Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản tiền hoặc hàng hoá giữa bên cho vay ngân hàng và các định chế tài chính với bên đi vay cá n
Trang 1-TRỊNH THỊ OANH
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ HẢI HÀ
Hà Nội, Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độclập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõràng
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Oanh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính Cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của Luận văn 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 3
1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 3
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 3
1.1.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng 3
1.1.3 Chức năng và vai trò tín dụng ngân hàng 5
1.1.4 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng 9
1.2 Chất lượng hoạt động tín dụng 10
1.2.1 Khái niệm về chất lượng hoạt động tín dụng 10
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng của tín dụng của ngân hàng thương mại 11
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng 15
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng của một số NHTM nước ngoài 26
1.3.1 Kinh nghiệm của các NHTM Trung Quốc 26
1.3.2 Kinh nghiệm của các NHTM Nhật Bản 27
1.3.3 Kinh nghiệm của các NHTM Thái Lan 28
Trang 41.3.4 Bài học vận dụng cho các NHTM tại Việt Nam 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 33
2.1 Tổng quan về Sở giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh 35
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn Việt Nam 40
2.2.1 Các văn bản về cấp tín dụng tại Sở Giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam 40
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Sở Giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam (theo các chỉ tiêu tổng hợp ở chương I) 41
2.3 Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại Sở Giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam 48
2.3.1 Kết quả đạt được 48
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 53
3.1 Định hướng chung về nâng cao chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam 53
3.2 Giải Pháp 54
3.2.1 Giải pháp về thị trường mục tiêu 54
3.2.2 Giải pháp về khách hàng 55
Trang 53.2.3 Giải pháp liên quan tới sản phẩm tín dụng 58
3.2.4 Giải pháp liên quan tới việc thẩm định, quản lý khoản vay 59
3.2.5 Quản trị rủi ro nhằm xử lý kịp thời các khoản vay có vấn đề, hạn chế thấp nhất tổn thất cho ngân hàng 61
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ 64
3.2.7 Giải pháp về huy động vốn 65
3.2.8 Giải pháp về nguồn nhân lực 66
3.3 Kiến nghị 67
3.3.1 Kiến nghị với NHNN 67
3.3.2 Kiến nghị với Hội sở NHNNo & PTNT 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động 35
Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ 36
Bảng 2.3 Hoạt động Kinh doanh ngoại tệ và Thanh toán quốc tế 38
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch 38
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế 42
Bảng 2.6 Cơ cấu dư nợ theo thời gian 43
Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ theo loại tiền 44
Bảng 2.8 Tình hình nợ quá hạn 44
Bảng 2.9 Tình hình nợ xấu 45
Bảng 2.10 Hiệu suất sử dụng vốn 45
Bảng 2.11 Vòng quay vốn tín dụng 46
Bảng 2.12 Tình hình thu lãi từ hoạt động tín dụng 47
Bảng 2.13 Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng 47
BIỂU
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nội dung
1 AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
2 TMCP Thương mại cổ phần
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
7 POS POS (Point Of Sale)
9 TPKT Thành phần kinh tế
11 TCTD Tổ chức tín dụng
12 TTTN Thanh toán trong nước
13 WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính Cấp thiết của đề tài
Tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, nhưngcũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro lớn Do vậy, hiệu quả tín dụng là nội dung đặc biệtquan trọng được quan tâm trong hoạt động của NHTM ở mọi nơi, mọi lúc
Đối với nước ta, chất lượng tín dụng ngân hàng quan trọng và phức tạp hơnnhiều các nước phát triển Thống kê hiện tại cho thấy, thu nhập lãi tín dụng lànguồn thu chủ yếu của các ngân hàng Trong khi đó, rủi ro tín dụng tiềm ẩn ở mọigóc cạnh Bản thân hệ thống NHTM còn non yếu, qui mô tài chính hạn hẹp; trình độquản lý, công nghệ đều hạn chế; nhưng lại đặt các mục tiêu tăng trưởng mạnh, cạnhtranh bằng mọi giá… Về môi trường vĩ mô, thời gian gần đây, do tác động củakhủng hoảng tài chính toàn cầu, cộng các yếu kém trong nước đã dẫn tới các biếnđộng lớn về lạm phát, đầu tư, tăng trưởng kinh tế, đã và đang có tác động rất lớnđối với hoạt động NHTM nói chung, lĩnh vực tín dụng, đặc biệt là hiệu quả tín dụngnói riêng
Không nằm ngoài xu hướng phát triển chung, NH PT NNo & NT VN cũng đã
và đang đối mặt với những tác động tiêu cực tới chất lượng tín dụng
Xuất phát từ tình hình trên lựa chọn đề tài “Chất lượng tín dụng tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam” để nghiên
cứu Luận văn thạc sỹ
Ba là, đề suất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch ngânhàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: chất lượng tín dụng ngân hàng
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng tại Sở Ngân Hàng Nông Nghiệp vàPhát triển Nông Thôn Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, áp dụng các phương pháp thống kê, quy nạp, tổng hợp, sosánh để làm rõ những vấn đề của đề tài Sau khi dùng phương pháp phân tích sơ bộ,căn cứ kết quả phân tích đưa ra kết luận cũng như đề xuất các vấn đề cần phải thayđổi, phát triển nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung chinh của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng ngân hàng
