Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường ” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHUÔNG VĂN HUY
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 THEO HƯỚNG
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHUÔNG VĂN HUY
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 THEO HƯỚNG
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM XUÂN QUẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN i http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa có ai công bố trong một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
KHUÔNG VĂN HUY
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ii http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý thầy, cô giáo khoa Vật lý trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên và quý thầy, cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô tổ Vật lý trường THPT Phương Sơn, THPT Lục Nam, THPT Cẩm Lý đã tạo điều kiện trong thời gian thực nghiệm và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Phạm Xuân Quế, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
KHUÔNG VĂN HUY
Trang 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iii http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của luận văn 5
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 6
1.1 Vị trí, tác dụng của hoạt động ngoại khóa trong dạy học ở trường phổ thông 7
1.1.1 Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông 7
1.1.2 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa vật lí 8
1.2 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa 9
1.3 Nội dung, các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khóa về vật lí 9
1.3.1 Nội dung ngoại khóa về vật lí 9
1.3.2 Các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí 10
1.3.3 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa vật lí 17
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí 20
1.5 Dạy học các ứng dụng kỹ thuật trong Vật lý 22
1.5.1 Dạy học các ứng dụng kỹ thuật Vật lý theo con đường 1 22
1.5.2 Dạy học các ứng dụng kỹ thuật Vật lý theo con đường 2 24
1.6 Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN đơn giản (DCTNĐG) trong dạy học vật lí ở trường phổ thông 25
1.6.1 DCTNĐG tự làm trong dạy học vật lí ở trường phổ thông 25
1.6.2 Một số yêu cầu đối với dụng cụ TN đơn giản tự làm 25
1.6.3 Các khả năng sử dụng các DCTNĐG tự làm trong dạy học vật lí ở trường phổ thông 26
1.6.4 TN vật lí (TNVL) ở nhà với tư cách là một loại bài làm mà GV giao cho từng HS hoặc nhóm HS thực hiện ở nhà 27
1.7 Phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học ngoại khóa vật lí 27
1.7.1 Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập 28
1.7.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập 30
1.7.3 Phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học ngoại khóa vật lý 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Chương 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ VỀ CÁC KIẾN THỨC “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” CHO HỌC SINH LỚP 11 THPT 37
2.1 Mục tiêu dạy học mà học sinh cần đạt được khi học về “Dòng điện trong các môi trường” ở lớp 11 THPT 37
2.1.1 Mục tiêu về kiến thức 37
2.1.2 Mục tiêu về kĩ năng 38
2.1.3 Mục tiêu phát triển tư duy 38
2.1.4 Một số năng lực thành phần cần phát triển 38
2.2 Tìm hiểu tình hình dạy và học về “Dòng điện trong các môi trường” ở lớp 11 THPT 39
2.2.1 Mục đích điều tra 39
2.2.2 Phương pháp điều tra 39
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN v http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.2.3 Đối tượng điều tra 40
2.2.4 Kết quả điều tra 40
2.2.5 Nguyên nhân của những sai lầm của học sinh và một số giải pháp khắc phục 44
2.3 Xây dựng quy trình hoạt động ngoại khoá về “Dòng điện trong các môi trường” ở lớp 11 THPT 47
2.3.1 Ý định sư phạm chung khi xây dựng quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa 47
2.3.2 Nội dung của hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật của kiến thức “Dòng điện trong các môi trường” 49
2.3.3 Các thí nghiệm mà giáo viên đã nghiên cứu, chế tạo và dự kiến giao cho học sinh trong nội dung của hội vui vật lí về “Dòng điện trong các môi trường” 50
1.2 Mạch sử dụng quang trở 54
2.3.4 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa 60
2.3.5 Dự kiến những khó khăn mà học sinh gặp phải trong khi thực hiện nhiệm vụ và phương pháp hướng dẫn học sinh 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 69
3.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm sư phạm 69
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 69
3.4 Phân tích diễn biến và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 70
3.4.1 Phân tích diễn biến của các hoạt động ngoại khóa trong quá trình thực nghiệm sư phạm 70
3.4.2 Sơ bộ đánh giá tính khả thi của quy trình đã lập 84
3.4.3 Sơ bộ đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN vi http://www.lrc.tnu.edu.vn
PHỤ LỤC
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN v http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG Trang
Bảng 2.1 Những khó khăn khi GV dạy phần này 40
Hình 2.1 Sơ đồ cặp nhiệt điện 51
Hình 2.2 Mạch chỉnh lưu cầu 52
Hình 2.3 Linh kiện mạch chỉnh lưu một nửa chu kì 53
Hình 2.4 Sơ đồ mạch chỉnh lưu một nửa chu kì 51
Hình 2.5 Linh kiện chỉnh lưu dùng đi ốt cầu 54
Hình 2.6 Mạch chỉnh lưu dùng đi ốt cầu 54
Hình 2.7 Kí hiệu Transitor n-p-n và p-n-p 54
Hình 2.8 Phân cực để trnsitor ở chế độ khuếch đại 56
Hình 2.9 Linh kiện mạch chứa tranzitor và quang trở 57
Hình 2.10 Mạch chứa quang trở và tranzitor 57
Hình 3.1 Mô hình cặp nhiệt điện 80
Hình 3.2 Mạch chỉnh lưu một nửa chu kì 76
Hình 3.3 Mạch chỉnh lưu hai nửa chu kì dùng điôt cầu hai nửa 80
Hình 3.4 Mạch chỉnh lưu chu kì dùng điôt thường 80
Hình 3.5 Mô hình mạ điện 81
Hình 3.6 Mô hình máy hàn hồ quang điện 81
Hình 3.7 Mạch chứa quang trở và tranzitor đơn giản 81
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 1 http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới hiện nay đang có những bước phát triển mạnh mẽ về tất cả các mặt của đời sống, xã hội với nhiều thành tựu to lớn, cùng với đó là sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học - kỹ thuật Sự phát triển này tác động đến tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, nên một đòi hỏi vô cùng cấp thiết được đặt
ra, đó là phát triển con người phù hợp với thời đại mới này, phát triển con người một cách toàn diện Và vấn đề này lại yêu cầu ngành giáo dục nói chung,
và bộ môn Vật lý nói riêng, phải có những thay đổi, điều chỉnh, định hướng phù hợp để đáp ứng được đào tạo con người trong thời đại mới
Định hướng trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 28.2
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh…” [22]
Việc lựa chọn nhưng phương pháp giảng dạy (PPDH), và thay đổi nội dung học tập là một yếu tố rất quan trọng để góp phần tạo lên sự thành công cho người học Giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế thời đại Song nền giáo dục nước ta trong giai đoạn vừa qua vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu đó Trong kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Trung Ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và nguyên nhân:
“Hoạt động học tập trong các nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là hướng vào mục đích khoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy, người học, người quản lý coi trọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn Phương pháp giáo dục nặng về áp đặt thường khuyến khích tiếp thu một cách máy móc, chưa khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người học ”[7]
Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cũng đang từng bước triển khai áp dụng
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 2 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hoạt động ngoại khóa là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa trên lớp và là một trong những mảng giáo dục quan trọng ở nhà trường phổ thông Hoạt động này có ý nghĩa bổ trợ cho các hoạt động giáo dục chính khóa được tổ chức trên lớp, góp phần giúp học sinh phát triển và hoàn thiện nhân cách, củng cố và mở rộng kiến thức đã được học, rèn luyện kĩ năng sống, bồi dưỡng năng khiếu và tư duy sáng tạo của học sinh
Trong các môn học của chương trình trung học phổ thông, Vật lí là một trong những môn học có rất nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống gần gũi với học sinh Các kiến thức ở chương “Dòng điện trong các môi trường” có những ứng dụng hết sức quan trọng trong cuộc sống như: dòng điện trong kim loại như bàn là, tủ lạnh, bóng đèn vv, dòng điện trong chân không như: ti vi chùm electron chuyển động trong chân không, các linh kiện bán dẫn máy tính, điện thoại Lượng kiến thức trong chương là lớn,GV không thể truyền tải hết nội dung kiến thức, cũng như những ứng dụng thực tế được
Với những cơ sở trên, tôi quyết định chọn nội dung “Tổ chức hoạt động
ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện trong các môi trường
” Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh" là đề tài nghiên cứu với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
môn Vật lý nói riêng và hiệu quả giáo dục nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khoá về ứng dụng kỹ thuật của các kiến thức về “Dòng điện trong các môi trường” cho học sinh lớp 11 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, đồng thời góp phần củng cố, đào sâu, mở rộng các kiến thức đã học trong nội khoá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 3 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hoạt động dạy học ngoại khóa của học sinh trường THPT Phương Sơn - Lục Nam - Bắc Giang lớp 11 về chương “Dòng điện trong các môi trường”
4 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức tốt giờ hoạt động ngoại khoá về chương “Dòng điện trong các môi trường” theo hướng tăng cường cho học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng hay gặp trong cuộc sống hàng ngày và tìm hiểu một số ứng dụng trong khoa học kỹ thuật, trong đời sống cũng như thiết kế chế tạo mô hình một số ứng dụng
kỹ thuật này, thì sẽ tạo được sự hứng thú của học sinh trong học tập, giúp phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh đồng thời giúp học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức về dòng điện trong các môi trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là lí luận hoạt động ngoại khóa Vật lí
- Tìm hiểu mục tiêu dạy học về kiến thức, kỹ năng, thái độ và mục tiêu phát triển tư duy mà học sinh cần đạt được khi học chương “Dòng điện trong các môi trường”
- Nghiên cứu nội dung chương “dòng điện trong các môi trường” - Sách giáo khoa Vật lí 11 Từ đó, vận dụng lí luận của dạy học ngoại khóa để dạy chương “Dòng điện trong các môi trường”
- Điều tra thực tế dạy và học chương “Dòng điện trong các môi trường” Vật lí 11 ở trường THPT, từ đó có căn cứ xây dựng nội dung, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm khắc phục các hạn chế trong giờ nội khóa
- Tổ chức hoạt động ngoại khóa chương “Dòng điện trong các môi trường” theo hướng giải thích hiện tượng trong thực tế, tìm hiểu cấu tạo, nguyên tắc hoạt động và thiết kế, chế tạo một số ứng dụng trong chương
“Dòng điện trong các môi trường” nhằm phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của nội dung cũng như quy trình tổ chức ngoại khóa đã xây dựng, và bước đầu đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa
6 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Tham khảo sách, báo, tạp chí chuyên ngành về tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
+ Tham khảo một số tài liệu về dạy học các ứng dụng kĩ thuật Vật lí và vai trò của các ứng dụng kĩ thuật Vật lí trong dạy học
+ Tham khảo sách, báo, tạp chí chuyên ngành về tâm lí học, giáo dục học, logic học, lí luận dạy học Vật lí, phương pháp dạy học vật lý, thí nghiệm Vật lí phổ thông, các tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động ngoại khóa để xây dựng hoạt động ngoại khóa phù hợp
6.2 Phương pháp điều tra, quan sát:
+ Tổng kết kinh nghiệm qua những năm trực tiếp giảng dạy, qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với một số giáo viên giàu kinh nghiệm ở một số trường THPT
+ Phỏng vấn giáo viên và học sinh để nắm tình hình dạy học các ứng dụng
kĩ thuật vật lý và sử dụng các phương pháp dạy học ở một số trường THPT
+ Xây dựng mẫu phiếu điều tra để có cơ sở cho việc cần phải đổi mới phương pháp dạy học vật lí hiện nay ở THPT, khắc phục những khó khăn trong dạy học các ứng dụng kĩ thuật Vật lí để có những biện pháp dạy học phù hợp
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Làm thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá giả thuyết khoa học
đã đề ra
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê kiểm định và kiểm tra đánh giá so sánh, để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập, của các nhóm đối chứng
và thực nghiệm
7 Đóng góp của luận văn
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là lí luận
về hoạt động ngoại khóa Vật lí
+ Xây dựng được các phương án thí nghiệm liên quan đến nội dung về chương “Dòng điện trong các môi trường” trong chương trình vật lí 11 THPT
từ những vật liệu đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm bao gồm; hệ thống lại, nghiên cứu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động các ứng dụng kĩ thuật của kiến thức về chương
“Dòng điện trong các môi trường”
+ Xây dựng nội dung và quy trình dạy học ngoại khóa (nội dung phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học) về chương “Dòng điện trong các môi trường”
+ Bổ sung làm phong phú thêm tài liệu tham khảo cho các GV THPT, sinh viên các trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý THPT
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở các trường THPT thông qua việc tổ chức hoạt động ngoại khóa chương “Dòng điện trong các môi trường ”
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc hoạt động ngoại khóa Vật lí
ở trường THPT
Chương 2: Tổ chức hoạt động ngoại khóa về các ứng dụng kĩ thuật của
kiến thức chương “Dòng điện trong các môi trường” Vật lí 11 cơ bản
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1 Vị trí, tác dụng của hoạt động ngoại khóa trong dạy học ở trường phổ thông
Để hoàn thành tốt mục tiêu giảng dạy của môn học, đặc biệt là mục tiêu giảng dạy về rèn luyện năng lực sáng tạo và mục tiêu về thái độ tích cực trong học tập của học sinh thì giáo viên vật lí cần phải phối hợp một cách khéo léo các hoạt động học tập trong nội khóa và ngoại khóa cho học sinh
