Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế, hoạt động của ngân sách nhà nước có vị trí hết sức quan trọng, thểhiện qua việc huy động và phân bô
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu,kết quả trình bày trong luận văn này là do tôi thu thập và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả
Lê Mạnh Hiên
Trang 2Đặc biệt, tôi rất biết ơn Thầy GS.TS Phan Huy Đường - Giảng viên bộmôn Kinh tế Chính trị, khoa Kinh tế Chính trị của Trường Đại học Kinh tế, làngười đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luậnvăn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn nàykhông thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng gópcủa các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn đượchoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn./
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Diễn Châu, tháng 3 năm 2015
Tác giả
Lê Mạnh Hiên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 4
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 4
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện 12
1.2.1 Ngân sách nhà nước 12
1.2.2.Nội dung và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 26
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 35
2.1 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 35
2.2 Địa điểm nghiên cứu 39
2.2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Diễn Châu 39
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42
2 2.3 Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế 43
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN DIỄN CHÂU GIAI ĐOẠN 2010-2014 48
Trang 43 1 Bộ máy quản lý NSNN trên địa bàn huyện Diễn Châu 48
3.2 Cơ chế phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn huyện Diễn Châu 50
3.2.1 Phân cấp quản lý thu ngân sách địa phương 51
3.2.2 Phân cấp quản lý nhiệm vụ chi ngân sách địa phương: .53
3 2.3 Định mức phân bổ chi ngân sách: .56
3.3 Thực trạng chu trình quản lý ngân sách nhà nước 59
3.3.1 Công tác lập dự toán ngân sách nhà nước 59
3.3.2 Chấp hành ngân sách nhà nước 61
3.3.3.Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước 71
3.4 Đánh giá về thực trạng công tác quản lý ngân sách huyện Diễn Châu 72
3.4.1 Những kết quả đạt được 72
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế 77
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU 83
4.1 Định hướng chung .83
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách huyện Diễn Châu .85
4 2.1 Xây dựng, lập dự toán ngân sách phải chính xác, chi tiết, đảm bảo cân đối 85
4.2 2 Không ngừng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu. 86
4.2.3.Tạo dựng, khai thác, phát triển nguồn thu mới 87
4.2.4.Tổ chức quản lý thu một cách khoa học, chính xác, đơn giản dễ hiểu 88
4.2.5.Tăng cường hiệu quả chi ngân sách huyện, giám sát, giảm thiểu những khoản chi lãng phí, vô ích; chấp hành đúng dự toán 88
4.2.6.Phòng chống, khắc phục triệt để các sai phạm trong các đơn vị hành chính sự nghiệp của huyện 89
4 2.7 Nâng cao vai trò kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước 89
4.2.8.Hoàn thiện một số vấn đề chủ yếu trong cơ chế quản lý ngân sách xã 90
Trang 54 2.9 Nâng cao chất lượng cán bộ công chức, không ngừng đào tạo mới và đào
tạo lại nguồn nhân lực 91
4.3 Kiến nghị .91
4.3.1 Đối với Trung ương. 92
4 3.2 Đối với tỉnh Nghệ An 94
4 4.3 Đối với UBND huyện Diễn Châu 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CN - XD Công nghiệp – Xây dựng
DV - TM Dịch vụ - Thương mại
CTN - TTCN Công thương nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng số 01: Giá trị và cơ cấu GDP huyện Diễn Châu từ 2010 – 2014 46
Biểu A : Sơ đồ khái quát cơ cấu tổ chức của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Diễn Châu : .50
Bảng số 02: Kết quả thu ngân sách huyện Diễn Châu 2010-2014: 64
Bảng số 03: Cơ cấu thu NSNN từ năm 2010 - 2014 huyện Diễn Châu: 64
Bảng số 04: Kết quả thực hiện chi ngân sách huyện Diễn Châu từ năm .67
2010-2014 67
Bảng số 05: Đóng góp chi ngân sách vào GDP 2010 - 2014 73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập kinh tế với khu vực
và quốc tế, hoạt động của ngân sách nhà nước có vị trí hết sức quan trọng, thểhiện qua việc huy động và phân bổ nguồn lực hợp lý, đảm bảo cân đối thu,chi, lành mạnh tình hình tài chính; đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; thúcđẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững Đặc biệt là từ khi LuậtNgân sách nhà nước được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông qua ngày16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 với mục tiêu và ýnghĩa hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện công tác quản lý và điều hànhngân sách nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực tài chínhđất nước; quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia; xây dựng ngân sách nhànước lành mạnh, đảm bảo thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ mà nhà nướcđặt ra trong từng thời kỳ
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, cơ chế quản lý ngân sách nhànước cũng có nhiều thay đổi phù hợp hơn với bối cảnh mới của nước ta hiệnnay đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nềnkinh tế đang chủ động hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới Việc phân cấpquản lý ngân sách đã ngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho các chínhquyền địa phương chủ động hơn trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụcông tác của mình
Ngân sách huyện có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại
và hoạt động của chính quyền huyện và các cấp chính quyền cơ sở, đồng thời
là một công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạtđộng kinh tế - xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, đa số ngân sách cấp huyện hiệnnay vẫn chưa thể hiện được vai trò của mình đối với kinh tế địa phương Việcthực thi phân cấp ngân sách nhà nước trên thực tế còn nhiều vướng mắc và
Trang 9còn không ít hạn chế Mặc dù địa phương được trao quyền quản lý ngân sáchnhiều hơn, song hầu hết vẫn phụ thuộc nhiều vào các quyết định từ TW, hơnnữa văn bản hướng dẫn không kịp thời và thiếu đồng bộ đã gây khó khăn choviệc quản lý NSNN, dân đến việc thực hiện công tác quản lý ngân sách ở một
số địa phương còn chưa đảm bảo
Do vậy, để chính quyền huyện thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ,mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì cần có ngân sách cấp huyện đủ mạnh
và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực Vì thế, hơn bao giờ hết việc nghiên cứuhoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện là một nhiệm vụ cần đượcquan tâm đặc biệt
Nhận thức được vấn đề này, sau khi học tập, nghiên cứu tại trường Đạihọc Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội và thực tế công tác tại phòng Tài chính
- Kế hoạch, UBND huyện Diễn Châu, với mong muốn vận dụng kiến thức đãtiếp thu được ở nhà trường để phân tích thực trạng công tác quản lý ngân sáchcấp huyện ở Diễn Châu, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân
sách nhà nước trên địa bàn huyện, nên tôi chọn đề tài “" Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" ” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ của mình
2 Đối tượng nghiên cứu.
