trọng cho các cơ quan quản lý của nhà nước nắm được tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh, giúp doanh nghiệp cải tiến quản lý, giải quyết, xử lý tranh chấp lợi íchnảy sinh giữa các cổ đ
Trang 1-MAI THỊ NGỌC
HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐỊNH GIÁ VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU TẠI CÔNG TY MẸ - TỔNG CÔNG TY LƯƠNG THỰC MIỀN NAM (VINAFOOD 2)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 2MAI THỊ NGỌC
-HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐỊNH GIÁ VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU TẠI CÔNG TY MẸ - TỔNG CÔNG TY LƯƠNG THỰC MIỀN NAM (VINAFOOD 2)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập củatôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Cáckết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứukhoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 8
1.1 Doanh nghiệp và giá trị của doanh nghiệp 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các loại hình doanh nghiệp 8
1.1.2 Giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 11
1.2 Định giá doanh nghiệp 16
1.2.1 Khái niệm về định giá doanh nghiệp 16
1.2.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp 17
1.3 Hoạt động định giá doanh nghiệp của tổ chức định giá chuyên nghiệp 19
1.3.1 Mục đích định giá doanh nghiệp 19
1.3.2 Các nguyên tắc sử dụng trong định giá doanh nghiệp 20
1.3.3 Các phương pháp sử dụng để định giá doanh nghiệp 22
1.3.4 Quy trình định giá doanh nghiệp 34
1.3.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động định giá doanh nghiệp 36
1.3.6 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động định giá doanh nghiệp. .37
Trang 51.4 Kinh nghiệm về tổ chức hoạt động định giá doanh nghiệp của một số doanh
nghiệp định giá chuyên nghiệp 41
1.4.1 Kinh nghiệm tại một số quốc gia trên thế giới 41
1.4.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho hoạt động định giá ở Việt Nam 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỊNH GIÁ VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM 46
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH HOẠT ĐỘNG XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TY MẸ - TỔNG CÔNG TY LƯƠNG THỰC MIỀN NAM 46
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam 46
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 46
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của VVFC 48
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công ty 50
2.1.4 Khái quát tình hình kết quả kinh doanh của VVFC 52
2.2 Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - VVFC 55
2.2.1 Thực trạng quy trình định giá doanh nghiệp của VVFC 55
2.2.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp định giá doanh nghiệp tại VVFC 61
2.2.3 Kết quả định giá doanh nghiệp 78
2.3 Thực trạng định giá Công ty mẹ - Tổng Công ty Lương thực Miền Nam 79
2.3.1 .Tổng quan chung về Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) .79
2.3.2 Kết quả Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa - Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) 83
2.4 Đánh giá chung về hoạt động định giá doanh nghiệp của Công ty Cổ phần định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam (VVFC) 99
2.4.1 Kết quả đạt được của VVFC 99
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 102
Trang 6CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỊNH GIÁ VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
VIỆT NAM – VVFC 103
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam năm 2020 103
3.1.1 Mục tiêu và định hướng hoạt động của VVFC đến năm 2020 103
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động định giá doanh nghiệp VVFC năm 2020 105
3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động định giá tại Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam – VVFC 106
3.2.1 Kết hợp các phương pháp định giá 107
3.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn lực 108
3.2.3 Mở rộng cơ hội tham gia định giá với các công ty nước ngoài 109
3.2.4 Xây dựng cơ sở ngân hàng dữ liệu làm căn cứ định giá 109
3.2.5 Giải pháp tiến hành định giá doanh nghiệp, tài sản hữu hình, tài sản vô hình 109
3.3 Một số kiến nghị 110
3.3.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan liên quan 110
3.3.2 Đối với doanh nghiệp được định giá 114
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 116 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Cổ phầnTrách nhiệm hữu hạnMột thành viênTrách nhiệm hữu hạn một thành viên
Cổ phần hóaQuyết địnhNghị địnhChính phủThông tư
Bộ Tài chínhBáo cáo tài chínhPhương pháp Chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow)Phương pháp Chiết khấu dòng cổ tức (Divident Discount Model)Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Giá trị doanh nghiệpLợi thế kinh doanh
So sánh (Peer Valuation)Sản xuất kinh doanhThị trường chứng khoánCông ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt NamTổng Công ty Lương thực Miền Nam
Quản lý doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng về giá trị tài sản TĐG 53
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức VVFC 50
Sơ đồ 2.2 Quy trình định giá doanh nghiệp 56
Sơ đồ: 2.3: Sơ đồ tổ chức Bộ máy hoạt động của Vinafood 2 80
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhànước nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, phát triển sản xuất huyđộng vốn nhàn rỗi trong xã hội, tăng nguồn vốn cho doanh nghiệp, tạo động lực chođổi mới công tác quản lý, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy quá trình cơ cấu lại toàn bộnền kinh tế quốc dân theo định hướng thị trường xã hội chủ nghĩa Qua thời gianthực hiện, việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã và đang đạt được nhữngthành tựu đáng kể, số lượng doanh nghiệp Nhà nước giảm đi, nhịp độ tăng trưởngkinh tế hàng năm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống.Hoạt động định giá ở nước ta mặc dù đã diễn ra từ rất lâu (đầu những năm 90)nhưng gần đây mới thu hút được sự quan tâm của mọi người, nhất là trong thờiđiểm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước Mặc dù chúng
ta có rất nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện hoạt động định giá thông qua hàng loạtnhững thay đổi từ phía Nhà nước nhưng thực tế cho thấy hoạt động này vẫn đangcòn gặp rất nhiều khó khăn Cơ chế tổ chức định giá chưa chặt chẽ, giá trị củadoanh nghiệp được xác định chưa mang tính khách quan, thiếu chính xác và tốn thờigian, chi phí Do vậy mà hoạt động định giá doanh nghiệp trong thời gian qua đượcđánh giá là chưa hiệu quả
Với sự phát triển của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán và các thịtrường vốn tài sản khác thì hoạt động định giá doanh nghiệp và các lợi ích của nóngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Định giá doanhnghiệp có một tầm quan trọng rất lớn đối với toàn bộ nền kinh tế và do vậy cần cónhững giải pháp hoàn chỉnh và khoa học nhất để làm sao nâng cao được hiệu quảcủa công tác này sẽ giúp thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới và cơ cấu lạinền kinh tế, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ViệtNam khi là một thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO Định giá doanhnghiệp cung cấp bức tranh tổng quan về giá trị của một doanh nghiệp, là cơ sở quan
Trang 10trọng cho các cơ quan quản lý của nhà nước nắm được tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh, giúp doanh nghiệp cải tiến quản lý, giải quyết, xử lý tranh chấp lợi íchnảy sinh giữa các cổ đông của doanh nghiệp và là cở sở cho nhà đầu tư đưa ra quyếtđịnh mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, phát triển thị trường vốn.Ngay từ khi mới tham gia vào hoạt động định giá, Công ty Cổ phần Định giá
và Dịch vụ Tài chính Việt Nam là đơn vị đầu tiên, tiên phong trong ngành định giá
ở Việt Nam luôn chú trọng đến việc mở rộng và hoàn thiện chất lượng hoạt độngđịnh giá của mình nhằm bắt nhịp và đáp ứng tốt nhất nhu cầu định giá trong bốicảnh hội nhập Do đó, công ty đã trở thành một trong những tổ chức định giá hàngđầu và có uy tín nhất tại Việt Nam hiện nay
Theo phương án sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã được phêduyệt, giai đoạn 2011-2015 dự kiến cổ phần hóa 527 doanh nghiệp Tuy nhiên, từnăm 2011 đến ngày 12/11/2015 vừa qua mới cổ phần hóa được 397 doanh nghiệp,đạt 75% kế hoạch Bộ trưởng Bộ Tài chính dự kiến hết năm 2015, Việt Nam sẽ thựchiện được 210 doanh nghiệp Số doanh nghiệp cổ phần hóa của cả giai đoạn sẽ lên
459 doanh nghiệp, đạt khoảng 90% kế hoạch của cả giai đoạn 2011-2015 Số doanhnghiệp còn lại sẽ được chuyển sang giai đoạn 2016-2020
“Năm 2015 cổ phần hóa chưa đạt được kế hoạch Năm nay tập trung cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước lớn, quy mô lớn, tồn tại lớn, khối lượng vốn lớn Việc
xử lý tồn tại phải có thời gian, không dễ Ngoài ra, một số cán bộ lãnh đạo doanhnghiệp còn tâm lý e ngại chần chừ, sợ có những vấn đề sau khi cổ phần hóa, vị trícủa mình như thế nào, điều này vẫn ảnh hưởng tiến độ cổ phần hóa.”