Hoạt động ngoại khóa vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lên lớp có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được học sinh tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khóa dưới sự hướng dẫn của giáo viên vật lí nhằm gây sự hứng thú và phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng,
bổ sung và mở rộng kiến thức vật lí Nó có tác dụng to lớn về cả ba mặt mục tiêu dạy học: giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Để vận dụng có hiệu quả hình thức dạy học tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí cho học sinh thì giáo viên cần phải hiểu rõ tác dụng và vị trí của hình thức dạy học này
1.1.1 Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Nhà trường phổ thông có ba hình thức tổ chức đào tạo là: Dạy học trên lớp, giáo dục lao động kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp dạy nghề và công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
“Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động rộng rãi trong các lĩnh vực: Xã hội - chính trị, văn hóa - khoa học, nghệ thuật, thể dục thể thao, quốc phòng”[9]
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Công tác ngoại khóa nói chung và công tác ngoại khóa vật lí nói riêng thuộc lĩnh vực thứ hai của toàn bộ công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông
1.1.2 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa vật lí
Theo Nguyễn Quang Đông “HĐNK có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục ở nhà trường phổ thông góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt” [9],cụ thể là:
+ Về mặt nhận thức: Hoạt động ngoại khóa giúp học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trong nội khóa; giúp cho học sinh vận dụng được những kiến thức đó vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, gắn lí thuyết với thực tiễn, thấy được những ứng dụng của kiến thức đã được học trong đời sống và kĩ thuật
+ Về mặt rèn luyện kĩ năng: Hoạt động ngoại khóa giúp cho học sinh được rèn luyện chế tạo dụng cụ thí nghiệm, kĩ năng tiến hành thí nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề; rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng tự tổ chức, kĩ năng tự quản lí, kĩ năng điều khiểm hoạt động nhóm Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còn giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, rèn luyện ngôn ngữ và kĩ năng phát biểu trước đám đông
+ Về mặt giáo dục tinh thần, thái độ làm việc: Hoạt động ngoại khóa kích thích sự hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, muốn hoạt động của học sinh, lôi cuốn học sinh tự giác tham gia một cách nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển năng lực tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh
Tóm lại, hoạt động ngoại khóa có mục đích bao trùm là hỗ trợ cho dạy học nội khóa, giúp phát triển và hoàn thiện nhân cách người học Đặc biệt, hoạt động ngoại khóa góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.lrc.tnu.edu.vn
tính tích cực, tự lực cao và có khả năng sáng tạo tốt trong công việc, đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa về vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói
chung theo Nguyễn Quang Đông [9] có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa phải được lập kế hoạch cụ thể
về cả mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, lịch hoạt động cụ thể và thời gian thực hiện
+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa dựa trên tinh thần tự nguyện tham gia và sự hứng thú của học sinh, dưới sự hướng dẫn của giáo viên Trên cơ sở
đó, học sinh sẽ yêu thích công việc, hoạt động tích cực, có hiệu quả và phát triển được năng lực của mình
+ Số lượng học sinh tham gia không hạn chế, có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm hoặc theo tập thể đông người Trong điều kiện cho phép có thể huy động học sinh toàn trường tham gia, không phân biệt trình độ học sinh
+ Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, phong phú, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia
+ Việc đánh giá kết quả các hoạt động ngoại khóa của học sinh không phải bằng điểm số thông qua các bài kiểm tra như trong các giờ học nội khóa,
mà thông qua tính tích cực, sáng tạo của học sinh và sản phẩm của quá trình hoạt động Ngoài ra, kết quả của hoạt động ngoại khóa được đánh giá một cách công khai thông qua cả giáo viên và học sinh Để khích lệ quá trình hoạt động của học sinh thì cũng cần có sự khuyến khích và phần thưởng động viên kịp thời cho các em
1.3 Nội dung, các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khóa
về vật lí
1.3.1 Nội dung ngoại khóa về vật lí
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Nội dung của ngoại khóa vật lí phải bổ sung và hỗ trợ cho nội khóa Nội dung của ngoại khóa giúp cho học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức vật
lí đã được học trong nội khóa; bổ sung những kiến thức lí thuyết hoặc khắc phục những sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi học nội khóa; giúp cho học sinh hiểu rõ, biết liên kết và khái quát hóa những kiến thức đã được hình thành một cách rời rạc Ngoài ra, nội dung của ngoại khóa cần phải giúp cho học sinh nâng cao lòng ham thích, ham hiểu biết về vật lí - kĩ thuật, vật lí - đời sống, vật lí - thiên văn, … phát triển tính độc lập, óc sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện một số kĩ năng và kĩ xảo
Có thể kể đến một số nội dung hoạt động ngoại khóa mà học sinh có thể thực hiện được như:
- Tìm hiểu thêm các kiến thức về vật lí và kĩ thuật
- Nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của vật lí học, tìm hiểu những ứng dụng của vật lí trong đời sống, kĩ thuật
- Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm vật lí và kĩ thuật
Để lựa chọn nội dung tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí phù hợp thì giáo viên cần phải căn cứ vào nội dung kiến thức mà học sinh được học trong nội khóa và tầm quan trọng của kiến thức này trong đời sống, kĩ thuật cũng như mục tiêu dạy học về phần kiến thức đó mà học sinh cần phải đạt được
Căn cứ vào các hướng có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí như trên và thực tế dạy học vật lí ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi lựa chọn nội dung của đề tài chủ yếu là hoạt động thực nghiệm: thiết kế, chế tạo và sử dụng thí nghiệm vật lí đơn giản; nghiên cứu cấu tạo, giải thích nguyên tắc hoạt động và chế tạo TN mô hình về các ứng dụng kĩ thuật Và chúng tôi chọn nội dung kiến thức của chương “Dòng điện trong các môi trường” trong sách giáo khoa Vật lí lớp phổ thông để xây dựng nội dung cho hoạt động ngoại khóa
1.3.2 Các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Việc phân chia các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí chỉ mang tính chất tương đối, không phân biệt được rõ ràng Có thể phân ra các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí theo lượng học sinh tham gia, cũng có thể theo nội dung ngoại khóa hoặc theo thời gian và địa điểm diễn ra hoạt động ngoại
khóa…[9] theo Đặng Vũ Hoạt “HĐNK là thông qua các hoạt động thực tiễn”[12].Sau khi nghiên cứu các tài liệu, tôi nhận thấy các hình thức tổ chức
hoạt động ngoại khóa về vật lí thông thường nhất là: hoạt động ngoại khóa mang tính chất cá nhân, hoạt động ngoại khóa theo các nhóm và hoạt động ngoại khóa có tính quần chúng rộng rãi Cụ thể:
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa ở lớp và ở nhà (học sinh đọc sách báo
về Vật lí và kĩ thuật: tổ chức các buổi báo cáo và dạ hội về các vấn đề vật lí - kĩ thuật; học sinh ra báo tường hoặc tập san về vật lí - kĩ thuật; học sinh biểu diễn thí nghiệm hoặc giới thiệu sản phẩm là thí nghiệm vật lí chế tạo được…)
- Học sinh tổ chức triển làm giới thiệu những thành tích hoạt động ngoại khóa về vật lí
- Tổ chức cho học sinh thăm quan ngoại khóa về vật lí, kĩ thuật
- Tổ chức, hướng dẫn học sinh thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm vật lí hoặc máy móc đơn giản
Với các hình thức tổ chức ngoại khóa về vật lí như trên, học sinh có thể tham gia vào các hoạt động với tư cách cá nhân, nhóm hoặc tập thể
a) Hoạt động ngoại khóa theo nhóm
Dựa trên tính chất đặc thù của bộ môn vật lí: các kiến thức vật lí không khó nhưng biểu hiện khá phức tạp trong thức tế và các kiến thức được xây dựng chủ yếu bằng con đường thực nghiệm Cho nên tổ chức ngoại khóa về vật lí nên lựa chọn nhiều nội dung liên quan đến việc sử dụng thí nghiệm Để hoạt động ngoại khóa về vật lí có liên quan nhiều đến thí nghiệm thành công được thì hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm là ưu việt nhất Hình
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.lrc.tnu.edu.vn
thức này vừa đảm bảo cho quá trình thiết kế, chế tạo và tiến hành thí nghiệm diễn ra nhanh, có chất lượng vừa tạo điều kiện cho học sinh tự học hỏi lẫn nhau
và rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm
* Các nguyên tắc đảm bảo tổ chức tốt nhóm ngoại khóa vật lí:
- Khi tổ chức nhóm ngoại khóa trước hết phải dựa trên tinh thần tự nguyện, hứng thú của học sinh, học sinh phải được lựa chọn lĩnh vực kiến thức yêu thích để thiết kế, chế tạo thí nghiệm Điều này tạo cho học sinh tính thần làm việc thoải mải, từ đó họ thấy yêu thích công việc, nỗ lực hoàn thành công việc và phát triển được tài năng
- Để nhóm ngoại khóa có thể tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì nhất thiết phải phát hiện và xây dựng được hạt nhân của nhóm Hạt nhân của nhóm thường là nhóm trưởng Học sinh được chọn là hạt nhân của nhóm phải thích thú và có sự nhiệt tình cao với đề tài mà nhóm theo đuổi, đồng thời cũng phải có khả năng đoàn kết các thành viên trong nhóm học tập và lực học thuộc hạng khá vững vàng, tuy nhiên nhóm trưởng không nhất thiết là thành viên giỏi nhất trong nhóm
- Yếu tố mới và tính vừa sức của đề tài đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sự hứng thú và tích cực của nhóm Với nguyên tắc này, nội dung hoạt động ngoại khóa phải mới ít nhiều so với nội khóa, không đơn thuần là những thí nghiệm kiểm nghiệm lại kiến thức hoặc áp dụng dưới dạng quá đơn giản các kiến thức đã học Giáo viên cần phải xác định được nội dung thích hợp, vừa sức với học sinh và khéo léo tổ chức sao cho từng bước học sinh thu được kết quả đều đặn, kể cả ở giai đoạn đầu để động viên kịp thời
Để đạt được điều đó, khi tổ chức nhóm ngoại khóa giáo viên cần phải dự kiến được những khó khăn mà học sinh có thể gặp phải, lên phương án giúp đỡ và tạo điều kiện về thời gian, tài liệu, nguyên vật liệu…cho nhóm học sinh
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Phải đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, tránh nặng nề, nhưng cũng tránh tùy tiện trong quá trình nhóm hoạt động Để đảm bảo nguyên tắc này, nhóm ngoại khóa cần có lịch làm việc cụ thể về thời gian cũng như tiến độ công việc, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột” Kiên quyết không để kế hoạch bị phá sản chừng nào không bị những nguyên nhân khách quan chi phối Như vậy thì quá trình hoạt động mới có ý nghĩa và đảm bảo uy tín của giáo viên
* Nội dung của nhóm ngoại khóa
Tùy theo nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa có thể phân loại thành: Nhóm “Vật lí lý thuyết”, nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí”, nhóm “Vật lí kĩ thuật”
1 Nhóm “Vật lí lý thuyết”
Nhóm này đi sâu vào tìm hiểu và sưu tầm các tài liệu xoay quanh vấn đề đang học hoặc các vấn đề đang được quan tâm nhằm giúp cho các thành viên trong lớp hiểu sâu hơn kiến thức được học Đồng thời nghiên cứu, giải thích các hiện tượng mà trong hoàn cảnh hạn chế của thời gian trên lớp mà giáo viên không thể đi sâu được Khi tham gia nhóm ngoại khóa này, học sinh có thể sưu tầm những bài vật lí hay rồi tiến hành thảo luận để tìm ra phương pháp giải hay, ngắn gọn; cũng có thể nhiệm vụ của nhóm là tìm hiểu lịch sử phát sinh và phát triển của một lĩnh vực của vật lí, kĩ thuật hoặc học sinh tìm hiểu tiểu sử của các nhà bác học vật lí v.v…Nhóm có thể phụ trách công việc ra báo tường hoặc tập san vật lí của trường, nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa này phải mới so với nội khóa, không đơn thuần là sưu tập các thông tin đã có trong sách giáo khoa hoặc sách bài tập
Trong quá trình thực hiện đề tài, giáo viên cần lưu ý tới sự hứng thú của học sinh theo hướng tìm hiểu, nghiên cứu mà các em đã chọn để đảm bảo cho đề tài được thành công, đúng tiến độ và cung cấp được những sản phẩm có chất lượng
2 Nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí”
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Do đặc thù của môn học cho nên hình thức nhóm ngoại khóa “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí” là phổ biến nhất trong công tác ngoại khóa vật lí
Tại các trường phổ thông hiện nay đã được trang bị các dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho giờ học thực hành của học sinh Tuy nhiên, số lượng các thí nghiệm còn hạn chế, đặc biệt là các thí nghiệm có liên quan đến các ứng dụng vật lí của kĩ thuật Để có thể phát huy tính tích cực của học sinh và phát triển được năng lực sáng tạo của các em thì việc phải chế tạo thêm các dụng cụ thí nghiệm là rất cần thiết Do vậy công tác ngoại khóa tổ chức cho học sinh tham gia chế tạo các dụng cụ thí nghiệm là rất phù hợp Tổ chức được tốt hình thức ngoại khóa với nội dung như vậy vừa giúp học sinh trực tiếp tham gia chế tạo dụng cụ có thể hiểu sâu hơn kiến thức được học, thấy được ứng dụng của kiến thức trong thực tế, đồng thời cũng khiến cho các em thấy hứng thú và tích cực hơn trong học tập, đồng thời vừa có thể bổ sung thêm các dụng cụ thí nghiệm còn thiếu cho nhà trường, giúp cho việc giảng dạy các khóa sau được thuận lợi Trong trường hợp như vậy, giáo viên cũng cần phải góp ý để các em chế tạo được những dụng cụ thí nghiệm đẹp, bền và có thể sử dụng được lâu dài Tuy nhiên trong quá trình học sinh chế tạo dụng cụ, giáo viên cũng cần làm cho các
em hiểu rõ nguyên tắc cấu tạo cũng như hoạt động của các dụng cụ thí nghiệm, chứ không phải các em chỉ cần chế tạo các dụng cụ theo mẫu có sẵn mà không hiểu bản chất và ý nghĩa của các dụng cụ là công việc của các em có ý nghĩa Như vậy thì công tác ngoại khóa mới có ý nghĩa giáo dục và thực tiễn mạnh mẽ
Giáo viên cũng cần lưu giữ các hình ảnh hoạt động và sản phẩm của nhóm trong phòng thí nghiệm của nhà trường để giáo dục và làm gương cho các thế hệ sau Trong quá trình hoạt động ngoại khóa, giáo viên cũng cần dạy cho các em biết cách sử dụng các công cụ, hiểu tính năng và cách gia công các vật liệu khác nhau như gỗ, tôn sắt, bìa cứng, kim loại, cát,… Giáo viên cũng có thể nhờ phụ huynh hoặc chuyên gia đến hướng dẫn cho các em trong nhóm