Các biện pháp chủ yếu cần thiết nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngânsách nhà nước trên địa bàn huyện
3 Phạm vi nghiên cứu.
- Nội dung: Quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Diễn Châu
- Không gian: Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Thời gian: từ năm 2010 đến năm 2014
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà
Trang 10nước trên địa bàn huyện;
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý ngân sách nhà nước trên địabàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địabàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Luận văn được nghiên cứu thành công sẽ góp phần làm rõ các vấn đề lýluận về quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện; đồng thời đưa ranhững giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địabàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Các kết quả nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện quản lý ngânsách nhà nước trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An có ý nghĩa ápdụng thực tiễn đối với các đơn vị trên địa bàn huyện Diễn Châu và các địaphương khác có điểm tương đồng trong cả nước
6 Bố cục của luận văn.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục chữ cái viết tắt, danh mục biểubảng, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan và một số vấn đề
lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Chương 2: Phương pháp thiết kế và nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước huyện Diễn Châu
giai đoạn 2010 - 2014
Chương 4: Gải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa
bàn huyện Diễn Châu
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP HUYỆN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Hoàn thiện quản lý ngân sách là một chủ đề được sự quan tâm của rấtnhiều nhà khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này, tiêu biểu
là các luận án, đề tài nghiên cứu khoa học sau đây:
+ Luận án Tiến sỹ: "Một số vấn đề về đổi mới hoạt động của ngân sách
nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường" (Nguyễn Thị
Hoài Thu - Năm 1991)
Trong luận án này, tác giả đã có sự nghiên cứu tương đối toàn diện vềđổi mới hoạt động của NSNN, phân tích được những vấn đề cụ thể đang đặt
ra và những giải pháp trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung, bao cấp truyền thống sang nền kinh tế thị trường; phạm vi đề cập trongluận án này tương đối rộng (bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động khác củaNSNN), nên các giải pháp đề ra về đổi mới hoạt động của NSNN được trìnhbày có tính khái quát chung, chưa có những đề xuất cụ thể đối với quản lý tàichính của các đơn vị sự nghiệp Mặt khác do công trình này nghiên cứu từnăm 1990, thời kỳ nền kinh tế bắt đầu thực hiện chuyển đổi, nhiều vấn đề lýluận của kinh tế thị trường chưa được luận giải và thực thi ở Việt Nam, bởivậy nhiều nghiên cứu, đề xuất đến nay đã không còn phù hợp
Tuy vậy, những nghiên cứu của luận án này đã gợi mở một số vấn đề cầnphải giải quyết nhằm đổi mới quản lý chi NSNN cho các đơn vị sự nghiệpcông, đây là những gợi ý quan trọng để nghiên cứu về hoàn thiện quản lýngân sách trên địa bàn cấp huyện
Trang 12+ Đề tài: "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có
thu" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - PTS Trần Thu Hà - Chủ nhiệm đề
tài - Năm 1997)
Đề tài này là một công trình khoa học nghiên cứu tương đối tổng quát về
cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp, đã giải quyết được cácvấn đề sau:
- Làm rõ được vai trò, vị trí của các đơn vị sự nghiệp đối với sự pháttriển của kinh tế - xã hội, sự tồn tại khách quan của các hoạt động sự nghiệp
- Tổng kết, đánh giá tương đối toàn diện về thực trạng hoạt động sựnghiệp và tình hình quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp trong thời
kỳ chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường (giai đoạn 1991-1995) Đã đánhgiá được những vướng mắc, hạn chế trong chính sách, như: Về quản lý phí, lệphí, cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp chưa thống nhất,chưa phù hợp với các loại hình hoạt động sự nghiệp
- Đã đưa ra được một số quan điểm, định hướng và kiến nghị chín giảipháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệpcó thu cho giai đoạn 1999-2005 Trên cơ sở các kiến nghị, đề xuất này, BộTài chính đã tiếp tục nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối vớicác đơn vị sự nghiệp có thu và tiếp sau là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP củaChính phủ ban hành cơ chế tự chủ tài chính đối với tất cả các đơn vị sựnghiệp công Tuy vậy đề tài này còn có những hạn chế, như:
- Chỉ mới tập trung đánh giá về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơnvị sự nghiệp có thu, nặng về tổng kết thực tiễn Chưa phân tích, làm rõ nhữngkhác biệt về bản chất của cơ chế quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp thời
kỳ hiện tại so với thời kỳ bao cấp, chưa khái quát được lý luận chung về chínhsách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công nói chung
Trang 13- Chưa luận giải rõ được sự tác động của các quy luật kinh tế thị trườngđối với khu vực sự nghiệp công.
- Các đề xuất chủ yếu mới giải quyết được vấn đề cơ chế quản lý; chínhsách quản lý chi NSNN vẫn còn mang nặng tư duy bao cấp, chưa làm rõ đượcchính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công; chính sách thuế, chínhsách khuyến khích phát triển sự nghiệp công, chính sách về quản lý vốn, tàisản công chưa phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay
+ Luận án Tiến sỹ: "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị
hành chính sự nghiệp"(Nguyễn Đăng Khoa - Năm 1999).
Luận án này là một công trình nghiên cứu tương đối sâu về cơ chế quản
lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN), đã giải quyếtđược các vấn đề, như:
- Làm rõ một số vấn đề về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị HCSNtrong cơ chế thị trường, như: bản chất, nội dung, vai trò của cơ chế quản lý tàichính và tác động của nó đối với hoạt động của các đơn vị HCSN
- Khái quát hoá về mặt lý luận, thực tiễn, những nhận xét về quá trìnhlập, chấp hành, quyết toán ngân sách nhà nước, quản lý tài sản công trong khuvực HCSN
- Đưa ra những yêu cầu, nguyên tắc quản lý tài chính đối với các đơn vịHCSN trong nền kinh tế thị trường và khi triển khai áp dụng Luật NSNN
- Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện cơ chếquản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN trong giai đoạn 2000-2005
Đây là những cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu, đổi mới chính sách tàichính đối với khu vực sự nghiệp công; tuy vậy luận án còn có những hạn chế,như:
- Hạn chế lớn nhất của tác giả là đã không phân định rõ sự khác biệttrong quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp so với quản lý tài chính của các
Trang 14cơ quan hành chính, bởi vậy những kiến nghị, đề xuất đều không đưa ra đượcnhững giải pháp phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý tài chính đối với cácđơn vị sự nghiệp công.