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam
Chương 3:Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh
tế - xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau tuỳ theo từng cấp độ nghiên cứu
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tín tưởng, tín nhiệm) songtrong thực tế cuộc sống thuật ngữ này có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
- Xét trên góc độ chuyển dịch quĩ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sangchủ thể thiếu hụt tiết kịêm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từngười cho vay sang người đi vay
- Xét một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ
sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và cácđịnh chế tài chính khác, giữa các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thứccho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất địnhngười đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi
- Xét trên góc độ ngân hàng tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay màcác ngân hàng cung cấp cho khách hàng
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tín dụng ngân hàng được hiểu là một
giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính) với bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng
- Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin Trong bốicảnh của nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt thì yếu tố uy tín được đặtlên hàng đầu Ở đây, người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệuquả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ Đây là yếu tố hếtsức cơ bản trong quản trị tín dụng
Trang 11- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Đặc trưng nàycủa tín dụng xuất phát từ tính chuyện nhượng tạm thời vì để thực hiện hành vi cấptín dụng các ngân hàng phải tạo ra cho mình một nguồn vốn nhất định trong mộtkhoảng thời gian nhất định do đó để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vayphải xác định được rõ thời gian cho vay trên cơ sở xem xét đến quá trình luânchuyển vốn của đối tượng vay và tính chất vốn của ngân hàng Nếu thời hạn chovay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàngchưa có nguồn để trả nợ, sẽ gây khó khăn cho khách hàng Ngược lại, nếu thời hạncho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụngvốn không đúng mục đích dẫn tới rủi ro không có nguồn để trả nợ Như vậy, nếungân hàng định kỳ hạn nợ phù hợp với đối tượng vay thì khả năng trả nợ đúng hạnrất cao và ngược lại
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắcphải hoàn trả cả gốc và lãi Đặc trưng này xuất phát từ tính chuyển nhượng tạmthời, từ tính sở hữu về vốn, từ sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng đòi hỏi khicấp tín dụng thì tín dụng phải được hoàn trả Giá trị hoàn trả thông thường phải lớnhơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoàivốn gốc Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thờithừa vốn nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác.Mặt khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: khấu haotài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm nênngười vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi
- Tài sản giao dịch trong quan hệ giao dịch tín dụng bao gồm hai hình thức làcho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản)
- Tín dụng là hoạt động mang tính tiềm ẩn rủi ro cao vì tín dụng không phảichỉ chịu tác động ảnh hưởng bởi người cho vay và người đi vay mà còn phụ thuộcvào môi trường hoạt động cho bản thân ngân hàng và khách hàng Khi môi trườnghoạt động thay đổi như: lạm phát, tăng trưởng kinh tế sẽ tác động trực tiếp đếnkhách hàng của ngân hàng do đó tác động đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Trang 121.1.3 Chức năng và vai trò tín dụng ngân hàng
Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng haicách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp
• Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sửdụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại vàviệc phát hành trái phiếu của các Doanh nghiệp
• Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổchức tài chính trung gian như, ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các định chế tàichính khác trong nền kinh tế
- Chức năng hạn chế tiền mặt
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và pháttriển đa dạng, từ đó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt vàthanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Điều này sẽ làm giảm được khối lượnggiấy bạc trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu thông giấy bạc ngân hàng,đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằmđáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
- Chức năng giám đốc các hoạt động của nền kinh tế
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằmphục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp vànhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó, tín dụng còn được coi là mộttrong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thựchiện các chiến lược phát triển kinh tế
Trang 13Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng hạn chế tiền mặt, gắn liền với việcphát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể phảnánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế.