3 Nhóm “Vật lí kĩ thuật”
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình thức hoạt động ngoại khóa với nội dung liên quan đến các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật cũng được nhiều học sinh tham gia, dễ hứng thú, đồng thời có tác dụng giáo dục kĩ thuật khá trực tiếp do đó cần phải được đề cao và khuyến khích Nhóm ngoại khóa này có thể hoạt động theo nhiều hướng, với tên gọi phong phu và hấp dẫn Những nhóm ngoại khóa này mang nhiều tính chất thực hành chuyên môn hơn nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí” nhưng hoạt động của nhóm vẫn phải gắn liền với hai mặt lí thuyết và thực hành Do vậy giáo viên cần phải bổ sung thêm cả kiến thức lý thuyết và thực hành cho học sinh Khi tổ chức hình thức ngoại khóa này, giáo viên nên tổ chức những nhóm phục vụ yêu cầu của nền sản suất ở địa phương và nên phối hợp với những chuyên gia ở đó để có sự giúp đỡ về kĩ thuật cũng như kinh nghiệm Các nhóm ngoại khóa “Vật lí kĩ thuật” này nếu làm tốt vai trò của mình sẽ trở thành nòng cốt trong việc liên hệ bài học vật lí với thực tế kĩ thuật, nhóm này có vai trò tốt trong việc giúp cho các học sinh khác hiểu rõ hơn vai trò và biểu hiện của các kiến thức vật lí trong đời sống
b) Hoạt động ngoại khóa có tính chất quần chúng rộng rãi
Các hoạt động ngoại khóa vật lí thu hút nhiều người tham gia, như: Hội vui vật lí, triển lãm vật lí, báo tường về vật lí… Hoạt động ngoại khóa này thường là kết quả của quá trình hoạt động của nhóm vật lí Các hoạt động ngoại khóa này nếu được chuẩn bị chu đáo và tổ chức một cách hấp dẫn thì có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao lòng yêu thích nghiên cứu và học hỏi của học sinh
1 Hội vui vật lí
Hội vui là một hình thức ngoại khóa dễ phổ biến, lôi cuốn được đông đảo học sinh tham gia, tạo ra được khí thế trong học tập và nghiên cứu Hội vui có thể tổ chức theo từng chuyên đề hoặc theo khối lớp Chẳng hạn: hội vui cơ học; hội vui về nhiệt học; …Hội vui có nội dung chính là các trò chơi hoặc các câu hỏi rèn luyện trí tuệ, như: trò chơi hái hoa dân chủ, thi khéo tay, thi giải đáp các câu hỏi trí tuệ
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Để cho hội vui thành công, đáp ứng được yêu cầu đã đề ra của chủ hội thì cần phải chuẩn bị nội dung sao cho hợp lí, phong phú, hấp dẫn và có phần thưởng khuyến khích cho người thắng cuộc khi tham gia trò chơi Đối với những trò chơi có liên quan đến máy móc thì cần phải kiểm tra kĩ lưỡng trước khi tổ chức hội vui và phải có dự trù thời gian và dụng cụ cho những trò chơi này
3 Báo tường về vật lí
Đây là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn, dễ tổ chức, lôi cuốn được đông đảo học sinh tham gia, không phân biệt trình độ học sinh nhiều Hình thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy học sinh sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lí
Trên cơ sở nghiên cứu về các nội dung, hình thức của hoạt động ngoại khóa
về vật lí và mục đích của đề tài, chúng tôi đã lựa chọn hướng nội dung hoạt động ngoại khóa là hoạt động thực nghiệm: tổ chức và hướng dẫn học sinh thiết kế, chế tạo và sử dụng các ứng dụng về chương Dòng điện trong các môi trường từ những vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, đơn giản; giải thích nguyên tắc hoạt động và chế
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 17 http://www.lrc.tnu.edu.vn
tạo thí nghiệm mô hình về các ứng dụng kĩ thuật Với hướng nội dung đó, chúng tôi cũng lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa cơ bản là học sinh hoạt động theo nhóm Ngoài ra để hoạt động ngoại khóa của học sinh có ý nghĩa và tăng sự hứng thú của học sinh hơn, chúng tôi có tổ chức một buổi để cho các nhóm học sinh báo cáo sản phẩm và kết hợp với hội vui vật lí
1.3.3 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa vật lí
Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa vật lí thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, phụ thuộc vào nội dung của hoạt động ngoại khóa và trình độ của giáo viên cũng như học sinh Cũng như trong dạy học nội khóa, trong dạy học ngoại khóa việc hướng dẫn của giáo viên cũng theo các kiểu định hướng: định hướng tìm tòi, định hướng khái quát chương trình hóa, định hướng tái tạo Theo chúng tôi, vận dụng các phương pháp này vào dạy học hoạt động ngoại khóa có thể tuân theo các bước như sau: Ban đầu giáo viên định hướng học sinh tìm tòi, tự tìm ra các kiến thức hoặc cách thức cần áp dụng để giải quyết vấn đề Nếu học sinh không đáp ứng được yêu cầu đó thì giáo viên tổ chức định hướng khái quát chương trình hoá, gợi ý thêm cho học sinh Nếu như học sinh vẫn không thực hiện được nhiệm vụ thì giáo viên chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo angôrít
a) Định hướng tìm tòi
Là kiểu hướng dẫn mà người dạy không chỉ ra cho học sinh một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động cần áp dụng, mà người dạy chỉ đưa ra những gợi ý mang tính tổng quát để học sinh có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận, tức là đòi hỏi học sinh phải tự xác định được
kế hoạch hành động thích hợp trong tình huống đang xét
Sự định hướng tìm tòi có thể phân biệt hai trình độ khác nhau đối với hành động đòi hỏi ở học sinh Đó là:
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 18 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Định hướng tìm tòi áp dụng các cách thức hành động theo các mẫu đã biết: Ở mức độ này, giáo viên yêu cầu học sinh tự huy đông, lựa chọn cách thức hoạt động theo các mẫu đã biết để chuyển tải áp dụng vào tình huống đang xét
- Định hướng tìm tòi sáng tạo: Giáo viên yêu cầu học sinh tự nghĩ ra cách thức hoạt động giải quyết vấn đề, không phải là theo một mẫu có sẵn
b) Định hướng khái quát chương trình hóa
Đó là kiểu hướng dẫn trong đó người dạy cũng gợi ý cho học sinh tự tìm tòi như kiểu định hướng tìm tòi nói trên, nhưng giúp cho học sinh ý thức được lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề và sự định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lí, theo các yêu cầu từ cao đến thấp đối với học sinh: từ tổng quát, tổng thể, toàn bộ đến riêng biệt, chi tiết, bộ phận sao cho thực hiện được một cách có hiệu quả các yêu cầu
Người dạy phải thực hiện từng bước việc hướng dẫn học sinh tự lực giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận
- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi học sinh tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề
- Nếu học sinh không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một bước) để thu hẹp hơn phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức với học sinh
- Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, mà trước tiên là kiểu định hướng angôrít (hướng dẫn trình tự các hành động, thao tác hợp lí) để theo đó học sinh
tự giải quyết vấn đề đã đặt ra
- Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động, thao tác đó
c) Định hướng tái tạo
Đó là kiểu định hướng trong đó giáo viên hướng học sinh vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động học sinh đã nắm được
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 19 http://www.lrc.tnu.edu.vn
hoặc đã được giáo viên chỉ ra một cách tường minh, để học sinh có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là học sinh chỉ cần tái tạo những hành động đã được giáo viên chỉ rõ hoặc những hành động trong các tình huống đã quen thuộc đối với học sinh