- Các quy luật của kinh tế thị trường tác động đến cơ chế quản lý, chínhsách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công cũng chưa được tác giả đề cập
và luận giải rõ, do vậy các đề xuất vẫn chỉ nhằm tập trung vào giải quyết việcnâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN, chưa thật sự thoát khỏi tư duy bao cấp
+ Đề tài: "Thực trạng và giải pháp tài chính nhằm thực hiện khoán chi
đối với cơ quan hành chính và cơ chế tự trang trải ở đơn vị sự nghiệp có thu"
(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - TS Bạch Thị Minh Huyền - Chủ nhiệmđề tài - Năm 2001)
Trong đề tài này tác giả đã tập trung nghiên cứu làm rõ về cơ chế, bản chấtcủa việc thực hiện khoán chi hành chính đối với các cơ quan hành chính và cơchế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp Luận giải kỹ về lý thuyết quản
lý theo kết quả đầu ra; tổng kết, đánh giá được kinh nghiệm của Thuỵ Điển,Canađa, Cộng hoà Pháp, Hàn Quốc, Côlômbia và rút ra những bài học trongviệc vận dụng vào việc thực hiện quản lý kinh phí trọn gói (khoán chi)
Tuy vậy, những nhiên cứu trong đề tài này chỉ mới dừng lại ở việc tổngkết tình hình thực tiễn trong quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính
và đơn vị sự nghiệp nhằm mục tiêu giải quyết những vấn đề vướng mắc trongthực tế quản lý; tính khái quát, lý luận chưa toàn diện Các giải pháp thực hiện
cơ chế tự trang trải ở đơn vị sự nghiệp có thu chỉ mới được phác thảo nhữngnét chung nhất, chưa có biện pháp cụ thể, đặc biệt chưa đi sâu phân tích làm
rõ những đặc thù khác biệt giữa các lĩnh vực sự nghiệp, những khó khăn trongthực tiễn của các vùng, miền có điều kiện KT-XH khác nhau Mặt khác, donhững nghiên cứu này thực hiện từ năm 2000, nên đến thời điểm hiện nay đãcó nhiều nội dung không còn phù hợp
Trang 15+ Đề tài: "Cơ chế, chính sách tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội"
(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - PGS.TS Dương Đăng Chinh, TSNguyễn Đình Ánh - Đồng chủ nhiệm đề tài - Năm 2003)
Đề tài này đã tập trung nghiên cứu, đánh giá tương đối toàn diện hệthống chính sách về an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2001,tổng kết các mô hình an sinh xã hội của một số nước; đã đưa ra được mô hìnhcủa hệ thống an sinh xã hội và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về hệ thống
cơ chế, chính sách tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu trong đề tài này đã được luận văn nghiên cứu,chọn lọc một số vấn đề phù hợp để làm rõ sự cần thiết nhà nước phải cónhững chính sách hỗ trợ cho người dân trong việc đảm bảo quyền được thụhưởng các phúc lợi xã hội về giáo dục, y tế, văn hoá do các đơn vị sựnghiệp công đáp ứng; từ đó có những đề xuất về các nhóm giải pháp nhằm hỗtrợ nhân dân trong việc thụ hưởng các dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp
+ Đề tài: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự
nghiệp" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - TS Phạm Đức Phong - Chủ
nhiệm đề tài - Năm 2003)
Đây là một đề tài tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề quản lý tàisản công tại các đơn vị sự nghiệp Đề tài đã nghiên cứu, tổng kết và đánh giákhái quát về thực trạng quản lý tài sản công tại khu vực này; trong đó đã làm
rõ phạm vi, phân cấp và cơ chế quản lý
Đề tài đã đưa ra được quan điểm giá trị tài sản công trong đơn vị sựnghiệp có thu là tư liệu sản xuất; tuy vậy vẫn cho rằng giá trị tài sản công tạiđơn vị sự nghệp không có thu lại là yếu tố tiêu dùng, như vậy vẫn chưa đánhgiá đúng bản chất kinh tế của đơn vị sự nghiệp
+ Luận án Tiến sỹ:" Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước
trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị
Trang 16trường có sự quản lý của Nhà nước" (NCS Nguyễn Trường Giang - Năm
- Đánh giá được những đặc điểm, điều kiện đặc thù của hoạt động y tế(bao gồm cả y tế dự phòng và khám chữa bệnh) trong nền kinh tế thị trường,qua đó làm rõ được vấn đề bản chất vì sao nhà nước cần phải có chính sách đểquản lý và can thiệp, không thả nổi cho thị trường
- Đã đi sâu nghiên cứu về Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) - định chế tàichính trung gian - một công cụ rất quan trọng để nhà nước can thiệp vào lĩnhvực tài chính y tế, nhằm phát huy hết các nguồn lực phát triển sự nghiệp y tế,đảm bảo ngày các tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng công tác phòng, khám
và chữa bệnh phục vụ người dân Tuy vậy luận án còn có một số hạn chế,như:
- Luận án đã có đề cập đến vấn đề giá viện phí cần tính đúng, tính đủ cácloại chi phí, tuy vậy tác giả vẫn tiếp cận nghiên cứu viện phí theo quan điểmcủa chính sách phí, lệ phí - là nguồn thu của NSNN, chưa làm rõ được bảnchất giá dịch vụ của các hoạt động y tế
- Chỉ mới tập trung đánh giá sâu về cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạtđộng y tế Chưa có đánh giá toàn diện về vấn đề quản lý tài chính y tế, chưa
đi sâu đánh giá về những vướng mắc trong chính sách tài chính y tế, đặc biệt
là đối với y tế tuyến huyện, xã, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Trang 17- Một số giải pháp về chính sách bảo hiểm y tế do nghiên cứu từ nhữngnăm 2001-2002, đến nay đã không còn phù hợp với tình hình thực tế.
+ Luận án Tiến sỹ: "Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội
hoá giáo dục ở Việt Nam" (NCS Bùi Tiến Hanh - Năm 2006).
Tác giả đã tập trung nghiên cứu và luận giải rõ về cơ chế tài chính đểthực hiện xã hội hoá giáo dục về các nội dung: Cơ chế quản lý chi NSNN chogiáo dục, cơ chế quản lý tài chính công đối với giáo dục công lập, cơ chếkhuyến khích và quản lý tài chính đối với giáo dục ngoài công lập, cơ chế thu
và sử dụng học phí Tổng kết đánh giá tương đối tổng quan về thực trạng cơchế quản lý tài chính cho các hoạt động giáo dục trong giai đoạn 1999-2006;trong đó đã nghiên cứu tương đối sâu về chính sách học phí, cơ chế khuyếnkhích các đơn vị giáo dục ngoài công lập (như: ưu đãi về đất đai, thuế, tíndụng )
Tuy vậy, luận án chưa đề cập sâu về vấn đề chính sách tài chính đối vớilĩnh vực sự nghiệp giáo dục - đào tạo, phương pháp tiếp cận về chính sáchhọc phí cũng giống như nhiều đề tài, luận án khác, vẫn ảnh hưởng bởi quanđiểm chính sách phí, lệ phí - coi học phí là nguồn thu của NSNN, như vậyluận án chưa làm rõ được bản chất giá dịch vụ của các hoạt động giáo dục,đào tạo
+ Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu, xây dựng Đề án: "
Đổi mới cơ chế tài chính của Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2008-2012"
Trong đề án này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng kết, đánh giá rất kháiquát, toàn diện về cơ chế quản lý hoạt động giáo dục - đào tạo và các kết quả màtoàn ngành đã đạt được trong giai đoạn 2000-2007; phân tích tỷ mỷ theo các cấphọc, ngành học, đánh giá chi tiết theo điều kiện KT-XH cụ thể của các vùng,miền Đây là nguồn tư liệu phong phú, có hệ thống được tác giả sử dụng nhằmđánh giá sâu về thực trạng hoạt động giáo dục - đào tạo để có các đề xuất, kiến
Trang 18nghị cụ thể về đổi mới chính sách tài chính trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
+ Năm 2008, Bộ Y tế đã nghiên cứu, xây dựng Đề án: "Đổi mới cơ chế
hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp Y tế công lập".