1.1.3.2 Vai trò
Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗiquốc gia trên thế giới Song để cho quá trình sản xuất được mở rộng và ngày cànghoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng
- Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trunggian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đãthông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn
Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lưuthông hàng hoá Nền sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng đã thúc đẩy hànghoá - tiền tệ ngày càng sâu sắc, phức tạp và bao trùm lên mọi sinh hoạt kinh tế xãhội Mặt khác, chính sản xuất và lưu thông hàng hoá ra đời và được mở rộng xã kéotheo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ chức kinh doanh tiền tệ đầutiên mang những đặc trưng của một ngân hàng
Vì vậy, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì hoạt độngtín dụng không thể mất đi mà trái lại ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ Bởitrong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là ngườithừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinhdoanh Hai loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một đối tượng đó làtiền, chung nhau về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi.Ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung
và cầu vốn trên thị trường như thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giảiquyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiềnnhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhucầu sản xuất, kinh doanh
Trang 14- Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất đượcthực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái
ẩn xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất
Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thờinhàn rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả,động viên nhanh chóng nguồn vật tư, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưavào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trìnhtái sản xuất mở rộng Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụngngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanhnghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng ứ tắc,đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đóthúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế
độ hoạch toán kinh tế
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân hànghuy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn
để bổ xung cho sản xuất kinh doanh Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanhnghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúnghạn cả gốc và lãi Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tănghiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn để tạo điều kiện nâng caodoanh lợi cho doanh nghiệp Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thôngqua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạchtoán kinh tế
Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lí đồng vốn sao cho có hiệu quả
Để quản lí đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán tinh tế phải giám sát chặt chẽ quátrình sử dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanhnghiệp Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn quá trìnhhạch toán của đơn vị mình
Trang 15- Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đốingoại.
Ngày nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ kinh tếvới thị trường thế giới, nền kinh tế “đóng” tự cung tự cấp trước đây nay đã nhườngchỗ cho nền kinh tế “mở” phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thếgiới
Một quốc gia được gọi là phát triển thì trước hết phải có một nền kinh tế chínhtrị ổn định, có vị thế trên thị trường quốc tế, có một lượng vốn lớn trong đó vốn dựtrữ ngoại tệ là rất quan trọng Tín dụng ngân hàng trở thành một trong nhữngphương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tếnhư các hình thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chínhphủ, giữa các cá nhân với cá nhân Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt độngngoại thương và số thành viên tham dự hoạt động ngaỳ càng lớn làm cho nhu cầu vềhoạt động tài chính càng trở nên cần thiết Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi về tàichính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khácnhư giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thương mại đã vượt ra khỏi phạm vi củamột nước ra phạm vi của thế giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc
tế hoá, hình thành thị trường khu vực và thị trường thế giới, tạo ra bước phát triểnmới trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các nước với nhau Như vậy các hìnhthực thanh toán cũng sẽ đa dạng hơn như thanh toán qua mạng SWIFT, thanh toánLC mỗi hình thực thanh toán đòi hỏi hình thức tín dụng phù hợp và đảm bảo cho
nó an toàn và hiệu quả Chất lượng của hoạt động tín dụng ngoại thương là cơ sở đểtạo lòng tin cho bạn hàng trong thương mại, tạo điều kiện cho quá trình lưu thônghàng hoá, thắng trong cạnh tranh về thanh toán sẽ dẫn tới thắng lợi của mọi cạnhtranh khác trọng hoạt động ngoại thương
Trang 161.1.4 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng được thực hiện trên 3 nguyên tắc sau:
1.1.4.1 Tiền cho vay phải được hoàn trả sau một thời gian nhất định cả vốn lẫn lãi
Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ phận vốn kinh doanh củangân hàng là nguồn vốn huy động từ nền kinh tế Nguyên tắc hoàn trả phản ánhđúng bản chất quan hệ tín dụng, tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắcnày không được thực hiện đầy đủ Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, cáckhoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp không được hoàn trả đúng hạn nhất định
sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và thu nhập của ngân hàng Do đó, kháchhàng khi vay vốn phải cam kết trả cả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định, camkết này được ghi trong hợp đồng cho vay
1.1.4.2 Vốn vay phải có giá trị tương đương làm đảm bảo
Trong nền kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng vàphức tạp, vì thế mọi dự đoán về rủi ro của ngân hàng chỉ mang tính tương đối.Trong môi trường kinh doanh như vậy, bảo đảm tín dụng được coi là một tiêu chuẩnxét duyệt cho vay nhằm bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng cũngnhư phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh Cácgiá trị tương đương làm bảo đảm có thể là: vật tư hàng hóa trong kho, tài sản cốđịnh của doanh nghiệp, số dư trên tài khoản tiền gửi, hoá đơn chuẩn bị nhận hànghoặc có thể là cam kết bảo lãnh của một cơ quan khác thậm chí có thể là chính uytín của doanh nghiệp trên thị trường và trong mối quan hệ quá khứ với ngân hàng.Giá trị đảm bảo là cơ sở cho khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để hạn chế rủi
ro tín dụng của ngân hàng và là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong cácđiều kiện khác nhau
1.1.4.3 Cho vay theo kế hoạch thoả thuận trước (vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích)
Tín dụng đúng mục đích không những là nguyên tắc mà còn là phương châmhoạt động của tín dụng Quan hệ tín dụng phản ánh nhu cầu về vốn và lợi nhuận của
Trang 17doanh nghiệp Việc thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là cơ sở đểdoanh nghiệp tính toán các yếu tố hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, đồngthời nó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo khả năng thu nợ của ngân hàng.
