và dài hạn; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn

và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh….nhằm phục vụ việcđiều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế

Xét từ phương diện kế toán, thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử

lý và cung cấp cho các nhà quản trị là thông tin về chi phí Trong quá trình kinhdoanh của các doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh và gắn liền với mọihoạt động và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận thu được Hơn nữa trên giác độquản lý chi phí phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phốichủ quan của nhà quản trị Do vậy, kiểm soát và quản lý tốt chi phí là mối quantâm hàng đầu của họ Mặt khác, kế toán quản trị chi phí với nhiệm vụ chủ yếu là

Trang 20

cung cấp thông tin toàn diện và đầy đủ về chi phí cho các nhà quản trị trong quátrình thực hiện các chức năng quản trị Kế toán quản trị chi phí quan tâm đếnviệc lập dự báo của thông tin và trách nhiệm của nhà quản trị các cấp nhằm gắntrách nhiệm của họ với chi phí phát sinh qua hệ thống trung tâm chi phí đượccung cấp bởi các trung tâm chi phí trong doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí

sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào khi có sự thay đổi của một

số nhân tố nào đó, trách nhiệm giải thích những thay đổi bất lợi của chi phí thuộc

về ai và các giải pháp đưa ra để điều chỉnh sự thay đổi chi phí đó một cách kịpthời KTQT chi phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và nhữngthông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở địnhmức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho việc lựachọn các quyết định về giá bán sản phẩm, ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất haythuê ngoài

Như vậy, bản chất của kế toán quản trị là một hệ thống thông tin quản lýdoanh nghiệp Thông tin kế toán quản trị có chức năng quan trọng nhằm tăngcường quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong môi trường kinh doanh luônbiến động và phức tạp Thực chất đó là một hệ thống thông tin quản trị hữu ích,một hệ thống thông tin quan hệ hữu ích, một hệ thống thông tin quan hệ lợi ích,trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp

1.1.2 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị

Việc xác định nội dung cơ bản của kế toán quản trị là một vấn đề phức tạp

và đang có nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, khi xác định nội dung của kế toánquản trị cần xem xét các vấn đề cụ thể của nó; đồng thời phải xem xét trong mốiquan hệ tương quan với kế toán tài chính để đảm bảo cho kế toán quản trị khôngtrùng lặp với kế toán chi tiết thuộc kế toán tài chính và phát huy được tác dụngđích thực của nó trong công tác quản trị doanh nghiệp

Nếu xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp thì nộidung cơ bản của kế toán quản trị là :

- KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh (lao động, hàng tồn kho, TSCĐ)

Trang 21

- KTQT chi phí và giá thành sản phẩm.

- KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh

- KTQT các hoạt động khác của doanh nghiệp

Nếu xét quá trình KTQT trong mối quan hệ với các chức năng quản lýnội dung KTQT bao gồm:

- Chính thức hóa các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu kinh tế

- Lập dự toán chung và dự toán chi tiết

- Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu

- Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị

- Phân tích các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trịdoanh nghiệp

Như vậy, thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thông tin quá khứ,thông tin thực hiện mà còn bao gồm thông tin về tương lai Mặt khác, thông tin

kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị mà còn bao gồm các thôngtin khác như hiện vật, thời gian, lao động

1.1.3 Đối tượng của kế toán quản trị

Kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, do vậy kế toán quản

trị cũng có đối tượng nghiên cứu của kế toán nói chung là tài sản, nguồn vốn gắnvới các quan hệ tài chính của doanh nghiệp hoạt động Tuy nhiên bên cạnh đó kếtoán quản trị còn nghiên cứu những đối tượng đặc thù và cụ thể hóa nhằm cung cấpcác thông tin nhanh, chính xác cho các cấp quản trị Cụ thể như:

- Phản ánh chi tiết các yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh theo các góc độkhác nhau như phân loại chi phí, dự toán chi phí, xây dựng định mức chi phí, tínhtoán, phân bổ chi phí, giá thành, phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng vàlợi nhuận…nhằm mục đích kiểm soát và quản lý chi phí chặt chẽ và dự toán chi phíchính xác để tối thiểu hóa chi phí

- Phản ánh các yếu tố sản xuất như: vật tư, tài sản cố định, lao động, tiềnlương, hàng tồn kho nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấpnhất và lợi nhuận cao nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của thị trường

Trang 22

- Phản ánh chi tiết doanh thu và kết quả từng hoạt động, bộ phận, địa điểm,sản phẩm, mặt hàng kinh doanh… phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu,lợi nhuận thông qua các hệ thống báo cáo kết quả kinh doanh trong việc hình thànhcác quyết định điều hành hoạt động của doanh nghiệp.