Trong đề án này, Bộ Y tế đã tổng kết, đánh giá khái quát về cơ chế hoạtđộng và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập; đã thống kê,phân tích tổng thể về hệ thống Y tế công lập, ngoài công lập; tình hình tàichính giai đoạn 2002-2007
Nhìn chung các luận án, đề tài nói trên đã tiếp cận và đi vào nghiên cứusâu về từng vấn đề như: Cơ chế quản lý tài chính, quản lý chi NSNN (dự toán,kiểm soát chi, quản lý định mức chi tiêu), quản lý tài sản công hoặc nghiêncứu theo từng đối tượng cụ thể như: Lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế Cácluận án, đề tài đã đưa ra những kết luận, kiến nghị chủ yếu tập trung vào giảiquyết những vấn đề bức xúc, những nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn trước năm
2010 Điều có thể nhận thấy rõ nhất là hầu như các luận án, đề tài chỉ tậptrung vào vấn đề lĩnh vực quản lý chi tiêu công, hay nói cụ thể hơn là chỉ mớinghiên cứu việc quản lý chi NSNN cho các hoạt động của các đơn vị sựnghiệp công lập Chưa có một luận án, đề tài nào đề cập đến nghiên cứu vềtổng quan chung về quản lý và hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trênđịa bàn huyện Phần lớn các tác giả đều xuất phát từ mục tiêu tăng cường,nâng cao hiệu quản lý chi tiêu của NSNN cho các hoạt động sự nghiệp, nêncách tiếp cận vấn đề nghiên cứu chưa thật sự thoát ra khỏi tư duy bao cấp, chỉmới nghiên cứu để tháo gỡ những vấn đề bất cập trong thực tế mà thôi; chưacó tác giả nào trực tiếp nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước trên địa bànhuyện - đây chính là khởi điểm quan trọng cho việc xây dựng các giải pháphoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện
Trang 191.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện.
1.2.1 Ngân sách nhà nước.
Nhìn từ góc độ khái niệm, ngân sách nhà nước cho đến nay có rất nhiềuquan niệm của các nhà nghiên cứu đưa ra, song vẫn chưa có khái niệm thốngnhất Tuy nhiên, khi bàn đến khái niệm ngân sách nhà nước thì có 2 quanniệm phổ biến về ngân sách nhà nước Quan niệm thứ nhất cho rằng, ngânsách nhà nước là bảng kế hoạch thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong mộtkhoảng thời gian nhất định Quan niệm thứ hai cho rằng ngân sách nhà nước
là tổng số tiền thu và chi của Nhà nước
Hai quan niệm phổ biến trên chỉ phản ánh được hình thái hoạt động bềngoài của ngân sách và mặt vật chất của ngân sách, nhưng nếu nhìn về bảnchất bên trong thì chưa thể hiện được nguồn gốc kinh tế - xã hội của ngânsách
Trong thực tế, thuật ngữ thu - chi ngân sách đã được khái quát hóa, trongđó thu được hiểu là tất cả các nguồn tiền được huy động cho Nhà nước, cònchi bao gồm các khoản chi và các khoản trả khác của Nhà nước, đồng thờihoạt động thu - chi ngân sách được tiến hành rất đa dạng và phong phú trênhầu hết các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội Như vậy, cóthể nói đằng sau hoạt động thu, chi của ngân sách đơn thuần là sự thể hiện cácquan hệ kinh tế, xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể
Như vậy, từ những nội dung trên, ta có thể rút ra khái niệm chung vềngân sách như sau: Xét trên phương diện nội dung bên trong, có thể coi ngânsách nhà nước là sự biểu hiện các quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình tạolập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, về cơ bản theonguyên tắc không hoàn trả trực tiếp
Trang 20Tuy nhiên, theo Điều 1, Luật Ngân sách Nhà nước ban hành năm 2002định nghĩa “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nướcđã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trongmột năm để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
1.2.1.1 Bản chất của ngân sách cấp huyện.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, NSNN của nước tatổ chức thành hai cấp: Ngân sách TW và ngân sách tỉnh, thành phố Việc phâncấp là phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc huy động tối
đa nguồn lực tài chính Ở thời kỳ này, ngân sách huyện chỉ đóng vai trò làmột cấp dự toán
Ngày 15/05/1978, với chủ trương xây dựng huyện thành một cấp có cơcấu hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công, nông nghiệp phát triểntoàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết 108/NQ-CP xác định quyềnhạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp huyện về quản lý tàichính, ngân sách Nghị quyết có quy định khoản thu, chi ngân sách huyện.Tiếp đó đến ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 138/NQ-HĐBT về việc cải tiến ngân sách địa phương, nói rõ hơn về quyền hạn vàtrách nhiệm của ngân sách huyện
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), nền kinh tếnước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,định hướng XHCN Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sáchhuyện cũng được xác định lại vai trò, nhiệm vụ của mình Cụ thể là ngày27/11/1989, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị quyết số 186/NQ-HĐBT về phâncấp quản lý ngân sách địa phương, trong đó có ngân sách huyện Ngày16/02/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết số 186/NQ-HĐBT sửađổi, bổ sung cho Nghị quyết 186/NQ-HĐBT ngày 27/11/1989
Trang 21Kỳ họp Quốc hội khóa IX đã khẳng định: “Huyện là một cấp chínhquyền có ngân sách, ngân sách huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địaphương thuộc hệ thống NSNN".
Như vậy, ngân sách nhà nước cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiệnvai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện
Tìm hiểu qúa trình hình thành ngân sách huyện, ta có thể thấy ngân sáchhuyện từ một cấp dự toán đã trở thành một cấp ngân sách có nguồn thu vànhiệm vụ chi riêng Đó là một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triểnnền tài chính quốc gia Trước tiên, nó giúp ngân sách cấp tỉnh, TW giảm đượckhối lượng công việc, bên cạnh đó nó cũng giúp các cấp chính quyền có thểnắm bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở
Ngân sách huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữangân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trìnhphân bổ sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện Mối quan hệ đó được điềuchỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước XHCN Đó là Nhànước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ViệtNam Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của công nhân và nhân dân lao động-
bộ phận chiếm tuyệt đối đại đa số trong xã hội Do vậy, lợi ích của Nhà nướcXHCN Việt Nam không có gì hơn ngoài mong muốn được phục vụ Tổ quốc,phục vụ nhân dân
Có thể nói, việc ngân sách huyện trở thành một cấp ngân sách đã làmcho bộ mặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc giatrở nên lành mạnh hơn Thực tế đã chứng minh trong những năm qua, xét ởcấp độ huyện, tình hình kinh tế- kinh tế tài chính có những bước tiến đáng kể.Ngoài ra, ngân sách huyện còn thể hiện bản chất chính trị của Nhà nước tathông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên bên cạnh những điểm đã phát
Trang 22huy được, vẫn còn có những hạn chế nhất định cần khắc phục kịp thời, đòi hỏisự quan tâm, tâm huyết của các cá nhân, ban, ngành phối hợp cùng giải quyết.
1.2.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nước cấp huyện.
Qua phân tích về bản chất của ngân sách nhà nước và tính tất yếu kháchquan của ngân sách nhà nước, có thể thấy ngân sách nhà nước cấp huyện xétvề chức năng bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây: Ngân sách nhà nước làcông cụ thực hiện việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội;đằng sau hoạt động thu, chi ngân sách bằng tiền là sự thể hiện quá trình phânbổ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
Ngân sách nhà nước cấp huyện là bộ phận của tài chính nhà nước nên nócó chức năng phân phối, giám đốc Trong nền kinh tế thị trường, việc phân bổnguồn lực xã hội được thực hiện chủ yếu theo hai kênh: Kênh của các lựclượng thị trường và kênh của Nhà nước thông qua hoạt động thu, chi tài chínhnhà nước nói chung và ngân sách nói riêng, từ đó nó còn có chức năng điềuchỉnh quá trình kinh tế - xã hội thông qua các công cụ của nó
1.2.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện.