Mặt khác, Thực hiện Quyết định số 5417/QĐ-BNN/QLDN ngày 18/12/2014của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai cổ phần hóa Công tyTNHH MTV Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) Công ty Cổ phầnĐịnh giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam (VVFC) đã được lựa chọn là đơn vị tư vấnxác định giá trị doanh nghiệp Vinafood 2
Xuất phát từ thực tế làm việc tại VVFC và được tham gia vào quá trình Xácđịnh giá trị doanh nghiệp Vinafood 2, tìm hiểu thực tế về hoạt động định giá doanh
Trang 11nghiệp tại Công ty và những tồn tại của nó nhằm tìm ra giải pháp khắc phục, thúc
đẩy hơn nữa hoạt động này tác giá đã chọn đề tài: “Hoạt động định giá doanh
nghiệp của Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam – Nghiên cứu tại Công ty mẹ - Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood2)” làm luận
văn thạc sỹ
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này, đã tìm thấy một số đề tài
nghiệp Trong đó, ở mỗi bài nghiên cứu, các học giả đã nhìn nhận vấn đề ở nhữnggóc độ khác nhau
Cụ thể, 03 đề tài đề cập và nghiên cứu mang tính chất tương đồng về nội dung vàbản chất của hoạt động định giá doanh nghiệp, trong đó có 3 luận văn Thạc sỹ sau:
- Đề tài 1: “Hoàn thiện phương pháp định giá doanh nghiệp”
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàng, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, HàNội năm 2001 Đề tài này nghiên cứu về khía cạnh phương pháp định giá, số liệucủa đề tài chỉ giới hạn đến năm 2001
- Đề tài 2: Hoàn thiện nội dung xác định giá trị doanh nghiệp cho cổ phần hóanghiên cứu chủ yếu về quy trình thực hiện định giá doanh nghiệp
Tác giả: Trần Thị Mười - Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Kinh tế quốc dân, Hà Nộinăm 2006 Đề tài này nghiên cứu tập trung vào khía cạnh phương thức tổ chức địnhgiá doanh nghiệp, số liệu của đề tài chỉ giới hạn đến năm 2006
- Đề tài 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác định giá cổ phần hóa doanhnghiệp Nhà nước trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thanh Vân - Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học ThươngMại, Hà Nội năm 2009 Đề tài này nghiên cứu tập trung vào khía cạnh công tácđịnh giá doanh nghiệp cổ phần hóa trên địa bàn Hà Nội, số liệu của đề tài chỉ giớihạn đến năm 2009
Ngoài ra, một số tham luận Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị
doanh nghiệp trong cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
của Học viện Tài chính, Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả Bộ Tài chính tổ
Trang 12chức hội thảo khoa học năm 2005 Tham luận đề cập đến những khía cạnh củacông tác định giá doanh nghiệp Ngoài ra còn một số bài viết liên quan đến phươngpháp định giá doanh nghiệp, CPH, định giá TSVH đến công tác định giá doanhnghiệp và các điều kiện được phân tích chủ yếu dựa trên các cơ sở về lý thuyết màchưa được kiểm chứng
Tính khác biệt của luận văn này là nghiên cứu tổng quát các vấn đề còn tồn tạitrong hoạt động đinh giá (quy trình định giá, phương pháp định giá hiện hành, tổchức định giá hiện hành được cập nhật mới nhất đến năm 2016) tại Công ty Cổphần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - Nghiên cứu Công ty mẹ - TổngCông ty Lương thực Miền Nam 2013 – 2015, cập nhật đến 30/9/2016, bao gồm:
- Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Định giá vàDịch vụ Tài chính Việt Nam
- Thực tiễn các giải pháp hoàn thiện và ứng dụng trong hoạt động định giá doanhnghiệp nghiệp tại Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam
- Những đánh giá chung về hoạt động định giá doanh nghiệp Những thành công
và hạn chế của hoạt động định giá doanh nghiệp của VVFC và thực tiễn tại Vinafood2
- Các định hướng của hoạt động định giá doanh nghiệp
Hơn nữa, các giải pháp đưa ra được áp dụng vào thực tiễn của Công ty Cổphần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam và các doanh nghiệp định giá khácnói chung đã được các Bộ ngành và Thủ Tướng Chính phủ thông qua Vì vậy, đề tàimang tính thực tiễn và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
* Mục tiêu nghiên cứu:
Đưa ra được các giải pháp có cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm hoànthiện hoạt động định giá tại Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính ViệtNam - VVFC
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 13- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về định giá doanh nghiệp, hoạtđộng định giá doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động định giádoanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp thông qua quá trìnhđịnh giá doanh nghiệp Nhà nước điển hình tại Tổng Công ty Lương thực Miền Namcủa Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - VVFC
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động định giá doanh nghiệp, đặcbiệt hoạt động định giá cổ phần hóa DNNN tại Công ty cổ phần Định giá và Dịch
vụ Tài chính Việt Nam - VVFC
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực tiễn vềhoạt động định giá doanh nghiệp: Nội dung, quy trình, phương pháp, hoạt động tổchức định giá doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động định giá doanhnghiệp tại Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam; Kếtquả định giá tại Tổng Công ty Lương thực Miền Nam
- Thời gian: 2013 - 2015, cập nhật đến ngày 30/9/2016
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu về nội dung hoạt động định giá doanhnghiệp tại Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - VVFC, phảnánh thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động định giádoanh nghiệp tại công ty
5 Phương pháp nghiên cứu.
5.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu.
Luận văn áp dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và kết hợpvới nhiều phương pháp cụ thể: Phương pháp tiếp cận mục tiêu, phương pháp hệthống, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích,phương pháp dự đoán xu hướng nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu đặt ra
Trang 14Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.
Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu, phỏng vấn hỏi đáp trực tiếp quamail… Đối tượng phỏng vấn của tôi gồm có: chuyên gia ngành định giá, lãnh đạo
và cán bộ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực định giá (Ông Vũ An Khang –Tổng Giám đốc VVFC - Phó chủ tịch Hội thẩm định giá Việt Nam; Ông Vũ Cường– Giám đốc Ban 3 Xác định giá trị doanh nghiệp – Thẩm định viên về giá)
- Thông qua gặp gỡ trực tiếp tại nơi làm việc
- Ý kiến của các chuyên gia được ghi chép lại và phân loại theo từng nội dungriêng nhằm thuận tiện cho việc phân tích, so sánh, đánh giá sau này
Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp.
Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (cả dữ liệu bên trong và bênngoài doanh nghiệp thông qua Internet, Biên bản Xác định giá trị doanh nghiệp,khóa luận, giáo trình, từ Ban Xác định giá trị doanh nghiệp của VVFC và phòng Tàichính Kế toán VVFC…)
- Văn bản quy phạm pháp luận liên quan đến cổ phần hóa DNNN: Nghị định,thông tư, nghị quyết và các văn bản hướng dẫn của các bộ ngành
- Tài liệu nghiên cứu, tổng kết công tác cổ phần hóa của Cục Tài chính Doanhnghiệp, Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính
- Các báo cáo và tham luận xác định giá trị doanh nghiệp và cổ phần hóa doanhnghiệp Nhà nước tại hội thảo do Bộ Tài chính tổ chức trong những năm gần đây
- Biên bản xác định giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp cổ phần hóa
do Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam thực hiện và cungcấp
Thu thập dữ liệu thứ cấp bằng cách sao chụp, ghi chép các số liệu để phục vụcho việc đánh giá, phân tích và so sánh
Mục đích: lựa chọn được những nguồn dữ liệu phù hợp để đối chiếu, bổ sung vàphục vụ cho việc phân tích, đánh giá các khía cạnh liên quan đến hoạt động định giá
5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu.
Trang 15Trên cơ sở hệ thống các dữ liệu thứ cấp được thu thập, sử dụng một số cácphương pháp để phân tích và xử lý số liệu, cụ thể như: sử dụng phương pháp phântích trên phần mềm excel, word; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh.Kết quả của quá trình phân tích, xử lý số liệu là các bảng biểu, các biểu đồ, các
ý kiến, nhận định phục vụ cho việc phân tích, đánh giá Đồng thời, sử dụng phươngpháp này để đưa ra những đánh giá, giải pháp hoàn thiện cho hoạt động định giácủa Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - VVFC
6 Kết cấu của luận văn.
Cùng với các Phần Mở đầu, Kết luận chung, Danh mục từ viết tắt, Danh mụccác bảng biểu, Danh mục các sơ đồ, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục kèmtheo, Luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - Nghiên cứu tại Công ty mẹ - Tổng Công
ty Lương thực Miền Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty
Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam - VVFC.
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
1.1 Doanh nghiệp và giá trị của doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các loại hình doanh nghiệp.
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một thuật ngữ trong kinh doanh dùng để chỉ các tổ chức kinh
tế, cá nhân nhằm phân biệt nó với các hình thức kinh doanh có quy mô quá nhỏ.Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, hoạt động kinh doanh trên thị trườngnhằm mục tiêu sinh lợi
Ở Việt Nam, theo Điều 4 Chương I Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13ngày 26/11/2014 của Quốc Hội “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mụcđích kinh doanh”
a, Đặc điểm của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một thực thể kinh tế có những đặc điểm sau:
- Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế.
Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn được đặt trong mối quan hệ chung với cácphần tử khác của nền kinh tế Sự tồn tại đó không chỉ được quyết định bởi các mốiquan hệ trong nội bộ doanh nghiệp mà còn bởi các mối quan hệ với các yếu tố bênngoài như: khách hàng, nhà cung cấp, tổ chức tài chính, pháp luật…
- Doanh nghiệp là một tổ chức, một thực thể hoạt động chứ không phải là các tài sản rời rạc được tập hợp vào với nhau.
Doanh nghiệp không phải là một kho hàng, doanh nghiệp không đơn giản làtập hợp của những tài sản vô tri vô giác, giá trị sử dụng của chúng bị giảm dần theothời gian Khi hoạt động, các tài sản trong doanh nghiệp gắn kết lại với nhau để tạo
ra giá trị và giá trị thặng dư cho doanh nghiệp
- Doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt.
Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập ra để thực hiện hoạt động sảnxuất kinh doanh chứ không phải là đối tượng để bán, tuy vậy giống như các hàng
Trang 17hoá thông thường khác, doanh nghiệp cũng là đối tượng của các giao dịch: mua bán,hợp nhất, chia tách,… Quá trình hình thành giá cả và giá trị đối với loại hàng hoánày cũng không nằm ngoài sự chi phối của các quy luật về thị trường, quy luật giátrị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,… Nhưng doanh nghiệp là một loại hànghóa đặc biệt, bởi nó là một hệ thống phức tạp của nhiều yếu tố cầu thành, ngoài việcđược tạo nên bởi các tài sản hữu hình còn có các tài sản vô hình như: lợi thế thươngmại, thương hiệu, …
- Việc thành lập hay mua bán lại doanh nghiệp thực chất là nhằm tìm kiếm thu nhập từ quyền sở hữu đối với doanh nghiệp đó.
Con người muốn sở hữu doanh nghiệp là vì lợi nhuận Việc sở hữu các tài sản
cố định tài sản lưu động hay sở hữu một bộ máy kinh doanh, chỉ là cách thức, làphương tiện để đạt mục tiêu lợi nhuận mà thôi
b, Các loại hình doanh nghiệp.
Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta luật doanhnghiệp số 68/2014/QH13 phân biệt có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ
phần, Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp xã hội (Trong đó hình thức Doanh
nghiệp xã hội là một hình thức mới được quy định bổ sung thêm theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13).
Nếu căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản của các chủthể kinh doanh ta có thể chia thành:
- Loại doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu
đầu tư vốn chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm
vi số vốn đã đầu tư thành lập doanh nghiệp(vốn điều lệ)
- Loại doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu
đầu tư vốn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản
nợ của doanh nghiệp
Nếu xét về số lượng chủ sở hữu đầu tư vốn ta có:
Trang 18- Doanh nghiệp một chủ: là doanh nghiệp chỉ do một chủ duy nhất đầu tư vốnthành lập Theo nghĩa này những công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanhnghiệp tư nhân hay công ty Nhà nước là những loại hình doanh nghiệp một chủ
- Doanh nghiệp nhiều chủ: là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kếtcủa các thành viên, thể hiện qua việc cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệpnhư công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên haycông ty Hợp danh
doanh nghiệp số 68/2014/QH13 phân biệt có các loại hình doanh nghiệp chủ yếusau đây: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn,
Công ty cổ phần, Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp xã hội (Trong đó hình
thức Doanh nghiệp xã hội là một hình thức mới được quy định bổ sung thêm theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13).
- Doanh nghiệp Nhà nước: Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
- Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá
nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạtđộng của doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức
hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh
nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên khôngvượt quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất 02 thành viên là
chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên
Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
Trang 19- Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 vàkhông hạn chế số lượng tối đa
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
1.1.2 Giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
a, Giá trị và giá trị của doanh nghiệp.
Giá trị (value) là một khái niệm kinh tế có liên quan đến giá cả, chủ yếu do
người mua và người bán xác định Giá trị là mức giá dự tính sẽ phải trả đối với hànghoá hoặc dịch vụ tại một thời điểm nhất định
Giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khỏan thu nhập mà
doanh nghiệp mang lại cho các nhà đẩu tư trong suốt quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp [1, tr 8]
Giá trị doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cần được xem xét trên các
giác độ về đặc trưng khi định giá doanh nghiệp.
- Thứ nhất: Giá trị của một doanh nghiệp được xác định tại một thời điểm cụ thể.
Đối với doanh nghiệp, giá trị của nó chỉ được xác định khi có một nhu cầugiao dịch nào đó như mua bán, chia tách, sáp nhập, liên doanh, liên kết, , nói mộtcách khác giá trị doanh nghiệp được xác định nhằm đáp ứng một mục đích nhấtđịnh tại thời điểm nhất định
Giá trị doanh nghiệp khi đã xác định luôn gắn với một thời điểm cụ thể nhấtđịnh và khi điều kiện thị trường, thời gian thay đổi thì giá trị đã xác định trước đó
có thể không còn sử dụng được và ta phải tiến hành xác định lại
- Thứ hai: Giá trị của một doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thị trường
và lợi nhuận trong tương lai đã được dự tính của doanh nghiệp đó.
Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố: Các khoản thu nhập trongtương lai và tỷ suất mong muốn của các nhà đầu tư
+ Yếu tố thứ nhất là các khoản thu nhập trong tương lai được xác định dựa vàoviệc dự đoán kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai Kết quả hoạtđộng SXKD trong tương lai của doanh nghiệp được dự tính càng cao thì giá trịdoanh nghiệp càng cao và ngược lại
Trang 20+ Yếu tố thứ hai là tỷ suất lợi nhuận vốn mong đợi của nhà đầu tư Đây là chiphí cơ hội sử dụng vốn mà người đầu tư dự tính trên cơ sở xem xét tỷ suất lợi nhuậnvốn tối thiểu cần đạt được với mức độ rủi ro gặp phải.
- Thứ ba: Giá trị tài sản ròng chi phối giá trị của doanh nghiệp.
Trong một doanh nghiệp, mọi tài sản đều được quản lý và sử dụng nhằm đem lạihiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi tài sản doanhnghiệp đang quản lý, sử dụng đều là tài sản của doanh nghiệp Giá trị tài sản ròng củadoanh nghiệp chính là tổng giá trị tài sản doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng sau khi
đã trừ đi các khoản công nợ phải trả nó mới quyết định giá trị doanh nghiệp
- Thứ tư: Quan hệ cung cầu chi phối giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Giá trị thị trường của một tài sản là giá bán của tài sản đó, là mức giá phổ biếntrong những điều kiện thị trường xác định Hay nói cách khác là mức giá mà phầnlớn những người mua sẽ trả
Vì vậy, một doanh nghiệp khi có nhiều nhà đầu tư quan tâm tới thì giá trị trênthị trường của doanh nghiệp đó sẽ cao hơn so với giá trị thực của doanh nghiệp
b,Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bao gồmcác nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh và các yếu tố thuộc nội tại doanhnghiệp Vì vậy, xác định giá trị doanh nghiệp trước hết chúng ta cần phải hiểu đượccác yếu tố chủ yếu quan trọng và ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô.
Môi trường vĩ mô là yếu tố ảnh hưởng có tính khách quan, về cơ bản chúngvượt khỏi tầm kiểm soát của doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển được, doanhnghiệp phải tìm cách thích nghi với môi trường
Môi trường kinh tế
Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá cả, tỷ giá, tỷsuất đầu tư, các chỉ số trên thị trường chứng khoán,… Mang tính chất như yếu tố kháchquan, nhưng ảnh hưởng của chúng tới giá trị doanh nghiệp lại là sự tác động trực tiếp
Môi trường chính trị
Trang 21Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trực tiếpđến sản xuất kinh doanh bao gồm:
+ Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng, chi tiết của hệ thống pháp luật
+ Quan điểm tư tưởng của Nhà nước đối với sản xuất kinh doanh thông qua hệthống văn bản pháp quy thể hiện trong Luật thuế, Luật cạnh tranh, Luật sở hữu trí tuệ,…+ Năng lực hành pháp của Chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của cáccông dân và các tổ chức sản xuất Pháp luật đã ban hành nhưng không trở thànhhiện thực, tệ nạn buôn lậu, trốn thuế, hàng giả,…, là những biểu hiện của một môitrường chính trị gây bất lợi cho sản xuất
Môi trường chính trị và môi trường kinh tế đóng vai trò là môi trường cơ sở,đem lại những điều kiện thiết yếu và tối thiểu để doanh nghiệp có thể hoạt động.Đây là những yếu tố cần xem xét trước tiên khi đưa ra đánh giá về doanh nghiệp
Môi trường văn hóa - xã hội
- Môi trường văn hóa được đặc trưng bởi những quan niệm, những hệ tư tưởng củacộng đồng về lối sống, đạo đức,… Thể hiện trong quan niệm về “Chân, thiện, mỹ”-quanniệm về nhân cách, văn minh xã hội, thể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiêu dùng
- Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi,mật độ, sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn đềmới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt,…
Môi trường tự nhiên
Các vấn đề ô nhiễm môi trường, sản phẩm kém chất lượng, lãng phí tài nguyênthiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến cácdoanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động sản xuất kinh doanh
Môi trường khoa học công nghệ
Sự biến đổi về khoa học và công nghệ không chỉ là cơ hội mà còn là tháchthức đối với sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp Sự thiếu nhạy bén trong việc chiếmlĩnh những thành tựu khoa học mới nhất có thể là nguyên nhân đưa doanh nghiệpmau chóng đến chỗ phá sản Và vì thế, khi đánh giá doanh nghiệp, ta phải xem xétđến sự tương tác cũng sự thích ứng của doanh nghiệp trước thay đổi
Trang 22 Các yếu tố thuộc môi trường ngành.
Quan hệ doanh nghiệp với khách hàng
Thị trường đầu ra đối với sản phẩm quyết định khả năng phát triển, mở rộngsản xuất của doanh nghiệp, nó được thể hiện bằng yếu tố khách hàng hiện tại hoặckhách hàng tiềm năng Thị trường của doanh nghiệp được duy trì và phát triển khi
mà mức độ bền vững và uy tín của doanh nghiệp với khách hàng được đảm bảo Đólà: sự trung thành và thái độ của khách hàng, số lượng và chất lượng khách hàng,tiếng tăm, mối quan hệ,…Và căn cứ có sức thuyết phục cao nhất cho sự đánh giá đó
là ở thị phần hiện tại, thị phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ tiến triển của cácchỉ tiêu đó qua các thời kỳ
Quan hệ doanh nghiệp với nhà cung cấp
- Doanh nghiệp nhận nguồn cung cấp từ bên ngoài về các loại hàng hóa,nguyên vật liệu, các dịch vụ điện nước, thông tin,…, làm đầu vào cho quá trình sảnxuất.Tính ổn định của nguồn cung cấp có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho sản xuất
và tiêu thụ được thực hiện theo kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt ra
- Vì vậy, sự phong phú hoặc khan hiếm của các nguồn cung cấp, các nguồnnguyên liệu thay thế, tính lâu dài của nguồn cung, tính kịp thời, giá cả và chất lượngđầu vào có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất doanh nghiệp
Các hãng cạnh tranh
Sự cạnh tranh của các đối thủ ngày càng gay gắt quyết liệt đòi hỏi doanhnghiệp phải có những chính sách thích hợp để củng cố vị trí của mình trên thươngtrường Đánh giá năng lực cạnh tranh, phải xem xét đến tập hợp các yếu tố: giá cả,chất lượng sản phẩm, dịch vụ hậu mãi, số lượng doanh nghiệp trong ngành, nănglực cũng như thế mạnh của đối thủ Đồng thời phải có khả năng dự báo về việc xuấthiện các đối thủ cạnh tranh mới trong tương lai
Cơ quan nhà nước
Hoạt động của doanh nghiệp luôn phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các
cơ quan Nhà nước: Cơ quan thuế, cơ quan thanh tra, cơ quan môi trường,… Doanhnghiệp có mối quan hệ tốt đẹp với các tổ chức đó tức là đã thực hiện đúng nghĩa vụcủa mình đối với xã hội Đó cũng là những biểu hiện có ảnh hưởng tích cực đối vớigiá trị của doanh nghiệp mà chúng ta cần xem xét đến trong quá trình đánh giá
Trang 23 Môi trường nội bộ doanh nghiệp.
Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp
- Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và tính đồng bộ của các loại tài sản làyếu tố quyết định đến số lượng và chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất
ra Tức là khả năng cạnh tranh và thu lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc trựctiếp và có tính chất quyết định vào yếu tố này
- Mặt khác, giá trị các tài sản của doanh nghiệp được coi là một căn cứ và làmột sự đảm bảo rõ ràng nhất về giá trị của doanh nghiệp Vì thay cho việc dự báocác khoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc nào đểnhận về một khoản thu nhập từ những tài sản đó
Do vậy, hiện trạng tài sản của doanh nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm khiđịnh giá doanh nghiệp
Vị trí kinh doanh
- Được đặc trưng bởi các yếu tố như: địa điểm, diện tích của doanh nghiệp vàcác chi nhánh thuộc doanh nghiệp, yếu tố địa hình, thời tiết,…
- Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh
Ví dụ: Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ,được đặt gần đô thị, các nơi đông dân cư, các trung tâm buôn bán lớn và các đầu mốigiao thông quan trọng có thể đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp như: Chi phívận chuyển, bảo quản, chi phí lưu kho,… Đồng thời doanh nghiệp có những thuận lợilớn để tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng nhu cầu, thị hiếu của thị trường, thực hiện tốtcác dịch vụ hậu thương mại… Tuy nhiên, với vị trí đó cũng có thể kéo theo sự giatăng một số khoản chi phí như thuê văn phòng giao dịch thuê lao động,…
Vì vậy vị trí kinh doanh cần được coi là một trong các yếu tố quan trọng hàngđầu khi đưa ra phân tích, đánh giá giá trị doanh nghiệp
Uy tín kinh doanh - Thương hiệu
Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanhnghiệp, cùng sản xuất một loại sản phẩm, nhưng doanh nghiệp do có uy tín lớn cóthể định giá cao cho sản phẩm của mình so với sản phẩm của doanh nghiệp khác
Trang 24Như vậy, khi đã xây dựng được uy tín-thương hiệu thì đó được coi như một tàisản của doanh nghiệp vì nó góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp Tài sản
uy tín-thương hiệu có giá trị nhất định Trên thực tế, đã có những giao dịch mua bánthương hiệu vì lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp Chính vì vậy, uy tín-thương hiệu của doanh nghiệp được thừa nhận như một yếu tố quan trọng cấu thànhnên giá trị doanh nghiệp
Chất lượng lao động
- Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động là nhân tố tác độngtrực tiếp tới chất lượng sản phẩm Đồng thời, nhờ đó, doanh nghiệp có thể giảmđược chi phí đào tạo, bồi dưỡng, góp phần nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp
- Đánh giá về trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao động không chỉ xem ởbằng cấp và số lượng mà quan trọng hơn trong điều kiện hiện nay còn phải xem xétđến hàm lượng tri thức có trong mỗi sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra
Năng lực quản trị kinh doanh
- Năng lực quản trị kinh doanh luôn được nhắc tới như một yếu tố đặc biệtquan trọng tác động tới giá trị doanh nghiệp
- Năng lực quản trị kinh doanh của một doanh nghiệp cần được đánh giá theonội dung cơ bản của hoạt động quản trị: khả năng hoặch định chiến lược, chiếnthuật, trình độ tổ chức bộ máy quản lý, năng lực quản trị các yếu tố đầu vào và đầu
ra của quá trình sản xuất, quản trị nguồn nhân lực,…
- Ngoài ra năng lực quản trị kinh doanh tổng hợp còn được thể hiện thông qua
hệ thống các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Do đó, thực hiện phân tích một cáchtoàn diện tình hình tài chính trong những năm gần với thời điểm định giá cũng cóthể cho phép rút ra những kết luận quan trọng về năng lực quản trị và sự tác độngcủa nó đến giá trị doanh nghiệp
1.2 Định giá doanh nghiệp.
1.2.1 Khái niệm về định giá doanh nghiệp.
Định giá doanh nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình đổi mới
doanh nghiệp, thường được áp dụng khi các doanh nghiệp tổ chức sắp xếp, cơ cấu
Trang 25lại sản xuất Quá trình xác định giá trị nhằm mục tiêu tính toán, xác định sự thay đổi
về mặt giá trị thời gian Đây là quá trình ước tính khoản tiền mà người mua có thểtrả để có được doanh nghiệp Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế đều cho rằng: xácđịnh giá trị doanh nghiệp là quá trình mang nhiều tính nghệ thuật hơn là tính khoahọc chính xác vì trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp người ta chủ yếu dựavào các hoạt động sản xuất kinh doanh dự tính trong tương lai chứ không chỉ đơnthuần dựa trên các hoạt động trước đây Điều này đòi hỏi các chuyên gia khôngnhững chỉ nắm vững kỹ thuật xác định giá trị mà còn phải có khả năng phán đoánnghiệp vụ tốt
Một vấn đề cần lưu ý là giá trị doanh nghiệp thường không phải là giá trị sổsách và giá trị được xác định không nhất thiết là giá cuối cùng vì giá trị được traođổi trên thị trường là giá mà người bán và người mua đặt ra cho doanh nghiệp Do
đó, việc xác định giá trị doanh nghiệp không phải giống nhau đối với mọi ngườimua và nó sẽ khác nhau đối với những người mua khác nhau
Do vậy, có thể đưa ra khái niệm định giá doanh nghiệp như sau: “Định giá
doanh nghiệp là xác định giá trị ước tính của doanh nghiệp theo giá cả thị trường”
và “Hoạt động định giá doanh nghiệp là trình tự, cách thức và phương pháp định
giá áp dụng để tiến hành định giá doanh nghiệp”.
“Giá trị ước tính” của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: “Giá trị thực” của
doanh nghiệp chính là giá trị còn lại của doanh nghiệp theo sổ sách kế toán được
tính theo giá thị trường vào thời điểm định giá và “Giá trị kỳ vọng” chính là thu
nhập kỳ vọng mà doanh nghiệp có thể mang lại cho chủ sở hữu trong tương lai
1.2.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp.
Dựa trên đặc điểm của doanh nghiệp về tính chất ngành nghề, cơ cấu tài sản, kếtquả sản xuất kinh doanh, các số liệu có thể thu thập… tình hình chung của thị trường
Trang 26+ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
+ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán 3 năm gần nhất
+ Hồ sơ kiểm kê tài sản thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
+ Bảng tổng hợp và chi tiết tài sản cố định, bảng kê công cụ dụng cụ thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp
+ Các biên bản đối chiếu công nợ phải thu, phải trả, Biên bản kiểm quỹ tiềnmặt, tiền gửi ngân hàng và các tài liệu kế toán liên quan khác
+ Hồ sơ kiểm kê, phân loại và xử lý tài chính của doanh nghiệp
+ Các Hóa đơn đầu vào của vật tư hàng hóa tồn kho
+ Hồ sơ tài liệu tài sản, đất đai khác
+ Các hồ sơ khác có liên quan
- Các nguồn thông tin khác
+ Các Quyết định, văn bản của Nhà nước khác có liên quan
+ Các văn bản đơn giá chỉ số giá của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng công bố(UBND thành phố, tỉnh trực thuộc trên địa bàn doanh nghiệp)
+ Thông tin dữ liệu thị trường chứng khoán tại sàn giao dịch chứng khoán HàNội và TP Hồ Chí Minh
+ Kết quả khảo sát tài sản, tham khảo thị trường và thống kê kinh nghiệm thực tế
b,Cơ sở giá trị trong định giá doanh nghiệp.
