Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HÙNG
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN RỪNG VÀ LỢN RỪNG LAI TẠI HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HÙNG
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN RỪNG VÀ LỢN RỪNG LAI TẠI HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHAN ĐÌNH THẮM
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng nhƣ sự hợp tác tập thể trong và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hùng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của Nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới PGS.TS Phan Đình Thắm,
TS Dương Mạnh Hùng đã động viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi thú y, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và bảo vệ thành công luận văn này
Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hùng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học 3
1.1.1 Lợn rừng Thái Lan và lợn địa phương 3
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn nái địa phương 4
1.1.3 Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh sản của lợn 6
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 21
1.1.5 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn 25
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.3 Địa điểm nghiên cứu 33
2.4 Thời gian nghiên cứu 33
2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.6 Phương pháp nghiên cứu 34
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Kết quả khảo sát khả năng năng sản xuất của lợn rừng, lợn địa phương và lợn rừng lai F1 (RxĐP) 40
3.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn lai F1 và F2 53
3.2.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 54
3.2.2 Sinh trưởng tương đối và tuyệt đối của lợn thí nghiệm 56
3.2.3 Khả năng tiêu thụ thức ăn trên ngày của lợn thí nghiệm 60
3.2.4 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 61
3.2.5.Chi phí thức ăn/kg khối lượng lợn thí nghiệm 62
3.2.6 Kết quả khảo sát năng suất thịt lợn 63
3.3 Hạch toán kinh tế 65
KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn 40
Bảng 3.2: Kết quả nghiên cứu về số lượng lợn con đẻ ra và tỷ lệ nuôi sống của lợn con 44
Bảng 3.3: Khối lượng lợn con qua các kỳ cân 45
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái rừng Thái Lan theo lứa đẻ 47
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái địa phương theo lứa đẻ 48
Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(♂ rừng x ♀ địa phương) theo lứa đẻ 50
Bảng 3.7: Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm (n = 20 con) 54
Bảng 3.8: Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 57
Bảng 3.9: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 59
Bảng 3.10: Tiêu thụ thức ăn/ ngày của lợn thí nghiệm (kg/con/ngày) 60
Bảng 3.11: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 61
Bảng 3.12: Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm 62
Bảng 3.13: Kết quả mổ khảo sát 63
Bảng 3.14: Sơ bộ hạch toán cho một con lợn thịt (rừng lai) thương phẩm F1 65
Bảng 3.15: Sơ bộ hạch toán cho một con lợn thịt (rừng lai) thương phẩm F2 65
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Số con ở các thời điểm theo lứa đẻ của các loại lợn theo dõi 51
Hình 3.2: Số con sơ sinh sống của lợn theo lứa đẻ 53
Hình 3.3: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 56
Hình 3.4: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 57
Hình 3.5: Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 59
Trang 10MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng Đó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: thịt, da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến, ngoài ra, còn là nguồn cung cấp phân hữu cơ rất lớn cho ngành trồng trọt
Lợn được nuôi ở nhiều nước trên thế giới, vì chúng có những đặc điểm
ưu việt, đó là: Sử dụng được nhiều loại thức ăn, khả năng sinh sản, cho thịt cao Ngoài ra, thịt lợn cũng phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng, vì có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa
Việc tăng nhanh đàn lợn hướng nạc có khả năng sinh trưởng nhanh, tỉ lệ nạc cao, sức sinh sản tốt đủ đáp ứng nhu cầu thịt nạc của người tiêu dùng được nhà nước quan tâm, khuyến khích tuy nhiên việc chăn nuôi lợn ngoại, lợn lai kinh tế (♂ ngoại x ♀ nội) yêu cầu đầu tư chăn nuôi cao, do con giống và thức
ăn chăn nuôi giá cao đồng thời việc không chủ động giống, phải nhập giống từ ngoài đến không quản lý được dịch bệnh dẫn đến rủi ro trong chăn nuôi cao nên chưa thực sự phù hợp với điều kiện chăn nuôi của các hộ dân miền núi tỉnh Bắc Kạn
Người tiêu dùng ngày nay hướng tới nguồn thịt có chất lượng cao và đảm bảo về an toàn sinh học Từ thực tiễn trên ở các tỉnh miền núi phía Bắc các
hộ chăn nuôi đã nhập giống lợn rừng Thái Lan được nuôi thuần ở Thành phố
Hồ Chí Minh và Đồng Nai về nuôi tại địa phương Giống lợn này và con lai giữa lợn rừng và lợn địa phương có khả năng sinh trưởng chậm, nhưng lại có
ưu điểm: Sức chống chịu bệnh tốt, sử dụng được nhiều loại thức ăn có sẵn tại địa phương, chăn nuôi theo phương thức truyền thống Điều này rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi và khả năng đầu tư của các hộ nông dân miền núi
Trang 11Với điều kiện của miền núi, đặc biệt huyện Ngân Sơn - Bắc Kạn phong trào nuôi lợn rừng và lợn rừng lai đang phát triển, phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương Để đánh giá khả năng sinh sản, sức sản xuất và hiệu quả kinh tế, để có khuyến cáo giống trong chăn nuôi, tăng thu nhập, phát
triển kinh tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Khảo sát khả năng sản
xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn"
1.2 Mục tiêu của đề tài
♀ địa phương)
- Đánh giá được sức sản xuất của lợn rừng lai F1(♂ rừng x ♀ địa phương), lợn F2(♂ rừng x ♀ F1) làm cơ sở cho việc khuyến cáo phát triển chăn nuôi ở khu vực miền núi tỉnh Bắc Kạn
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Sơ bộ có số liệu khách quan về chọn giống lợn nuôi cho phù hợp với điều kiện thực tế của người dân miền núi
- Cung cấp số liệu chăn nuôi lợn địa phương, lợn rừng và lợn rừng lai cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Lợn rừng Thái Lan và lợn địa phương
* Lợn rừng Thái Lan
Lợn rừng (Sus Scrofa), ở châu Âu gọi là (Sus scrofa ferus) và châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) là tổ tiên của lợn nhà hiện nay Căn
cứ vào hình dáng của tai, người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ châu Âu
và châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn Hiện tại lợn rừng vẫn còn ở khắp vùng rừng châu Âu và châu Á Những năm gần đây, do nhu cầu