Sự định hướng tái tạo có thể phân biệt hai trình độ khác nhau đối với hành động đòi hỏi ở học sinh Đó là:
- Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể riêng rẽ: Trong kiểu định hướng này người học sẽ theo dõi, thực hiện bắt chước lặp lại theo thao tác mẫu cụ thể
do giáo viên chỉ ra
- Định hướng tại tạo angôrít: Trong kiểu định hướng này giáo viên chỉ ra một cách khái quát tổng thể trình tự hành động để người học tự chủ giải quyết được nhiệm vụ
Với mục đích và nội dung của đề tài, chúng tôi chọn kiểu định hướng cho học sinh không phải chỉ là định hướng tái tạo hay chỉ là định hướng tìm tòi
mà là kiểu định hướng khái quát chương trình hoá Chúng tôi sẽ giao nhiệm vụ cho học sinh dưới dạng những nhiệm vụ học tập, sau đó yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm để tìm cách giải quyết nhiệm vụ được giao Nếu học sinh gặp khó khăn thì giáo viên gợi ý thêm, cụ thể hoá nhiệm vụ hơn để thu hẹp phạm vi tìm tòi, nghiên cứu và vừa sức hơn với học sinh
Việc hướng dẫn hoạt động ngoại khoá khác với dạy học nội khoá ở chỗ: + Ở nội khoá, nếu học sinh gặp khó khăn không trả lời được câu hỏi hoặc tình huống mà giáo viên đưa ra thì giáo viên có thể ngay lập tức thu hẹp phạm
vi nghiên cứu dần sao cho vừa sức với học sinh Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, mà trước hết là kiểu định hướng angôrít để theo đó học sinh tự lực giải quyết vấn đề đặt ra Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác đó
+ Ở dạy học ngoại khoá thì không như vậy, nếu học sinh gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, do có nhiều thời gian nên giáo viên
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 20 http://www.lrc.tnu.edu.vn
có thể cho học sinh về nhà suy nghĩ tiếp trong vài ngày thì có thể học sinh sẽ tự giải quyết được khó khăn đó Nếu học sinh vẫn gặp khó khăn thì giáo viên sẽ gợi ý tiếp mà không sử dụng phương pháp tái tạo ngay từ đầu
1.4 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí
Kết quả của hoạt động ngoại khoá vật lí phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và lập kế hoạch hoạt động mà giáo viên vật lí là người quyết định Hiện nay chưa có nhiều tài liệu nói rõ quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức hoạt động ngoại khoá
về vật lí cho học sinh có thể thực hiện theo các bước sau:
+ Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khoá
Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế của dạy học nội khoá bộ môn, đặc điểm của học sinh và điều kiện của giáo viên cũng như của nhà trường để lựa chọn chủ đề của hoạt động ngoại khoá cần tổ chức Việc lựa chọn này phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lí và kích thích sự tích cực, tự lực của học sinh ngay từ đầu
+ Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khoá
Khi lập kế hoạch hoạt động ngoại khoá thì giáo viên cần phải xây dựng các nội dung sau:
- Xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động, gồm có: mục tiêu về kiến thức; mục tiêu về kĩ năng và yêu cầu về phát triển năng lực, trí tuệ; mục tiêu về thái độ, tình cảm
- Xây dựng nội dung cho hoạt động ngoại khoá dưới dạng những nhiệm
vụ học tập cụ thể
- Dự kiến hình thức tổ chức, phương pháp dạy học
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết
- Dự kiến những công việc có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục khác
- Dự kiến thời gian và địa điểm tổ chức
+ Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 21 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Khi tổ chức hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch giáo viên cần phải chú ý những nội dung sau:
- Luôn theo dõi quá trình học sinh thực hiện các nhiệm vụ để có thể giúp
đỡ kịp thời, đặc biệt là những tình huống phát sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn ra không đúng kế hoạch
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô lớn như lớp, khối thì giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển các hoạt động Đồng thời giáo viên cũng phải là người trọng tài để tổ chức cho học sinh có thể tham gia tranh luận hay bảo vệ ý kiến của mình về những nội dung hoạt động ngoại khoá
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô nhỏ như trong tổ, nhóm học sinh thì cần để cho học sinh hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện nhiệm vụ được giao, giáo viên chỉ có vai trò hướng dẫn khi học sinh gặp khó khăn hoặc việc không xử lí được
- Sau mỗi đợt tổ chức hoạt động ngoại khoá thì giáo viên phải đánh giá, rút kinh nghiệm để điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp cho hợp lí
để tổ chức những đợt ngoại khoá về sau đạt kết quả cao hơn
+ Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng Việc đánh giá kết quả của quá trình hoạt động ngoại khoá không giống như trong nội khoá, mà phải đánh giá thông qua cả quá trình hoạt động Giáo viên đánh giá hiệu quả thông qua sự tích cực, sự hứng thú, sự sáng tạo của học sinh và cả những kết quả mà học sinh đạt được trong quá trình hoạt động Trong
đó sản phẩm của quá trình hoạt động là một căn cứ quan trọng để đánh giá Do vậy, cần tổ chức cho học sinh giới thiệu, báo cáo sản phẩm đã tạo ra được trong qua trình hoạt động ngoại khoá Mặt khác, việc làm này còn có tác dụng trong việc khích lệ, động viên tinh thần tích cực học tập của học sinh về sau
Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá như trên có thể đem lại hiệu quả cao nếu giáo viên biết vận dụng tốt các điều kiện và tổ chức hợp lí các hoạt động của học sinh Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì giáo viên cần phải
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 22 http://www.lrc.tnu.edu.vn
căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, học sinh và các yêu cầu giáo dục của bộ môn mà vận dụng quy trình trên một cách mềm dẻo sao cho quá trình hoạt động ngoại khoá đạt hiệu quả cao nhất [3], [9], [12]
1.5 Dạy học các ứng dụng kỹ thuật trong Vật lý
Xuất phát từ bản chất nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật trong Vật lý cho phép ta xá định, việc nghiên cứu các ứng dụng vật lý ở trường phổ thông có thể diễn ra theo hai con đường sau:
- Con đường thứ nhất: trên cơ sở đã có sẵn ứng dụng kỹ thuật (thiết bị máy móc ) nhiện vụ của học sinh là nghiên cứu cấu tạo giải thích nguyên tắc giải thích trên cơ sở, các định luật các nguyên lý vật lý đã biết
- Con đường thứ hai: Dựa trên các định luật, nguyên lý đã biết trong Vật lý, nhiệm vụ của học sinh là lên các phương án thiết kế, nhằm giải quyết một yêu cầu kỹ thuật nào đó
1.5.1 Dạy học các ứng dụng kỹ thuật Vật lý theo con đường 1
Thực chất là giải bài toán hộp trắng, biết đầu vào đầu ra, cấu tạo bên trong của hộp, hãy giải thích tại sao đầu vào như thế nào lại cho đầu ra như vậy? Để đưa ra giải thích đúng điều quan trọng là học sinh phải xác định được vấn đề cần giải thích
Ví dụ: việc nghiên cứu máy biến thế ở lớp 9 thì một trong các điều cần giải thích là khi ta nối hai đầu dây sơ cấp với một điện áp xoay chiều thì ta thu được ở hai đầu dây thứ cấp một điện áp xoay chiều, hoặc một dòng điện xoay chiều nếu mạch là mạch kín Được định hướng điều cần giải thích học sinh sẽ tìm tòi, giải thích theo phương pháp tư duy điều kiện cụ thể quy định cấu tạo của thiết bị