- Giá trị công bằng: là giá chuẩn của tài sản được pháp luật quy định và ápdụng trong những trường hợp giao dịch, mua bán nhất định
- Giá trị công bằng trên thị trường (giá trị thị trường): Là giá trị tài sản giảthiết sẽ được trao đổi, mua bán giữa một bên là người mua sẵn sàng mua với mộtbên là người bán sẵn sàng bán trong một giao dịch mua bán trên thị trường côngkhai, trong đó cả người mua và người bán đều có đủ thông tin về tài sản, hành độngkhôn ngoan, và không chịu bất kỳ sức ép nào
- Giá trị đầu tư: là giá trị của một tài sản đối với một hoặc một nhóm nhà đầu
tư nào đó theo những mục tiêu đầu tư đã xác định
Trang 27- Giá trị hoạt động kinh doanh: là giá trị doanh nghiệp kỳ vọng tiếp tục kinhdoanh trong tương lai.
- Giá trị thanh lý: là giá trị ước tính khi bán doanh nghiệp không còn tiếp tụchoạt động
1.3 Hoạt động định giá doanh nghiệp của tổ chức định giá chuyên nghiệp.
1.3.1 Mục đích định giá doanh nghiệp.
Người bán và người mua doanh nghiệp đều có thể có những mục đích khácnhau, vì vậy mục đích định giá doanh nghiệp có thể bao gồm:
- Tư vấn quản lý tài sản là cơ sở để các bên tham gia giao dịch mua bán tiếnhành thương thuyết ngã giá, giá trị doanh nghiệp được xác định có thể được sử dụngnhư một báo cáo về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang đượcquan tâm, là ngôn ngữ chung tạo điều kiện cho các bên xem xét các đơn chào hàng.Đối với doanh nghiệp chưa được xác định giá trị trên thị trường chứng khoán, kếtquả định giá được xem như một công cụ để cung cấp các thông tin về doanh nghiệpcho người mua và người bán
- Đối với người bán, việc đánh giá, xác định giá trị doanh nghiệp là cần thiết
và tất yếu Nó giúp cho người bán:
+ Đưa ra dự tính khi mở thầu
+ Hình thành nên một khuôn khổ để mặc cả
+ Có một ngôn ngữ chung để thương lượng, chào hàng
+ Phân tích ảnh hưởng của những thay đổi tiềm tàng trong kinh doanh củadoanh nghiệp
+ Đánh giá các đặc điểm của đấu giá cạnh tranh
- Định giá doanh nghiệp đối với người mua là cách khách quan để:
+ Làm cơ sở chuẩn bị cho quá trình thực hiện các hoạt động đấu giá
+ Hình thành nên một khuôn khổ để mặc cả, ngã giá
+ Tạo cơ sở cho việc thử nghiệm độ nhạy bén trong các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp đối với thay đổi trong kinh doanh cũng như trên thị trường
Trang 28+ Là cơ sở để các bên xem xét, đánh giá doanh nghiệp trong bối cảnh ngànhkinh tế, cũng như trong bối cảnh kinh tế toàn cầu.
- Đối với các nhà quản lý, xác định giá trị doanh nghiệp cũng tạo điều kiệnthuận lợi trong việc nghiên cứu, thực hiện và đề xuất chính sách, cơ chế, chươngtrình cơ cấu lại doanh nghiệp, ngành, lãnh thổ để tạo ra những thay đổi trong cơchế, chính sách vĩ mô
- Nếu mục đích của việc định giá là để cầm cố doanh nghiệp, người mua ở đâyđược hiểu là ngân hàng, nhận cầm cố, người bán là người đi vay, người mua trướctiên sẽ định giá doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu trong tương lai đểxác định khả năng chi trả lãi và gốc cho ngân hàng Tuy nhiên, trong trường hợp xấunhất, dòng thu nhập trong tương lai không đủ chi trả gốc và lãi cho ngân hàng, ngânhàng sẽ phải tính đến việc bán doanh nghiệp đó để thu hồi khoản tiền vay và ngân hàng
sẽ tính đến việc lựa chọn phương pháp định giá theo giá trị tài sản
1.3.2 Các nguyên tắc sử dụng trong định giá doanh nghiệp.
a, Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất.
Sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản là đạt được mức hữu dụng tối đa
có thể cho phép về mặt pháp lý, về kỹ thuật, về tài chính trong những hoàn cảnh kinh
tế - xã hội thực tế phù hợp và đem lại giá trị cao nhất cho tài sản
Một tài sản đang sử dụng thực tế không nhất thiết đã thể hiện khả năng sử dụngtốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản đó
b, Nguyên tắc cung - cầu.
Giá trị của một tài sản được xác định bởi mối quan hệ cung và cầu về tài sản đótrên thị trường Đồng thời, giá trị của tài sản đó cũng tác động đến cung và cầu về tàisản Giá trị của tài sản thay đổi tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch với cung về tài sản
c, Nguyên tắc thay đổi.
Giá trị của tài sản thay đổi theo sự thay đổi của những yếu tố hình thành và tácđộng đến giá trị của tài sản nó phản ánh hàng loạt các mối quan hệ nhân quả giữa cácyếu tố ảnh hưởng đến giá trị Do đó, trong thẩm định giá tài sản, thẩm định viên phảinắm được mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố ở trạng thái động, phải phân tíchquá trình thay đổi nhằm xác định mức sử dụng tài sản tốt nhất và có hiệu quả nhất
Trang 29d, Nguyên tắc thay thế.
Trong trường hợp hai hay nhiều tài sản có thể thay thế lẫn nhau trong quá trình
sử dụng, thì giá trị của những tài sản đó được xác định bởi sự tác động lẫn nhau của tàisản này đến tài sản khác Tài sản nào chào bán ở mức giá thấp nhất thì tài sản đó sẽbán được trước Giới hạn trên của giá trị tài sản có xu hướng được thiết lập bởi chi phímua một tài sản thay thế cần thiết tương đương, với điều kiện không có sự chậm trễquá mức làm ảnh hưởng đến sự thay thế Một người mua thận trọng sẽ không trả giácao hơn chi phí mua một tài sản thay thế trong cùng một thị trường và một thời điểm
e, Nguyên tắc cân bằng.
Khi các yếu tố cấu thành của tài sản đạt được sự cân bằng thì tài sản đạt đượckhả năng sinh lời tối đa hay mức hữu dụng cao nhất Do đó, để ước tính mức sử dụngtốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản, cần phải phân tích về sự cân bằng của các yếu
tố cấu thành của tài sản cần thẩm định giá
f, Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm.
Tổng thu nhập trên khoản đầu tư tăng lên sẽ tăng liên tục tới một điểm nhất định,sau đó mặc dù đầu tư tiếp tục tăng nhưng mức thu nhập tăng thêm đó sẽ giảm dần
g, Nguyên tắc phân phối thu nhập.
Tổng thu nhập sinh ra từ sự kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất (đất đai,vốn, lao động, quản lý) và có thể được phân phối cho từng yếu tố này Nếu việc phânphối được thực hiện theo nguyên tắc tương ứng thì phần tổng thu nhập còn lại sau khi
đã phân phối cho vốn, lao động và quản lý sẽ thể hiện giá trị của đất đai
Trang 30i, Nguyên tắc phù hợp.
Tài sản cần phải phù hợp với môi trường của nó nhằm đạt được mức sinh lời tối
đa hoặc mức hữu dụng cao nhất Do đó, thẩm định viên phải phân tích xem liệu tài sản
đó có phù hợp với môi trường hay không khi thẩm định viên xác định mức sử dụng tàisản tốt nhất và có hiệu quả nhất
k, Nguyên tắc cạnh tranh.