Để thực hiện nguyên tắc này, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải sửdụng tiền vay đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng, bởi vì mục đích đó đãđược ngân hàng thẩm định Nếu phát hiện khách hàng vi phạm ngân hàng đượcquyền thu hồi nợ trước hạn, trường hợp khách hàng không có tiền thì chuyển nợ quáhạn
1.2 Chất lượng hoạt động tín dụng
1.2.1 Khái niệm về chất lượng hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động phản ánh quan hệ vay mượn cóhoàn trả trên cơ sở lòng tin giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng –các chủ thể kinh doanh khác nhằm mục tiêu là lợi nhuận và phát triển kinh tế xã hội
Do đó, chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng(người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại vàphát triển của ngân hàng
Chất lượng tín dụng được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
- Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở chỗ khoản tín dụng đượccấp phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn của khách hàng, với lãi suất và kỳ hạnhợp lý, thủ tục đơn giản thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảmbảo được nguyên tắc tín dụng Đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng, tạo điềukiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng được hiểu ở phạm vi, mức độ, giớihạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo đượctính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi, hạn chếđến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm bảothanh khoản cho ngân hàng
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng là sự phục vụ đápứng nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm,
Trang 18khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trungsản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tíndụng.
Như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiệnqua các chỉ tiêu có thể tính toán được như: nợ quá hạn, hiệu quả sử dụng vốnvay…), vừa mang tính trừu tượng (thể hiện: thu hút được khách hàng tốt, thủ tụcđơn giản, thuận tiện…) Do đó, hiểu đúng được bản chất của chất lượng tín dụngngân hàng sẽ giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng, thực hiện thắnglợi chiến lược kinh doanh và đúng vững trong nền kinh tế thị trường
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng của tín dụng của ngân hàng thương mại
Có rất nhiều tiêu thức đánh giá chất lượng tín dụng nhưng để thuận tiện choviệc nghiên cứu cũng như đánh giá một cách toàn diện về tình hình hoạt động củangân hàng, người ta thường xét trong mối quan hệ giữa hai mặt định tính và địnhlượng
Hai là, khả năng thu hút khách hàng: một ngân hàng không những duy trì đuợcnhững khách hàng truyền thống mà còn thu hút được nhiều khách hàng mới đến vayvốn, điều này cũng phần nào cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng được cảithiện
Trang 19Ba là, thiện chí trong việc trả nợ của khách hàng: khách hàng cũng là một yếu
tố quan trọng cần phải xem xét khi đánh giá chất lượng tín dụng, họ chính là mộtphần trong quan hệ tín dụng, góp phần vào sự thành công của ngân hàng Chấtlượng tín dụng có được cải thiện hay không một phần phụ thuộc vào thiện chí trongviệc trả nợ của khách hàng Mà để đánh giá một khách hàng có thiện chí trong việctrả nợ hay không là một vấn đề không hề đơn giản Bởi lẽ, sự thiện chí trong việctrả nợ là một chỉ tiêu định tính, khó lượng hoá được
Do chỉ tiêu định tính rất khó lượng hoá nên trong thực tế khi đánh giá chấtlượng tín dụng thường người ta chú ý đến các chỉ tiêu mang tính định lượng
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
Đây là những chỉ tiêu có thể tính toán và ước lượng được Do vậy khi đánh giáchất lượng tín dụng người ta thường sử dụng kết quả từ việc phân tích này Nó baogồm các tiêu thức sau:
Theo quyết định số 20/VBHN-NHNN về việc về việc ban hành quy chế chovay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng của thống đốc NHNN, quy định: “Đốivới các khoản nợ vay không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá làkhông có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả
nợ, thì số dư gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thựchiện các biện pháp để thu hồi nợ; việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãivốn vay do hai bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật”
Trang 20Mục tiêu phấn đấu của ngân hàng thương mại là giảm tối đa nợ quá hạn Tuynhiên trong thực tế điều này rất khó thực hiện, vì ngoài những nhân tố chủ quan còn