và thị hiếu của người tiêu dùng, ở Việt Nam cũng như một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, đã tiến hành thuần hóa và nuôi dưỡng lợn rừng từ hơn 20
năm nay, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người chăn nuôi Theo
Lê Đình Phùng và cs, (2011) [27], lợn rừng Thái Lan có đầu nhỏ, thon dài, có
viền trắng hai bên má, tai nhỏ vênh và hướng về phía trước Màu lông trên cơ
thể lợn rừng không đồng nhất; lông bờm tốt và cứng, ở con đực phát triển hơn con cái, một gốc chân lông có 3 ngọn chụm lại thành cụm Lợn rừng mới sinh toàn thân có 6 sọc chạy dọc hai bên mình từ gốc tai đến khấu đuôi, sau 5-6 tháng tuổi các sọc này mất h n và toàn thân phủ màu đen hoặc nâu đậm Lợn rừng đẻ tự nhiên không cần sự can thiệp của con người, là loài càm con, nuôi con khéo Năng suất sinh sản của lợn rừng Thái Lan thấp Mỗi lứa đẻ khoảng 5,87 con, đến 24 giờ còn 5,2 con/lứa, khối lượng sơ sinh trung bình 0,37 kg/con Số con cai sữa ở 120 ngày tuổi đạt 4,43 con/lứa và 13,83 kg/con Khoảng cách lứa đẻ 229,3 ngày
* Lợn địa phương nuôi tại Ngân Sơn
Theo Lê Viết Ly (1994) [21] Dựa vào màu sắc lông da có thể chia làm
3 nhóm như sau:
Nhóm đen tuyền:
Trang 13Toàn thân đen tuyền Nhóm này có đặc điểm là tương đối nhỏ, có đặc điểm hoang sơ hơn Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H’mông
và dân tộc Dao Hiện nay số lượng không còn nhiều chỉ chiếm 6,10% - 8,33% đàn lợn nái điều tra, 2,42 - 3,92% đàn lợn thịt Nguyên nhân là do mặc dù có khối lượng nhỏ, chậm lớn nhưng thịt ngon, nên nhiều người tìm mua bán về dưới xuôi làm suy giảm đáng kể số lượng đàn lợn Cần có biện pháp bảo tồn tránh nguy cơ tuyệt chủng
Nhóm lợn đen có một số điểm trắng
Toàn thân lợn có màu đen và có điểm trắng ở một số vị trí như gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi có một nhúm lông màu trắng Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H’mông và dân tộc Dao Về số lượng đàn lợn này chiếm tỉ lệ tương đối cao trong đàn lợn địa phương Trong đàn lợn nái, nhóm lợn đen có một số điểm trắng chiếm từ 40,24% - 58,33% ; đối với đàn lợn thịt chiếm từ 30,99% - 43,79% Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở khu vực các thôn vùng cao của các xã, khối lượng cũng lớn hơn nhóm lợn đen tuyền
Nhóm lợn lang trắng đen
Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ Các vết lang trắng không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít Các vết lang này được phân bố ở bụng, ngang sườn, cổ, vai, lưng, nhanh hơn được nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có người dân tộc Tày sinh sống
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn nái địa phương
Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực và cái thuộc hai quần thể khác nhau giao phối với nhau để tạo ra thế hệ sau Hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau, do vậy đời con không còn là dòng, giống thuần, mà là con lai giữa hai dòng, hai giống khởi đầu là bố m của chúng (Đặng Vũ Bình, 2000) [4]
Trang 14Lai giống có hai tác dụng chủ yếu Một là tạo được ưu thế lai ở đời con
về một số tính trạng nhất định Các tác động cộng gộp là nguyên nhân của hiện tượng sinh học này Hai là làm phong phú thêm bản chất di truyền ở thế
hệ lai bởi vì con lai có được những đặc điểm di truyền của giống khởi đầu, người ta gọi đó là tác dụng phối hợp Điều này có nghĩa là lai giống sử dụng được tác động cộng gộp các nguồn gen ở thế hệ bố m
-Ưu thế lai
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [31], ưu thế lai là hiện tượng liên quan tới sự phát triển mạnh mẽ ở đời sau như : sức đề kháng tốt hơn, sức sản xuất cao hơn bố m Bownan (1959) cho rằng ưu thế lai nói lên sức sống của con lai, là tính ưu việt của đời con lai so với bố m (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Thiện, 1995) [31]
Ưu thế lai hiểu theo nghĩa toàn bộ là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối lượng cơ thể, sự tăng cường trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống
đỡ với bệnh tật tốt hơn….Ưu thế lai hiểu theo từng mặt, từng tính trạng : có tính trạng phát triển, có tính trạng giữ nguyên, thậm chí có tính trạng giảm sút
so với giống gốc
Cần phân biệt 3 kiểu ưu thế lai sau:
- Ưu thế lai cá thể: Là ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật gây nên
- Ưu thế lai của m : Là ưu thế lai do kiểu gen mà m con vật gây ra thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó Ch ng hạn, nếu bản thân m
là con lai, thông qua sản lượng sữa, khả năng nuôi con khéo mà con lai có được ưu thế này
- Ưu thế lai của bố: Có rất ít tính trạng có được ưu thế lai của bố, song cũng có thể thấy rằng, khả năng thụ thai, tình trạng sức khỏe của con đực lai tạo nên ưu thế lai cho đời con của nó
Trang 15Nếu như giao phối cận huyết làm tăng mức độ đồng hợp, giảm mức độ
dị hợp của các gen, thì ngược lại, lai giống làm tăng mức độ dị hợp, giảm mức
độ đồng hợp của các kiểu gen
Các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản
có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là giải pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn
Hai quần thể vật nuôi càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Ưu thế lai cao
thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình của 2 giống gốc Để tạo ưu thế lai, người ta phải cho con vật nuôi giao phối không cận huyết, nhằm tăng cường mức độ dị hợp bằng cách lai giữa các dòng, giữa các giống, lai xa Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ưu thế lai còn phụ thuộc vào nguồn gốc di truyền của bố
m , tính trạng cần xem xét công thức lai và điều kiện nuôi dưỡng
Mức độ ưu thế lai của một tính trạng được tính bằng công thức sau:
H (%)=
) ( 2 / 1
) ( 2 / 1 ) (
2 / 1
B A
B A BA
AB : giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố A, m B
BA: giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố B, m A
A: giá trị trung bình của dòng (giống) A
B: giá trị trung bình của dòng (giống) B
1.1.3 Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh sản của lợn
- Tính trạng số lượng và sự di truyền của tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự khác, nhau giữa những
cá thể, là sự khác nhau về mức độ hơn là sự khác nhau về chủng loại Tính
Trang 16trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường, vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường Hầu hết các tính trạng có giá trị của gia súc đều là những tính trạng số lượng
Để giải thích sự di truyền của các tính trạng số lượng , Nilson và Ehle (1908) đã đưa ra giả thiết như sau (trích dẫn từ Trần Đình Miên,1977 ) [23]: Tính trạng số lượng chịu sự tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như phân ly, tổ hợp, liên kết…Mỗi gen thường có tác động cộng gộp lớn hơn Tác dụng của nhiều gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là cộng gộp cũng có thể là không, ngoài ra còn có các kiểu tác động ức chế nhau giữa các gen nằm ở những locus khác nhau