- Phản ánh chi tiết các khoản công nợ phải trả, phải thu, các khoản thanhtoán khác của doanh nghiệp…

- Xây dựng các trung tâm trách nhiệm theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp

để các nhà quản trị đưa ra quyết định, đồng thời xác định trách nhiệm của các cánhân, bộ phận và kiểm soát việc thực hiện từng khâu công việc, làm rơ các nguyênnhân gây ra sự biến động trong tổng thể doanh nghiệp

- Phân tích và lựa chọn các phương án đầu tư ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo

an toàn và phát triển vốn trong hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất

1.1.4 Đặc điểm hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm

Hoạt động sản xuất xây dựng có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù, dovậy phương pháp và cách thức tổ chức quản lý có đặc thù riêng cụ thể:

Thứ nhất, sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc rõ rệt, mỗi sản phẩm làmột công trình hay hạng mục công trình được xây dựng theo thiết kế kỹ thuật,

mỹ thuật, kết cấu, hình thức, phương thức thi công, địa điểm thi công, xây dựngkhác nhau, riêng biệt theo từng hợp đồng giao nhận thầu xây dựng của bên giaothầu, đặc biệt sản phẩm được sản xuất ngay tại nơi tiêu thụ Do vậy, việc tổ chứcquản lý và quản trị chi phí sản xuất nhiều nên nhất thiết phải có dự toán thiết kếthi công Điều này giúp cho các doanh nghiệp xây dựng có thể giám sát các chiphí phát sinh đối với từng công trình và công tác kế toán quản trị tương đối chínhxác về giá thành công trình

Mặt khác, do mỗi sản phẩm xây dựng có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ vàđược sản xuất theo các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng nên chi phí sản xuất thicông cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ở các địa điểm khác nhau vớiđiều kiện thi công khác nhau (đơn giá vật liệu, nhân công ở các địa phương khác

Trang 23

nhau…) Vì vậy, kế toán phải quản trị chi phí và giá thành sản phẩm cho từng côngtrình riêng biệt Một điều đặc biệt nữa là do sản xuất xây dựng được thực hiện theocác hợp đồng giao nhận thầu xây dựng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưuthông, tiêu thụ.

Thứ hai, sản phẩm xây dựng chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có hợp đồnggiao thầu của chủ đầu tư, nói cách khác là sản phẩm xây dựng thường được sản xuấttheo hợp đồng đã được ký kết do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây dựngthường không thể hiện rõ nét Sản phẩm được bán theo giá dự toán hay giá thỏathuận với người giao thầu từ trước Các sản phẩm hoàn thành được nghiệm thu vàbàn giao không qua nhập kho Bên cạnh đó, tình hình và điều kiện sản xuất xâydựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xâydựng; cụ thể: con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình nàysang công trình khác, còn sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) thì hoàn thành,đứng yên một chỗ, đây là một đặc điểm ngược lại và hiếm thấy đối với các ngànhsản xuất khác Phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất luôn phảithay đổi theo từng địa điểm, giai đoạn xây dựng; đặc điểm này gây khó khăn choviệc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu

di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất như: Chi phíđiều động nhân công, máy móc thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và dọn mặt bằng

để tập kết vật liệu, máy thi công… đòi hỏi kế toán phải quản trị chi phí, phản ánhchính xác chi phí và phân bổ chi phí này hợp lý

Thứ ba, sản phẩm xây dựng có giá trị lớn vượt quá số vốn lưu động củadoanh nghiệp xây dựng Hơn nữa, thời gian thi công thường kéo dài, trong thời gianthi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụngrất nhiều nguồn lực, điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sảnxuất của doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu Chính vì vậy, các doanhnghiệp xây dựng phải lựa chọn phương án thi công hợp lý, kiểm tra chất lượng chặtchẽ, phải có quy ước thanh toán chia thành nhiều kỳ theo giai đoạn thi công, dự trữ

Trang 24

vốn phù hợp, theo dõi sát chi phí phát sinh (chi phí sản xuất, chi phí lãi vay…) trongquá trình thi công tránh thất thoát, lãng phí.

Mặt khác, do thời gian thi công công trình thường kéo dài nên kỳ tính giáthành không phải hàng tháng như các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp màthường tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình được thể hiện quaphương pháp lập dự toán và phương thức thanh toán giữa bên giao thầu và bên nhậnthầu Chu kỳ sản xuất sản phẩm xây dựng lâu dài nên đối tượng tính giá thành cóthể là toàn bộ công trình xây dựng hoàn thành hay đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.Sản phẩm xây dựng có thể có kết cấu phức tạp nên giá trị sản phẩm xây dựng đòihỏi tính toán tỉ mỉ Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành

sẽ đáp ứng yêu cầu quản trị chặt chẽ, kịp thời chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắntình hình quản lý thi công trong từng thời kỳ nhất định

Thứ tư, hoạt động xây dựng thường tiến hành ngoài trời, chịu tác động trựctiếp của môi trường, khí hậu, thời tiết, năng lực sản xuất của doanh nghiệp xây dựngtrong cả năm gây khó khăn cho việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi vật tư dự trữnhiều hơn Đặc điểm này yêu cầu các doanh nghiệp xây dựng trong quá trình thicông phải tổ chức, phân phối, điều hòa, cắt cử lực lượng lao động, vật tư hợp lýđảm bảo thi công nhanh, gọn, hiệu quả Hơn thế nữa, trong điều kiện thời tiết khôngthuận lợi, có thể có nhiều rủi ro bất ngờ như bão, lụt làm phát sinh các khoản thiệthại do ngừng sản xuất, những khoản thiệt hại này đòi hỏi các doanh nghiệp xâydựng phải theo dõi riêng Do vậy, việc tổ chức quản lý, giám sát phải chặt chẽ saocho đảm bảo chất lượng công trình đúng theo thiết kế, dự toán; từ đó yêu cầu kếtoán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm bằng các phương pháp tập hợp, tính toánđưa ra thông tin hiệu quả cho việc ra quyết định đúng đắn của các nhà quản lý

Trang 25

1.2 Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng

1.2.1 Nhận diện, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các công ty xây dựng

1.2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất.

Chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá vàcác chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất,kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêudùng các yếu tố sản xuất kinh doanh như tư liệu lao động, đối tượng lao động vàsức lao động để tạo ra các sản phẩm, công việc, nhằm đáp ứng các nhu cầu sản xuất

và tiêu dùng của xã hội

Theo VAS01 – chuẩn mực chung thì chi phí là tổng giá trị các khoản làmgiảm lợi ích kinh tế trong kì kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoảnkhấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn tới làm giảm vốn chủ sở hữu Nhưvậy, chi phí trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các khoản chi phí mà doanhnghiệp phải chịu, bao gồm cả các khoản phát sinh mà không gắn với quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp

Kế toán tài chính cho rằng chi phí cho những công trình, hạng mục công trình

là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa màdoanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.Như vậy, theo quan điểm này thì chi phí của doanh nghiệp phải được ghi nhận theonguyên tắc phù hợp giữa chi phí và thu nhập, chỉ được xác định trên bình diệnchung của toàn doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch toán

Mặt khác, chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được hiểu là biểuhiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi tiêu trong quá trình sản xuất kinh doanhđòi hỏi phải được bù đắp bằng thu nhập của doanh nghiệp Chi phí sản xuất kinhdoanh được ghi nhận ở thời điểm chi tiêu cho sản xuất Những khoản chi tiêu phát

Trang 26

sinh trong doanh nghiệp nhưng không liên quan đến quá trình sản xuất có nguồnvốn riêng bù đắp thì không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Như các doanh nghiệp sản xuất khác, doanh nghiệp xây dựng cũng tiến hànhsản xuất sản phẩm nhưng sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là các hạng mụccông trình, trong quá trình sản xuất thi công, các doanh nghiệp xây dựng cũng phải

bỏ ra những khoản chi phí nhất định

Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị có quan điểm riêng về chi phí sảnxuất của doanh nghiệp đó là: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ cáckhoản chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi hòi phải được bù đắp bằng thunhập của doanh nghiệp Như vậy, theo quan điểm của kế toán quản trị, chi phí khôngghi nhận theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu mà được ghi nhận ở thờiđiểm chỉ tiêu cho sản xuất xây dựng các công trình, hạng mục công trình Những khoảnchỉ tiêu phát sinh trong doanh nghiệp nhưng không liên quan đến quá tŕnh xây dựng cónguồn vốn riêng bù đắp thì không tính vào chi phí của doanh nghiệp

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây dựng bao gồm nhiều loại có nội dung,công dụng và tính chất khác nhau, do đó việc nhận diện và phân loại chi phí cho cácmục đích khác nhau theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp là cơ sở của các quyết địnhđúng đắn trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất

a) Xét theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí :

Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

để chia chi phí sản xuất xây dựng thành các yếu tố chi phí Các chi phí sản xuất cóchung nội dung kinh tế được sắp xếp vào một yếu tố chi phí, không phân biệt mụcđích, công dụng của chi phí đó như thế nào Toàn bộ chi phí sản xuất trong doanhnghiệp xây dựng được chia thành:

- Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương (tiền công) và các khoản tríchBHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụngmáy thi công và nhân viên quản lý các tổ, đội, bộ phận thi công

Trang 27

- Chi phí nguyên vật liệu: Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá muanguyên vật liệu, chi phí mua nguyên vật liệu dùng cho hoạt động sản xuất kinhdoanh trong kì kế toán Yếu tố này bao gồm :

 Chi phí nguyên vật liệu chính;

 Chi phí nguyên vật liệu phụ ;

 Chi phí nhiên liệu;

 Chi phí phụ tùng thay thế;

 Chi phí nguyên vật liệu khác;

+ Chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua tất cả các công

cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì kế toán Tổng chi phí công cụdụng cụ là tiền đề để các nhà quản trị hoạch định mức luân chuyển sử dụng công cụdụng cụ, định mức dự trữ, nhu cầu mua công cụ dụng cụ hợp lý

+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Là số tiền khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sảnxuất trong doanh nghiệp xây dựng bao gồm khấu hao máy thi công và TSCĐ khác sửdụng cho hoạt động sản xuất và phục vụ sản xuất ở các tổ, đội, bộ phận thi công

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các dịch vụ bên ngoài cung cấp chohoạt động sản xuất kinh doanh trong kì kế toán của doanh nghiệp Chi phí này giúpnhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ liên quan đến hoạt động của doanhnghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng các đơn vị dịch vụ phục vụ cho quảntrị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh

mà doanh nghiệp thường thanh toán trực tiếp trong kì kế toán Đây chủ yếu làcác dòng tiền mặt chi tiêu nhỏ tại doanh nghiệp Sự nhận biết tốt yếu tố nàygiúp nhà quản trị doanh nghiệp hoạch định được ngân sách chi tiêu trong doanhnghiệp, hạn chế những tồn đọng tiền mặt, tránh bớt những tổn thất thiệt hạitrong quản lý vốn bằng tiền

Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí chobiết trong một kì doanh nghiệp đã chi ra bao nhiêu? Cho biết kết cấu, tỷ trọng củatừng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, là căn cứ số liệu cung cấp để lập thuyết

Trang 28

minh báo cáo tài chính, cung cấp thông tin cho ngành quản trị doanh nghiệp, phục

vụ việc phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí

b) Phân loại theo thẩm quyền ra quyết định:

Căn cứ vào thẩm quyền các cấp ra quyết định chi phối đến chi phí, chi phísản xuất được chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

- Chi phí kiểm soát được: Là những khoản chi phí mà các nhà quản trị ở mộtcấp nào đó trong doanh nghiệp xác định được lưu lượng phát sinh của nó, có thẩmquyền quyết định sự phát sinh đó và kiểm soát được chi phí này

- Chi phí không kiểm soát được: Là những khoản chi phí mà nhà quản trị ởmột cấp nào đó không thể dự toán chính xác sự phát sinh và không có thẩm quyềnquyết định đến sự phát sinh của khoản chi phí này Ví dụ: chi phí khấu hao thiết bị

là chi phí không kiểm soát được đối với người giám sát nhà thầu thi công, vì ngườigiám sát không có quyền quyết định mua, trang bị thêm thiết bị, thời gian sử dụngcũng như phương pháp tính khấu hao thiết bị này

Việc nhận diện chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được cótính tương đối và phụ thuộc vào đặc điểm phát sinh chi phí trong quá trình sản xuấtkinh doanh của DN và sự phân cấp trong quản trị doanh nghiệp Việc xem xét khảnăng kiểm soát các loại chi phí có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị thuộctừng cấp quản trị trong doanh nghiệp, giúp họ chủ động trong việc lập dự toán chiphí huy động các nguồn lực để bù đắp cho các khoản chi phí, góp phần thực hiện tốt

kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

d) Theo mục đích và công dụng kinh tế:

* Chi phí sản xuất:

Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có mục đích công dụng giốngnhau được xếp chung vào cùng một khoản chi phí không cần xét tới chi phí đó cónội dung kinh tế như thế nào? Chi phí sản xuất xây dựng được chia thành các khoảnmục sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là bộ phận nguyên vật liệu cơ bản cấu tạonên thực thể của sản phẩm – gọi là vật liệu chính Ngoài ra trong quá trình sản xuấtcòn phát sinh những yếu tố nguyên vật liệu có tác dụng phụ, kết hợp với nguyên vậtliệu chính để tạo ra sản phẩm, làm tăng chất lượng của sản phẩm, hoặc làm rút ngắn

Trang 29

chu kì sản xuất của sản phẩm – chúng được gọi là vật liệu phụ Ngoài ra còn có vậtkết cấu, vật luân chuyển ( ván khuôn, giàn giáo) cần thiết sử dụng trực tiếp vào việcsản xuất chế tạo sản phẩm.

- Chi phí sử dụng máy thi công: Là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi côngphục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây dựng công trình bao gồm chi phíkhấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí tiềnlương của công nhân điều khiển máy và phục vụ máy thi công, chi phí nhiên liệu

và động lực dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí di chuyển,tháo lắp máy thi công

- Chi phí nhân công trực tiếp: Là những người công nhân trực tiếp sản xuất rasản phẩm, sức lao động của họ được hao phí trực tiếp cho số sản phẩm mà họ sảnxuất ra, do đó, về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp được tính một cách trực tiếpvào chi phí sản xuất sản phẩm sản xuất Khả năng và kĩ năng của người lao động ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng và số lượng của sản phẩm sản xuất Chi phí nhân côngtrực tiếp bao gồm tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất và các khoảntrích theo tiền lương của công nhân sản xuất Tham gia vào quá trình sản xuất, ngoài

số công nhân lao động trực tiếp còn có một số lao động khác nhằm phục vụ hoặc tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của lao động trực tiếp Những lao độngnày gọi là lao động gián tiếp Lao động gián tiếp tuy không trực tiếp sản xuất sảnphẩm nhưng lại không thể thiếu được trong quá trình tổ chức sản xuất Ví dụ, họ làthợ bảo trì máy móc thiết bị sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng, nhân viên giámsát Chi phí lao động gián tiếp không thể tính được một cách chính xác cho từng sảnphẩm cụ thể mà sẽ coi là một phần của chi phí sản xuất chung

- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh ở đội sản xuất –ngoài hai loại chi phí trực tiếp nói trên Theo đó, chi phí sản xuất chung sẽ bao gồm:chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, chi phí khấu hao tàisản cố định, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị, chi phí dịch vụ muangoài Trên phạm vi toàn doanh nghiệp cũng phát sinh các khoản chi phí tương tựnhư vậy, nhưng không gắn với quá trình quản lý chung nên chúng không được coi

Trang 30

là một phần của chi phí sản xuất chung Chỉ có những chi phí gắn liền với hoạt độngtại đội sản xuất mới được xếp vào loại chi phí sản xuất chung

* Chi phí ngoài sản xuất

- Chi phí bán hàng: Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh cần thiết