Lợi nhuận cao vượt trội sẽ thúc đẩy cạnh tranh, đồng thời, cạnh tranh quá mức
có thể làm giảm lợi nhuận và cuối cùng có thể không còn lợi nhuận Đối với tài sản,mối quan hệ cạnh tranh cũng được quan sát giữa các tài sản với nhau và giữa tài sảnnày với tài sản khác Khi tiến hành thẩm định giá, thẩm định viên cần xem xét, đánhgiá tác động của yếu tố cạnh tranh đến thu nhập của tài sản, đặc biệt khi sử dụng cáchtiếp cận từ thu nhập để xác định giá trị của tài sản
l, Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai.
Giá trị của tài sản có thể được xác định bằng việc dự tính khả năng sinh lợitrong tương lai
Giá trị của tài sản cũng chịu ảnh hưởng bởi việc dự kiến thị phần của nhữngngười tham gia thị trường và những thay đổi có thể dự tính trước trong yếu tố nàycũng ảnh hưởng đến giá trị
Việc ước tính giá trị của tài sản luôn luôn dựa trên các triển vọng tương lai, lợiích dự kiến nhận được từ quyền sử dụng tài sản của người mua
1.3.3 Các phương pháp sử dụng để định giá doanh nghiệp.
Hiện nay có hai cách tiếp cận chính khi xác định giá trị doanh nghiệp: một là, trực tiếp đi vào đánh giá giá trị tài sản của doanh nghiệp; hai là, dựa trên việc ước
tính dòng tiền trong tương lai mà doanh nghiệp mang lại Với 2 cách tiếp cận nhưvậy, chúng ta có các phương pháp định giá cơ bản sau:
1.3.3.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần.
a) Khái niệm
Là phương thức ước tính giá trị của doanh nghiệp dựa trên giá trị thị trườngtổng tài sản của doanh nghiệp
Trang 31Dựa theo công thức trên, người ta đưa ra hai cách tính cụ thể sau:
b.1) Cách thứ nhất: Dựa vào số liệu về tài sản và cơ cấu nguồn vốn phản ánh
trên bảng cân đối kế toán tại thời điểm đánh giá để xác định bằng cách: lấy tổng giátrị tài sản phản ánh ở phần tài sản trừ đi các khoản nợ phải trả bên nguồn vốn
Giá trị doanh nghiệp xác định theo phương pháp này thường chỉ là nhữngthông tin, số liệu mang tính lịch sử có tính chất tham khảo trong quá trình vận dụngcác phương pháp khác
b 2) Cách thứ hai: Xác định giá trị tài sản theo giá thị trường.
Để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết người ta loại ra khỏidanh mục đánh giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng cácyêu cầu của sản xuất kinh doanh Sau đó tiến hành đánh giá số tài sản còn lại theo
Trang 32+ Bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất, nhưng có giá trị thực;
+ Trong nhiều trường hợp, kỹ thuật đánh giá quá phức tạp, chi phí tốn kém,thời gian kéo dài, nhất là giá trị lợi thế vị trí địa lý và giá trị thương hiệu;
+ Một số yếu tố khi xác định phụ thuộc ý trí chủ quan của người xác địnhhoặc chế độ quy định (chẳng hạn như các chí phí sản xuất dở dang hoặc chi phí đầu
tư dở dang
Ngoài hai cách xác định giá trị doanh nghiệp trên (dựa vào sổ sách và dựa vàothị trường), người ta còn có thể xác định giá trị doanh nghiệp theo cách tính giá trịthanh lý (cách này xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên giá trị thanh lý tài sản củadoanh nghiệp; nó thường chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có nguy cơ phá sản,hoạt động thua lỗ và khó có khả năng sinh lời hoặc có khả năng sinh lời quá thấp sovới tiềm năng về tài sản sử dụng), hoặc theo cách xác định giá trị thay thế (cách nàyxác định giá trị doanh nghiệp dựa trên chi phí để tạo ra các tài sản có tình trạngtương tự, cách này ít sử dụng trong thực tế và thường chỉ phù hợp với định giá tàisản cho mục đích bảo hiểm)
1.3.3.2 Phương pháp vốn hoá thu nhập.
a, Khái niệm:
Là phương pháp ước tính giá trị của doanh nghiệp, lợi ích thuộc sở hữu củadoanh nghiệp hoặc chúng khoán bằng cách chuyển đổi các lợi ích dự đoán trongtương lai thành giá trị vốn
Trang 33c, Điều kiện áp dụng:
Phương pháp này có thể áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp hoạt độngliên tục, tiếp tục hoạt động trong tương lai; nghĩa là giả định rằng doanh nghiệpkhông có dự tính và cũng không cần phải đóng cửa, sáp nhập hay cắt giảm các hoạtđộng chính yếu của mình trong tương lai Trên cơ sở đó thẩm định viên xem xétdoanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động mãi mãi, tạo ra thu nhập vĩnh viễn
d, Ưu điểm, nhược điểm:
- Ưu điểm: Đơn giản, dễ sử dụng, dựa trên cở sở tài chính để tính toán nên rấtkhoa học
- Nhược điểm: Việc xác định tỷ lệ vốn hóa chính xác là phức tạp do phụ thuộcvào ngành nghề sản xuất kinh doanh mà từng doanh nghiệp đang hoạt động; đồngthời giả định doanh nghiệp có thu nhập ổn định vĩnh viễn là điều khó hiện thựctrạng bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường hiện nay
1.3.3.3 Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF)
Phương pháp dòng tiền chiết khấu được cụ thể hoá bằng ba phương pháp:
Phương pháp định giá cổ phiếu, phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận, và phương pháp hiện tại hoá các dòng tiền thuần của doanh nghiệp trong tương lai.
Cơ sở của các phương pháp này đều xuất phát trực tiếp từ quan niệm cho rằng
giá trị doanh nghiệp được đo bằng tổng giá trị hiện tại của khoản thu nhập màdoanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai được chiết khấu theo
tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư
a) Phương pháp định giá cổ phiếu
Giá trị doanh nghiệp bằng tổng giá trị các loại cổ phiếu mà doanh nghiệp đanglưu hành
- Phương pháp xác định
Công thức tổng quát xác định giá trị thực của các loại chứng khoán như sau:
Trang 34Trong đó:
r: Tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư
n: Số năm nhận được thu nhập
hàng năm Tức là mức lợi tức trong tương lai luôn là một hằng số D và t :
trở đi giả thiết tăng đều với tốc độ là g% (với g < r) và t :
Trong đó:
- Ưu, nhược điểm của phương pháp
Trang 35 Thích hợp với doanh nghiệp có chứng khoán giao dịch trên thị trường, xácđịnh giá trị doanh nghiệp bằng phương pháp tài sản thuần gặp nhiều khó khăn và có
giá trị tài sản vô hình.
+ Nhược điểm:
Việc dự báo lợi tức cổ phần không phải là dễ dàng;
Phụ thuộc vào chính sách phân chia lợi tức cổ phần trong tương lai;
Việc xác định các tham số có tính thuyết phục không cao (t, n, i, g).
b) Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần
- Cơ sở phương pháp luận
Giá trị doanh nghiệp được đo bằng độ lớn của các khoản lợi nhuận sau thuế
mà doanh nghiệp có thể mang lại trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp
- Phương pháp xác định
Giá trị doanh nghiệp được tính bằng công thức:
Trong đó:
V0 : Giá trị doanh nghiệp;
Do lợi nhuận được giả định là chia hết cho nhà đầu tư, do đó tỷ lệ tăng trưởngnhuận sau thuế hàng năm coi như bằng không, t , do đó:
Đóng góp cơ bản của phương pháp này còn được bổ sung bằng sự thuận lợikhi dự báo tham số lợi nhuận thuần;
Với những doanh nghiệp khó tìm thấy cơ hội đầu tư mới
Trang 36 Việc xác định các tham số có tính thuyết phục không cao (t, n, r, g).
c) Phương pháp chiết khấu dòng tiền thuần
- Cơ sở phương pháp luận:
Đây là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên quan điểm của nhàđầu tư đa số Theo quan điểm của nhà đầu tư đa số, mua doanh nghiệp giống nhưviệc đổi lấy một dự án đang được triển khai, một cơ hội, để theo đó nhà đầu tư saukhi nắm quyền kiểm soát còn có thể điều khiển dự án Như đã đề cập ở trên, giá trịcủa công ty được quyết định bằng dòng tiền mà công ty có khả năng tạo ra tronghiện tại và tương lai Khi đó, giá trị doanh nghiệp được đo bằng giá trị hiện tại củadòng tiền thuần trong tương lai
- Cách xác định dòng tiền thuần.