Ngân sách huyện có vai trò đảm bảo chức năng quốc phòng - an ninh;thúc đẩy phát triển, ổn định kinh tế xã hội; điều chỉnh, bù đắp những khiếmkhuyết của thị trường, giữ vững ổn định, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường
Một là, ngân sách huyện bảo đảm thực hiện chức năng nhà nước, bảo vệ
an ninh trật tự cấp huyện.
Cấp chính quyền huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thống các cơquan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước Điềuđó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động, cần phải cómột quỹ tài chính tập trung cho nó - Đó chính là ngân sách huyện Mặc dùkhông lớn mạnh như ngân sách TW, nhưng ngân sách huyện cũng tạo cho
Trang 23mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhànước ở địa phương Tùy theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế - xã hội trêntừng huyện mà nhu cầu được đảm bảo là khác nhau.
Hiện nay, nước ta có hàng triệu công chức đang làm việc trong bộ máyNhà nước Điều đó có nghĩa là để duy trì hoạt động của bộ máy này phải tốnmột khoản ngân sách khổng lồ Mặc dù vậy, trong khi Nhà nước đang chắtchiu trong chi tiêu và sử dụng và NSNN thì ở một số đơn vị việc sử dụngngân sách vẫn lãng phí và còn tồn tại sai phạm, bất cập Do vậy, đòi hỏi ngânsách huyện với tư cách là ngân sách của các đơn vị cơ sở, cần phải quản lýchặt chẽ, cấp phát đúng chính sách, đối tượng, đúng chế độ và hạn mức, giúpcho bộ máy Nhà nước hoạt động tốt mà vẫn tiết kiệm, hiệu quả
Trong các chức năng của Nhà Nước, chức năng đảm bảo quốc phòng
-an ninh đóng vai trò đặc biệt qu-an trọng Đây là công cụ quyền lực của Nhànước nhằm bảo vệ ý chí của Nhà nước, tạo điều kiện an toàn để huyện pháttriển mọi mặt Do vậy, để có thể đảm bảo được chức năng này, ngân sáchhuyện cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản dự phòng hợp lý
Hai là, ngân sách huyện là công cụ thúc đẩy phát triển ổn định kinh tế.
Để thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - tài chính của cấp trên thìhuyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng.Một trong những công cụ đắc lực là ngân sách Các huyện phải căn cứ vào thếmạnh của địa phương mình để định hướng phát triển, hình thành cơ cấu kinh
tế, kích thích phát triển Đồng thời phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợvề cơ sở hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.Huyện phải xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng Đó là cácdoanh nghiệp nhà nước do cấp huyện quản lý Loại hình doanh nghiệp nàyđóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của huyện và cũng giúp huyện chủđộng trong việc xây dựng và phát triển kinh tế
Trang 24Ba là, ngân sách huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội và các vấn đề môi trường.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với ngân sách mỗi quốc gia Nó có tácdụng xoa dịu nền kinh tế thị trường Như chúng ta đã biết, bản chất của kinh
tế thị trường là chạy theo lợi nhuận Do vậy mà để lại một loạt các hậu quảnhư: Thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, các vấn đề xã hội, đời sống của nhândân không được quan tâm, môi trường bị ô nhiễm… Những điều đó tiềm ẩnbất ổn trong phát triển kinh tế - xã hội, phải có biện pháp quản lý, giải quyếtcụ thể
Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, huyệnphải thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúngnhân dân; xây dựng và cải tạo các khu vui chơi, giải trí lành mạnh, tiến bộphục vụ cho nhân dân; các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảmđược chi phí cho người dân, giúp cho đời sống của nhân dân ngày càng đượcđảm bảo và nâng cao
1.2.1.4 Nội dung ngân sách nhà nước cấp huyện.
Nội dung của ngân sách huyện bao gồm có hai nội dung cơ bản đó là:Thu ngân sách và chi ngân sách
a Nội dung thu ngân sách huyện: Là quá trình tạo lập, hình thành ngân
sách huyện Thu ngân sách đóng vai trò quan trọng quyết định đến chi ngânsách Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách cần phải có chính sách thu hợp lý,hiệu quả
Chính sách thu ngân sách là tập hợp các biện pháp, chủ trương nhằm huyđộng nguồn thu vào cho NSNN
a.1.Vị trí của chính sách thu ngân sách.
Thứ nhất, chính sách thu ngân sách là một bộ phận trong quản lý kinh tếnói chung và tài chính nói riêng Việc tăng hay giảm ở một lĩnh vực nào đó
Trang 25được thực hiện theo chiến lược phát triển kinh tế, tài chính vĩ mô Một khichính sách thu ngân sách thay đổi thì lập tức cơ cấu kinh tế dù ít hay nhiềucũng có sự chuyển dịch do đối tượng thu của ngân sách rất đa dạng và đặt biệtnhạy cảm với các chính sách thu (thuế, phí, lệ phí…).
Thứ hai, các chính sách thu của ngân sách có tác động đến các chínhsách quản lý kinh tế, tài chính khác Dường như vị trí này trùng lặp với vị trítrên nhưng nó hoàn toàn khác Các chính sách kinh tế, tài chính khác ở đâythuộc các lĩnh vực ngoài ngân sách (kinh tế, tài chính của các tổ chức, doanhnghiệp nên NSNN có thể can thiệp sâu vào doanh nghiệp)
a.2.Các quan điểm cần quán triệt khi xây dựng và thực hiện các chính sách thu ngân sách.