để đảm bảo việc thực hiện các đơn đặt hàng, như các loại chi phí: lương phải trảcho nhân viên và các khoản phải trích tiền lương của họ; chi phí khấu hao tài sản

cố định; tiền hoa hồng

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ các khoản chi phí chi ra để phục

vụ chung cho quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hŕnh chính vŕ các khoản chiphí có tính chất chung cho toŕn doanh nghiệp Thuộc loại nŕy gồm có : chi phí chonhân vięn quản lý; chi phí vật liệu, dụng cụ, đồ dùng quản lý; chi phí khấu hao tàisản cố định dùng chung cho toàn doanh nghiệp, chi phí dịch vụ mua ngoài (điện,nước, điện thoại ); chi phí về văn phòng phẩm, tiếp tân, hội nghị, chi phí đào tạocán bộ trong tất cả các loại hình doanh nghiệp đều có loại chi phí này

c) Theo mối quan hệ với khối lượng hoạt động :

Cách phân loại chi phí này còn được gọi là phân loại chi phí theo cách ứng

xử của chi phí Theo cách phân loại này tổng chi phí được phân thành biến phí,định phí và chi phí hỗn hợp

- Biến phí (chi phí biến đổi): Là những chi phí mà tổng số thay đổi tỷ lệ với

sự thay đổi của mức độ hoạt động Do vậy, xét về mặt lý thuyết, sự biến động củachi phí trong mối quan hệ với khối lượng hoạt động có thể xảy ra các trường hợp :

Trong xây dựng, biến phí bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp, chi phí máy thi công Một đặc điểm của ngành xây dựng làtrong định mức do nhà nước quy định, chi phí sản xuất chung được tính theo tỷ lệnhất định so với chi phí trực tiếp Vì vậy, một bộ phận của chi phí sản xuất chungcũng được coi là biến phí bao gồm: chi phí vật liệu phụ, lao động gián tiếp, chi phínhiên liệu

Trang 31

- Định phí (chi phí cố định hay chi phí bất biến): Là những chi phí mà tổng sốkhông thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi còn chi phí tính cho một khối lượnghoạt động thì thay đổi Trong định phí có thể phân thành: định phí tuyệt đối, địnhphí tương đối, định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc Trong quản trị doanhnghiệp cần phân biệt các loại định phí sau:

+ Định phí tuyệt đối: Là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thayđổi của khối lượng hoạt động, do đó nếu khối lượng hoạt động thay đổi theo chiềutăng lên thì định phí trung bình đơn vị khối lượng hoạt động sẽ giảm đi và ngượclại Ví dụ : Chi phí khấu hao máy móc thiết bị tại công trường theo phương phápđường thẳng, chi phí thuê đất và nhà xưởng

+ Định phí tương đối: Là định phí không thể thay đổi khi khối lượng hoạtđộng thay đổi trong phạm vi phù hợp, nhưng sẽ thay đổi khi khối lượng hoạt độngthay đổi vượt quá giới hạn nhất định

+ Định phí bắt buộc: Là định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng vìchúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức cơ bản của mộtdoanh nghiệp Định phí bắt buộc có bản chất sử dụng lâu dài nên khi quyết định đầu

tư vào tài sản cố định, các nhà quản trị doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng vì mộtkhi đã quyết định thì doanh nghiệp phải gắn chặt với quyết định đó trong một thờigian khá lâu dài Vì vậy, cho dù mức độ hoạt động có bị suy giảm hoặc bị đình trệtrong một thời kì nào đó thì nhà quản trị vẫn phải giữ nguyên định phí bắt buộckhông được thay đổi nếu vẫn muốn theo đuổi và kì vọng đạt được mục đích lâu dàicủa doanh nghiệp mình

+ Đinh phí không bắt buộc: Là các định phí có thể được thay đổi nhanhchóng bằng các quyết định của nhà quản trị Kế hoạch của các định phí tùy ý làngắn hạn, thường là một năm và các định phí tùy ý này có thể giảm được trongnhững trường hợp đặc biệt cần thiết Ví dụ: Chi phí quảng cáo về công trình màdoanh nghiệp đang xây dựng, chi phí đào tạo bồi dưỡng công nhân, nhân viên kĩthuật công trình, chi phí nghiên cứu phát triển vật liệu xây dựng mới

Trang 32

- Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà trong thành phần của nó bao gồm cả yếu

tố bất biến và yếu tố khả biến Loại chi phí này xuất hiện khá phổ biến trong thực tếhoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Với mức độ hoạt động cơbản, chi phí hỗ hợp thường thể hiện đặc điểm của yếu tố khả biến Sự pha trộn giữaphần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định Với cách tính cước phícủa bưu điện hiện nay, có thể coi chi phí sử dụng điện thoại là chi phí hỗn hợp điểnhình đối với các doanh nghiệp – theo đó, phần bất biến được xem như chi phí thuêbao, phần khả biến là chi phí sử dụng điện thoại nội hạt vượt mức cho phép, hay là

số chi phí điện thoại gọi đường dài Như vậy, phần bất biến của chi phí hỗn hợpthường phản ánh mức chi phí cơ bản, tối thiểu để duy trì phục vụ và giữ cho dịch vụ