có những nhân tố khách quan tác động tới chất lượng tín dụng của NHTM
b) Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu (%)= Nợ xấu
Tổng dư nợ ×100 %
Tỷ lệ nợ xấu cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tíndụng Nợ xấu có độ rủi ro rất cao, khả năng thu hồi vốn là tương đối khó, khoản vốncủa ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa, mà đã gây thiệt hại cho ngân hàng.Đây là kết quả trực tìếp biểu hiện chất lượng của khoản tín dụng cấp cho kháchhàng Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngânhàng là rất thấp và lúc này cần phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mìnhnếu không hậu quả khó lường trước được
Theo quyết định 22/VBHN-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tíndụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thốngđốc NHNN Việt Nam có quy định là: Nợ xấu (NPL)là các khoản nợ thuộc nhóm 3,
4 và 5:
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến
180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điềuchỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoảnnày; các khoản nợ được miễn giảm hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năngtrả lãi đầy đủ theo hợp đồng; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quyđịnh tại khoản 3 Điều này
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lầnthứ hai; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 Điều này
Trang 21Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợlần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơcấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; cáckhoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quyđịnh tại Khoản 3 Điều này
c) Tổng dư nợ
Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nềnkinh tế tại một thời điểm Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn,dài hạn Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếu kém,không có khả năng mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình
độ cán bộ công nhân viên thấp Mặc dù vậy, chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chấtlượng khoản vay tốt Song nếu tổng dư nợ tăng liên tục qua các năm thì lại cho thấychiều hướng tăng lên của chất lượng tín dụng
Trang 22Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng Vòng quay vốn tíndụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham giavào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa Với một số vốn nhất định, nhưng
do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn chocác doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vựckhác Như vậy, hệ số này càng tăng thì phản ánh tình hình tổ chức vốn tín dụngcàng tốt, chất lượng tín dụng càng cao
f) Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng
Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lạikhoản thu nhập cho ngân hàng Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủyếu để ngân hàng tồn tại và phát triển Thu nhập do tín dụng mang lại chứng tỏ cáckhoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàncủa đồng vốn vay
Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng= Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Tổng thu nhập
Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng việc giảm và duy trì một
tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ
nợ quá hạn thấp đó cũng không có ý nghĩa Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉthực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng
g) Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng
Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng= Lãi từ hoạt động tín dụng
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng, cứ một đồng vốn đầu tưtín dụng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chấtlượng tín dụng càng tốt
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
Chất lượng tín dụng tác động rất lớn đến tới hoạt động kinh doanh của ngânhàng, nó là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của ngân hàng Vì vậy,việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng là cần thiết Có nhiềunhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng nhưng có thể chia thành hai nhóm nhân
tố cơ bản sau:
Trang 231.2.3.1 Nhân tố khách quan
Hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn từ môitrường kinh doanh Chính vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh doanh là hoạtđộng thường xuyên của ngân hàng thương mại Ta có thể xem xét ảnh hưởng củamôi trường kinh doanh đến chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại từ cácyếu tố sau:
a) Môi trường pháp luật
