Sự ra đời của các công ty này đã làm cho cạnh tranh trên thị trường diễn ra hết sức khốc liệt.Như vậy có thể nói, việc phát triển thị trường dich vụ viễn thông là một tất yếu khách quan
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chính sách phát triển thị trường viễn thông tại thành phố Hà Nội” là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của tôi
Các số liệu trong đề tài được thu thập và xử lý một cách trung thực Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là thành quả của cá nhân tôi dưới
sự chỉ bảo của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Hoàng Văn Thành Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn không sao chép lại bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đã
có từ trước, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Tác giả luận văn
Vũ Thị Diệu Linh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài tốt nghiệp: “Chính sách phát triển thị trường viễn
thông trên địa bàn thành phố Hà Nội” một cách hoàn chỉnh trong thời gian nghiên
cứu, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường Đại học Thương mại đã tạo điều kiện cho tôi được học tập,
bổ sung kiến thức để có nền tảng kiến thức nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn.Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS TS Hoàng Văn Thành, người đã tận tình hướng dẫn, luôn động viên và khích lệ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Và tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Tổng Giám đốc Tổng công ty viễn thông Viettel , các Phòng ban thuộc Tổng Công ty Viễn thông Viettel, Bộ Thông tin và Truyền thông các doanh nghiệp viễn thông đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi có những thông tin, số liệu thực
tế về vấn đề nghiên cứu, giúp tôi đánh giá một cách tổng quan và rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn vô cùng quý báu cho việc đề xuất các giải pháp và kiến nghị cho Luận văn tốt nghiệp
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện về thời gian, môi trường học tập để em có thể hoàn thành tốt Luận văn như ngày hôm nay
Với sự hỗ trợ nhiệt tình từ các nhân tố khách quan và sự nỗ lực hết sức từ nhân tố chủ quan tôi đã cố gắng hoàn thành Luận văn đúng hạn với nội dung đầy đủ, có hướng
mở Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ, thời gian, luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của Quý thầy cô giáo, các anh/ chị và các bạn đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i
Trang 3DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường viễn thông thế giới ngày càng mở rộng với tốc độ thay đổi rất lớn, trở thành một lĩnh vực có sự tăng trưởng hàng đầu trong nền kinh tế thế giới và là một trong những ngành quan trọng nhất của hoạt động xã hội, văn hoá và chính trị Viễn thông Việt Nam đã hội nhập quốc tế về công nghệ, dịch vụ và mô hình kinh doanh từ khá sớm Về thị trường, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực từ năm 2001 cho phép Mỹ tham gia thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam nhưng thực tế chủ yếu vẫn chỉ có cạnh tranh trong nước Để ổn định thị trường viễn thông tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh góp phần thúc đẩy của ngành bền vững Theo hướng phát triển công nghệ hiện đại, chất lượng dịch vụ tốt , giá cả ngày càng giảm, mang lại lợi ích cho khách hàng, tăng trưởng cho doanh nghiệp Nhà nước
đã có những chính sách mang tính định hướng lâu dài cũng như chính sách điều chỉnh hoạt động cho doanh nghiệp.Từ các quy định quản lý về hạ tầng, công nghệ và quản lý thông tin thuê bao , chính sách về giá cả, khuyến mại đến các quy định mang tính luật pháp như luật viễn thông, luật cạnh tranh , luật Doanh nghiệp… Sự thay đổi liên tục của chính sách trong những năm gần đây đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và định hướng của doanh nghiệp
Nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nhiều công ty kinh doanh viễn
thông đã ra đời Sự ra đời của các công ty này đã làm cho cạnh tranh trên thị trường diễn ra hết sức khốc liệt.Như vậy có thể nói, việc phát triển thị trường dich vụ viễn thông là một tất yếu khách quan và có những chính sách phát triển hợp lý đối với thị trường viễn thông là hết sức cần thiết.Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về việc xây dựng chính sách phát triển
thị trường viễn thông tôi đã chọn đề tài “Chính sách phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội” để nghiên cứu các tác động của chính sách
phát triển thị trường viễn thông từ đó đưa ra các giải pháp để có thể đưa ra đề xuất nhằm phát triển thị trường viễn thông
Trang 52 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Chính sách phát triển thị trường viễn thông mang tính thời sự cao trong thời gian gần đây và được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng.Tuy nhiên việc nghiên cứu đánh giá đầy đủ tác động của các chính sách này đến thị trường viễn thông chưa được đề cập đầy đủ Chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan như sau :
- Vũ Đức Đam (1996), Phát triển viễn thông trong nền kinh tế hiện đại, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội
- Đỗ Doãn Qúy (2004), Chính sách hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Bưu chính- Viễn thông của Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Business Edge (2006), Nghiên cứu thị trường - Giải mã nhu cầu khách hàng, nhà xuất bản Trẻ, TPHCM
- Bùi Xuân Phong(2007), “ Suy nghĩ về năng lực cạnh tranh của dịch vụ viễn thông”, Thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện,
- Trần Sửu ( 2005), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa, nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội
- Nguyễn Quốc Thịnh (2006) “Tập đoàn và WTO: Hai tác nhân quan trọng làm thay đổi bản chất hoạt động kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông”, Đặc san
tài liệu tham khảo của VNPT, số 08/2006, trang 161-164
-Bùi Quốc Việt (2002), Marketing dịch vụ viễn thông trong hội nhập và cạnh tranh, Nhà xuất bản bưu điện, Hà Nội.
- Đoàn Phúc Thanh (2000), nguyên lý quản lý kinh tế ,Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thủ đô Hà nội giai đoạn 2010 –
2020, tầm nhìn 2030 UBND Thành phố Hà Nội, 2006 đánh giá một cách tổng quát
về tình hình phát triển bưu chính viễn thông của Hà Nội trong thời gian qua, chỉ rõ những thành tựu đạt được, những tồn tại khó khăn , thách thức và nguyên nhân làm cơ sở cho việc đề xuất các nội dung chính của bản Quy hoạch phát triển bưu chính viễn thông thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng năm đến 2030
Trang 6Những nội dung chính bao gồm những định hướng chiến lược lớn, quan điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp tổ chức thực hiện nhằm hoàn thành tốt các mục tiêu
đề ra xây dựng phát triển bưu chính viễn thông thành phố Hà Nội đến năm 2020 đảm bảo dẫn đầu cả nước và ngang tầm phát triển trong khu vực và một số nước trên thế giới
- Cuốn sách “ Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Vai trò trong chiến lược phát triển quốc gia và kinh nghiệm của một số nước ” của tác giả Trần Minh
Tiến, Nguyễn Thành Phúc.Viện chiến lược Bưu chính,Viễn thông và Công nghệ thông tin giới thiệu , chủ yếu trình bày việc tạo động lực phát triển từ ICT,bao gồm:
cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, chính sách , doanh nghiệp, ứng dụng , hiệp ước của chiến lược và chương trình hành động, chưa đưa vào lĩnh vực cụ thể là Viễn thông
- Trần Đăng Khoa (2009) Phát triển thị trường viễn thông Việt Nam đến năm
2020 , Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
- Bùi Xuân Phong , Quản trị kinh doanh Viễn thông theo hướng hội nhập kinh
tế ,NXB Bưu điện,(2006).Với công trình này, sau khi đề cập những vấn đề chung về
kinh doanh và quản trị kinh doanh Viễn thông ; các lĩnh vực quản trị kinh doanh viễn thông , trong chương 10 đề cập đến một số lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Viễn thông ; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Viễn thông
- Ngô Hoàng Yến, Luận án Tiến sĩ kinh tế Nâng cao sức cạnh tranh dịch vụ Viễn thông của Tập đoàn BCVT (VNPT) trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO,Viện nghiên cứu thương mại ,(2010).Công trình này đề cập đến một số lý luận
chủ yếu về sức cạnh tranh dịch vụ thông tin di động và truy nhập Internet băng rộng.Đánh giá thực trạng sức cạnh tranh dịch vụ thông tin di và truy nhập Internet băng rộng của Tập đoàn BCVT Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh các dịch vụ Viễn thông chính của VNPT trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO
Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về chính sách phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội Vì vậy việc thực hiện đề tài sẽ
Trang 7không trùng lặp,đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận,thực tiễn lớn đối với việc thực hiện chính sách phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020
3.Các mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách thị trường viễn thông ở thành phố
Hà Nội.Từ đó đề ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển thị trường viễn thông Thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Mục tiêu cụ thể :
Luận văn hướng tới việc thực hiện ba mục tiêu nghiên cứu cơ bản sau:
- Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận về chính sách phát triển thị trường viễn thông
- Hai là, nghiên cứu, phân tích thực trạng chính sách phát triển thị trường viễn thông của thành phố Hà Nội từ năm 2011- 2015
- Ba là, nghiên cứu để đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách phát triển thị trường viễn thông của thành phố Hà Nội đến năm 2020
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Những vấn đề lý luận chính sách phát triển thị trường viễn thông và thực trạng của chính sách phát triển thị trường viễn thông của thành phố Hà Nội
- Về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu tại địa bàn thành phố Hà Nội.
- Về mặt thời gian: Thời gian khảo sát thực trạng từ năm 2011đến nay, các đề xuất
giải pháp từ năm 2015 tầm nhìn đến năm 202
5.Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Các chủ trương chính sách thương mại, chính sách tài chính có liên quan đến
Trang 8các hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông của thành phố Hà Nội.