Có hai hiện tượng di truyền cơ bản có liên quan đến tính trạng số lượng
và mỗi hiện tượng di truyền này có một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền cho giống vật nuôi (Nguyễn Văn Thiện, 1995 ) [31].Trước hết đó là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc và quan hệ thân thuộc càng gần con vật càng giống nhau Đó là cơ sở di truyền cho sự chọn lọc và sau đó là sự suy hóa cận thân Thứ hai là hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai (heteosis), đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và tạp giao
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng dễ chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường Vật nuôi sống trong một môi trường nhất định nên sự hình thành hoạt động của tính trạng không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường
Giá trị kiểu hình của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng được biểu thị qua giá trị của kiểu gen và sai lệch môi trường
P = G + E
Trong đó P : Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value)
G : Giá trị kiểu gen (Genotypic Value)
E : Sai lệch môi trường (Environmental Deviation)
Trang 17Tùy theo phương hướng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen
có thể bao gồm các thành phần khác nhau
G = A + D + I
“A” gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định không thay đổi có thể di chuyển được và còn được gọi là giá trị giống của cá thể là
cơ sở di truyền của việc chọn giống
“D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trong cùng một locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp
là bằng nhau Khi xem xét một locus duy nhất sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị giống A và giá trị di truyền đó chính là sai lệch trội D
Do vậy: G = A + D
“I” là các gen của các cặp gen hoặc cùng alen sai lệch tương tác nên kiểu gen là do từ hai locus trở lên cấu thành giá trị kiểu gen có thể thêm một sai lệch do sự tương tác giữa các gen trong các locus khác nhau
- Hệ số di truyền một số tính trạng ở lợn
Hệ số di truyền là tỷ lệ phần trăm do gen quy định trong việc tạo nên kiểu hình Hệ số di truyền có hai loại đó là hệ số di truyền theo nghĩa h p và
hệ số di truyền theo nghĩa rộng
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị phần phương sai gí trị kiểu hình của các cá thể được quyết định bởi các phương sai giá trị kiểu gen
h2 = VG / VP
VP là phương sai giá trị kiểu gen
Hệ số di truyền theo nghĩa h p, biểu thị giá trị kiểu hình được quyết định bởi các gen truyền đạt từ bố m cho đời con
h2 = VA / VP
Hệ số di truyền của một tính trạng càng lớn, khả năng di truyền của tính trạng đó càng cao Ngược lại hệ số di truyền của tính trạng càng nhỏ thì khả
Trang 18năng di truyền của tính trạng đó càng thấp và khả năng biến đổi của chúng dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường càng lớn
Ở lợn các tính trạng có hệ số di truyền thấp hầu hết là các tính trạng sinh sản, còn các tính trạng có hệ số di truyền cao hơn là các tính trạng có liên quan tới chất lượng sản phẩm và sự sinh trưởng
Thông qua hệ số di truyền ta có thể quyết định phương pháp hiệu quả
để cải tiến năng suất vật nuôi Khi hệ số di truyền thấp, thì không nên thông qua phương pháp chọn lọc, mà nên thông qua biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc hoặc chú trọng vào việc tạp giao để nâng cao năng suất của chúng
1.1.3.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài
- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4 - 7g Ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10mm
- Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi
- Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn loại và có độ dài đến hơn 1m
Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài 40 - 45cm, thân tử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm
Trang 19và có đường kính ngoài 2 - 3cm Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ (Nguyễn Quang Linh và cs, 2008) [17]
- Âm đạo: Có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12cm Đây
là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ
- Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
* Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị
Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng đề thành thục về thể vóc Tuy nhiên trong giai đoạn xảy ra chu kì động
dục lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình thường
Chu kì động dục của lợn nái được chia thành 4 giai đoạn khác nhau:
- Giai đoạn trước động dục: Lúc này buồng trứng của lợn nái bắt đầu có các noãn phát triển, đồng thời buồng trứng tăng cường tiết Oestrogen, bầu vú cũng dần phát triển Giai đoạn này kéo dài từ 2 - 3 ngày
- Giai đoạn động dục: Buồng trứng có các noãn bao, bắt đầu chín và chuẩn bị rụng Đồng thời kèm theo các triệu chứng bên ngoài như lợn bắt đầu kêu la, phá chuồng, bỏ ăn và đi tìm con đực Âm hộ dần dần sưng lên và xuất hiện màu cà chua chín và chuyển sang màu mận chín và lúc này trứng chín rụng xuống loa kèn Lợn ở vào trạng thái mê ì Thời gian này thường kéo dài
từ 3-5 ngày
- Giai đoạn sau động dục: Lợn bắt đầu trở lại bình thường, các triệu chứng động dục giảm dần và hết động dục Thời gian kéo dài từ 1-2 ngày
Trang 20- Giai đoạn yên tĩnh: Đây là giai đoạn lợn chuẩn bị cho một chu kì tiếp
theo Thời gian khoảng từ 8 - 9 ngày
* Đặc điểm chu kỳ động dục:
Lợn nái khi thành thục về tính, chúng có chu kỳ động dục và mỗi chu
kỳ trung bình là 21 ngày (biến động từ 18-25 ngày) Chu kỳ của lợn nái phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau:
- Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác nhau: Lợn ỉ, từ 19 - 21 ngày lợn Móng Cái từ 18 - 25 ngày
- Ảnh hưởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành Theo Kralling, lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính trung bình là 20,8 ngày, lứa 6 -7 là 21,5 ngày; lứa 8- 9 là 22,4 ngày Khi theo dõi sinh sản trên lợn ỉ thấy ở lứa thứ nhất chu kỳ tính 19 ngày, lứa thứ 2 là 20 ngày (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) [10] Theo Xignort thời gian động dục lần đầu thường ngắn hơn những lần sau, đồng thời thường không có trứng rụng hoặc trứng rụng rất ít, kích thước tế bào trứng nhỏ hơn những lần sau
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kỳ tính ổn định và ngược lại
- Trong thời gian động dục lợn nái có sự rụng trứng, từ đó liên quan đến sự thụ thai, chửa và đẻ
Thời gian của động dục được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ khi bắt đầu động dục đến lúc chịu đực (T1), đây là giai