Một là, các chính sách thu phải góp phần vào khuyến khích và phát triển
sản xuất kinh doanh, mở rộng lưu thông hàng hóa và thúc đẩy cạnh tranh lànhmạnh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Việc đánh thuế cónhững tác động rất nhạy cảm đến các đối tượng trong nền kinh tế Việc thuthuế là có giới hạn, nghĩa là thu từ thuế chỉ đạt được hết hiệu quả tối đa tạimột điểm thuế suất nào đó Khi Chính phủ cứ tăng thuế để tăng nguồn thu thì
sẽ có những tác động tiêu cực, làm trì trệ tình hình sản xuất; bên cạnh đó cònxuất hiện hiện tượng trốn thuế, phát sinh tiêu cực,
Hai là, chính sách phải đảm bảo tập trung quản lý vốn hợp lý nguồn thu
cho ngân sách, đồng thời bảo đảm mức sống hợp lý cho các đối tượng dân cưdưới tác động của chính sách thu
Theo quy định của Nhà nước, tất cả các khoản thu đều được tập trung vàoKho bạc Nhà nước cùng với sự phối hợp của cơ quan tài chính, thuế và hải quan
Ba là, chính sách thu phải đảm bảo công bằng xã hội, công bằng cho các
tầng lớp dân cư Ở đây bao gồm cả công bằng theo chiều dọc và công bằngtheo chiều ngang
Trang 26Công bằng theo chiều dọc nghĩa là đối tượng nào có khả năng nộp thuếnhiều hơn sẽ phải nộp nhiều hơn Còn công bằng theo chiều ngang nghĩa làcác đối tượng có khả năng nộp thuế như nhau sẽ phải nộp thuế như nhau
Bốn là, chính sách thu phải đảm bảo tính quần chúng Do trình độ của
các đối tượng nộp thuế là khác nhau, nhưng việc đưa các chính sách thuế vào
áp dụng phải có được tính quần chúng, có nghĩa là các chính sách thu phảithật đơn giản, dễ hiểu, dễ dàng thực hiện
a.3 Nguồn thu ngân sách:
Nguồn thu ngân sách cấp huyện bao gồm những khoản thu của ngânsách địa phương được HĐND tỉnh quy định trên cơ sở Luật NSNN
Một là, các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, bao gồm:
- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước, không kể tiền thu mặt nước từ hoạtđộng dầu, khí;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước,không kể thuế tiêu thụ đặc biệt từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Tiền đền bù thiệt hại đất;
- Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước;
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thu nhập từ vốn góp của ngân sách địa phương, tiền thu hồi vốn củangân sách địa phương tại cơ sở kinh tế, thu thanh lý tài sản và các khoản thunhập khác của doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý, phần nộp ngânsách theo quy định của pháp luật, thu từ quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnhtheo quy định tại Điều 58 của Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003của Chính phủ;
- Các khoản phí, lệ phí, phần nộp ngân sách theo quy định của phápluật do các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng,dầu và lệ phí trước bạ;
Trang 27- Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
- Thu sự nghiệp, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật củacác đơn vị do địa phương quản lý;
- Huy động từ các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trìnhkết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật;
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng cáccông trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật;
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước;
- Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theoquy định tại Khoản 3, Điều 8 của Luật NSNN;
- Thu từ các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật;
- Thu kết dư ngân sách địa phương;
- Các khoản thu khác của ngân sách địa phương theo quy định của phápluật;
- Thu từ bổ sung ngân sách cấp trên;
- Thu chuyển nguồn ngân sách địa phương năm trước sang năm sau;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, các nhân ở nước ngoài trựctiếp cho địa phương theo quy định của pháp luật;
Hai là, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ (%) giữa ngân sách trung
ương và ngân sách địa phương:
- Thuế nhà, đất;
- Thuế môn bài;
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
- Tiền sử dụng đất;
- Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhậpkhẩu và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
Trang 28- Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệpcủa các đơn vị hạch toán ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt độngxổ số kiến thiết;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
Các khoản thu có thể điều chỉnh tỷ lệ điều tiết được hưởng tùy vào tìnhhình thực tế của địa phương và do HHĐND cấp tỉnh quyết định
b.Nội dung chi của ngân sách huyện.
Nếu như thu ngân sách là quá trình tạo lập hình thành ngân sách thì chingân sách lại là quá trình sử dụng ngân sách Nó không hoàn toàn ngược lạivới quá trình thu nhưng lại chịu sự điều khiển của quá trình thu; tức là khôngthể chi nhiều trong khi thu ít và ngược lại
Chi ngân sách là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội củaNhà nước
b.1.Đặc điểm chi ngân sách huyện.
Với tư cách là một quá trình sử dụng quỹ NSNN, chi ngân sách có cácđặc điểm sau:
Một là, chi tiêu ngân sách luôn gắn liền với nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
xã hội mà nhà nước đảm nhiệm trong mỗi thời kỳ Đặc điểm này có thể nhìn
ra từ vai trò của ngân sách và bản chất ngân sách nhà nước Ngân sách nhànước mang bản chất chính trị, duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước, ổnđịnh phát triển kinh tế, đảm bảo xã hội ổn định, phát triển
Hai là, tác dụng của các khoản chi ngân sách bao giờ cũng được xem xét
ở tầm vĩ mô, bởi vì thông thường những khoản chi ngân sách sẽ phát huy tácdụng trong phạm vi nhất định Việc chi tiêu ngân sách huyện phải phát huyđược tác dụng trong phạm vi của huyện
Trang 29Ba là, tính hiệu quả của các khoản chi được thể hiện toàn diện trên các
mặt kinh tế, chính trị, xã hội Đặc điểm này biểu hiện mối quan hệ giữa tàichính với kinh tế, chính trị, xã hội
b.2 Một số yêu cầu cần đạt được trong quá trình chi ngân sách.
Thứ nhất, khi xem xét, đánh giá tính hiệu quả của chi ngân sách, chúng
ta phải xây dựng một loạt các chỉ tiêu, chỉ số bao gồm cả định tính và địnhlượng Điều đó sẽ giúp cho các nhà phân tích có thể đưa ra các nhận định,đánh giá đúng đắn hơn, chính xác hơn tính hiệu quả của chi ngân sách
Thứ hai, trong khi thực hiện chi ngân sách vừa phải đảm bảo đúng dự
toán vừa đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả
b.3 Nhiệm vụ chi của ngân sách huyện.
- Một là, chi đầu tư phát triển về:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khôngcó khả năng thu hồi do địa phương quản lý;
+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổchức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các Chương trình quốc gia do địaphương thực hiện;
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
- Hai là, chi thường xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề bao gồm: Giáo dục,bổ túc văn hoá, giáo dục phổ thông, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú
và các hoạt động giáo dục khác Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác;
+ Chi sự nghiệp y tế, chi cho công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh chonhân dân và các hoạt động y tế khác;
+ Sự nghiệp xã hội, văn hoá, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể
Trang 30thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do địa phươngquản lý;
+ Chi đảm bảo xã hội cho các đói tượng đươc hưởng trợ cấp xã hộitheo các chế đọ được nhà nước quy định, các trại xã hội, cứu tế xã hội, cứuđói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động khác;
+ Sự nghiệp văn hóa thể thao, phát thanh truền hình, bao gồm các hoạtđộng về lĩnh vực văn hóa, các chế độ cho các hoạt động thể thao và cácchương trình truyền thanh, truyền hình và các hoạt động thông tin khác phụcvụ tại địa bàn cấp huyện;
+ Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý như: Sựnghiệp giao thông: Duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường, các công trìnhgiao thông khác, lập biểu báo cáo và các biện pháp đảm bảo an toàn giaothông trên các tuyến đường;
Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, diêm nghiệp, lâm nghiệp,duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, các công trình thuỷ lợi, các trạm nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyếnngư, khoanh nuôi, bảo vệ phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản;Sự nghiệp thị chính: Duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng vỉa hè,
hệ thống cấp thoát nước, giao thông nội thị, công viên và các sự nghiệp thịchính khác;
Đo đạc, lập bản đồ và lưu giữ hồ sơ địa chính và các hoạt động địa chínhkhác; Điều tra cơ bản; các hoạt động về sự nghiệp môi trường; các sự nghiệpkinh tế khác;
+ Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngânsách địa phương thực hiện theo quy định của Chính phủ;
+ Chi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt
Trang 31Nam ở địa phương;
+ Hoạt động của các cơ quan địa phương của Uỷ ban mặt trận Tổ quốcViệt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn thanh niên;
+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phươngquản lý
* Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ quanđịa phương thực hiện
* Trợ giá theo chính sách của Nhà nước
* Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới
* Chi chuyển nguồn ngân sách cấp huyện năm trước sang năm sau
b.4 Cấp phát kinh phí, các khoản chi của ngân sách huyện.
Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán ngân sách từngquý; căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm chi, phòng Tài chính - Kế hoạch tiếnhành cấp phát kinh phí theo nguyên tắc cấp trực tiếp đến các đơn vị sử dụngngân sách và thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho đơn vị đượchưởng
+ Các hình thức cấp phát kinh phí:
- Cấp phát theo dự toán ngân sách: Gồm các khoản chi thường xuyên
trong dự toán được giao của các cơ quan, đơn vị là: Các cơ quan hành chínhnhà nước; Các đơn vị sự nghiệp; Các tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hộinghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được ngân sách nhànước hỗ trợ kinh phí thường xuyên; Các Tổng công ty nhà nước được hỗ trợthực hiện một số nhiệm vụ thường xuyên theo quy định của pháp luật
- Cấp phát bằng lệnh chi tiền: Áp dụng với các đối tượng là các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội không có quan hệ thường xuyên với ngân
Trang 32sách, các khoản giao dịch của Chính phủ với các tổ chức và cá nhân nướcngoài; các khoản bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới vàmột số khoản chi khác theo quyết định của thủtrưởng của cơ quan tài chính.
- Cấp phát và cho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Thực hiện theo quytrình, quy định của Chính phủ, theo các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính
c Cân đối ngân sách huyện.
Cân đối ngân sách là phương hướng xuyên suốt trong toàn bộ quá trìnhtạo lập và sử dụng ngân sách Căn cứ vào dự toán thu, cơ chế quản lý ngânsách mới có thể đưa ra được dự toán chi
Tuy nhiên để an toàn, các nhà hoạch định chính sách thường đảm bảotổng thu lớn hơn tổng chi một lượng hợp lý để đề phòng những rủi ro cónhững khoản chi đột xuất, quan trọng khác Điều 8, mục 3 Luật NSNN có quyđịnh: “Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng chi khôngđược vượt quá tổng thu” Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định cho ngânsách địa phương
Với tư cách là một ngân sách địa phương, ngân sách huyện cũng phảituân thủ những quy định vể cân đối ngân sách Hầu hết các huyện đều có xuhướng khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm tạo cho ngân sáchhuyện đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.Để có thể cân đối được ngân sách chúng ta phải tìm cách khai thác các nguồnthu do pháp luật quy định thậm chí có thể đi vay
Số dư ngân sách của huyện = Tổng số thu ngân sách huyện – Tổng chingân sách huyện
+ Ngân sách bội thu khi số dư ngân sách huyện > 0, tức là tổng thu lớnhơn tổng chi
+ Ngân sách bội chi khi số dư ngân sách huyện < 0, tức là tổng thu nhỏhơn tổng chi
Trang 33Trong trường hợp bội chi ngân sách sẽ tác động xấu đến nền kinh tế vàảnh hưởng tới cả các năm tiếp theo Thông thường thâm hụt ngân sách xảy ra
do các nguyên nhân sau:
Một là, do huyện thực hiện một số chủ trương, chính sách trong việc
quản lý kinh tế, quản lý tài chính Mặc dù đã dự toán nhưng không khảo sáthết các khoản chi nên khi thực hiện chính sách xuất hiện các khoản chi vượtdự toán Nguyên nhân này xuất phát từ khâu lập dự toán
Hai là, do sự yếu kém trong quản lý và điều hành ngân sách Nguyên
nhân này là một bức xúc hiện nay - cải cách hành chính Bộ máy hành chínhcồng kềnh, công tác thu, chi đều phải trải qua nhiều cửa, cán bộ quản lý yếukém, biến chất, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu
Ba là, do tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên Đó là sự tăng chi
cho khắc phục những thiên tai bất thường như lũ lụt,hạn hán… Để khắc phụcnguyên nhân này cần có các khoản dự phòng ngân sách
Bốn là, do diễn biến của chu kỳ kinh doanh, thông thường chi ngân sách
vận động ngược chiều với chu kỳ kinh doanh Khi chu kỳ kinh doanh ở giaiđoạn tăng trưởng thì chi ngân sách lại ít, khi chu kỳ kinh doanh đang suythoái thì chi ngân sách tăng (vì phải bơm thêm vốn vào nền kinh tế)
Như vậy, với hai nguyên nhân đầu mang tính chủ quan, xuất phát từ việcquản lý ngân sách Do vậy, chúng ta cần phải lập dự toán thật chính xác, chitiết từ cơ sở, mặt khác không ngừng nâng cao trình độ, năng lực cán bộ quản
lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải tạo cơ sở hạ tầng Đối với nguyên nhânthứ ba và thứ tư, chúng ta phải luôn luôn theo dõi diễn biến, phân tích để cóthể đưa ra những biện pháp phòng chống, khắc phục kịp thời, phù hợp
1.2.2.Nội dung và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý ngân sách huyện phải được thực hiện ở tất cả các khâu của chutrình ngân sách, từ khâu lập dự toán ngân sách đến chấp hành ngân sách và
Trang 34quyết toán ngân sách.
1.2.2.1 Nội dung quản lý ngân sách huyện.
* Lập dự toán ngân sách huyện.
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúngđắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn cácchỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch
- Yêu cầu trong quá trình lập ngân sách phải đảm bảo:
+ Kế hoạch ngân sách nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế,xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội: Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi nó bám sát kếhoạch phát triển, xã hội Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch pháttriển kinh tế, xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước.Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý vĩ mô,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu mang tính định hướng
+ Kế hoạch ngân sách nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúngđắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêucầu của Luật Ngân sách nhà nước Hoạt động ngân sách nhà nước là nội dung
cơ bản của chính sách tài chính Do vậy, lập ngân sách nhà nước phải thể hiệnđược đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính địaphương như: Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bốtrí các nội dung chi tiêu Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước hoạt động luônphải tuân thủ các yêu cầu của Luật Ngân sách nhà nước, nên ngay từ khâu lậpngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ các yêu cầu của Luật Ngân sách nhànước như: Xác định phạm vi, mức độ của nội dung các khoản thu, chi phânđịnh thu, chi giữa các cấp ngân sách, cân đối ngân sách nhà nước
- Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước:
+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội đảm bảo quốc phòng,
Trang 35an ninh của Đảng và chính quyền địa phương trong năm kế hoạch và nhữngnăm tiếp theo.
+ Lập ngân sách nhà nước phải dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế, xãhội của địa phương trong năm kế hoạch Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội là
sơ sở, căn cứ để đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách nhà nước Đồng thời,cũng là nơi sử dụng các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước
+ Lập ngân sách nhà nước phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giátình hình thực hiện kế hoạch ngân sách của các năm trước, đặc biệt là củanăm báo cáo
+ Lập ngân sách nhà nước phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêuchuẩn định mức cụ thể về thu, chi tài chính nhà nước Lập ngân sách nhànước là xây dựng các chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ cóthể được xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuânthủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính nhà nước thôngqua hệ thống pháp luật (đặc biệt là hệ thống các Luật thuế) và các văn bảnpháp lý khác của nhà nước
* Chấp hành ngân sách huyện.