Hệ thống pháp luật là cơ sở điều tiết các hoạt động kinh doanh trong nền kinh
tế Đối với ngân hàng thì nó tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngânhàng như: Luật Tổ chức tín dụng, Luật NHNN…, vậy nếu hệ thống pháp luật banhành không đầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới lụât còn thiếu và có nhữngnội dung còn mâu thuẫn, chồng chéo trong khi thực hịên tại các ban, ngành, đơn vịliên quan thì ảnh hưởng mạnh tới chất lượng hoạt động tín dụng Ngược lại, nếu nóphù hợp với thực tế khách quan thì sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạtđộng tín dụng ngân hàng Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
cá nhân trong nền kinh tế, hành lang pháp lý thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh tốt hơn, khả năng trả nợ ngân hàng cao hơn, từ đó nângcao chất lượng tín dụng Ngược lại, nếu hệ thống pháp lý chồng chéo, mâu thuẫn sẽgây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, rủi ro tín dụng có thể xảy ra, từ đólàm giảm sút chất lượng tín dụng
Như vậy, nhân tố pháp luật có vị trí quan trọng đối với hoạt động kinh doanhnói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, đặc biệt là chất lượng tín dụng
b) Môi trường kinh tế
Đây là nhân tố đầu tiên, quan trọng trong nhóm nhân tố khách quan bởi bất kỳhoạt động kinh doanh nào cũng diễn ra trong một môi trường kinh tế nhất định vàchịu tác động mạnh mẽ của môi trường đó
Hoạt động tín dụng ngân hàng có quan hệ mật thiết với nền kinh tế Từng giaiđoạn và biến cố kinh tế đều có những tác động đến hoạt động ngân hàng: lạm phát,suy thoái hay tăng trưởng kinh tế, thay đổi chính sách thuế, tỷ giá… đều ảnh hưởngđến hoạt động của ngân hàng
Trang 24 Chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế có tác động trực tiếp và rõ nét đến hoạt động tín dụng ngânhàng Chu kỳ kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và do đó ảnhhưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng, sảnxuất kinh doanh sẽ được mở rộng, dẫn đến nhu cầu về vốn tăng Ngược lại, khi nềnkinh tế bị suy thoái, sản xuất bị thu hẹp sẽ dẫn đến hoạt động tín dụng ngân hànggặp khó khăn do nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp giảm
Tính cạnh tranh của thị trường
Tính cạnh tranh của thị trường có ảnh hưởng rất lớn tới nguồn thu, lợi nhuận,thậm chí suy thoái và phá sản của khách hàng, từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ
của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
c) Môi trường chính trị
Tình hình chính trị một quốc gia sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế
xã hội Một quốc gia ổn định về chính trị sẽ là điều kiện cho các nhà đầu tư nướcngoài, bởi các nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà họ còn chú trọngđến việc bảo tồn vốn đầu tư Mặt khác, sự ổn định chính trị của một quốc gia cònlàm cho nhu cầu đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động của các chủ thể trong nền kinh
tế tăng lên và thúc đẩy lưu thông tiền tệ Chính những hoạt động này tác động giántiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, trong đó có hoạt động tín dụng, từ đó ảnhhưởng lớn đến chất lượng tín dụng của ngân hàng Ngược lại, khi tình hình chính trịcủa một quốc gia bất ổn sẽ làm hoạt động sản xuất bị đình trệ, kết quả sản xuất kinhdoanh bị giảm sút, doanh nghiệp phá sản không trả được nợ ngân hàng
d) Môi trường văn hoá - xã hội
Đạo đức, tập quán, thói quen và trình độ nhận thức cuả khách hàng ảnh hưởngkhông nhỏ tới khoản vay Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, khách hànglợi dụng lòng tin để lừa đảo ngân hàng thì ngân hàng sẽ mất khả năng thu hồi vốn,
do đó làm giảm chất lượng tín dụng Hơn nữa, trình độ dân trí chưa cao, kém hiểubiết về hoạt động ngân hàng cũng làm giảm chất lượng tín dụng
Trang 25e) Môi trường khoa học công nghệ
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ quyết định đến hoạt động sản xuất kinhdoanh, năng lực cạnh tranh, hoạt động của các ngân hàng và đặt ra vấn đề là cảngân hàng và khách hàng đều phải nắm bắt được những tiến bộ khoa học côngnghệ
f) Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên đem lại những thuận lợi, khó khăn không thể dự đoánđược cho cả ngân hàng và khách hàng Đặc biệt đối với các khoản tín dụng đượccấp cho các đơn vị hoạt động chịu tác động lớn của môi trường tự nhiên như: ngànhnông nghiệp, khai thác thuỷ hải sản, khai khoáng… Những biến động bất khả khángxảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất…), hoảhoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, từ đó ảnhhưởng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể làm cho ngân hàng không cókhả năng thu hồi vốn