đoạn các triệu chứng động dục bắt đầu xuất hiện, dưới tác động của các hormone sinh dục cái tế bào trứng phát triển và chuẩn bị chín và rụng Lợn nái ở giai đoạn này thường hoạt động mạnh, tìm kiếm con đực, bỏ ăn phá chuồng và kêu la Giai đoạn này kéo dài từ 1 -2 ngày
Giai đoạn 2: Từ khi chịu đực đến lúc hết chịu đực (T2)
Giai đoạn 3: Từ khi hết chịu đực đến khi hết biểu hiện động dục (T3)
Trang 21Từ đặc điểm động dục trên đây của lợn nái, chúng ta có thể xác định thời điểm phối tinh thích hợp cho chúng Biểu hiện của chu kỳ động dục: Khi động dục lợn nái biểu hiện không yên tĩnh: kêu la, phá chuồng, tìm đực, nhảy lên lưng con khác, âm hộ xung huyết đỏ tươi, thích gần con đực Nếu ta ấn tay lên lưng thì nó đứng yên, đuôi cong lên thích giao phối Nhưng cũng có lợn nái biểu hiện động dục không rõ nét Đối với những trường hợp này phải theo dõi để quyết định thời điểm phối thích hợp Hoặc dùng lợn đực thí tình hay sử
dụng con đực để phát hiện thời điểm phối thích hợp, tránh nhỡ thời điểm phối
giống, để nâng cao khả năng sinh sản Qua hình biểu diễn các hàm lượng hormone ở dưới đây cho chúng ta thấy sự thay đổi của các hormone khác nhau qua các ngày trong chu kì động dục của lợn nái Trong thời kì động dục, hàm lượng hormone của lợn nái thay đổi, oestrogen tăng mạnh từ ngày thứ 10
và cao nhất ở ngày 20 - 21 (29 - 30pg/ml trong huyết thanh), sau đó giảm dần xuống 7 - 8 ở ngày thứ 8 sau động dục Hàm lượng prostaglandin trong tĩnh mạch tử cung thay đổi và đột nhiên tăng cao ở ngày 15 (6ng/ml), trong khi bình thường tỷ lệ này 0,3-0,5 ng/ml Hormone progesterone tăng tiết từ ngày
1 đến 13 (32 ng/ml) trong huyết thanh và giảm dần và xuống tỷ lệ thấp nhất ở ngày thứ 20, chỉ còn 0,8-1ng/ml Hàm lượng prolactin huyết thanh thay đổi liên tục từ ngày 13 đến ngày thứ 5 sau chu kì động dục biến động lên đến 15 ng/ml và sau 1 ngày xuống lại 1,5-1,8ng/ml, cứ thay đổi lên xuống theo chu kì 2-3 ngày nhưng ở ngày đầu chu kì từ 2-13 có hàm lượng thấp 1,8ng/ml FSH
và LH thay đổi và khi động dục tỷ lệ FSH/LH = 1/3
Sau khi phối tinh được 15 phút, tinh trùng vận động đến tử cung lợn cái, sau 1 - 2 h tinh trùng sẽ vận chuyển đến vị trí thụ tinh thích hợp (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) Thời gian sống của tinh trùng trong đường sinh dục của con cái khoảng 12 - 20 h Số tinh trùng cần cho lần phối tinh để có tỷ lệ thụ thai cao là 3 tỷ Tế bào trứng, sau khi xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên khoảng 40 - 48 h thì tế bào trứng bắt đầu rụng (cuối giai đoạn T1, đầu T2) lúc lợn cái biểu hiện "mê ì" Thời gian rụng trứng của lợn nái kéo dài 8 -
Trang 2212 h Sau khi trứng rụng xuống loa kèn, chúng theo ống dẫn trứng di chuyển đến vị trí thụ tinh thích hợp mất khoảng 1 - 2 h tương ứng sau 24 - 36 h kể từ lúc xuất hiện hiện tượng chịu đực (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [30]
Số lượng tế bào trứng rụng trong 1 chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, tuổi, và chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc Qua một số nghiên cứu cho biết, lợn nái Móng Cái có 15 - 30 tế bào Số lượng tế bào trứng rụng phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng Vì vậy, người ta thường tăng cường nuôi dưỡng lợn nái trước khi phối giống để tăng số tế bào trứng rụng nhưng đến lúc gần động dục cho giảm tiêu chuẩn ăn, (Kiều Minh Lực, 1976) [19] Trong thực tế sản xuất để xác định thời điểm phối tinh thích hợp, thì khi lợn nái động dục phải tăng cường theo dõi để biết giờ xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên, vì vậy, cần theo dõi ngày 2 lần (sáng sớm và chiều tối) Thời gian kéo dài động dục của lợn là 3 - 5 ngày tùy theo giống, thời gian phối thích hợp là cuối ngày thứ 2, đầu ngày thứ 3 Thời gian này lợn nái biểu hiện động dục cao độ nhất:
"mê ì", âm hộ chuyển từ màu đỏ hồng (cà chua chín), sang màu thâm tái (màu mận chín), lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, thích nhảy lên lưng con khác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum của lợn thì thấy lợn đứng yên, cong đuôi và thích giao phối Đây là thời điểm phối tinh thích hợp nhất cho lợn nái
* Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát dục của lợn cái: Sinh sản là
một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình có
sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái và sinh ra đời con Quá trình sinh sản đối với con cái xẩy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện chu
kỳ tính và được điều khiển bởi một hệ thống thần kinh, thể dịch hết sức phức tạp Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng, quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình
Trang 23trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh, thể dịch
Trong quá trình sinh trưởng phát triển, lợn cái sẽ dần đi tới thành thục
về tính Tuy nhiên sự thành thục về tính của lợn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Giống: Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái
Giống có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau Theo Trần Thế Thông, lợn nái Móng Cái thành thục về tính lúc 4 tháng 12 ngày, trọng lượng đạt 12 kg Tuổi thành thục sinh dục ở lợn lai luôn muộn hơn so với lợn nái nội thuần chủng (Móng Cái, Ỉ, Mường Khương…) thường ở tháng thứ 4 đến tháng thứ 5 (120 - 150 ngày) (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [10] Trong cùng một giống nhưng khi phối đồng huyết thì thành thục về tính muộn hơn
Chọn lọc là phương pháp đơn giản và được sử dụng sớm nhất để nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi Chọn lọc cũng là động lực đầu tiên để đạt tới sự tiến bộ di truyền, chọn lọc có thể tăng số lượng gen tốt và giảm số lượng gen xấu thông qua quan sát kiểu hình
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của lợn nái
- Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần
đầu tiên Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc rất lớn vào giống Vì, giống là tiền
đề và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) [3] Các giống khác nhau biểu hiện thành tích sinh sản khác nhau vì kiểu gen của chúng khác nhau, mỗi giống gia súc đều có cả gen trội và gen lặn đối với chỉ tiêu mong muốn và không mong muốn Trong chọn lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ tiêu mong muốn cao nhất và hạn chế đến mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của tính trạng không mong muốn Lợn rừng có tuổi động dục lần đầu lớn hơn lợn nhà, lợn có khối lượng lớn động dục muộn hơn lợn có khối lượng nhỏ Ví dụ: lợn rừng Thái Lan nuôi tại Nam trung bộ, Bắc Giang, Ba Vì có tuổi động dục lần đầu là