- Chấp hành thu ngân sách huyện: Theo Luật Ngân sách Nhà nước, chấp
hành thu ngân sách có nội dung như sau:
+ Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quankhác được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổchức thu ngân sách nhà nước
+ Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơquan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tracủa UBND và sự giám sát của HĐND về công tác thu ngân sách tại địaphương; Phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viêntuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp
Trang 36ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định kháccủa pháp luật.
+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cótrách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sáchphải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào ngân sách nhà nước
- Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi UBND giao dự toán
ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngânsách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên tắc đượcquy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 44 của Nghị định số 60/2003/NĐ- CP ngày
06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Dự toán chi thường xuyên giao cho đơnvị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục ngân sách nhànước, theo các nhóm mục: Chi thanh toán cá nhân; Chi nghiệp vụ chuyên môn;Chi mua sắm, sửa chữa; Các khoản chi khác
+ Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách huyện: Chi cho cáchoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục - thể thao, khoahọc và công nghệ, văn hoá - xã hội; Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tếcủa Nhà nước; Chi cho hoạt động hành chính nhà nước; Chi cho quốc phòng -
an ninh và trật tự an toàn xã hội; Chi khác
Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm:Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắcchi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước
+ Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Trên nguyên tắc quản lý cấpphát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở thựchiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệuthiết kế, dự toán; Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bảnphải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư xây dựng
cơ bản chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch,
Trang 37trong phạm vi giá dự toán được duyệt; Việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơbản được thực hiện bằng hai phương pháp cấp phát không hoàn trả và có hoàntrả; Cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thực hiện giám đốcbằng đồng tiền với việc sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả vốn đầu tư.
* Quyết toán ngân sách huyện.
Theo Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ, quyếttoán ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Số liệu quyết toán ngân sách nhà nước:
+ Số quyết toán ngân sách nhà nước là số thu đã được thực nộp hoặchạch toán thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
+ Số quyết toán chi ngân sách nhà nước là số chi đã thực thanh toán hoặcđã hạch toán chi theo quy định tại Điều 62 của Luật Ngân sách Nhà nước vàcác khoản chi chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp theo quy định tại Khoản
2, Điều 66 của Nghị định này
- Ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷquyền của ngân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình.Cuối năm, cơ quan tài chính được uỷ quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí
uỷ quyền theo quy định gửi cơ quan tài chính uỷ quyền và cơ quan quản lýngành, lĩnh vực cấp uỷ quyền
- Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toángửi cơ quan tài chính cùng cấp để cơ quan tài chính lập báo cáo quyết toán.Kho bạc Nhà nước xác nhận số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toáncủa ngân sách các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách
* Kiểm tra, thanh tra ngân sách huyện.
- Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi vàquản lý ngân sách
Trang 38- Thanh tra tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình.
- Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra tài chính trong việcthanh tra quản lý, sử dụng ngân sách được quy định trong văn bản riêng củaChính phủ
1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý ngân sách
Các quốc gia đều có những hình thức tổ chức bộ máy tương thích đểtham gia quản lý ngân sách nhà nước và ngân sách của từng địa phương theonhững nguyên tắc chung Về cơ bản, nó bao gồm các nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn:
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngânsách nhà nước Nội dung của nguyên tắc này là: Mọi khoản thu, chi phải đượcghi đầy đủ vào kế hoạch ngân sách nhà nước, mọi khoản chi phải được vào sổ
và quyết toán rành mạch Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mớiphản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tàikhoản thu, chi
Nguyên tắc quản lý này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức nhà nước lập
và sử dụng quỹ đen Điều này có ý nghĩa rằng mọi khoản thu chi của ngânsách nhà nước đều phải đưa vào kế hoạch ngân sách để Quốc hội phê chuẩn,nếu không việc phê chuẩn ngân sách của Quốc hội sẽ không có căn cứ đầy đủ,không có giá trị
* Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước:
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước bắt nguồn từyêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước Biểu hiện cụ thể sứcmạnh vật chất của Nhà nước là thông qua hoạt động thu - chi của ngân sáchnhà nước Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước được thể
hiện:
- Mọi khoản thu - chi của ngân sách nhà nước phải tuân thủ theo những
Trang 39quy định của Luật ngân sách nhà nước, phải được dự toán hàng năm và được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Tất cả các khâu trong chu trình ngân sách nhà nước khi triển khai thựchiện phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực, ở trung ương
là Quốc hội, ở địa phương là HĐND
- Hoạt động ngân sách nhà nước đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạtđộng kinh tế - xã hội của quốc gia Hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia lànền tảng của hoạt động ngân sách nhà nước Hoạt động ngân sách nhà nướcphục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chấtkiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội
* Nguyên tắc cân đối ngân sách:
Ngân sách nhà nước được lập và thu chi ngân sách phải được cân đối.Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủcác nguồn thu bù đắp HĐND và UBND luôn cố gắng để đảm bảo cân đốinguồn ngân sách nhà nước bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới cáckhoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết,đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năngđáp ứng
* Nguyên tắc công khai hoá NSNN:
Về mặt chính sách, thu - chi ngân sách nhà nước là một chương trìnhhoạt động của Chính phủ được cụ thể hoá bằng số liệu Ngân sách nhà nướcphải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họquan tâm Nguyên tắc công khai của ngân sách nhà nước được thể hiện trongsuốt chu trình ngân sách nhà nước và phải được áp dụng cho tất cả các cơquan tham gia vào chu trình ngân sách nhà nước
Trang 40* Nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác:
Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhậnđược chương trình hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình nàyphải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính địa phương
Nguyên tắc này đòi hỏi: Ngân sách nhà nước được xây dựng rành mạch,có hệ thống; Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác vàphải đưa vào kế hoạch ngân sách; không được che đậy và bào chữa đối với tất
cả các khoản thu, chi ngân sách nhà nước; Không được phép lập quỹ đen,ngân sách phụ
1.2.2.3.Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý ngân sách huyện
Ngân sách huyện là một trong các nguồn tài chính trong nền kinh tế thịtrường Do vậy, nó chịu ảnh hưởng của các quy luật kinh tế khách quan
* Yếu tố giá cả: Giá cả là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ
nền kinh tế, do vậy nó có tác động mạnh đến ngân sách Người ta thườngphân tích giá cả thông qua các chỉ số: Lạm phát; chỉ số giá tiêu dùng
Thông thường, khi lập dự toán, các cấp ngân sách đều phải quan tâm đếnyếu tố giá cả được biểu hiện qua chỉ số lạm phát, nếu không, chấp hành dựtoán sẽ vấp phải những cản trở khó khăn đó là “vỡ kế hoạch” Khi lạm pháttăng nhanh, giá cả trượt dài, các khoản thu, chi theo kế hoạch sẽ không thểđảm bảo tính hiệu quả được
Tuy nhiên, ngân sách lại có thể điều chỉnh được giá cả thông qua chínhsách tiền tệ, chính sách tài khoá và một số các công cụ kinh tế vĩ mô khác tácđộng vào các quy luật kinh tế trên thị trường
* Các yếu tố về văn hoá, chính trị, xã hội: Ngày nay, khi thế giới đang
chuyển biến manh mẽ theo xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, các sự kiệnchính trị diễn ra liên tiếp Các cuộc chiến tranh đều mang màu sắc văn hoá.Các dân tộc, quốc gia đang tìm cho mình những nét riêng, độc đáo khi phát