g) Môi trường quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, vấn đề hội nhập quốc tế là tất yếukhách quan đối với các quốc gia trên thế giới Tháng 11 năm 2006 nước ta chínhthức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO Trong xuthế ấy, hệ thống ngân hàng không chỉ là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân màcòn mang trong mình vận hội vươn rộng ra khu vực và thế giới Đó chính là yêu cầuđòi hỏi của mỗi ngân hàng phải nâng cao năng lực tài chính, nâng cao sức mạnhcạnh tranh, đặc biệt là nâng cao chất lượng tín dụng để phát triển bền vững Ngày 1tháng 4 năm 2007, theo quyết định của thống đốc NHNN các ngân hàng 100% vốnnước ngoài sẽ thành lập ở Việt Nam Các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về tàichính mạnh, đánh giá thị trường một cách nhạy bén và chính xác, chất lượng hoạtđộng tín dụng cao… đã cạnh tranh với các ngân hàng Việt Nam Chính vì vậy, cácngân hàng trong nước phải khẳng định được vị thế của mình trên sân nhà thì mới cóthể tồn tại và phát triển được
Trang 261.2.3.2 Nhân tố chủ quan
a) Từ phía ngân hàng
Chiến lược phát triển của ngân hàng
Đây là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và chất lượng hoạtđộng tín dụng Một chiến lược đúng đắn và phù hợp sẽ đảm bảo cho ngân hàng pháttriển, ngược lại một chiến lược không phù hợp sẽ có ảnh hưởng xấu đến tất cả hoạtđộng của ngân hàng Để xây dựng một chiến lược phát triển phù hợp, người tathường sử dụng Mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và tháchthức của ngân hàng Phân tích điểm mạnh, điểm yếu chính là phân tích các yếu tốnội tại của ngân hàng gồm: nguồn vốn, nguồn nhân lực ,… và phân tích cơ hội,thách thức là phân tich các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài như cạnhtranh, thị trường, chính trị, xã hội, pháp luật…
Một chiến lược phát triển phù hợp là một chiến lược phát huy được tối đa cácđiểm mạnh, khai thác được các cơ hội đồng thời phải hạn chế được tới mức tối thiểucác điểm yếu và vượt qua được các thách thức Một chiến lược phát triển rõ ràng sẽđịnh hướng hoạt động cho tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng trong đó có hoạt độngtín dụng
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng là một hệ thống biện pháp liên quan đếnviệc khuếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã đượchoạch định của ngân hàng thương mại và hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn cho hoạtđộng tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng, nó
có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một kế hoạch, nó có tácdụng:
+ Xác định giới hạn áp dụng trong hợp đồng tín dụng, đồng thời thiết lập môitrường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng
+ Đảm bảo mọi nguyên tắc tín dụng đều khách quan, tuân thủ quy định củaNHNN Việt Nam và phù hợp với thông lệ chung quốc tế Ngân hàng tự quyết định
Trang 27trong việc xác định: đối tượng có thể cho vay vốn, phương thức quản lý hợp đồngtín dụng, những ràng buộc về tài chính, các loại sản phẩm tín dụng khác nhau dongân hàng cung cấp, nguồn vốn để tài trợ hoạt động tín dụng, phương thức quản lýdanh mục cho vay, thời hạn điều kiện áp dụng các loại sản phẩm tín dụng khácnhau…
Hoạch định chính sách tín dụng phù hợp sẽ thu hút được nhiều khách hàng,đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuânthủ, chấp hành tốt pháp luật và đường lối chính sách của Nhà nước Điều đó cũng
có nghĩa là chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng củangân hàng thương mại có đúng hay không Bất kỳ ngân hàng nào muốn có chấtlượng tín dụng tốt đều phải có chính sách tín dụng khoa học phù hợp với thực tế củangân hàng cũng như của thị trường
Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là trình tự các bước mà ngân hàng thực hiện cho vay đốivới khách hàng Quy trình tín dụng phản ánh nguyên tắc cho vay, phương pháp chovay, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải quyếtcác vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng
Chất lượng tín dụng có được đảm bảo hay không phụ thuộc rất lớn vào việcngân hàng có thực hiện tốt các bước trong quy trình tín dụng hay không Một quytrình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cho hoạtđộng tín dụng Hơn nữa, quy trình tín dụng chính là cơ sở để kiểm soát tiến trìnhcấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho hợp với thực tiễn Do đó, để raquyết định tín dụng đúng đắn, tiết kiệm thời gian, chi phí cho ngân hàng và kháchhàng, đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh và nâng cao hiệu quả tín dụng đòi hỏingân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay vốn