Trang 24187,53 ngày (dao động từ 156-301 ngày), lợn rừng Việt Nam 228,5 ngày (dao động từ 204-320 ngày), (Tăng Xuân Lưu và cs, 2010) [18] Lợn Móng Cái 130-140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ 203-208 ngày, lợn Landrace từ 208-209 ngày (Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [30] Nhiều khi
ta thấy hiện tượng lợn cái không động dục Lợn cái không động dục có thể do nhiều yếu tố, là do phát hiện động dục không đúng, stress do thời tiết nóng, động dục thầm lặng, ốm đau, dinh dưỡng thiếu protein và năng lượng Ở lợn nội do khả năng tăng trọng thấp, mà chúng lại động dục lần đầu sớm, nên cơ thể chưa phát triển đầy đủ Vì vậy cần bỏ qua 1-2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống sẽ đạt hiệu quả cao hơn (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (1996) [10] Tuổi động dục lần đầu không chỉ phụ thuộc vào giống, mà còn phụ thuộc ít nhiều vào mùa vụ trong năm, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường, chế
độ dinh dưỡng (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1998) [1] Theo Anderson (1967) [35] mức ăn hạn chế về năng lượng đã làm chậm tuổi thành thục về tính dục
16 ngày Nhưng ở 5 thí nghiệm khác mức ăn hạn chế làm cho tuổi thành thục
về tính dục sớm hơn 11 ngày Vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau Trong thực tiễn sản xuất, người ta thấy cần nuôi dưỡng lợn nái sao cho không quá béo, không quá gầy
Sự có mặt của lợn đực đã đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có trứng rụng Brook và Cole (1976) [36] cho biết có thể sử dụng những con đực
đã thành thục về tính dục để thúc đẩy sự thành thục về tính sớm hơn đối với những lợn cái hậu bị Cole (1970) đã chứng minh hàng ngày nếu cho con đực vào chuồng lợn nái ở tuổi 165 - 190 ngày đã làm tăng nhanh hoạt động sinh dục của con cái (trích dẫn bởi Nguyễn Quang Linh và cs, 2008) [17]
Như vậy, hầu hết các nhân tố giống, chế độ dinh dưỡng, mùa vụ, sự có mặt của lợn đực, đều có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát dục của lợn nái, từ đó sẽ ảnh hưởng đến tuổi động dục lần đầu
Trang 25- Tuổi phối giống lần đầu
Là tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu, thông thường vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 Người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn động dục lần đầu tiên, do lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Đối với lợn nội, thường cho phối giống ở tháng tuổi 6-7, khi khối lượng đạt 40-50 kg, lợn lai (♂ngoại x ♀nội) vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không thấp hơn 65-70 kg, còn với lợn ngoại, trong những năm gần đây, người ta thường phối giống ngay từ lần động dục đầu tiên Lợn nái có số lứa đẻ thấp nhất là 1 lứa và cao nhất 11 lứa Tuổi phối giống đậu thai lần đầu được tính từ tuổi dẻ lứa thứ 1 trừ cho thời gian mang thai trung bình 115 ngày, năng suất sinh sản đạt cao nhất khi lợn nái được phối giống và mang thai lần đầu vào lúc 38 tuần tuổi và mức độ lớn hơn trung bình đàn là 5,76% Nếu lợn mang thai lần đầu ở độ tuổi trước 34 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 8,27% và nếu mang thai muộn sau 44 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 1,25% Đặc biệt nếu phối giống đậu thai lần đầu lúc 30 tuần tuổi thì mức độ thiệt hại trong suốt đời sống sản xuất của một lợn nái là 17,02%, (Kiều Minh Lực và Jirawit Rachatanam, (2005) [20]
Như vậy, chúng ta cần theo dõi chặt chẽ để tránh phối giống quá sớm hoặc
quá muộn gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản và tổn thất về kinh tế
- Tuổi đẻ lứa đầu
Là tuổi lợn m đẻ lứa đầu tiên Tuổi đẻ lứa đầu cũng phụ thuộc vào giống, tuổi cho phối giống và chế độ nuôi dưỡng, ví dụ: lợn rừng Thái Lan được cho phối giống lần đầu khi đạt 229,5 ngày (dao động trong khoảng 167-
382 ngày), lợn rừng Việt Nam 251,5 ngày (dao động từ 224 - 363 ngày), vì vậy, tuổi đẻ lứa đầu tương ứng là: 343,5 đối với lợn rừng Thái Lan và 365 ngày với lợn rừng Việt Nam, (Tăng Xuân Lưu và cs, 2010) [18] Lợn M o tuổi đẻ lứa đầu lúc 14 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [10]
Trang 26- Các chỉ tiêu về số lượng:
+ Số con sơ sinh còn sống đến 24h/ lứa đẻ: Là chỉ tiêu kinh tế rất quan
trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc, và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong 24 giờ sau khi sinh những con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng, thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, cả những con chưa nhanh nh n bị lợn m đè chết
+ Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa:
Là tỷ lệ giữa tổng số lợn con đẻ ra còn sống trong 24 giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong của tất cả các lứa đẻ trên tổng số lứa đẻ
Số con đẻ ra để lại nuôi: số lợn con đẻ ra còn sống để lại nuôi, đối với lợn ngoại khối lượng lớn hơn 0,8 kg, đối với lợn nội khối lượng lớn hơn 0,3 kg
+ Tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống của lợn con sau 24 giờ là tỷ lệ số lợn con còn
sống đến 24 giờ so với số con đẻ ra còn sống
+ Số con cai sữa/ lứa: Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng,
quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa khả năng nuôi con của lợn m và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con
Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:
- Loại thai non; Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra Nguyên nhân có thể do lợn m nhiễm bệnh hoặc do thiếu dinh dưỡng trong thời gian mang thai
- Loại thai gỗ: Là loại thai chết trong tử cung lợn m lúc 25 - 90 ngày tuổi Thai chết trong giai đoạn này thường không gây xảy thai mà dịch thai và tất cả các dịch trong tế bào tổ chức bào thai được cơ thể m hấp thụ qua niêm mạc tử cung, các tổ chức khác của thai rắn lại, thể tích co nhỏ thành cục màu nâu đen, cứng Nguyên nhân có thể các thai này không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai dị dạng, hoặc
Trang 27do nhiễm vi rút Pavovirus Lợn nái chửa nhiễm vi vút Pavovirus lúc 70 ngày
có chửa trở về trước thì mới gây ra thai gỗ
- Loại đẻ ra còn sống: Trong vòng 24 giờ sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,
dị dạng, thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, một số lợn con mới sinh chưa nhanh
+ Một số trứng không được thụ tinh
+ Một số thai chết khi đẻ
+ Một số lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa
Các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa đã thống kê khoảng 3 - 5% số lợn con chết khi sơ sinh, bao gồm: Lợn chết
do lợn m đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là bị lợn m
đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng kém 8%,
di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [26] Do đó, cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất
- Khoảng cách lứa đẻ:
Là chỉ tiêu tổng quát nhất để đánh giá năng suất chăn nuôi lợn nái Đây
là thời gian để lợn nái hoàn thành một chu kỳ sinh sản, bao gồm; Tổng thời gian chửa, thời gian nuôi, thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống
Trang 28có chửa Trong 3 yếu tố này thì thời gian mang thai là không thể thay đổi, còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối là có thể thay đổi để rút ngắn khoảng cách giữa 2 lứa đẻ Khoảng cách lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ của nái/năm
Một trong những giải pháp hiện tại đang áp dụng là cai sữa sớm cho lợn con Đây là một biện pháp tích cực nhằm tăng lứa đẻ/nái/năm Đồng thời tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng lợn m sau cai sữa con để lợn m chóng động dục trở lại và khi động dục có số lượng trứng rụng nhiều, thường xuyên theo dõi để phát hiện lợn động dục và phối giống kịp thời cho nái Nhiều công trình nghiên cứu đã dùng huyết thanh ngựa chửa làm giảm đáng kể thời gian
từ khi cai sữa đến động dục trở lại (Lê Hồng Mận, 2002) [22]
- Các chỉ tiêu về chất lượng:
+ Khối lượng sơ sinh:
Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ, đã được cắt rốn, lau khô và bấm số tai và trước khi cho bú ngày đầu tiên
Khối lượng sơ sinh toàn ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn Nếu những lợn sinh ra khỏe mạnh mà bị lợn
m đè chết thì đó thuộc về trách nhiệm của con người chứ không phụ thuộc vào năng suất của lợn nái
Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn m , đặc điểm giống, kỹ thuật quản lý chăm sóc và phòng bệnh cho lợn nái chửa Do đó thành tích này phụ thuộc cả vào phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người
Khối lượng sơ sinh phụ thuộc vào giống, khối lượng sơ sinh của lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường từ 0,4 - 0,6 kg/con, khối lượng sơ sinh của lợn ngoại trung bình 1,1 - 1,2 kg/con (Nguyễn Thiện, Nguyễn Quế Côi, 1986) [32] Lợn con có khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối lượng cai sữa sẽ cao
Trang 29- Khối lượng cai sữa toàn ổ:
Ngoài chỉ tiêu số con cai sữa trên lứa, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất của lợn nái
Khối lượng lợn con cai sữa phụ thuộc rất lớn vào khối lượng sơ sinh, là
cơ sở cho việc nâng cao khối lượng xuất chuồng sau này
Khối lượng bình quân của lợn con khi cai sữa (kg) tổng số khối lượng lợn con cai sữa (kg) so với tổng số lợn con cai sữa
Hiện nay, các cơ sở chăn nuôi thường áp dụng thời gian cai sữa khác nhau tùy thuộc vào khả năng chế biến thức ăn và trình độ kỹ thuật nuôi dưỡng, cho nên để đánh giá thành tích của lợn nái chúng ta thường xác định khối lượng lợn con lúc 56 hoặc 60 ngày tuổi, có như vậy chúng ta mới so sánh và đánh giá thành tích của lợn nái với nhau được Còn việc xác định khối lượng của lợn con lúc cai sữa ở thời điểm sớm hơn chỉ nhằm mục đích xác định mức dinh dưỡng cho lợn con một cách chính xác đảm bảo cung cấp đầy
đủ nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con ở giai đoạn sau cai sữa
Tóm lại, sức sinh sản của lợn là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng phẩm giống Khả năng sinh sản được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như: Đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống khi đẻ và đến cai sữa, tỷ lệ còi cọc, dị
Trang 30hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến sự thành thục sớm hay muộn, thời gian mang thai, số lần thụ thai “Sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng là một biểu hiện đặc trưng của tính di truyền ở mỗi phẩm giống của gia súc” Trần Đình Miên (1977) [23]
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Việc xác định và cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản góp phần phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới thành tích sinh sản của bản thân lợn nái nhưng được chia làm 2 loại chính là yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh
1.1.4.1 Yếu tố di truyền
Các giống khác nhau, thì có khả năng sinh sản không giống nhau Nhìn chung, các giống thuần, được chọn lọc, thường có khả năng sinh sản cao hơn các giống cải tiến và giống bản địa
1.1.4.2 Yếu tố ngoại cảnh
- Điều kiện tự nhiên
Ngân Sơn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn Chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của tiểu vùng khí hậu do cánh cung Ngân Sơn tạo thành, về nhiệt độ luôn thấp hơn so với nhiệt độ chung của tỉnh Bắc Kạn từ 2-3 độ C, biên độ nhiệt độ thay đổi trong ngày lớn, độ ẩm cao Điều này có ảnh hưởng đến mức độ tăng trọng lợn do tiêu tốn năng lượng cho ổn định nhiệt cơ thể
- Chế độ nuôi dưỡng
Trong chăn nuôi lợn nái, dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng không những để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái mà còn quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi Lợn nái ở các giai đoạn khác nhau như hậu bị,
có chửa, nuôi con, chờ phối đều cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt
Trang 31Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống (Books và Cooper, 1972, theo Ian Gordon, 1997 [43])
Do đó áp dụng chế độ dinh dưỡng "Flushing" trong pha sinh trưởng của buồng trứng của lợn nái nên đã làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%) và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 mg so với 4,5 mg/ml) (Cox
và cs, 1987, Flowers và cs, 1989, Rhoder và cs, 1991, Cassar và cs, 1994, theo Ian Gordon, 1997) [43]
Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ
lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ (Kirkwood và Thacker, 1988, theo Ian Gordon, 1997) [50]
Pettigrew và Tokach (1991) (theo Ian Gordon, 1997) [43] cho biết nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú
Lợn nái nuôi con nên cho ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Zak và cs, 1995, Reese và cs, 1984; Carrol và cs, 1993; Kirkwood và cs, 1987; theo Ian Gordon, 1997) [43] Theo Chung và cs (1998) [39], tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng trọng của lợn con Ian Gordon (2004) [44] cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất
ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con
Trang 32Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Robinson, 1990, theo Ian Gordon, 1997) [43] Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối
sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng tiết sữa của lợn m dẫn đến lợn nái sinh sản kém Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn m và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang và cs, 2000) [59]
- Mùa vụ