Khó khăn nhất với học sinh ở đây là từ cấu tạo các ứng dụng kỹ thuật và nghiên cứu vận hành của nó phát hiện được ra mối quan hệ bản chất Vật lý, những mối quan hệ có tính quy luật Vật lý đã biết tồn tại trong đối tượng cụ thể đang nghiên cứu, quá trình này đòi hỏi học sinh phải tiến hành các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp và đặc biệt là tư duy diễn dịch Để tạo điều kiện cho
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 23 http://www.lrc.tnu.edu.vn
học sinh thực hiện quá trình này thành công thì việc giáo viên đưa ra mô hình thay thế là việc làm hết sức có ý nghĩa Thường được sử dụng ở đây là mô hình dạng hình vẽ hay mô hình dạng vật chất chức năng hay kết hợp cả hai.Việc sử dụng mô hình vật chất chức năng mang tính trực quan Khi các mô hình được đưa vào vận hành sẽ giúp học sinh dễ dàng phát hiện ra mối quan hệ cơ bản của Vật lý và các quy luật tiềm ẩn trong đó.hơn nữa, qua mô hình này có thể biết hoạt động thực của thiết bị do đó kích thích hứng thú của học sinh
Con đường giải thích nguyên tắc hoạt động của ứng dụng kỹ thuật bao gồm chuỗi quan hệ Vật lý theo logic nhân quả hay quan hệ Vật lý có tính quy luật hoặc có khi bao gồm cả hai
VD: khi gải thích nguyên tác hoạt động của máy biến áp thì quan hê nhân quả ở đây là:
- Dòng điện trong cuộn dây sơ cấp cho lõ sắt bị nhiễm từ
- Dòng điện từ hóa lõi sắt là dòng điện xoay chiều nên từ trường lõi sắt
là từ trường biến đổi
Còn quan hệ có quy luật ở đây là:
- Từ trường biến đổi này xuyên qua cuộn dây thứ cấp sẽ tạo ra trong cuộn dây một cảm ứng từ xoay chiều, hoặc một điện thế xoay chiều
Trên cơ sở phân tích trên cho thấy việc dạy học theo theo con đường thứ nhất theo các bước sau:
+ Bước 1: Cho học sinh quan sát thiết bị gốc( nếu có thể).Trình bày mục đích của nó
+ Bước 2: Nghiên cứu cấu tạo của thiết bị để đưa ra mô hình của nó + Bước 3: Sử dụng mô hình để giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết
bị trên cơ sở vận dụng các mối quan hệ và mối quan hệ theo quy luật Vật lý đã biết Nếu ở bước 2 đưa ra mô hình vật chất chức năng thì ở bước 3 cần nó vận hành để minh họa nguyên lý hoạt động của thiết bị
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 24 http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.5.2 Dạy học các ứng dụng kỹ thuật Vật lý theo con đường 2
Nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ 2 thực chất là làm nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có chức năng kỹ thuật nào đó dựa trên những mối quan hệ nhân quả và nhưng mối quan hệ có tính quy luật Vật lý đã biết
Để nghiên cứu ứng dụng theo con đường này có hiệu quả thì các mối quan hệ có tính quy luật vật lý phải được ôn tập kĩ lưỡng, sau đó giáo viên phải đặt nhiệm vụ nhận thức trước học sinh Thiết kế chế tạo thiết bị có chức năng nào đó Xuất phát từ những định luật, nguyên lý Vật lý khái quát để thiết kế và một thiết bị kỹ thuật đòi hỏi học sinh phải có một tư duy kỹ thuật và tư duy kĩ thuật cao Ở đây giáo viên phải chú ý rằng những trường hợp riêng của định luật, nguyên lý Vật lý đã được nghiên cứu lại có định hướng tốt nhất đối với học sinh việc đề ra phương án thí nghiệm này
Các phân tích ở trên việc dạy học theo con đường thứ 2 có thể tiến hành theo các bước sau:
+ Bước 1: Ôn tập các định luật, nguyên lý Vật lý.mà nguyên tắc hoạt động của thiết bị trên các định luật nguyên lý
+ Bước 2: Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có chức năng nào đó trước học sinh
+ Bước 3: Hướng dẫn học sinh vận dụng các mối quan hệ có tính quy luật, có tính nhân quả về Vật lý đã biết để đề xuất những dự án thiết kế thiết bị
đó Tổ chức cho học sinh thảo luận các dự án thiết kế thiết bị theo phương án khả thi nhất
+ Bước 4: Đưa ra mô hình vật chất chức năng ứng với dự án đã lựa chọn
và mô hình vận hành để kiểm tra tính đúng đắn của thiết bị này
+ Bước 5: Bổ xung hoàn thiện mô hình về phương diện kỹ thuật, phù hợp với thực tiễn hoặc đưa ra vật chất hoặc mô hình có thêm các chi tiết kỹ thuật để học sinh có thể hiểu biết thêm đầy đủ về ứng dụng kỹ thuật, cuối
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 25 http://www.lrc.tnu.edu.vn
cùng là tóm tắt lại chức năng, cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của ứng dụng
kỹ thuật vừa nghiên cứu
Xét về quan điểm lý luận dạy học hiện nay, việc dạy học theo con đường thứ 2 có tác dụng tốt hơn đối với sự phát huy năng lực sáng tạo của học sinh Việc dạy các ứng dụng kỹ thuật mà nhiệm vụ thiết kế không quá phức tạp, phù hợp với trình độ của học sinh có thể theo con đường này Tất nhiên, trong quá trình giải quyết nhiệm vụ nhận thức, học sinh có thể khó khăn, khi đó giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ Việc dạy theo con đường này phụ thuộc nội dung kiến thức về ứng dụng ở các bậc học, tình hình trang thiết bị ở trường phổ thông và trình độ của học sinh
Trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ thiết ké quá phức tạp, vượt quá trình
độ của học sinh hoặc vượt quá yêu cầu của nội dung của kiến thức ở bậc học thì nên theo con đường thứ nhất
Nhưng khi dạy ứng dụng kỹ thuật theo con đường này, giáo viên cũng cần tránh sự thông báo, áp đặt mà cần hướng dẫn học sinh tự lực thực hiện công việc mà học sinh có thể làm
1.6 Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN đơn giản (DCTNĐG) trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
1.6.1 DCTNĐG tự làm trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
DCTNĐG tự làm là những thí nghiệm được GV và HS làm ra theo mẫu trong SGK, hoặc là những thí nghiệm được cải tiến từ các thiết bị máy móc, hoặc là những DCTNĐG tự làm theo ý tưởng, sáng kiến mới bằng những dụng
cụ đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng ngày.[13]
1.6.2 Một số yêu cầu đối với dụng cụ TN đơn giản tự làm
- Các DCTNĐG tự làm phải thể hiện rõ hiện tượng vật lí cần quan sát
- Sơ đồ lắp ráp phải dễ thực hiện, chú ý đến hiệu quả quan sát hơn là thẩm mỹ và sự tiện dụng
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 26 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Các dụng cụ, chi tiết, vật liệu cần dùng phải dễ kiếm rẻ tiền để cho nhiều HS có thể tự làm được
- Tận dụng các thiết bị đã trở thành hàng công nghiệp bán rộng rãi trên thị trường
- Ưu tiên những dụng cụ TN có thể hoạt động được để HS có thể thấy được diễn biến cuả hiện tượng vật lí trong tự nhiên.[11],[13],[20]
1.6.3 Các khả năng sử dụng các DCTNĐG tự làm trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
DCTNĐG tự làm có vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức dạy học Thông qua DCTNĐG tự làm, GV có thể phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học DCTNĐG tự làm hỗ trợ cho quá trình dạy học của GV, giảm thời gian thuyết trình [11], GV sẽ thuận lợi trong nghiên cứu dạy học theo hướng tích cực, phù hợp cho từng nội dung bài học, tăng tính hấp dẫn của môn Vật lí đối với HS và góp phần làm phong phú đồ dùng dạy học cho GV Ngoài ra, DCTNĐG tự làm rèn luyện cho HS tính tự lực, sáng tạo, ham học hỏi, tìm tòi khám phá tự nhiên, HS có niềm tin vào bản thân, giải quyết được các tình huống xảy ra trong cuộc sống và tạo cho HS nhiều cơ hội, tình huống phải suy nghĩ, những vấn đề phải giải quyết Khi tiến hành thí nghiệm tự tạo, những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh của HS như: tò mò, hiếu kì, hiếu động của HS bị kích thích, tăng mức độ hứng thú của HS trong giờ học Tạo sự say mê tìm hiểu những hiện tượng thiên nhiên, qua đó HS sẽ yêu thích giờ học vật lí hơn HS được rèn luyện các kỹ năng thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt thông tin Các thông tin này là kết quả của một quá trình lao động, tư duy sáng tạo của thầy và trò, góp phần rèn luyện kỹ năng thực hành