Ngoài ra, tham khảo một số sách báo, tạp chí kế toán và kinh tế những năm gần đây để có thể nắm bắt số liệu và quy luật, hiện tượng kinh tế chính trị liên quan; Giáo trình Phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại của Trường Đại học Thương mại; luận văn, các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học của những khoá trước và tài liệu viết về lý thuyết maketing, quản lý kinh tế và phân tích quản lý
5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
a Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích số liệu cho phép tác giả tiếp cận tình hình nghiên cứu một cách nhanh nhất Dựa trên những nghiên cứu đi trước, tác giả sử dụng nguồn thông tin đã được nghiên cứu để làm sáng tỏ cho vấn đề mình nghiên cứu Mặt khác, những thông tin thu được không chỉ cung cấp một bức tranh chung về thực trạng thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội mà còn giúp tác giả so sánh tìm ra những nét mới, những khía cạnh cần khai thác sâu cho đề tài về chính sách đối với thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay Tác giả đã sử dụng một số dạng tài liệu sau: tài liệu nghiên cứu
và xuất bản của các nhà khoa học trong và ngoài nước; những công trình nghiên cứu khoa học, luận án tốt nghiệp; tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài; các trang tin điện tử của báo vneconomy, vnpt…; các báo cáo của Sở TT&TT Hà Nội, Bộ TT&TT, Tổng cục Thống kê, của doanh nghiệp ; Luật viễn thông
b Phương pháp dùng bảng biểu, sơ đồ để phân tích
Sử dụng phương pháp này giúp việc phân tích một cách thuận lợi, dễ dàng hơn
để theo dõi, đối chiếu, so sánh giữa các chỉ tiêu trên bảng và biểu đồ so sánh
- Biểu mẫu phân tích: Được thiết kế theo các dòng và cột tuỳ thuộc vào nội dung phân tích
Qua bảng biểu so sánh về các chỉ tiêu của công ty: doanh thu, chỉ tiêu thuê bao từ năm 2011 đến 2015 sẽ cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Qua những sơ đồ, dữ liệu trong đó sẽ rút ra được những đánh giá, nhận xét cũng như dự đoán, tìm ra được các quy luật của sự phát triển hay biến đổi để từ đó có thể đưa ra kết luận, kiến nghị nhằm hoàn thiện, phát triển thị trường viễn thông một cách bền vững
Trang 96 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được chia làm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách phát triển thị trường viễn thông tại địa phương
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp đối với chính sách phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG
1.1 Khái niệm cơ bản về chính sách phát triển thị trường viễn thông
1.1.1 Khái niệm dịch vụ và dịch vụ viễn thông
*Dịch vụ
Có thể nói trong các tài liệu kinh tế, khái niệm dịch vụ được sử dụng rộng rãi
và phong phú.Nhưng bản chất của dịch vụ được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau.Cùng với sự phát triển của lịch sử các mô hình kinh tế và tiến bộ xã hội, khái niệm dịch vụ cũng thay đổi và ngày càng đa dạng hơn Dịch vụ ngày nay có thể thấy bản chất của nó là công việc được thực hiện theo đơn đặt hàng nhưng không tạo ra sản phẩm có hình thái độc lập mới Hoặc, dịch vụ là những dạng hoạt động, công việc, mà trong quá trình thực hiện chúng không tạo ra sản phẩm vật chất có hình thái vật thể mới, nhưng làm cho sản phẩm hiện có đã được tạo ra thay đổi về chất Từ những quan điểm trên, có thể thấy điểm chung trong các quan niệm về dịch vụ là đều coi dịch vụ là kết quả có ích của một dạng lao động đặc thù Kết quả đó được biểu hiện ra dưới hình thái phi vật thể hay vô hình.Thứ nhất, dịch vụ là sản phẩm vô hình có thể dễ dàng định lượng và tiêu chuẩn hóa Còn kết quả của hoạt động dịch vụ, mặc dù có thể cảm nhận, đánh giá, nhưng rất khó lượng hoá vì không tách riêng ra dưới hình thái hiện vật được Phần lớn công việc của những người làm dịch vụ thường biến đi ngay khi làm xong, rất ít khi để lại một dấu vết hay một giá trị nào đó để sau này có thể cho ta nhận được một số lượng dịch vụ ngang như thế Kết quả một số dịch vụ nhất định có thể tồn tại như một giá trị sử dụng có hình thái độc lập, tách khỏi người sản xuất và người tiêu dùng, có thể duy trì sự tồn tại, lưu thông trong một khoảng thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng như những tác phẩm nghệ thuật…Thứ hai, phần lớn dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời, nên dịch vụ không thể tích luỹ, để dành Sản phẩm hiệu vật có thể tách rời sản xuất với tiêu dùng, có thể tích trữ trong kho, nhưng dịch vụ thì thường sản xuất đến đâu tiêu dùng đến đấy, không tiêu dùng sẽ bỏ phí vì dịch vụ không thể tích trữ, để dành Ví dụ, khi xe chở khách, người lái xe tạo ra sự di chuyển đến đâu thì hành khách hưởng thụ đến đó Nếu xe có 4 chỗ mà chỉ có một người ngồi thì ba chỗ còn lại sẽ bị bỏ phí,
Trang 11không thể để dành cho lần sau được.Thứ ba, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp xúc trực tiếp hay sự tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và người được thụ hưởng dịch vụ Sản phẩm hiện vật có thể đánh giá thông qua các tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng Còn chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào sự giao tiếp, thái độ và năng lực đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, đem lại sự hài lòng và thiện cảm của khách hàng đối với người phục vụ.Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình dịch vụ cũng trở thành hàng hoá Bên cạnh những hàng hoá hiện vật, trên thị trường còn có những hàng hóa vô hình hay dịch vụ, như dịch vụ của bác sĩ, giáo viên, luật sư, v.v Giá trị sử dụng của dịch vụ là cũng đáp ứng một nhu cầu nào đó của người mua Để tạo ra dịch vụ cũng cần tới những chi phí lao động nhất định Những người làm dịch vụ cũng cần nhận được thu nhập bằng tiền
từ hoạt động dịch vụ của mình, đồng những người được thụ hưởng dịch vụ cũng phải chi tiền để được hưởng thụ những dịch vụ đó Việc mua những dịch vụ hoàn toàn không khác gì chi tiền mua bất cứ loại hàng hóa nào khác, vì vậy, dịch vụ cũng có giá trị trao đổi Căn cứ chủ yếu để xác định giá cả thị trường của dịch vụ
là chi phí sản xuất ra chúng
• Dịch vụ viễn thông :
Theo quy định tại Điều 37 - Nghị định số 109/CP, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp
Theo Luật viễn thông, dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch
vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng
Tóm lại, dịch vụ viễn thông là kết quả tất yếu được nảy sinh từ nhu cầu sản xuất ra các phương thức, phương tiện truyền tải thông tin nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và nhu cầu đời sống con người Quá trình
Trang 12truyền tải thông tin không những thường gắn liền với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hoặc giữa các quá trình đó với nhau Nó được xác định bằng đại lượng thời gian, không gian truyền tin Quá trình truyền tải thông tin ban đầu được thực hiện thông qua dịch vụ , nhưng dưới tác động của nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ, dịch vụ viễn thông đã được hình thành và phát triển nhanh với nhiều loại hình phong phú, đa dạng Dịch vụ viễn thông thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể cung cấp và thụ hưởng dịch vụ truyền tải thông tin thông qua hoạt động của ngành viễn thông.
Các loại hình dịch vụ viễn thông:
Các dịch vụ viễn thông được phân loại theo nghiệp vụ đi liền với các thiết bị đầu cuối như dịch vụ thoại, dịch vụ fax, dịch vụ điện báo, dịch vụ truyền số liệu, dịch vụ di động, dịch vụ nhắn tin, dịch vụ internet v.v Các dịch vụ viễn thông được chia làm hai nhóm, đó là:
Một là, những dịch vụ viễn thông cơ bản: Dịch vụ viễn thông cơ bản là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin Dịch vụ viễn thông cơ bản gồm: Dịch vụ điện thoại; Dịch vụ điện báo; Dịch vụ Telex; Dịch vụ Fax; Dịch vụ thuê kênh riêng; Dịch vụ truyền số liệu; Dịch vụ truyền hình, truyền ảnh, âm thanh; Dịch
vụ truyền báo điện tử; Dịch vụ điện thoại di động; Dịch vụ nhắn tin
Hai là, những dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng: Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng gồm: Dịch vụ thư điện tử; Dịch vụ hộp thư thoại; Dịch vụ lưu trữ, cung cấp thông tin; Các dịch vụ Internet: thư tín điện tử, truyền tệp dữ liệu, truy nhập từ xa, truy nhập các cơ sở dữ liệu theo các phương thức khác nhau
Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy
Trang 13nhập Internet Dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ viễn thông cho người sử dụng Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định pháp luật về viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc phân loại các loại hình dịch vụ viễn thông như đã nêu ở trên chỉ nhằm mục đích gắn kết việc quản lý dịch vụ với quản lý về kỹ thuật và nghiệp vụ đối với từng loại dịch vụ đó Trong điều kiện hội tụ công nghệ và dịch vụ viễn thông như hiện nay cùng với việc xuất hiện của các công nghệ đa phương tiện thì cách phân loại nói trên đã trở nên không còn phù hợp nữa Đặc biệt là cũng không phù hợp với
lộ trình mở cửa thị trường viễn thông trong thời gian sắp tới của đất nước, khi mà sẽ
có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông, sẽ dẫn đến việc không phân định rõ doanh nghiệp loại nào thì được cung cấp dịch vụ
gì, mức độ mở cửa đến đâu nên cơ quan quản lý sẽ phải quy định một cách cứng nhắc bằng từng giấy phép cụ thể đối với từng loại dịch vụ cho từng doanh nghiệp, dẫn đến việc không rõ ràng hay không minh bạch trong quản lý, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng có những hiểu lầm đáng tiếc từ phía xã hội về việc vẫn tồn tại hay còn mang nặng tính chất độc quyền trong cung cấp các dịch vụ viễn thông Để khắc phục những vướng mắc này, thì việc xác định khái niệm và phân loại dịch vụ viễn thông là hết sức quan trọng
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ viễn thông
Dịch vụ viễn thông có những đặc điểm cơ bản của dịch vụ nói chung nhưng đồng thời măng những sắc thái riêng, đặc thù gắn với hoạt động của ngành viễn thông và nhu cầu của các chủ thể thụ hưởng dịch vụ viễn thông Những đặc điểm đó bao gồm: sản phẩm dịch vụ không mang hình thái hiện vật, hay là sản phẩm vô hình; không chia tách được, thiếu ổn định và không thể dự trữ được
+ Dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình
Hầu hết các dịch vụ viễn thông không thể sờ mó hoặc sử dụng trước khi mua, khách hàng khó có thể đánh giá được là họ đang mua gì trước khi mua Sản phẩm dịch vụ viễn thông khác với sản phẩm hàng hoá khác ở chỗ sản phẩm dịch vụ
Trang 14viễn thông là loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt, là dịch vụ truyền tải thông tin, không
có tính vật thể Không thể kiểm tra, trưng bày hoặc bao gói dịch vụ được Khách hàng thường cảm thấy rủi ro hơn khi mua dịch vụ này so với các loại hàng hóa và dịch vụ khác và điều này cản trở trao đổi dịch vụ Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vượt qua các hạn chế này để tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua các cửa hàng bán lẻ, hình ảnh tượng trưng và sử dụng các biểu tượng để thay thế hàng hóa vì bản thân hàng hóa không thể nhìn thấy hoặc cầm nắm được Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ phải tạo ra các ý niệm hữu hình cho các dịch vụ của họ
Nói chung, khách hàng khó đánh giá giá trị của bất cứ dịch vụ nào Khách hàng không thể hình dung các dịch vụ viễn thông họ sử dụng được tạo ra như thế nào hay chi phí của dịch vụ là bao nhiêu
+ Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ viễn thông diễn ra đồng thời
Quy trình sản xuất của dịch vụ viễn thông không được gián đoạn, phải đảm bảo tính toàn trình, toàn mạng, không thể phân cắt Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra cùng một lúc Khi một khách hàng nhấc ống nghe liên lạc được với người cần gặp ở đầu máy bên kia là dịch vụ bắt đầu thực hiện được cuộc gọi, và anh
ta bắt đầu phải trả tiền Hoặc khi bắt đầu gửi thư, gửi hàng hoá thì cũng bắt đầu thực hiện quá trình vận chuyển thư, hàng hoá, và người gửi cũng đã phải trả cước chuyển thư, chuyển hàng hoá bưu phẩm, bưu kiện trước đó Nghĩa là song song với quá trình hoạt động của cả hệ thống thông tin, hệ thống là đồng thời với cả quá trình người tiêu dùng dịch vụ viễn thông, cũng đồng thời với quá trình tính tiền cước các cuộc gọi, cước vận chuyển hàng hoá, tiền tệ… bằng giá cả thời gian, trọng lượng và giá trị
Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc Ngược lại, đối với dịch
vụ viễn thông, nếu không có tiêu dùng dịch vụ thì hệ thống dịch vụ cũng không hoạt động Trên thực tế hệ thống dịch vụ viễn thông ở từng công đoạn, từng thời gian hoạt động vẫn có sự gián đoạn, nhưng xét trong cả hệ thống dịch vụ thì luôn luôn hoạt động 24/24 giờ trong ngày Vì vậy nếu khách hàng không sử dụng hết công suất phục vụ thì cũng xẩy ra sự lãng phí trong cả hệ thống Đây cũng là bài toán
Trang 15kinh tế cho các địa phương, doanh nghiệp và chính phủ trong xây dựng qui hoạch phát triển, điều hành sử dụng mạng lưới làm sao cho hợp lý, hiệu quả.
+ Dịch vụ viễn thông có tính không ổn định
Đối với khách hàng, dịch vụ và người cung cấp dịch vụ là một Nhưng trên thực
tế thì chất lượng dịch vụ nhiều khi phụ thuộc vào các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của nhà cung cấp dịch vụ, như đại diện của nhà cung cấp dịch vụ, môi trường cung cấp dịch vụ, khách hàng được cung cấp dịch vụ Khách hàng của dịch vụ viễn thông thường mong đợi sử dụng dịch vụ với chất lượng cao và luôn sẵn sàng bất cứ lúc nào họ cần.Vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có thể giảm tính không ổn định của dịch vụ bằng cách xây dựng thực hiện tốt tự động hoá các khâu trong cả hệ thống, thực hiện tiêu chuẩn hoá qui trình cung cấp dịch vụ, tăng cường đào tạo nhân viên và củng cố thương hiệu
+ Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ được
Sản phẩm vòng quay nhanh, bán và thu tiền nhanh, phạm vi rộng Hệ thống CSHT của dịch vụ được dùng chung và thiết kế để có thể cung cấp một công suất nhất định tại bất cứ thời điểm nào Giảm giá cuối tuần và ban đêm cho điện thoại đường dài
và di động là biện pháp điều tiết nhu cầu sử dụng dịch vụ trên hệ thống theo thời gian nhằm tránh quá tải của hệ thống, tăng hiệu quả kinh tế của dịch vụ, tăng nhu cầu
về dịch vụ Những khoảng thời gian nào đó dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là
bị thất thu vĩnh viễn Thất thu còn xẩy ra khi hệ thống bị quá tải, nghĩa là khi người ta thấy máy nào cũng bận thì họ có thể sẽ không thực hiện cuộc gọi đó nữa
Tóm lại, dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình vì các dịch vụ không thể sờ
mó hoặc sử dụng trước khi mua Dịch vụ viễn thông không chia tách được vì quá trình sản xuất và tiêu dùng của dịch vụ diễn ra cùng một lúc Dịch vụ viễn thông có tính không ổn định vì chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của nhà cung cấp Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ, cất vào kho được, thời lượng dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là bị lãng phí Những đặc điểm nêu trên có ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư vào ngành viễn thông
1.1.3 Khái niệm thị trường và thị trường viễn thông
Trang 16Theo góc độ kinh tế học, thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi mua – bán, là tổng số và cơ cấu cung - cầu và điều kiện diễn ra tương tác cung – cầu thông qua mua bán hàng hóa bằng tiền tệ.
Theo L Rendos định nghĩa, thị trường là tổng hợp các quan hệ trao đổi giữa người bán với người mua được thực hiện trong những điều kiện của sản xuất hàng hóa.Như vậy, theo nghĩa rộng thị trường là một tập hợp người bán và người mua thỏa thuận các điều kiện trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ được tiến hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Trong marketing, thị trường là tổng thể khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó, Một số tác giả khác cho rằng thị trường là những cá nhân và hộ gia đình mua hay bằng một phương thức nào đó có được hàng hoá và dịch vụ để tiêu dùng cho cá nhân Và vì vậy, thị trường là tổng số khách hàng đang sử dụng sản phẩm và dịch vụ cùng loại
Từ đó, chúng ta có thể định nghĩa, thị trường viễn thông là tổng số khách hàng là các cá nhân, các nhóm người hay các tổ chức hiện có và tiềm ẩn sử dụng dịch vụ viễn thông nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ.Vậy khi nói tới thị trường dịch
vụ viễn thông không phải nói tới thị trường theo nghĩa rộng là sự trao đổi về dịch
vụ thuê bao giữa nhà cung cấp với khách hàng mà nói tới số lượng và đặc điểm khách hàng đang và sẽ sử dụng dịch vụ này
1.1.4 Khái niệm chính sách và chính sách phát triển viễn thông
Có nhiều quan niệm về phạm trù “chính sách” Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính : “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế Kinh tế gia FrancEllis lại cho rằng: “Chính sách được xác định như đường lối hành động mà chính phủ lựa chọn với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả mục tiêu mà chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó Giáo trình của Đại học Kinh tế quốc dân nêu: Chính sách là hệ thống quan điểm , chủ trương,
Trang 17biện pháp và quản lý được thể chế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước.