đó luôn ở trong trạng thái sẵn sàng phục vụ Phần khả biến thường phản ánh chi phíthực tế hoặc chi phí vượt mức, do đó, yếu tố khả biến sẽ biến thiên tỷ lệ thuận vớimức dịch vụ phục vụ hoặc với mức sử dụng vượt định mức

e) Theo yêu cầu của việc lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này, chi phí được phân ra thành:

- Chi phí cơ hội: Là chi phí lớn nhất mà doanh nghiệp phải bỏ khi chọnphương án hành động này thay cho phương án và hành động khác Ngoài ra các chiphí sản xuất đã được tập hợp, phản ánh trên hệ thống sổ kế toán, trước khi chọn cácphương án, nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội do những yếu tố kinhdoanh đó có thể sử dụng theo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho họ

- Chi phí chênh lệch: Là những chi phí có ở phương án này nhưng không cóhoặc chỉ có một phần của phương án khác, chi phí chênh lệch là một căn cứ quantrọng để lựa chọn phương án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh, do vậychi phí chênh lệch là thông tin thích hợp cho việc ra quyết định

- Chi phí chìm: Là những khoản chi phí đã phát sinh, nó có mặt ở tất cả cácphương án SXKD được đưa ra xem xét, lựa chọn với giá trị như nhau Hiểu mộtcách khác, được xem như một khoản chi phí không thể tránh được cho dù ngườiquản trị quyết định lựa chọn phương án nào Chính vì vậy, chi phí chìm là loại chiphí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của nhà quản trị

Trang 33

Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí đều có tác dụng riêng nhưng chúng luôn

hỗ trợ, tác động, bổ sung cho nhau để phục vụ yêu cầu quản lý chung của doanhnghiệp sao cho đạt hiệu quả nhất

1.2.1.3 Giá thành và phân loại giá thành sản phẩm xây dựng

a) Giá thành sản phẩm xây dựng

Giá thành sản phẩm xây dựng là toàn bộ những chi phí về lao động sống, laođộng vật hóa và chi phí khác thể hiện bằng tiền mà doanh nghiệp xây dựng đã bỏ ra

để hoàn thành khối lượng xây dựng công trình, hạng mục công trình theo quy định

Sản phẩm xây dựng có thể là khối lượng công việc hoặc giai đoạn côngviệc có dự toán riêng, có thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành.Khác với doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây dựng mang tínhchất cá biệt, mỗi hạng mục công trình, công trình, hay khối lượng xây dựng khi

đã hoàn thành để có giá thành riêng

Để thấy rõ bản chất kinh tế của giá thành sản phẩm, cần phân biệt giữagiá thành sản phẩm với chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giáthành sản phẩm, chi phí sản xuất biểu hiện sự hao phí còn giá thành sản phẩmbiểu hiện kết quả của quá trình sản xuất và quá trình chi phí Giá thành và chiphí là hai mặt thống nhất của cùng một quá trình vì vậy chúng giống nhau vềchất Giá thành và chi phí sản xuất đều bao gồm các loại chi phí về lao độngsống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất sảnphẩm Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau

về lượng

Chi phi sản xuất thể hiện những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sảnxuất sản phẩm trong một kì (tháng, năm, quý) không tính đến chi phí đó có liênquan đến sản phẩm đã hoàn thành hay chưa Giá thành sản phẩm là chi phí tínhcho một công trình, hạng mục công trình hay khối lượng công việc xây dựnghoàn thành theo quy định Giá thành sản phẩm xây dựng còn có thể bao gồm cảchi phí sản xuất của khối lượng dở dang đầu kỳ và không bao gồm chi phí củakhối lượng xây dựng dở dang cuối kỳ được chuyển sang kỳ sau

Trang 34

b) Phân loại giá thành sản phẩm xây dựng.

* Phân loại theo thời điểm và nguồn số liệu để tính giá thành

Trong xây dựng cần phân biệt các loại giá thành công tác xây dựng:

- Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để toán để hoàn thànhkhối lượng xây dựng công trình, hạng mục công trình Giá thành dự toán đượcxác định mức và khung giá quy định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ Giá thành

dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính trước(Thu nhập chịu thuế tính trước được tính theo định mức quy định)

= - Lãi định mức

Trong đó :

Lãi định mức trong XDCB được nhà nước quy định trong từng thời kì Giá dự toán sản phẩm xây dựng được xác định dựa vào định mức đánh giácủa cơ quan có thẩm quyền và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường

- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định từ những điều kiện cụthể của mỗi doanh nghiệp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá

áp dụng trong doanh nghiệp dựa vào năng lực thực tế của doanh nghiệp xâydựng Giá thành kế hoạch được xác định nhằm định ra mục tiêu tiết kiệm chi phí

so với giá thành dự toán và là căn cứ để doanh nghiệp xây dựng xác định giá bỏthầu trong việc đấu thầu công trình

=– ±

- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở đặcđiểm kết cấu công trình, phương pháp tổ chức thi công theo các định mức chiphí đã đạt được của doanh nghiệp xây dựng ở thời điểm bắt đầu thi công côngtrình Vì vậy, giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của chiphí đạt được trong quá trình thi công Giá thành định mức được tính toán trướckhi tiến hành sản xuất thi công công trình, là công cụ quản lý định mức củadoanh nghiệp xây dựng, là thước đo chuẩn để xác định kết quả sử dụng tài sản,vật tư, lao động trong sản xuất xây dựng, giúp cho việc đánh giá đúng đắn cácgiải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt

Trang 35

động thi công công trình nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp.

- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệuchi phí thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kì của công trình, hạng mục côngtrình Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được khi kết thúc quá trình thicông Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấucủa doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các công nghệ để thực hiện quátrình sản xuất, thi công, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh xây dựng của doanh nghiệp

* Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí :

- Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinhliên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sảnxuất Đối với các đơn vị xây dựng giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vậtliệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung

- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ cáckhoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Giá thànhtiêu thụ được tính theo công thức :

= + +

Cách phân loại này có tác dụng giúp nhà quản lý biết được tình hình kinhdoanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Tuynhiên, hạn chế là khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản

lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉcòn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu

1.2.2 Xây dựng định mức chi phí sản xuất và lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong công ty xây dựng

Lập dự toán chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống kế toánquản trị doanh nghiệp, nó là một khâu trong chu kì hoạch định, kiểm soát và raquyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Quá trình dự toán chi phí sản xuất ở

Trang 36

doanh nghiệp rất phức tạp, bởi lẽ đó là mối quan hệ định mức chi phí, là sự liênkết các mục tiêu ở từng khâu của quá trình kinh doanh Việc dự toán chi phí sảnxuất đúng hay không, có liên kết phù hợp và sát với khả năng, điều kiện củadoanh nghiệp hay không, sẽ chi phối rất nhiều đến quyết định kinh doanh và mụctiêu chung của doanh nghiệp

1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất

Xây dựng định mức chi phí phải tuân theo nguyên tắc chung là tìm hiểu xemxét một cách khách quan nghiêm túc toàn bộ tình hình thực tế thực hiện chi phí sảnxuất đối với mỗi đơn vị sản vật về mặt hiện vật của những kỳ trước, đánh giá chấtlượng sản phẩm và các vấn đề liên quan đến năng suất và hiệu quả lao động củadoanh nghiệp Khi xây dựng định mức tiêu chuẩn, trước hết phải xem xét một cáchnghiêm túc toàn bộ kết quả đã đạt được, trên cơ sở, kết hợp với những thay đổi vềđiều kiện kinh tế, về đặc điểm và mối quan hệ giữa cung và cầu, về kĩ thuật đểđiều chỉnh và bổ sung cho phù hợp

Về phương pháp xác định chi phí định mức, có thể sử dụng một trong cácphương pháp sau đây :

- Phương pháp kĩ thuật: Phương pháp này đòi hòi sự kết hợp của các chuyêngia kĩ thuật để nghiên cứu thời gian thao tác công việc – nhằm mục đích xác địnhlượng nguyên vật liệu và lao động hao phí cần thiết để sản xuất sản phẩm trong điềukiện công nghệ, khả năng quản lý và nguồn nhân lực hiện có của doanh nghiệp

- Phương pháp phân tích số liệu lích sử: Với phương pháp này, nhà quản lýcần xem xét lại giá thành đạt được ở những kì trước như thế nào Tuy nhiên, cũngcần phải xem xét các điều kiện sản xuất kinh doanh của kì này có gì thay đổi vàphải xem xét các chi phí phát sinh ở kì trước đã phù hợp hay chưa Nếu khônghợp lý, hợp lệ thì phải hủy bỏ và xây dựng lại định mức

- Phương pháp điều chỉnh: Phương pháp này về cơ bản là tôn trọng các sốliệu lịch sử - trên cơ sở có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện hoạt động hiện tại

và trong tương lai gần của doanh nghiệp

a) Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :

Trang 37

Để tính định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải tính được định mứcgiá và định mức lượng của nguyên vật liệu.

Lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm có cho phépnhững hao hụt bình thường Để sản xuất một sản phẩm thì định mức tiêu haonguyên vật liệu là:

- Nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm

- Hao hụt cho phép

- Lượng vật liệu tính cho sản phẩm hỏng

Lượng nguyên vật liệu tiêu chuẩn của một loại sản phẩm thường được các kỹ

sư, cán bộ kĩ thuật có kinh nghiệm của doanh nghiệp tính toán trên cơ sở công nghệsản xuất, điều kiện sản xuất có tính đến mức hao hụt cho phép

+ Giá mua nguyên vật liệu ( trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giáhàng bán)

+ Chi phí mua nguyên liệu

= x

b) Định mức chi phí nhân công trực tiếp

Định mức về giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp: Bao gồm không chỉmức lương căn bản mà còn gồm cả các khoản phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, kinh phí công đoàn của lao động trực tiếp Định mức giá một giờ cônglao động trực tiếp của một phân xưởng như sau:

- Mức lương căn bản một giờ

- Các khoản trích theo lương theo quy định

Trang 38

Định mức lượng thời gian nhân công trực tiếp sản xuất một đơn vị sản phẩmđược xác định dựa trên công nghệ sản xuất sản phẩm và mức độ kĩ thuật của công đoạnsản xuất Khi đã xác định được định mức giá nhân công trực tiếp và định mức lượngthời gian nhân công trực tiếp sẽ xây dựng được định mức chi phí lao động trực tiếp

= x

c) Định mức chi phí sản xuất chung

Định mức chi phí sản xuất chung xác định trên định mức biến phí và địnhmức định phí sản xuất chung