DCTNĐG tự làm có nhiều ưu điểm trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS: Dụng cụ cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm nên GV
và HS có thể tự chế tạo Thí nghiệm có hình thức gọn nhẹ, đơn giản, dễ lắp ráp,
dễ sử dụng nên có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi Thí nghiệm dễ thành công,
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 27 http://www.lrc.tnu.edu.vn
cho kết quả rõ ràng, thuyết phục nhưng lại ít tốn thời gian Thao tác tiến hành thí nghiệm không đòi hỏi phải có những kỹ năng đặc biệt nên GV nào cũng có thể làm được Không đòi hỏi khắc khe về cơ sở vật chất nên ở đâu cũng tiến hành thí nghiệm được Thí nghiệm phù hợp, bám sát với nội dung cần dạy nên rất thuận lợi trong dạy học.[20]
Tuy nhiên, DCTNĐG tự làm vẫn tồn tại một số hạn chế: DCTNĐG tự làm hầu hết là những thí nghiệm định tính, rất ít thí nghiệm định lượng Các dụng cụ dùng cho thí nghiệm ít bền, dễ hư hỏng Đồng thời có sự hạn chế về mặt thẩm mỹ
1.6.4 TN vật lí (TNVL) ở nhà với tư cách là một loại bài làm mà GV giao cho từng HS hoặc nhóm HS thực hiện ở nhà
- Khác với các TN khác, HS tiến hành TNVL trong điều kiện không có
sự giúp đỡ, kiểm tra trực tiếp của GV nên có tác dụng trên nhiều mặt đối với việc phát triển nhân cách của HS
- Loại TN này cũng tạo điều kiện cho GV cá thể hóa quá trình học tập của HS
- Khi sử dụng loại TN này trong dạy học vật lí, GV cần bố trí thời gian
để HS báo cáo trước toàn lớp các kết quả đã đạt được, giới thiệu những sản phẩm của mình, nhận được sự đánh giá của GV và của tập thể cũng như động viên, khen thưởng kịp thời
- TNVL ở nhà không những nhằm đào sâu, mở rông các kiến thức đã học
mà trong nhiều trường hợp các kết quả mà HS thu được sẽ là cứ liệu thực
nghiệm cho việc nghiên cứu kiến thức mới ở các bài học sau trên lớp.[13], [14] 1.7 Phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học ngoại khóa vật lí
Hoạt động ngoại khoá là một hình thức dạy học có thể tạo nhiều điều kiện cho học sinh phát huy được tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 28 http://www.lrc.tnu.edu.vn
của mình Để đánh giá được hiệu quả của hoạt động ngoại khoá trong việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thì chúng
ta cần phải nghiên cứu những đặc điểm và biểu hiện của chúng trong quá trình học sinh hoạt động
1.7.1 Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập
a) Khái niệm về tính tích cực của học sinh trong học tập
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức “một sự nhận thức làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” (P.N.Erddơniev, 1974) Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất
là nói đến tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh, đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
b) Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực của học sinh trong học tập biểu hiện qua các hành động cụ thể như:
- Học sinh tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
- Học sinh sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ mà giáo viên giao cho
- Học sinh tự giác thực hiện các nhiệm vụ mà mình đã nhận mà không cần phải để giáo viên đôn đốc, nhắc nhở
- Học sinh yêu cầu được giải đáp thắc mắc về những lĩnh vực còn chưa rõ
- Học sinh mong muốn được đóng góp ý kiến với giáo viên, với bạn bè những thông tin mới mẻ hoặc những kinh nghiệm có được ngoài sách vở, từ những nguồn khác nhau
- Học sinh tận dụng thời gian rỗi của mình để cố gắng hoàn thành công việc, hoặc hoàn thành công việc sớm hơn thời hạn hoặc xin nhận thêm nhiệm vụ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 29 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Học sinh thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương
án giải quyết vấn đề, mong muốn được giáo viên giúp đỡ, chỉ dẫn mà không nản chí khi gặp khó khăn
Ngoài ra, tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập cũng như trong hoạt động ngoại khoá còn có thể nhận thấy trong biểu hiện về mặt ý chí, như: sự tập trung vào vấn đề đang nghiên cứu, kiên trì theo đuổi mục tiêu, không nản chí trước những khó khăn hoặc thái độ phản ứng trong những buổi học, buổi hoạt động nhóm là hào hứng, sôi nổi hay chán nản, thờ ơ.[27]
c) Các cấp độ của tính tích cực học tập
Có thể phân biệt tính tích cực ở ba cấp độ khác nhau như sau:
+ Cấp độ 1 - bắt chước: Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên và của bạn bè Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và cơ bắp
+ Cấp độ 2 - tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề, thử nhiều cách khác nhau để giải quyết hợp lí vấn đề
+ Cấp độ 3 - sáng tạo: Học sinh nghĩ ra cách giải quyết mới độc đáo hoặc cấu tạo những nhiệm vụ mới, bài tập mới hay những thí nghiệm mới để chứng minh bài học.[17]
Những biểu hiện và các cấp bậc của tính tích cực trong học tập của học sinh nêu trên chính là những căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của quy trình hoạt động ngoại khóa về chương “Dòng điện trong các môi trường” đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh trong thực nghiệm sư phạm
d) Các biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh
- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 30 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Kích thích hứng thú nội dung: Muốn kích thích hứng thú nhận thức của
HS thì nội dung phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ
và phát triển cái cũ, phát triển những kiến thức và kinh nghiệm mà các em đã có
- Kích thích hứng thú nhận thức qua phương pháp dạy học (PPDH):
Để tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều PPDH với nhau, những phương pháp có tác dụng tốt nhất trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức là: dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, sử dụng các phương tiện hiện đại, tổ chức thảo luận, tự học, bài tập, trò chơi học tập… Hệ thống kiến thức phải được trình bày dưới dạng vận động, phát triển và mâu thuẫn với nhau
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật DH hiện đại: Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực của HS; việc sáng tạo và sử dụng các phương tiện dạy học trong điều kiện hiện đại đòi hỏi phải thấm đượm tinh thần phát huy tính tích cực sáng tạo của HS
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể lớp, làm việc trong vườn trường, xưởng trường, phòng thí nghiệm, tổ chức tham quan, các hoạt động nội khoá, ngoại khoá đa dạng.[17]
1.7.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập
a) Khái niệm năng lực sáng tạo
“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” sáng tạo, bách khoa
toàn thư, Liên Xô Tập 42.[1]
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra các mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Như vậy, sản phẩm của
sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng cách suy luận lôgics hay bắt chước làm theo mà nó là sản phẩm của tư duy trực giác