Những quan điểm trên đề cập đến phạm trù chính sách theo những khía cạnh khác nhau và theo những mục đích khác nhau.Tuy nhiên khi đề cập đến phạm trù chính sách cần làm rõ: Chính sách là gì, ai là người tạo ra nó, nó tác động đến ai, cái
gì Từ yêu cầu trên có thể hiểu rằng, chính sách là công cụ, là biện pháp của nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế theo những mục tiêu nhất định, với những điều kiện thực hiện nhất định trong một thời hạn nhất định.Ngành viễn thông là ngành và lĩnh vực có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù.Tính đặc thù trong hoạt động kinh tế , xã hội đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp can thiệp khác với các ngành và lĩnh vực khác Sự đòi hỏi đó là cơ sở khách quan hình thành nên chính sách cho ngành viễn thông
Theo đối tượng soạn thảo và ban hành chính sách cho ngành viễn thông có các chính sách của Bộ thông tin và truyền thông và Sở thông tin và truyền thông tại địa phương ban hành Như vậy theo đối tượng soạn theo có thể định nghĩa: Chính sách
phát triển thị trường viễn thông tại địa phương là do chính sách từng địa phương soạn thảo, ban hành theo hệ thống quản lý nhà nước hiện hành.Chính sách phát triển thị trường tại địa phương có tác động theo từng địa phương tương ứng cấp soạn thảo và ban hành chúng Vì vậy mức độ huy động nguồn lực và phạm vi ảnh
hưởng nhỏ hơn
Cơ sở hình thành chính sách phát triển thị trường viễn thông dựa trên sự lựa chọn chiến lược, mục tiêu phát triển viễn thông của địa phương, chính sách phát triển viễn thông của quốc gia và vận dụng các lý thuyết về phát triển vùng, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh; tổ chức không gian kinh tế, phát huy vai trò của cấp chính quyền địa phương trong phạm vi phân cấp của Chính phủ.Chính sách phát triển thị trường viễn thông tác động lên từng phần hoặc toàn
bộ các ngành viễn thông hiện có hoặc sẽ thu hút đầu tư tại địa phương.Như vậy chính sách phát triển thị trường viễn thông vừa bao gồm chính sách có tác động trực tiếp trên bình diện liên ngành vừa bao gồm các chính sách có tác động trên bình
Trang 18diện nội bộ ngành trên địa bàn Các tác nhân phát triển thị trường viễn thông của vùng địa phương bao gồm cấp quản lý, các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh lĩnh vực viễn thông
Chính sách phát triển thị trường viễn thông có mối quan hệ với các hoạt động khác trong phát triển kinh tế như: xây dựng quy hoạch, kế hoạch,chính sách marketing, các chương trình phát triển kinh tế, nâng cấp cơ sở hạ tầng, phát triển thị trường , sử dụng nguồn lực
Chính sách phát triển thị trường viễn thông có ba chức năng cơ bản đó là chức năng định hướng,chức năng điều tiết, chức năng tạo tiền đề để phát triển và khuyến khích phát triển cho các hoạt động liên quan đến viễn thông
1.2.Vai trò của phát triển thị trường viễn thông đối với sự phát triển của kinh tế- xã hội
Thứ nhất, phát triển thị trường viễn thông đáp ứng nhu cầu cần thiết về trao đổi, thu nhận thông tin giữa các chủ thể trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và đời sống sinh hoạt của con người Dịch vụ viễn thông là công cụ thông tin hiệu quả nhất, nhanh nhạy nhất với yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn, thuận tiện cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng, là yếu tố nhạy cảm có liên quan đến vấn đề chính trị xã hội, kinh tế, quân sự và an ninh quốc gia, là những công cụ quản lý quan trọng của hệ thống chính trị Các nước ở giai đoạn đầu phát triển đều coi viễn thông là lĩnh vực độc quyền đạt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước
Thứ hai, phát triển thị trường viễn thông là nhân tố đặc biệt quan trọng thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội Sản xuất ngày càng mang tính xã hội hoá cao, từ đó nhu cầu trao đổi, truyền tải, thu nhận thông tin của các chủ thể kinh tế càng lớn Vì vậy sự phát triển của dịch vụ viễn thông có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng tiến bộ, nâng cao năng suất
và hiệu quả trong nông nghiệp nông thôn, công nghiệp, các dịch vụ xã hội như giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe…cải thiện chất lượng cuộc sống ở các khu vực đang phát triển, khuyến khích tính cộng đồng và tăng cường bản sắc văn hoá vùng
Trang 19sâu, vùng xa, những nơi khoảng cách xa, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Những vai trò cụ thể của dịch vụ viễn thông đối với phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện trên các mặt:
Một là, cung câp thông tin về giá
Nếu không có dịch vụ viễn thông thì các hoạt động kinh tế, xã hội sẽ không thể hoạt động bình thường được Viễn thông đóng vai trò khâu nối của mọi hoạt động của con người và xã hội Ngày nay, tátt cả các nước, các tổ chức quốc tế đều đặt lịnh vực viễn thông ở vị trí ngang với các cơ sởhạ tầng thiết yếu khác của xã hội như điện, nước, giao thông vận tải, y tế, giáo dục Dịch vụ viễn thông là phương tiện, môi trường truyền tin quan trọng thuận lợi để thực hiện được việc sản xuất, trao đổi, tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thuộc tất cả các ngành kinh tế khác Các nhà sản xuất như nông dân và ngư dân và các nhà doanh nghiệp thông qua thông tin
về giá có thể thực hiện so sánh giá cả ở các thị trường khác nhau, cho phép họ chọn
được mức giá cao nhất cho sản phẩm của họ (như loại cây trồng hay cá đánh bắt
được, như các loại sản phẩm công nghiệp), hoặc chọn mức giá rẻ và hợp lý nhất khi mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, và vì vậy sẽ giảm sự phụ thuộc vào những người trung gian có thể điều chỉnh sản phẩm không có lợi cho họ
Hai là, giảm thời gian chết của máy móc
Việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời giúp cho việc đặt mua các phụ tùng linh kiện thông qua hệ thống dịch vụ viễn thông và liên hệ trực tiếp với các kỹ thuật viên sẽ giảm thời gian chết do sự cố hư hỏng của máy móc (như máy bơm, máy kéo, máy phát điện….)
Ba là, giảm tồn kho
Thông qua mạng thông tin của dịch vụ viễn thông, các nhà sản xuất kinh doanh có thể chuyển giao những mặt hàng tồn kho cho nhà sản xuất kinh doanh khác trê nthị trường cần sử dụng, và tiến hành đặt mua các mặt hàng mà mình cần thay thế sử dụng
Trang 20Bốn là, đưa sản phẩn ra thị trường đúng lúc
Các nhà sản xuất kinh doanh thông qua mạng thông tin của dịch vụ thông, cùng kết hợp sắp xếp kế hoạch trao đổi sản phẩm cho nhau hay trao đổi, phân phối sản phẩm trên thị trường kịp thời sồígp phần làm giảm tỷ lệ hư hỏng hàng hoá, bảo đảm được chất lượng sản phẩm (ví dụ như các mặt hàng như cá, hoa quả tươi…)
Năm là, giảm chi phí vận chuyển
Dịch vụ bưu chính viễn thông giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp và mọi người có đủ thông tin để thực hiện việc đi lại, hay tổ chức việc vận chuyển hàng hoá kịp thời, bảo đảm thời gian, góp phần làm giảm chi phí, tiết kiệm đáng kể chi phí về thời gian lao động trong đi lại, chuyển hàng hoá dịch vụ
Sáu là, tiết kiệm năng lượng
Dịch vụ bưu chính viễn thông cung cấp thông tin kịp thời giúp các doanh nghiệp thực hiện tối đa hoá hiệu quả sử dụng máy móc Từ đó làm giảm chi phí nhiên liệu Đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải có thể sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông trong điền hành, thực hiện công tác vận chuyển hợp lý để hành trình không bị lãng phí về thời gian từ đó có thể tiết kiệm tối đa nhiên liệu sử dụng
Bảy là, cho phép khai thác lợi thế của phi tập trung hóa
Các dịch vụ viễn thông giúp cho xã hội tiết kiệm thời gian, rút ngắn cự ly, nối liền khoảng cách Tính sẵn có của dịch vụ viễn thông có thể thu hút các ngành công nghiệp về các vùng nông thôn và cho phép phân tán các hoạt động kinh tế ra ngoài phạm vi các vùng thành thị lớn, góp phần giải quyết tốt vấn đề ô nhiễm môi trường, nghẽn tắc giao thông và hàng loạt các vấn đề khác của đời sống xã hội Dịch vụ viễn thông góp phần vào tính công bằng thông qua việc cho phép những người có hoàn cảnh khó khăn bao gồm những người ở các vùng nông thôn xa xôi, hẻo lảnh, những người tàn tật và những người nghèo khổ được sử dụng các thông tin phúc lợi của xã hội mà bình thường thì rất khó hoặc không thể có được Dịch vụ viễn thông cũng đã đóng góp làm tăng tính hiệu quả ở các lĩnh vực khác, như lĩnh vực giáo dục bao gồm đào tạo từ xa, nơi mà việc giáo dục và giảng dạy không có điều kiện tập trung theo trường lớp, học viên có thể nghiên cứu theo tài liệu đã được gửi theo con
Trang 21đường bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, với lĩnh vực y tế từ xa, nơi mà thông tin về bệnh nhân và chữa trị cho bệnh nhân thông qua con đường điện tử, với máy móc hiện đại, sử dụng công nghệ viễn thông, thông tin, có thể trợ giúp các nhà chuyên môn về điều kiện chuẩn đoán và đề xuất phương pháp điều trị tốt nhất.
1.3.Nội dung chính sách phát triển thị trường viễn thông
1.3.1 Chính sách quản lý giá, cước viễn thông
Trong những năm qua, mạng lưới các dịch vụ Viễn thông đã phát triển nhanh với công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu chung của đất nước và phục vụ tiện lợi cho người sử dụng dịch vụ Tham gia vào kết quả chung đó có sự đóng góp quan trọng của chính sách và cơ chế quản lý giá cước viễn thông Đặc biệt để tăng cường hơn nữa công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này ngày 21/03/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 39/2007/QĐ-TTg về quy định giá cước phí Viễn thông quy định các nguyên tắc hình thành giá và cước dịch vụ buu chinh,viễn thông cũng như việc phân cấp quản lý cho các cơ quan thuộc Chính phủ và các doanh nghiệp theo hướng tăng cường trách nhiệm và tạo điều kiện chủ động cho cơ sở trong lĩnh vực này
Như đã trình bày ở trên, một trong nhữmg mục tiêu phát triển viễn thông của Việt Nam là tạo ra hàng loạt dịch vụ viễn thông phong phú về hình thức, giàu về nội dung và tốt về chất lượng đáp ứng nhu cầu của khách hàng mọi lúc, mọi nơi bất kể thành phố đô thị hay vùng sâu vùng xa Để thực hiện được mục tiêu này thì tất cả các doanh nghiệp viễn thông đều có trách nhiệm đóng góp cho việc phát triển cơ sơ
hạ tầng viễn thông ơ vùng sâu, vùng xa, nơi mà việc kinh doanh có thể không có lãi Chính sách này tạo ra sự công bằng và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp viễn thông đồng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng là được sử dụng các dịch vụ viễn thông ơ bất cứ nơi đâu trên đất nước
Trong giai đoạn trước đây chỉ có VNPT đảm đương nghĩa vụ dịch vụ công ích Hiện nay theo các quy định hiện hành tất cả các nhà khai thác viễn thông là VNPT, SPT, và VIETEL đều có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dịch vụ phổ cập thông qua
cơ chế cấp phép và phân chia cước kết nối Bộ Thông tin và truyền thông cũng đang
Trang 22xem xét xây dựng một chính sách phổ cập dịch vụ tổng thể phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng như mức độ mơ cưa thị trường bao gồm cả việc thiết lập một quỹ phổ cập dịch vụ.