Khả năng sinh sản của lợn nái cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố mùa vụ hay cụ thể hơn là nhiệt độ và độ ẩm của môi trường Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm năng suất sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp: tỷ lệ chết ở lợn con cao, thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng, tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm và tỷ lệ thụ thai giảm Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5 - 20%
Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30 - 50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản (Pastison, 1980; theo Ian Gordon, 1997) [43] Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi và cs,
2000 [51]) Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục Claus và Weiler (1985), theo Ian Gordon, (1997) [43] cho biết từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác
Trang 33- Tuổi và lứa đẻ
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu và cs, 2000) [45] Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckerta và cs, 1998) [40] Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Warrick và cs, 1989; theo Ian Gordon, 1997) [43]
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4,
5 và sau đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên Anderson
và Melammy, 1972; theo Ian Gordon, 1997) [43] cho biết số con đẻ ra/ổ tăng
từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ tư, ở lứa đẻ thứ tám trở đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin, 1998) [37]
Thời gian cai sữa
Phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue và cs 1993, theo Ian Gordon, 1997) [43] nhận thấy thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số
sơ sinh/ổ, số con đẻ ra còn sống/ổ cao, thời gian động dục trở lại ngắn, khoảng cách từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài
Lợn nái cai sữa ở 28 - 35 ngày, thời gian động dục trở lại 4 - 5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998) [37]
Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15, 9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ
lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckerta và
cs, 1998) [40]
Trang 341.1.5 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn
1.1.5.1.Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt lợn
Sinh trưởng là quá trình tự nhiên của sinh vật, sự tăng lên về kích thước, khối lượng, thể tích của từng bộ phận hay của toàn cơ thể con vật trong giai đoạn còn non cho đến thành thục về thể vóc Thực chất của sự sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của vật nuôi cần định lượng chúng định kỳ bằng cân, đo, toàn cơ thể con vật Khoảng cách giữa các lần cân, đo, này phụ thuộc vào loài vật nuôi và mục đích theo dõi
* Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi thường đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lượng 21 ngày/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Tăng trọng từ sơ sinh đến cai sữa (g)
- Tăng trọng từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (g)
* Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn thịt thường dùng các chỉ tiêu:
- Tuổi bắt đầu nuôi (ngày)
- Khối lượng bắt đầu nuôi (kg)
- Tuổi kết thúc nuôi (ngày)
- Khối lượng kết thúc nuôi (kg)
- Tăng trọng/ngày nuôi (g)
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (kg)
* Đánh giá chất lượng thân thịt của lợn người ta sử dụng các chỉ tiêu về thân thịt và chất lượng thịt Đối với năng suất thân thịt, các chỉ tiêu quan trọng là: tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng
và diện tích cơ thăn (Reichart và cs, 2001) [53]
Trang 351.1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng
1.1.5.2.1 Ảnh hưởng của giống và các chỉ tiêu theo dõi
Các giống khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ
số di truyền Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05- 0,21, hệ số di truyền này thấp hơn so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo
Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: - 0,
51 đến - 0,56 (Nguyễn Văn Đức và cs, 2001) [12]; - 0,715 (Nguyễn Quế Côi
và cs, 1996) [5]
Hệ số di truyền về tiêu tốn thức ăn ở mức trung bình Tuy nhiên, tiêu tốn thức ăn có thể dễ dàng được cải thiện thông qua chọn lọc và nó thường là một chỉ tiêu quan trọng trong chương trình cải tiến giống lợn Tính trạng này được quan tâm chọn lọc và có xu hướng ngày càng giảm
Đối với các chỉ tiêu giết thịt như tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ
= 0,3 - 0,35) (Sellier, 1998) [54] Đối với độ dày mỡ lưng, hệ số di truyền dao động ở mức độ trung bình đến cao, từ 0,3 - 0,7, nên việc chọn lọc cải thiện tính trạng này có nhiều thuận lợi Mc Kay, (1990) [48] cho rằng việc chọn lọc nhằm tăng khả năng tăng khối lượng và giảm dày mỡ lưng không làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con sơ sinh trên ổ
Hovenier và cs (1992) [42] khi nghiên cứu theo dõi trên lợn Duroc và Yorkshire cho biết hệ số di truyền về tỷ lệ nạc là 0,63 Đối với các chỉ tiêu
Trang 36hệ số di truyền từ 0,1 - 0,3, (Sellier, 1998) [54] Bên cạnh hệ số di truyền còn
có một mối tương quan giữa các tính trạng Tương quan di truyền giữa một số cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như tăng trọng và thu nhận thức ăn (r = 0,65) (Cluttera và Brascamp, 1998) [38], tỷ lệ nạc với diện tích cơ thăn (r = 0,65) Bên cạnh đó là các tương quan nghịch và chặt như tỷ lệ nạc với độ dày
mỡ lưng (r = - 0,87), tỷ lệ mất nước với pH 24 giờ (r = - 0,71) và với khả năng giữ nước (r = - 0,94) (Sellier, 1998) [54] Ngoài ra, hàng loạt các thông báo của nhiều nhà khoa học đã xác nhận các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn ở các giống khác nhau là khác nhau Ch ng hạn như ở lợn Landrace có chiều dài thân thịt dài hơn so với ở lợn Large White là 1,5 cm; ngược lại, tỷ lệ móc hàm
ở Large White lại cao hơn so với Landrace (Hammell và cs, 1993) [41]
Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu tới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hết đàn lợn thương phẩm ở các nước là lợn lai Con lai có ưu thế lai cao hơn bố
m về tăng trọng 10% (Sellier, 1998) [54]
Bên cạnh giống và ưu thế lai, các tính trạng nuôi vỗ béo, thân thịt và chất lượng thịt cũng bị chi phối bởi một số gen như gen halothan, tính nhạy cảm stress với halothan chủ yếu làm giảm nhanh pH trong cơ sau khi giết thịt Điều này làm tăng thịt PSE ở các lợn mắc hội chứng stress
1.1.5.2.2 Ảnh hưởng của tuổi và khối lượng giết mổ
Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và khối lượng lúc giết thịt Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn do
sự tăng lên của các mô ở giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành Song không nên giết thịt ở tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích lũy mỡ lớn, dẫn đến tỷ lệ nạc sẽ thấp và hiệu quả kinh tế kém
Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơ thể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từ
Trang 37khi còn nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích lũy ngày càng tăng Tính từ khi sinh ra đến 7 tháng tuổi khối lượng lợn tăng khoảng 100 lần, trong đó mô xương chỉ tăng khoảng 30 lần, mô cơ tăng 81 lần còn mô mỡ tăng tới 675 lần (Perez, Desmoulin, 1975) [52]
1.1.5.2.3 Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại
Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất
và chất lượng thịt Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn Thông thường, lợn bị nuôi chật h p thì khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi
Nghiên cứu của Nielsen và cs (1995) [49] cho thấy lợn nuôi đàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng
Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn, đó là điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, khẩu phần ăn không đảm bảo, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm chủng, điều trị, thay đổi khẩu phần (Wood, 1986) [58]
1.1.5.2.4 Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm, do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn
Trang 38Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Thức ăn và giá trị dinh dưỡng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của con vật
Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn (Nguyễn Nghi và cs, 1995) [24] khi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do (Thomke và cs, 1995) [57]
1.1.5.2.5 Ảnh hưởng của năm và mùa vụ
Có nhiều tác giả nghiên cứu về năm và mùa vụ trong chăn nuôi cho biết chúng gây ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của lợn Pathiraja và cs, (1990) [58] cho biết sự khác nhau giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối lượng
và dày mỡ lưng là rõ rệt
Khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng tăng khối lượng của lợn Thomas (1984) [56] cho biết nếu nuôi lợn từ 20 kg đến 90 kg ở
ăn cũng tăng lên Nguyễn Văn Đức (2000) [11], Trần Thị Minh Hoàng và cs, (2003) [16] cũng cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố mùa vụ
và năm thí nghiệm
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi nông hộ, đặc biệt là chăn nuôi ở các vùng kinh tế khó khăn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và trình độ dân trí thấp chủ yếu là sử dụng các giống vật nuôi bản địa Các giống vật nuôi này có năng suất thấp nhưng lại có khả năng thích nghi cao với điều kiện kham khổ và có khả năng tận dụng tốt
Trang 39nguồn thức ăn bản địa, đặc biệt là các giống vật nuôi bản địa này có chất lượng thịt thơm ngon và được ưa chuộng Vì tính chất thịt thơm ngon nên các giống bản địa nhanh chóng được nhiều thực khách quan tâm và các nhà hàng đặc sản
sử dụng nguồn thực phẩm từ thịt các loại vật nuôi bản địa này ngày càng nhiều Mặt khác việc phát triển các giống vật nuôi này ít được quan tâm nên chúng nhanh chóng rơi vào nguy cơ tuyệt chủng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của một số giống lợn địa phương, như: Nghiên cứu của Lê Đình Cường (2008) [8], về lợn Mường Khương thì số con sơ sinh sống/ổ là 9 - 12 con, khối lượng sơ sinh/con là 0,35 - 0,50 kg, tuổi đẻ lứa đầu 10 - 12 tháng Khả năng sản xuất của lợn Ỉ Thanh Hoá có số con sơ sinh lứa 1 là 7,80 con, lứa 2: 8,8 con, lứa 9 cao nhất là 11,00 con và đến lứa 15 là 9,00 con; khối lượng sơ sinh 0,48 kg, 1 tháng tuổi đạt 2,30 kg, khối lượng 4 tháng tuổi là 42,70 kg; khối lượng giết mổ 46,10 kg, tỷ lệ móc hàm 34,10 kg, tỷ lệ móc hàm đạt 73,90 % (Đỗ Xuân Tăng và Nguyễn Như Cương, 1994) [29]
Nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của giống lợn Táp Ná của Nguyễn Văn Đức và cs, (2004) [13] cho thấy lợn Táp Ná có tuổi đẻ lứa đầu là 13,60 tháng, số con đẻ ra sống/lứa là 7,91 con, khối lượng sơ sinh/con là 0,63 kg, số co cai sữa/ổ là 6,83 con
Lợn Vân Pa được phát hiện lần đầu tiên năm 1996, tại một số xã đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pakô của huyện Hướng Hoá và Đakrông của tỉnh Quảng Trị Giai đoạn từ năm 1996 - 2004 được nuôi thích nghi tại trường Trung cấp Nông Nghiệp & PTNT Quảng Trị Lợn Vân Pa đạt khối lượng 4,5
kg ở 3 tháng tuổi và 12 tháng đạt 23,5 kg, tuổi động dục lần đầu 235 ngày Số con sơ sinh sống/lứa 8,5 con, khối lượng sơ sinh/con đạt 0,25kg (Trần Văn
Do, 2004) [9]
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều trang trại chăn nuôi giống lợn rừng Thái Lan Đã có một số công trình nghiên cứu khá hệ thống về
Trang 40đặc điểm sinh học và tập tính, (Nguyễn Hưng Quang, 2010 [28]; Tăng Xuân Lưu và cs, 2010 [18]) Một số tác giả nghiên cứu về khả năng sản xuất của chúng (Nguyễn Hưng Quang, 2010 [28]; Tăng Xuân Lưu và cs., 2010 [18] ) Theo Đỗ Kim Tuyên và cs (2007) [34] khi theo dõi lợn rừng ở công
ty Khánh Giang - Bình Phước cho biết lợn rừng Thái Lan 7 - 8 tháng tuổi có thể trọng 40 - 60 kg (với lợn cái có thể cho phối giống) Thời gian mang thai giống lợn nhà (khoảng 114 ngày) Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 2 -
4 giờ Quá trình đẻ diễn ra theo tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người Lợn rừng đẻ 2 - 2,5 lứa/năm, lứa đầu (con so) đẻ 3 - 5 con, lứa
rạ đẻ nhiều hơn (7 - 12 con) Lợn rừng sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khối lượng bình quân 0,5 - 0,9 kg/con Lợn 1 - 2 tháng tuổi: 5 - 10 kg, 3 - 4 tháng tuổi: 15
- 20 kg, 8 - 12 tháng: 60 - 70 kg, khi trưởng thành: trên 100 kg Theo Lê Đình Phùng và Hà Thị Nguyệt (2011) [27], lợn rừng Thái Lan có số con sơ sinh 5,87 con/lứa, số con còn sống đến cai sữa 4,43 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 0,37 kg/con, khối lượng cai sữa lúc 120 ngày tuối đạt 13,83 kg/con, khoảng cách lứa đẻ là 229,3 ngày Bên cạnh đó, đã có ít công trình nghiên cứu lai giữa lợn rừng Thái Lan và với lợn địa phương (Nguyễn Ngọc Phục và cs., 2010) [25]
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nhìn chung các nghiên cứu về lợn rừng rất ít Chỉ một số tài liệu của Thái Lan mà chúng tôi có được cho thấy, các nghiên cứu tập trung xác định một cách sơ bộ về đặc điểm di truyền, ngoại hình và khả năng sinh sản của chúng Sysa và cs, (1984) [55] khi nghiên cứu về khả năng sinh sản và sinh
trưởng của giống lợn rừng Thái Lan Sus scrofa jubatus so với giống lợn rừng hoang dã Sus scrofa ferus và lợn nhà tại Thái Lan Sus scrofa domestica cho kết luận lợn rừng Sus scrofa jubatus có khả năng sinh trưởng và sinh sản cao
hơn lợn rừng hoang dã, do đây là giống đã được thuần hóa và chọn lọc Chúng có khả năng sinh sản trung bình 2,1 lứa/năm với số con sơ sinh trung