Như đã đề cập ở phần đầu, có 2 cách tiếp cận đến giá trị doanh nghiệp là giátrị doanh nghiệp tổng thể và giá trị doanh nghiệp dành cho chủ sở hữu Để xác địnhgiá trị doanh nghiệp tổng thể ta sử dụng dòng tiền thuần của toàn doanh nghiệp (tức
là dòng tiền thuần của cả chủ nợ và chủ sở hữu), còn giá trị doanh nghiệp dành chochủ sở hữu ta sử dụng dòng tiền thuần của chủ sở hữu
+ Xác định dòng tiền thuần của doanh nghiệp (FCFF)
Dòng tiền thuần của doanh nghiệp là dòng tiền chênh lệch giữa dòng tiền vào
và dòng tiền ra phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp để phân chia cho cảchủ nợ và chủ sở hữu của doanh nghiệp
Nói cách khác nó phản ánh tổng dòng tiền thu nhập của tất cả các nhà đầu tưvốn vào doanh nghiệp, bao gồm cả chủ nợ và chủ sở hữu Do dòng tiền thuần củadoanh nghiệp là dòng tiền trước các khoản thanh toán nợ nên còn được gọi là dòngtiền không vay nợ (tức không có đòn bẩy tài chính) Nó không bao gồm khoản tiết
Trang 37kiệm thuế từ vốn vay (tức lá chắn thuế) Lý do là vì khi xác định chi phí sử dụngvốn của doanh nghiệp thì chi phí sử dụng vốn vay đã đưa về sau thuế, nghĩa là đãxem xét đến yếu tố này, nên nếu tính thêm khoản tiết kiệm thuế thì dòng tiền sẽ bịtính trùng.
Có thể xác định dòng tiền thuần của doanh nghiệp (FCFF) như sau:
FCFF = Dòng tiền vào của cả chủ nợ và chủ sở hữu – Dòng tiền ra của cả chủ nợ và chủ sở hữu
=> FCFF = [ EBIT (1- Thuế suất) + Khấu hao TSCĐ] – [Chi đầu tư mới vào TSCĐ + Thay đổi vốn lưu động]
+ Xác định dòng tiền thuần của chủ sở hữu (FCFE)
Dòng tiền thuần của chủ sở hữu là dòng tiền chênh lệch giữa dòng tiền vào
và dòng tiền ra phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp để phân chia cho chủ
sở hữu của doanh nghiệp
Nói cách khác, nó là dòng tiền sau thuế được tạo ra từ các hoạt động của doanhnghiệp dành cho chủ sở hữu, sau khi đã hoàn trả lãi và vốn vay cho các chủ nợ, chi trảcác khoản chi phí đầu tư mới vào TSCĐ và thay đổi về nhu cầu vốn lưu động
Dòng tiền thuần của chủ sở hữu được xác định theo công thức tổng quát:
FCFE = Dòng tiền vào của chủ sở hữu – Dòng tiền ra của chủ sở hữu
=> FCFE = [EBIT(1- Thuế suất) - Lãi vay + Khấu hao TSCĐ + Vay nợ mới] –[Chi đầu tư mới vào TSCĐ + Thay đổi VLĐ + Trả nợ gốc cũ]
=> FCFE = [EBIT(1- Thuế suất) - Lãi vay + Khấu hao TSCĐ] – [Chi đầu tưmới vào TSCĐ + Thay đổi VLĐ] + [Vay nợ mới - Trả nợ gốc cũ]
Để chiết khấu dòng tiền về hiện tại, lãi suất chiết khấu đối với dòng tiền thuầncủa doanh nghiệp ta sử dụng chi phí sử dụng vốn bình quân Còn đối với dòng tiềnthuần dành cho chủ sở hữu ta sử dụng lãi suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn chủ
sở hữu
Phương pháp định giá dựa theo dòng tiền thuần của doanh nghiệp (FCFF)
Ta có công thức định giá doanh nghiệp như sau:
Trang 38Trong đó:
bình quân của doanh nghiệp được tính theo phương pháp bình quân gia quyền giữachi phí sử dụng vốn vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu
giá trị doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư là:
và t Vậy giá trị doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư là:
năm n, từ năm n + 1 trở đi tăng với tốc độ ổn định là g%, t và g < r Vậy giá trịdoanh nghiệp đối với các nhà đầu tư:
Sau khi tính toán được giá trị doanh nghiệp tổng thể, người ta lấy giá trị doanhnghiệp trừ đi giá trị củatổng nợ phải trả và giá trị cổ phần ưu đãi sẽ ra được giá trịdoanh nghiệp thuộc cổ đông thường
Phương pháp định giá theo dòng tiền thuần vốn chủ (FCFE)
Ta có công thức định giá doanh nghiệp của chủ sở hữu như sau:
Trang 39Trong đó: VE là giá trị doanh nghiệp của chủ sở hữu
Chúng ta có các giả định như sau:
trị doanh nghiệp đối với chủ sở hữu:
(với g < r) và t Vậy giá trị doanh nghiệp đối với chủ sở hữu:
năm n, từ năm n + 1 trở đi tăng với tốc độ ổn định là g%, t và g < r Vậy giá trịdoanh nghiệp đối với chủ sở hữu:
- Ưu, nhược điểm của phương pháp
+ Ưu điểm:
Doanh nghiệp coi như một dự án đầu tư đang triển khai, mỗi nhà đầu tư nhìnnhận tương lai của dự án này khác nhau;
Giá trị doanh nghiệp là mức giá cao nhất nhà đầu tư có thể mua;
Giải thích rõ vì sao doanh nghiệp này lại có giá trị cao hơn doanh nghiệp kia?
Nó đã chỉ ra những cơ sở để mỗi nhà đầu tư có thể tuỳ ý mà phát triển những
ý tưởng của mình nếu sở hữu doang nghiệp;
Trang 40 Quan niệm về dòng tiền tránh được việc điều chỉnh số liệu kế toán sao cho cóthể phản ánh đúng thời điểm phát sinh các khoản tiền.
+ Nhược điểm:
Khó khăn trong khi dự báo các tham số: i, n…;
Đối với các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh hoặc có nhưngkhông rõ ràng thí khó áp dụng phương pháp này;
Đòi hỏi người đánh giá phải có chuyên môn trong lĩnh vực thẩm định dự ánđầu tư;
Đòi hỏi phải có một lượng thông tin lớn
EPS: thu nhập dự kiến của mỗi cổ phần được tính như sau:
EPS = Lợi nhuận ròng dự kiến/N
d, Ý nghĩa của tỷ số P/E:
- Tỷ số P/E sẽ càng cao khi triển vọng gia tăng lợi nhuận hàng năm của công
ty càng cao và mức độ rủi ro đối với lợi nhuận càng thấp
V = Lợi nhuận ròng dự kiến * P/E