1.3.2.Chính sách phát triển sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm viễn thông
Chính sách sản phẩm là những nguyên tắc chỉ đạo, quy tắc, phương pháp, thủ tục được thiết lập gắn với việc phát triển và đổi mới sản phẩm nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu đã xác định chính sách sản phẩm bao gồm toàn bộ các giải pháp định hướng cho việc phát triển sản phẩm, làm cho sản phẩm luôn thích ứng với thị trường, đáp ứng cầu thị trường trong thời kỳ chiến lược xác định.Thực chất chính sách sản phẩm là một bộ phận trong chính sách marketing - mix nhưng do việc xác định cơ cấu sản phẩm, thị trường là một trong những nội dung trung tâm của chiến lược nên nó là tiêu điểm đầu tiên được xác định làm cơ sở cho các chính sách khác như nghiên cứu phát triển, sản xuất, Do vậy chính sách sản phẩm được nghiên cứu tách rời với marketing, chính sách sản phẩm phải chỉ rõ ràng, cụ thể các đặc điểm của sản phẩm như chất lượng, nhãn hiệu, đặc tính kỹ thuật, dịch vụ kèm theo, bao bì, đóng gói Định hướng giải pháp phát triển sản phẩm mới, đổi mới sản phẩm cũng như loại bỏ sản phẩm ra khỏi Chương trình (kế hoạch) sản xuất là nhiệm vụ chính của chính sách sản phẩm Muốn vậy, chính sách sản phẩm phải đề cập đến các nguyên tắc, Phương pháp và giải pháp cần thiết được
sử dụng để thu thập thông tin về sản phẩm; nghiên cứu, thiết kế, thí nghiệm và thử nghiệm sản phẩm mới cũng như đưa sản phẩm mới, sản phẩm đã được cải tiến thâm nhập thị trường
1.3.3.Chính sách cải thiện môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố kinh tế vĩ mô , điều kiện thuận lợi và hạ tầng, thủ tục hành chính… tác động đến hoạt động của doanh nghiệp.Trọng phạm vi hẹp, môi trường kinh doanh thường được hiểu là tác nhân điều hành của chính quyền nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.Chính sách cải thiện môi trường kinh doanh bao gồm biện pháp giảm thiểu đơn giản hóa thủ tục
Trang 23kinh doanh, đất đai, giấy phép xây dựng….với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư phát triển.
1.3.4.Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Trong giai đoạn phát triển thị trường viễn thông, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao, thu hút nhiều lao động nên nhu cầu nhân lực chất lượng cao nhiều Nếu thiếu chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực có chất lượng sẽ giảm sút khả năng cạnh tranh trong thu hút doanh nghiệp.Đây là quá trình không thể khắc phục được ngay, do vậy cần tăng cường năng lực dự báo, định hướng cơ cấu ngành nghề, hỗ trợ đạo tạo và kết nối nhu cầu sử dụng lao động
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển thị trường viễn thông tại địa
phương
Phát triển thị trường viễn thông quốc gia nói chung và viễn thông tại địa phương nói riêng không chỉ dựa vào các yếu tố tại chỗ (yếu tố nội sinh) mà phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài( yếu tố ngoại sinh)thông qua các mối quan hệ liên vùng trong một quốc gia và phạm vi quốc tế
Các yếu tố nội sinh cần quan tâm trong quá trình nghiên cứu phân tích, bao gồm: địa lý kinh tế, tài nguyên, cơ sở hạ tầng bao gồm kỹ thuật và xã hội; khả năng
mở rộng, khả năng thị trường…
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của địa phương đã kết hợp lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp với chuyên môn hóa theo ngành của địa phương.Từ đó có thể thấy các yếu tố tác động đến sự phát triển thị trường viễn thông trong phát triển kinh tế địa phương như sau:
1.4.1.Các yếu tố đầu vào
Vị trị địa lý địa phương về các yếu tố đầu vào cần thiết cạnh tranh trong một ngành như điều kiện tự nhiên, đất đai, lao động, vốn và cơ sở hạ tầng Những yếu
tố này tạo nên khả năng cạnh tranh cơ bản cho mỗi địa phương.Các yếu tố đầu vào thường bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, kết cấu hạ tầng.Trên thực tế việc đánh giá vai trò của các yếu tố đầu vào trong xác định khả năng cạnh tranh
Trang 24của mỗi địa phương không đơn giản.Sức cạnh tranh còn phụ thuộc vào công nghệ
sử dụng và khai thác các nguồn lực này
1.4.2 Các yếu tố cầu thị trường
Các yếu tố này có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển thị trường cả về quy
mô, cơ cấu sản phẩm Quy mô cầu và tốc độ tăng trưởng thị trường củng cố lợi thế cạnh tranh địa phương.Quy mô cầu thị trường lớn cho phép doanh nghiệp khai thác lợi thế theo quy mô đồng thời khuyến khích kinh doanh đầu tư vào thiết bị, cải tiến công nghệ và năng suất lao động.Về tốc độ tăng trưởng của cầu thị trường nhanh sẽ thúc đẩy doanh nghiệp địa phương nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển nhanh chóng
1.5 Một số chính sách phát triển về thị trường viễn thông tại một số địa phương trong và ngoài nước, gợi ý cho thành phố Hà Nội
1.5.1.Kinh nghiệm của một số địa phương trên thế giới
• Kinh nghiệm của thành phố Seul – Hàn Quốc
Seoul, Hàn Quốc, là một trong những thành phố công nghệ nhất thế giới, xếp hạng đầu trong Thăm dò chính phủ điện tử (CPĐT) của Liên hợp quốc kể từ năm 2003.Thành phố này cũng là đất nước của các trò chơi (game) mạng.Kế hoạch
“Smart Seoul 2015” (Seoul thông minh 2015) được công bố tháng 6/2011 để nâng danh tiếng của Seoul như là thành phố đi đầu về ICT toàn cầu bằng cách thúc đẩy
sự bền vững và cạnh tranh của thành phố này nhờ các công nghệ thông minh.Seoul
“thông minh” là tiếp nối của kế hoạch u-City (uSeoul), đã áp dụng các công nghệ điện toán mọi nơi để đẩy mạnh sự cạnh tranh của thành phố này
Trong khi u-Seoul nâng cấp việc cung cấp các dịch vụ bằng hạ tầng của thành phố truyền thống (như vận tải và an ninh), thì kế hoạch cũng chưa thành công trong việc nâng cao chất lượng đời sống của các công dân Seoul “Smart Seoul 2015” hướng tới nhiều người hơn và không chỉ để triển khai càng nhiều công nghệ thông minh càng tốt, mà còn hình thành mối quan hệ cộng tác nhiều hơn giữa thành phố
và các công dân của thành phố.Mạng lưới tổng thể ở Seoul bao gồm các mạng di động và cố định cáp quang băng rộng tốc độ cao, như WiFi và công nghệ giao tiếp trường gần (NFC) Một trụ cột chính của Seoul thông minh là tăng cường tiếp cận
Trang 25các thiết bị thông minh và để đào tạo những người sử dụng mới trong các hoạt động của họ, do đó tiếng nói của tất cả các công dân đều được lắng nghe.Năm 2012, Seoul bắt đầu cung cấp các thiết bị thông minh đời cũ cho các hộ gia đình thu nhập thấp và có nhu cầu khác.Thị trường ICT phát triển nhanh và nhiều người sử dụng thiết bị thông minh thường mua các sản phẩm mới ngay khi họ thay thiết bị vẫn còn trong vòng đời sử dụng Các công dân được khuyến khích – đặc biệt giảm thuế trong phạm vi 50 – 100 USD/thiết bị – để làm từ thiện những chiếc máy cũ khi mua những máy mới Sau khi những chiếc điện thoại này được các nhà sản xuất đánh giá
và sửa chữa, những chiếc máy này được cấp miễn phí cho những người dân có thu nhập thấp.Chính quyền thủ đô Seoul đang thử nghiệm một dự án trung tâm làm việc thông minh, cho phép các công chức nhà nước làm việc từ 10 văn phòng – các trung tâm làm việc thông minh – được đặt gần nhà họ nhất Các công chức ở các trung tâm làm việc thông minh đã tiếp cận với phần mềm nhóm và các hệ thống hội nghị điện thoại, đảm bảo rằng việc họ không có mặt tại Tòa Thị chính thành phố vẫn đạt hiệu suất công việc Seoul dự định với dự án làm việc thông minh (Smart Work) sẽ cắt giảm 30% viên chức của thành phố vào năm 2015
Là một phần của u-Seoul, một dịch vụ an toàn đã và đang vận hành kể từ tháng 4/2008 Dịch vụ này ứng dụng các công nghệ CCTV và dựa trên vị trí hiện đại để thông báo cho các cơ quan và các thành viên gia đình trong trường hợp khẩn cấp gồm trẻ em, người tàn tật, người già và mắc bệnh Alzheimer Một thiết bị thông minh đã được phát triển vì mục đích này Khi người sở hữu thiết bị rời một khu vực
an toàn được thiết kế hoặc bấm nút một khẩn cấp, một cảnh báo sẽ được gửi tới những người bảo vệ, cảnh sát, các bộ phận phòng cháy hay các trung tâm kiểm soát CCTV Để tận dụng triệt để dự án u-Seoul, các công dân đã được yêu cầu đăng ký với các nhà mạng đáp ứng mục đích này Hỗ trợ các hộ gia đình thu nhập thấp và đặc biệt các nhóm nguy cơ cao, Seoul thường xuyên cung cấp các thiết bị cảnh báo khẩn cấp miễn phí hoặc có giá rất rẻ, để hướng tới 50.000 người sử dụng đăng ký vào năm 2014
Trang 26Chính quyền thành phố Seoul cung cấp tất cả các thông tin quản trị và trao thưởng việc sử dụng hữu ích nhất thông tin này của khu vực tư nhân hay các công dân qua cuộc thi ứng dụng công, bắt đầu vào năm 2010 Các ứng dụng tốt nhất được sản xuất miễn phí để cung cấp cho mọi người.Hệ thống thanh toán di động dựa trên NFC, được sản xuất nhờ sự hợp tác công ty, được dành cho mọi công dân
có một thiết bị thông minh hay một thẻ di động Mọi người có thể thanh toán cho các mua bán bằng cách chạm vào các điện thoại thông minh đến một máy đọc chuyên dụng, nắm bắt các thông tin quan trọng để giao dịch Dịch vụ này cũng cho phép chuyển tiền từ một người sử dụng thiết bị thông minh đến người sử dụng khác.Ứng dụng HomePlus được khu vực tư nhân phát triển cho phép các giao dịch tại các cửa hàng của HomePlus (được tìm thấy ở các tấm bảng yết thị đường phố, với mỗi giao dịch sử dụng một mã vạch riêng) Các khách hàng có thể mua hàng hóa trong khi di chuyển, nhận chuyển phát tại gia định ngay sau đó trong ngày Cửa hàng ảo HomePlus đầu tiên được khai trương vào tháng 8/2011
Đây là điều kiện cần, cộng với điều kiện đủ là việc nhìn nhận rất rõ ràng về nhu cầu thông tin xã hội Hàn Quốc nói chung và thủ đô Seul nói riêng ngày càng tăng mạnh và đa dạng, qua đó các nội dung phong phú về giải trí, giáo dục, sức khoẻ, tài chính, thương mại v.v được cung cấp tới từng người dùng thông qua những thiết bị đầu cuối CDMA còn đơn giản đã nhanh chóng đưa Hàn Quốc chiếm thế thượng phong so với các quốc gia phương Tây trong cuộc đua trở thành các nhà cung cấp dịch vụ di động hàng đầu thế giới
• Kinh nghiệm của thành phố Singapore- Singapore
Singapore hiện nay, được biết đến là một thành phố có nền kinh tế phát triển mạnh trong khu vực Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xếp ở thứ bậc cao Đây là kết quả của việc thực hiện chính sách
tự do hoá thương mại và đầu tư rất sớm ( 1966 – 1973) của Chính phủ Mà then chốt là Chính phủ thực thi chiến lược hướng về xuất khẩu như dồn mọi nỗ lực vào việc tiếp cận và phát triển thị trường nước ngoài, hỗ trợ phát triển các nhà xuất khẩu ( 1979 – 1984), xúc tiến xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ( 1985 – 1990) Từ 1991
Trang 27đến nay, Singapore thực thi chính sách “ quốc tế hoá nội địa”, mục tiêu biến Singapore thành trung tâm thương mại quốc tế lớn Hệ thống chính sách kinh tế của Singapore được tập trung giải quyết bởi Ủy ban liên bộ của Chính phủ Theo cơ cấu tổ chức này tránh được riêng rẽ, cứng nhắc trong từng bộ, đồng thời tạo được sự phối hợp đồng bộ trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển kinh tế đất nước.