+ Định mức biến phí sản xuất chung: Được xây dựng theo định mức giá vàđịnh mức lượng thời gian cho phép Định mức giá phản ánh biến phí của đơn giáchi phí sản xuất chung phân bổ Định mức thời gian phản ánh số giờ hoạt độngđược chọn làm căn cứ phân bổ chi phí sản xuất chung cho một đơn vị sản phẩm

= x

+ Định mức định phí sản xuất chung: Loại định mức này cũng được xây dựngtương tự như định mức biến phí sản xuất chung

1.2.1.2 Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng

Việc lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệpxây dựng phải dựa trên nhiều nguồn thông tin có tính căn cứ được sử dụng một cáchđồng bộ như: thông tin về kinh tế và tài chính trong nước và trên thế giới, quan hệcung cầu hàng hóa, quan hệ tài chính với các bên hữu quan, sự điều hành các hoạtđộng của doanh nghiệp, tổ chức và chất lượng thông tin kế toán của của niên độ tàichính đã qua cùng với khả năng phân tích, dự toán của người quản lý cụ thể căn

cứ các yếu tố như :

- Bối cảnh kinh tế tổng quát của thị trường mà doanh nghiệp xây dựng đanghoạt động được cơ quan chuyên môn về dự báo kinh tế công bố

- Chính sách giá cả ( đơn giá xây dựng, giá chuẩn )

- Mức độ cạnh tranh trên thị trường xây dựng

Trang 39

- Định mức kinh tế kỹ thuật do nhà nước quy định, các định mức nội bộ docông ty xây dựng dựa trên các định mức mà Nhà nước ban hành phù hợp với tìnhhình thực tế thi công cho từng công trình.

- Mối quan hệ chi phí – lợi nhuận ( định mức lợi nhuận)

Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựngbao gồm:

Tổng dự toán công trình: Là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xâydựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặcthiết kế kỹ thuật thi công

= + + +

Trong đó :

- Chi phí xây dựng là toàn bộ chi phí về xây dựng của từng hạng mụccông trình, loại công tác và kết cấu xây dựng công trình đó, bao gồm chi phíxây dựng các hạng mục công trình xây dựng mới và các hạng mục công trìnhxây dựng khác

- Chi phí thiết bị bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và cáctrang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình, chi phívận chuyển, bảo quản, bảo dưỡng tại hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bịcông trình

- Chi phí khác bao gồm chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư (điều tra, khảosát, tư vấn đầu tư, tuyên truyền quảng cáo công trình), chi phí ở giai đoạn thựchiện đầu tư, chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác,

sử dụng

- Chi phí dự phòng: Là chi phí để dự trù vốn cho các khối lượng phát sinh

do thay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt,khối lượng phát sinh không lường trước được, dự phòng do yếu tố trượt giá trongquá trình thực hiện dự án

* Dự toán xây dựng cho từng hạng mục công trình: Dự toán xây dựng hạngmục công trình được xác định trên cơ sở khối lượng các loại công tác xây dựng

Trang 40

tính toán từ bản vẽ kĩ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản (định mức xây dựng chi tiết)

do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành hoặc đơn giá công trình (địnhmức công trình) đối với những công trình được lập đơn giá riêng, định mức cácchi phí tính theo tỷ lệ % do Bộ Xây Dựng ban hành và các chế độ chính sách củanhà nước có liên quan bao gồm :

- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dự toán chi phí nguyên vật liệutrực tiếp được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng xây dựng, định mức chi phínguyên vật liệu trực tiếp và chênh lệch về vật liệu (nếu có) Nguyên vật liệu trựctiếp, ngoài việc thỏa mãn yêu cầu của quá trình sản xuất còn phải đáp ứng đượccho việc tồn kho cuối ḱì Tuy nhiên, một phần của số nguyên vật liệu này đã cósẵn trong kho từ đầu kì, số còn lại là do mua thêm từ bên ngoài

= + –

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: Dự toán chi phí nhân công trực tiếpcũng được soạn thảo theo dự toán sản xuất Phải lập dự toán này nhằm biết trướcnhu cầu lao động để có kế hoạch điểu chỉnh lực lượng lao động thích nghi với tìnhhình, không làm ảnh hưởng đến sản xuất Để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếptrước hết phải định mức thời gian lao động trực tiếp và xác định đơn giá một giờcông lao động, sau đó tính:

= x

- Dự toán chi phí sản xuất chung: Đây là một khoản mục chi phí gián tiếp đốivới từng công trình, hạng mục công trình nên thông thường dự toán chi phí sản xuấtchung tính cho các công trình, hạng mục công trình được căn cứ vào định mức chiphí chung theo quy định hiện hành của Nhà nước (đối với trường hợp dự án chỉ cómột hạng mục xây dựng) Còn đối với dự án có nhiều hạng mục xây dựng thì saukhi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án sẽ phân bổ chi phí chung của toàn bộ

dự án cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phí trực tiếp theo tỷ trọng chi phí trựctiếp của từng hạng mục công trình

= x Chi phí trực tiếp

- Dự toán giá thành sản phẩm xây dựng: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, dự toán chi phí phân công trực tiếp, dự toán chi phí máy thi công, dự toán chiphí sản xuất chung

Ngày đăng: 19/03/2017, 08:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w