Quan điểm xây dựng chính sách của Singapore là đặt các doanh nghiệp tại Singapore ( không phân biệt trong nước, ngoài nước, sở hữu) trong môi trường cạnh tranh quốc gia bình đẳng, theo kiểu chọn lọc tự nhiên, Nhà nước không bảo hộ Nhà nước Singapore chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế thương mại tổng hợp với nhiều ưu thế trong cạnh tranh xuất khẩu do có thế lực rất lớn, có mục tiêu cụ thể, là cầu nối giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước
1.5.2 Kinh nghiệm từ một số địa phương trong nước
• Kinh nghiệm của Hồ Chí Minh
Xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh,
“Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan toả lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước” Với tầm quan trọng của một đô thị đặc biệt, dịch vụ công nghệ thông tin và viễn thông trên địa bàn thành phố trong thời gian qua phát triển nhanh chóng cả về lượng lẫn về chất và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thành phố và có tốc độ tăng trưởng kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh bình quân gấp 1,5 lần so với cả nước Tốc độ đô thị hóa ở Thành phố
Hồ Chí Minh diễn ra ngày càng nhanh chóng, nhiều khu đô thị mới được quy hoạch, đặc biệt là Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu đô thị Tây – Bắc thành phố, các tuyến đường giao thông chiến lược: hệ thống metro, đường vành đai, đường cao tốc, đường xuyên Á,… Với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật viễn thông sẽ tiếp tục phát huy vai trò chủ lực để hỗ trợ và là công cụ hữu hiệu để góp phần thúc đấy gia tăng tốc độ phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Những thành tựu của kinh tế thành phố
Trang 28được chứng minh với những con số vô cùng ấn tượng, sinh động Đó là, tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn thành phố cả năm 2015 đạt 957.358 tỷ đồng, tăng 9,85% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của 4 năm liên tiếp gần đây (năm 2012 tăng 9,2%; năm 2013 tăng 9,3%; năm 2014 tăng 9,6%), tăng gần 1,5 lần so với cả nước (GDP cả nước ước đạt 6,68%) GDP bình quân đầu người ước đạt 5.538 USD Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 678.085 tỷ đồng, tăng 10,5% so với năm 2014.
Trong năm 2015, UBND TPHCM đã ban hành Quy hoạch CNTT đến năm
2025 Sở TTTT TPHCM đã tham mưu và đề xuất phương án xây dựng Công viên phần mềm Quang Trung 2, Chuỗi Công viên phần mềm Quang Trung và Công viên phần mềm Quang Trung - Đà Lạt; tổ chức thành công diễn tập bảo vệ Hệ thống thông tin của TPHCM lần 2, qua đó hoàn thiện quy trình ứng cứu và khắc phục sự
cố khi có tấn công mạng từ bên ngoài vào các hệ thống thông tin của TPHCM Đặc biệt trong năm 2015, TPHCM đã thực hiện xây dựng ứng dụng CNTT phục vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020; triển khai công tác phát triển và quản lý hạ tầng viễn thông đảm bảo bền vững, an toàn, mỹ quan và phục vụ lợi ích dân sinh; vận hành hệ thống tổng đài liên thông 113-114-115 để thống nhất tiếp nhận và xử lý thông tin phục vụ công tác cứu nạn, cứu hộ của TPHCM,…
• Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế -
xã hội và quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cửa ngõ chính ra Biển Đông của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các nước tiểu vùng Mê Kông.Đà Nẵng cùng với Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, kiên cường trong kháng chiến chống ngoại xâm Trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, Đà Nẵng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, năng động, sáng tạo, xây dựng thành phố phát triển khá trên nhiều mặt, trở thành một thành phố cảng biển lớn, là đô thị trung tâm cấp quốc gia, là một trong những trọng điểm phát triển của
Trang 29đất nước, góp phần quan trọng thúc đẩy các tỉnh khác trong khu vực phát triển và trở thành trung tâm kinh tế-xã hội của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.Xây dựng và phát triển Đà Nẵng có ý nghĩa rất quan trọng về nhiều mặt đối với miền Trung - Tây Nguyên và cả nước.Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, nhất là trong gần 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII của Đảng bộ thành phố, Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, huy động nội lực, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để xây dựng và phát triển thành phố đạt được nhiều thành tựu đáng biểu dương, trong một số lĩnh vực đã có cách làm sáng tạo và có những mô hình tốt.Thành phố luôn duy trì được nhịp độ phát triển kinh tế khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành sản xuất và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao; thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh; thu ngân sách tăng khá, là một trong những địa phương có nguồn thu ngân sách lớn Lĩnh vực bưu chính-viễn thông được đầu tư chiều sâu, Đà Nẵng cũng đã triển khai thành công đề án “Số hóa truyền hình mặt đất”, triển khai ngầm hóa và sắp xếp các cáp thông tin đi vào nền nếp tại 144 đoạn/tuyến đường/khu vực với chiều dài hơn 45 km… Mạng lưới viễn thông rộng khắp, 100% số xã có máy điện thoại, đảm bảo chất lượng dịch vụ Mạng viễn thông đã bắt đầu chuyển sang mạng thế hệ mới (NGN) Mạng truyền dẫn đã được cáp quang hoá đến 100% các quận, huyện Các loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú Tốc độ tăng trưởng nhanh; tỷ lệ
sử dụng dịch vụ tương đối cao, hầu hết các chỉ tiêu viễn thông của thành phố đều cao hơn mức bình quân chung của cả nước
1.5.3 Những kinh nghiệm khi xây dựng và vận dụng các chính sách phát triển viễn thông tại thành phố Hà Nội
Trên cơ sở nghiên cứu chính sách phát triển thị trường viễn thông và kinh nghiệm thực tế của các nước và địa phương trên thế giới và ở Việt Nam, có thể rút
ra một số bài học kinh nghiệm trong phát triển thị trường viễn thông tại thành phố
Hà Nội như sau:
Trang 30Thứ nhất, chính sách phát triển thị trường viễn thông không thể tách rời với
chính sách phát triển viễn thông của quốc gia.Như vậy mọi chính sách của thành phố Hà Nội đề ra phải dựa trên các chiến lược phát triển viễn thông quốc gia và xu hướng phát triển viễn thông của khu vực
Thứ hai, chính sách phát triển thị trường tại thành phố Hà Nội phải dựa trên
lợi thế so sánh chính địa phương so với các vùng và địa phương khác.Trong đó lợi thế về địa lý được đánh giá cao.Đối với các nước đang phát triển, chính sách phát triển thị trường viễn thông là chính sách ưu tiên trong phát triển kinh tế vùng và địa phương
Thứ ba, chính sách phát triển thị trường viễn thông tại địa phương phải dựa
trên cơ sở khai thác các nguồn lực của địa phương , đồng thời phải thu hút được các nguồn lực của các vùng và địa phương khác ( trong và ngoài nước) vào phát triển thị trường viễn thông của địa phương, trong đó đặc biệt chú ý tới tài nguyên, nguồn lực, tài chính, công nghệ và thị trường
Thứ tư, hạn chế cấp phép cho quá nhiều doanh nghiệp để tránh tình trạng sản
xuất kinh doanh manh mún, dàn trải, hiệu quả đầu tư không cao, gây lãng phí trong đầu tư hạ tầng cơ sở, máy móc thiết bị
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
VIỄN THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Các nhân tố tác động đến chính sách phát triển thị trường viễn thông
Có thể coi các dịch vụ viễn thông như một sản phẩm tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
xã hội nói chung; Nhưng sự phát triển thị trường viễn thông cũng luôn luôn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố:
2.1.1.Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Hà nội có vị trí địa lý – chính trị quan trọng, có lợi thế đặc biệt để phát triển kinh tế thương mại so với các địa phương khác trong cả nước Là trung tâm đầu não chính trị hành chính quốc gia; là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa , giáo dục , y tế tập trung các cơ quan sứ quán nước ngoài và tổ chức quốc tế ; Hà Nội nhiều đặc điểm tương đối thuận lợi cho việc phát triển thị trường dịch vụ viễn thông Hà Nội
có diện tích rộng, dân số đông và người dân luôn có nhu cầu đòi hỏi thông tin cao
do đó là thị trường có tiềm năng để phát triển thị trường viễn thông Giao thông thuận tiện, có cả đường sắt, đường bộ, đường không, đường sông, đường biển, có sân bay Đồng thời được sở hữu một nguồn nhân lực dồi dào và tương đối tốt…
2.1.2 Chủ trương đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách của nhà nước
Chủ trương đường lối, cơ chế chính sách nếu kịp thời, phù hợp sẽ thúc đẩy nhanh sự phát triển của BCVT-CNTT, ngược lại chủ trương đường lối, cơ chế chính sách chậm trễ, không hợp lý sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển nhanh BCVT-CNTT, biểu hiện
cụ thể:
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành được những chủ trương đường lối, cơ chế chính sách kịp thời, phù hợp nên đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của BCVT Bộ Thông tin và truyền thông thường xuyên có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo về chuyên môn; Lãnh đạo các bộ, ban ngành ở Trung ương, lãnh đạo các địa phương luôn quan tâm phối hợp, hỗ trợ để ngành BCVT phát triển tốt Các doanh nghiệp kinh doanh phục vụ BCVT có sự phối hợp cộng tác tốt, các tập thể doanh nghiệp kinh doanh phục vụ BCVT và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong
Trang 32toàn ngành đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong công tác quản lý, sản xuất kinh doanh, phục vụ góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển ngành BCVT, do vậy tình hình hoạt động của thị trường viễn thông có nhiều chuyển biến tích cực, phục
vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong những năm qua, có nhiều chủ trương tác động lớn đến sự phát triển ngành BCVT, những chủ trương có tác động lớn gồm: Quyết định 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/02/2006 về phê duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010; Luật giao dịch điện tử có hiệu lực từ 1/3/2006, quy định về thông điệp điện tử; chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử; giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử; giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước; an ninh, an toàn, bảo vệ, bảo mật trong giao dịch điện tử; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử Luật Công nghệ Thông tin có hiệu lực từ ngày 29/6/2006 Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"; Quyết định 191/2005/QĐ-TTg ngày 29/07/2005 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Đề
án hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT phục vụ hội nhập và phát triển giai đoạn
2005 - 2010” Đó là những qui định, hướng dẫn cụ thể có tác dụng định hướng
để ngành viễn thông Việt nam phát triển đúng đắn
2.1.3 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội và trình khoa học – công nghệ
Trình độ phát triển kinh tế- xã hội, của các ngành sản xuất, dịch vụ ngoài viễn thông cao, sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhanh sự phát triển của viễn thông, ngược lại trình độ phát triển kinh tế của các ngành sản xuất, dịch vụ khác thấp, sẽ làm chậm quá trình phát triển của viễn thông, biểu hiện cụ thể:
Hệ thống điện ổn định, cung cấp năng lượng đầy đủ thì hệ thống mạng lưới viễn thông cũng sẽ ổn định, bảo đảm được sự thông suốt của quá trình cung cấp các dịch vụ viễn thông Ngược lại, hệ thống điện không ổn định, cung cấp năng
Trang 33lượng không đầy đủ, sự cố thiếu điện, mất điện xẩy ra sẽ dẫn đến tình trạng thông tin bị gián đoạn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội
Hệ thống các dịch vụ vận tải như đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường không nếu phát triển tốt sẽ tạo tiền đề cho viễn thông tiết kiệm trong đầu
tư hạ tầng, phát triển đồng bộ mạng lưới, bảo đảm thông tin nhanh chóng, thuận lợi, an toàn Ngược lại, nếu phát triển hạ tầng giao thông không đồng bộ, qui hoạch và thực hiện qui hoạch đô thị, giao thông không nhất quán sẽ gây lãng phí trong đầu tư phát triển mạng lưới thị trường viễn thông Nền kinh tế có trình độ phát triển cao, trên nền tảng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại thì thị trường viễn thông có điều kiện phát triển tốt Ngược lại, nền kinh tế có trình độ phát triển thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng lạc hậu, yếu kém thì điều kiện phát triển thị trường viễn thông cũng gặp khó khăn
Trình độ phát triển khoa học công nghệ có tác động ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường dịch vụ viễn thông.Thị trường viễn thông nếu phát triển
trong điều kiện của một nền kinh tế xã hội có trình độ khoa học công nghệ phát
triển cao, thì ngành viễn thông sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng nền
khoa học công nghệ cao đó vào phát triển ngành mình nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh, phục vụ Ngược lại thị trường dịch vụ viễn thông nếu phát triển trong điều kiện của một nền kinh tế xã hội có trình độ khoa học công nghệ phát triển lạc hậu, thấp kém, thì ngành viễn thông cũng sẽ ít có điều kiện để phát triển tốt nhất
Những năm qua, kinh tế Hà Nội đã có những bước phát triển khá nhanh và tương đối toàn diện Hà Nội đã phát huy ngày càng tốt hơn vị thế, vai trò, trách nhiệm của Thủ đô, xứng đáng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Đảng bộ Thủ đô vững mạnh, trưởng thành và đạt được những kết quả nổi bật, có những đóng góp lớn vào thành tựu chung của cả nước: Thành phố đã thực hiện đạt
và vượt nhiều chỉ tiêu chủ yếu của nhiệm kỳ Đại hội XV, một số chỉ tiêu tuy không đạt, nhưng vẫn ở mức khá cao so với bình quân chung của cả nước Kinh tế Thủ đô tiếp tục phát triển và đạt mức tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trên địa bàn bình
Trang 34quân 5 năm 2011 - 2015 ước tăng 9,23%, gấp 1,58 lần mức tăng bình quân chung của cả nước Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 tăng gấp 1,8 lần so với năm
2010 Xây dựng, quản lý đô thị có nhiều tiến bộ Phát triển nông nghiệp và nông thôn đạt nhiều kết quả tích cực, trong đó, lĩnh vực xây dựng, phát triển hạ tầng giao thông và xây dựng nông thôn mới đạt được những tiến bộ rõ rệt An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống của nhân dân được cải thiện và tiếp tục được nâng cao Chính trị - xã hội trên địa bàn luôn ổn định, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước; an ninh, quốc phòng, đối ngoại được củng cố, tăng cường
Bảng 2.1: Cơ cấu GDP các ngành kinh tế
(Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hà Nội.2015)
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp giảm, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng Dịch vụ có chuyển biến theo hướng đa dạng hoá Ngành thương mại tiếp tục được tổ chức lại đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống nhân dân Hoạt động du lịch có khởi sắc, hạ tầng
du lịch được quan tâm đầu tư Các dịch vụ vận tải, viễn thông, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm.v.v… đều phát triển
Hội nghị lần thứ 23 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội khóa
XV nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2015 và kế hoạch năm 2016 của Thành phố Hà Nội; kết quả công tác chỉ đạo Đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở, một số nội dung công tác tổ chức phục vụ Đại hội lần thứ XVI Đảng
bộ Thành phố và thực hiện công tác cán bộ.Theo báo cáo tại Hội nghị, trong quý III, kinh tế Thủ đô tiếp tục có chuyển biến tích cực Tổng sản phẩm trên địa bàn
Trang 35(GRDP) tăng 9,2% - cao hơn các quý trước và cùng kỳ năm 2014 (9,1%) Lũy kế 9 tháng đầu năm, GRDP tăng 8,3%, đây là mức tăng cao nhất trong 4 năm trở lại đây; ước GRDP cả năm 2015 của Hà Nội tăng 9,24% (đạt kế hoạch), như vậy GRDP 5 năm 2011-2015 dự kiến đạt 9,23%.Trong đó, tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế đều
có mức tăng trưởng khá Cụ thể, ngành công nghiệp tăng 8,2%, tính chung 9 tháng tăng 7,2% Ngành xây dựng tiếp tục chuỗi đà phục hồi và tăng trưởng, quý III tăng 11,9%, lũy kế 9 tháng tăng 11%, cao hơn mức cùng kỳ của 2 năm trước (lần lượt là 8% và 9%) Dự kiến cả năm 2015, ngành xây dựng tăng 12,14% Ngành dịch vụ quý III tăng 9,9%, tính chung 9 tháng tăng 8,8% Ngành nông nghiệp tăng 2%, công tác xây dựng NTM được triển khai tích cực
Công tác thu - chi ngân sách được đảm bảo Tổng thu NSNN 9 tháng đạt 105.886 tỷ đồng, bằng 74,7% dự toán, tăng 13,5% so với cùng kỳ Chi ngân sách thực hiện 40.991 tỷ đồng, bằng 69,4% dự toán
Hoạt động huy động vốn trên địa bàn cũng tăng trưởng khá, 9 tháng đạt 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 16,19% so với cùng kỳ; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 1,2 triệu tỷ đồng, tăng 25,39% so với cùng kỳ
Trong khi đó, lạm phát tiếp tục được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 giảm 0,1% so với tháng 8, bình quân 9 tháng, CPI tăng 0,71%, đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, kim ngạch xuất khẩu của thành phố trong 9 tháng tăng trưởng thấp, đạt mức 0,2% và khó đạt mục tiêu 8-9% trong cả năm 2015 Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn cao, với 10.523 doanh nghiệp, tăng 27,5% so với cùng kỳ Đầu tư nước ngoài 9 tháng đạt 810 triệu USD, bằng 90,4% so với cùng kỳ năm 2014
Trang 362.1 Khái quát tính hình phát triển thị trường viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.1.1 Khái quát hoạt động kinh doanh viễn thông của các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông tại thành phố Hà Nội
Thị trường viễn thông chỉ có thể phát triển nếu các doanh nghiệp viễn thông hình thành, phát triển trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng Ở thành phố Hà Nội tính đến thời điểm hiện nay có những nhà mạng di động còn tồn tại là Viettel, Mobifone, Vinaphone, Vietnamobile và Gmobile(Beeline) Năm 1993 nhà mạng viễn thông đầu tiên ra đời khai thác dịch vụ thông tin di động GSM 900/1800 với thương hiệu MobiFon, tiếp theo đó là Vinaphone thuộc tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam ra đời năm 1996, nhắc đến các nhà mạng viễn thông thời kỳ đầu không thể bỏ qua nhà mạng di động S – fone, được cung cấp bởi trung tâm điện thoại di động CDMA ra đời vào năm 2003 Trong những giai đoạn này VNPT vẫn nắm độc quyền
hệ thống viễn thông tại Việt Nam cho đến khi năm 2004 Viettel ra đời đã tạo ra sự cạnh tranh làm thị trường thay đổi đáng kể năm 2009, Hanoi Telecom( Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội) đã ra mắt mạng di động mới của mình với tên Vietnamobile với đầu số chủ yếu là 092 còn nhà mạng Gmobile tiền thân trước đây là beeline thuộc
sở hữu của Gtel Mobile thuộc sở hữu của Tổng công ty Viễn thông Toàn cầu (Gtel), một công ty cổ phần nhà nước thuộc Bộ Công an Còn một số nhà mạng viễn thông nữa ra đời nhưng đã dừng hoạt động hoặc sáp nhập với các công ty khác như EVN Telecom, HT Mobile, Beeline
• Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT)
Thực chất hoạt động năm 1990 VNPT chính thức trở thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thay thế cho mô hình Tổng công ty cũ theo quyết định
số 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với chiến lược phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế chủ lực của Việt Nam, kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực,
đa sở hữu, trong đó Bưu chính - Viễn thông - CNTT là nòng cốt
Tháng 5 năm 2015, VNPT đã công bố quyết định thành lập 3 Tổng Công ty gồm Tổng công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT - VinaPhone), Tổng công ty Truyền thông (VNPT - Media), Tổng công ty Hạ tầng mạng (VNPT - Net).Đến cuối tháng
Trang 376/2015, VNPT đã công bố Quyết định thành lập các đơn vị kinh tế trực thuộc 3 Tổng Công ty.
Từ ngày 1/7, 3 Tổng Công ty đã đi vào hoạt động theo mô hình mới VNPT cũng đã triển khai bàn giao thử nghiệm 6 Trung tâm Kinh doanh của 6 VNPT tỉnh/thành về VNPT-VinaPhone.Đây cũng là điểm khởi đầu cho giai đoạn 2 thực hiện Đề án Tái cơ cấu VNPT Cũng trong tháng 7, sau khi 63 VNPT tỉnh/thành cơ bản hoạt động ổn định và bộ khung của 3 Tổng Công ty được hoàn thiện, VNPT đã bắt tay vào tổ chức sắp xếp lại các Ban/đơn vị chức năng tham mưu thuộc Cơ quan Tập đoàn theo hướng tinh giản bộ máy.Ngay sau khi mô hình được hoàn thiện và bộ máy nhân sự từ Tập đoàn đến các đơn vị được kiện toàn, VNPT đã tiến hành bàn giao nguồn lực theo mô hình 3 Tổng Công ty, đặc biệt là bàn giao 57 Trung tâm Kinh doanh VNPT tỉnh/thành còn lại về VNPT-VinaPhone được thực hiện vào đầu tháng 10/2015.Tính đến thời điểm này, 3 Tổng công ty của VNPT đã ổn định bộ máy, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, xây dựng các cơ chế quản lý nội bộ theo
mô hình mới Mới đây, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển đơn vị kinh tế trực thuộc Tập đoàn cũng đã được thành lập.Song song với hoàn thiện mô hình tổ chức các cấp, trong năm 2015, VNPT cũng đã hoàn thành các nội dung khác của Đề án tái cơ cấu như: Thực hiện bàn giao các đơn vị của Tập đoàn về Bộ TT&TT, UBND tỉnh, thành phố quản lý theo quy định: Bàn giao Bưu điện Trung ương về Bộ TTTT; Bàn giao các trường Trung học Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin I, III, Miền núi về UBND tỉnh Hà Nam, Tiền Giang, Thái Nguyên năm 2015, VNPT mới hoàn thành tái cơ cấu khối dịch vụ viễn thông Sang năm 2016, Tập đoàn sẽ tập trung tái cơ cấu khối CNTT; bám sát các định hướng, giải pháp về triển khai chính phủ điện tử, đẩy mạnh thuê ngoài ứng dụng CNTT với các dịch vụ công, lĩnh lực thuế, hải quan, y tế của Chính phủ, các Bộ/Ngành để triển khai cung cấp các dịch
vụ CNTT của VNPT; Phát triển hệ sinh thái các bộ giải pháp CNTT phục vụ chính quyền điện tử và các chuyên ngành giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, thuế Hiện tại, VNPT đã ký thỏa thuận hợp tác với 42 UBND tỉnh/thành, Bộ, ban, ngành và doanh nghiệp lớn.Bên cạnh đó, VNPT sẽ thúc đẩy hoạt động của khối công nghiệp, xây
Trang 38dựng các đơn vị trụ cột sản xuất thiết bị ngoại vi phụ trợ, thiết bị điện tử, viễn thông
và CNTT với mục tiêu không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
Năm 2014, tổng doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đạt 101.055 tỷ đồng cùng với tổng doanh thu trên, tổng lợi nhuận 2014 của tập đoàn này đạt 6.310 tỷ, đạt 103% kế hoạch năm; tổng nộp ngân sách nhà nước đạt 5.850 tỷ, đạt 103,5% kế hoạch
Năm 2015 tổng doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đạt gần 90.000 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch và tăng 7,5% so với năm 2014 Đặc biệt, tổng lợi nhuận của VNPT đạt 3.280 tỷ, đạt gần 112% kế hoạch, tăng 20%
so với thực hiện năm 2014 Năm 2015, tổng nộp ngân sách Nhà nước 2015 đạt 3.555 tỷ, đạt gần 115% kế hoạch, tăng gần 4% so với thực hiện 2014 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2015 hoàn thành gần 114% kế hoạch Bộ TT&TT giao, tăng gần 21% so với thực hiện 2014 Năng suất lao động theo doanh thu kinh doanh viễn thông - CNTT đạt hơn 2 tỷ đồng/người/năm, tăng gần 16% so với thực hiện năm 2014
• Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel)
Tập đoàn Viễn thông Quân đội được thành lập theo quyết định TTg của Thủ tướng Chính phủ ký vào ngày 14/12/2009, là doanh nghiệp kinh tế quốc phòng 100% vốn nhà nước với số vốn điều lệ 50.000 tỷ đồng, có tư cách pháp nhân, có con dấu, biểu tượng và điều lệ tổ chức riêng.Trong năm 2014 vừa qua, Viettel đã hoàn thành vượt mức các kế hoạch đề ra Doanh thu tăng trưởng trên 20% (đạt 197.000 tỷ đồng) Lợi nhuận trước thuế đạt 42.000 tỷ đồng, tăng trưởng 15% Lợi nhuận của Viettel bằng 23% tổng lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước 100% vốn nhà nước Năm 2014, Viettel đóng thuế cho Nhà nước trên 15.000 tỷ đồng, tăng 10% Viettel là doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam và cũng là doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất tại Lào và Campuchia.Trong năm 2014 vừa qua, năng suất lao động của Viettel tăng 15%; thu nhập của người lao động tăng 10%; tạo công ăn việc làm cho gần 90.000 người (trong đó, tại Việt Nam là 75.000 người và nước ngoài là
Trang 392097/2009/QĐ-15.000 người).Hiện nay, Viettel đã đầu tư tại 9 quốc gia với tổng dân số 175 triệu dân Tại châu Á có 3 nước là Lào,Campuchia và Đông Timor Tại châu Mỹ có 2 nước là: Haiti và Peru; tại châu Phi có 4 nước là: Mozambique, Cameroon, Tanzania
và Burundi.Năm 2015, Viettel phấn đấu đạt tăng trưởng 20%, đạt doanh thu đạt 230.000 tỷ đồng; lợi nhuận tăng 15%; năng suất lao động tăng 15% Viettel cũng sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng từ 15-20%/năm đến năm 2020.Đồng thời phấn đấu vào năm 2020, Viettel trở thành một tập đoàn toàn cầu, là 1 trong 10 công ty viễn thông lớn nhất thế giới Mục tiêu đạt thị trường nước ngoài 30-35 nước, dân số 600-800 triệu dân, là cơ sở để Viettel nghiên cứu, sản xuất thiết bị
• Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Vietnamobile
Vietnamobile là mạng di động đang trong thời kỳ phát triển nhanh tại Việt Nam kể từ khi chính thức giới thiệu dịch vụ tới người tiêu dùng vào năm 2009 Vietnamobile tập trung phát triển mạng 2G và 3G chất lượng, giới thiệu các sản phẩm sáng tạo, mang tới dịch vụ chăm sóc khách hàng tiêu chuẩn quốc tế, thông qua mạng lưới phân phối toàn quốc Tháng 10 năm 2016, Vietnamobile chính thức chuyển đổi hình thức hoạt động kinh doanh trở thành Công ty Cổ phần Viễn thông
Di động Vietnamobile, với hai cổ đông chính là Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Hanoi Telecom và Tập đoàn Viễn thông châu Á Hutchison Tập đoàn Viễn thông châu Á Hutchison thuộc CK Hutchison Holdings, với kinh nghiệm kinh doanh viễn thông tại nhiều nước trên thế giới, bao gồm: Indonesia, Vietnam, Sri Lanka, Úc, Austria, Đan Mạch, Hong Kong, Ireland, Ý, Macau, Thụy Điển và Anh Theo Báo cáo Bộ TT&TT, Công ty CP Viễn thông Hà Nội - Hanoi Telecom trong năm 2013 có tổng doanh thu đạt 8.410 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước hơn 159 tỷ đồng Tổng số thuê bao di động Vietnamobile của nhà mạng này đạt 10.053 thuê bao; số trạm BTS 2G và 3G đạt 6.005 trạm, phủ sóng toàn quốc; mạng cáp quang có chiều dài 5.500 km từ Bắc vào Nam
• Tổng công ty Viễn thông MobiFone
Tổng công ty Viễn thông MobiFone được thành lập theo Quyết định số 1798/QĐ-BTTTT ngày 01/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về