Bộ máy tổ chức công tác tín dụng
Tổ chức công tác hoạt động tín dụng tại các hệ thống ngân hàng được xâydựng theo mô hình quản trị phân quyền dựa trên cơ sở các chính sách và nguyên tắcđược điều hành tập trung Trong đó, Ban Tín dụng chịu trách nhiệm xây dựng văn
Trang 28hóa và toàn bộ các chính sách và quy tắc hoạt động cho công tác tổ chức tín dụngtại ngân hàng Đồng thời, các Ban nghiệp vụ tín dụng dựa trên những chính sách vànguyên tắc đó trực tiếp thực hiện các giao dịch tín dụng, quản lý và kiểm soát rủi rotín dụng
Mô hình tổ chức tín dụng này hướng tới:
- Xác định mức chấp nhận rủi ro tín dụng phù hợp;
- Xây dựng quy trình cấp tín dụng thống nhất và khoa học;
- Duy trì một quy trình giám sát và đo lường rủi ro hợp lý;
- Bảo đảm kiểm soát chặt chẽ đối với rủi ro tín dụng;
- Thu hút khách hàng và dự án tín dụng tốt;
Bộ máy này gồm ba bộ phận chính trực tiếp tham gia vào quy trình xây dựngquy trình hoạt động tín dụng là: Tổng giám đốc (giám đốc chi nhánh), các phòngban nghiệp vụ tín dụng và ban quản trị rủi ro tín dụng Bộ máy này xây dựng lênmột hành lang giúp cho các hoạt động tín dụng của Ngân hàng có thể đi đúng quỹđạo tránh những sự rủi ro không đáng có
Đội ngũ cán bộ tín dụng
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành công trong quản lý vốn tín dụngnói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung Cán bộ tín dụng là nguời tham giatrực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng, từ bước đầu tiên cho đến bước cuốicùng Chính vì vậy, khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức của cán bộtín dụng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng tín dụng Cán bộ tín dụng mà không
có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái thậm chí thamnhũng… thì sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín chất lượng hoạt động của ngân hàng.Trình độ chuyên môn cũng quyết định đến sự thành công của công tác tín dụng Cán
bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng kinh nghịêm đánh giá chínhxác tính khả thi của dự án, xác định được tính chân thực của báo cáo tài chính, pháthiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng: lập hồ sơ thế chấp giả, sửa chữabáo cáo tài chính… để từ đó phân tích được khả năng quản lý doanh nghiệp, vànăng lực thực sự của khách hàng để quyết định cho vay hay không Những cán bộtín dụng đó cần khuyến khích, khen thưởng để họ phát huy trình độ năng lực củamình
Trang 29Bên cạnh trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, cán bộ tíndụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lốiphát triển của đất nước… dự đoán được những biến động có thể xảy ra, từ đó tư vấncho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp Nghiệp vụ hoạtđộng ngân hàng càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự càng cao để sử dụng cácphương tiện, phương pháp làm việc hiện đại thích ứng với sự phát triển khôngngừng của xã hội Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghềnghiệp và sự hiểu biết rộng chính là cơ sở để nâng cao chất lượng công tác tín dụngtrong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Vấn đề thanh tra, kiểm tra, kiểm soát
Mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, tăng cường cho vay mà không tính đếnrủi ro bất trắc có thể xảy ra dẫn tới sự sụp đổ, giải thể của mỗi ngân hàng thươngmại
Một trong những hoạt động nghiệp vụ nhằm mục đích giúp cho ngân hàngthương mại tránh được rủi ro trên đó là công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát.Công tác này không chỉ được thực hiện đối với khách hàng (như kiểm soát trước,trong và sau khi cho vay) mà còn thực hiện đối với bản thân ngân hàng thương mạinhư kiểm tra quá trình thực hiện cho vay, quá trình quản lý vốn cho vay, loại trừnhững cán bộ mất phẩm chất, tiêu cực, tham ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản vàlàm mất uy tín của ngân hàng thương mại đối với khách hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng có nghĩa là ngân hàng thương mại phải kịp thờingăn chặn và phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, có ảnh hưởng tới hoạtđộng của ngân hàng, cũng như bảo vệ tài sản và uy tín của ngân hàng đối với kháchhàng Muốn vậy, việc đào tạo và bố trí cán bộ có năng lực, có trình độ và tráchnhiệm cao thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát là vấn đề mà các ngânhàng luôn quan tâm
Thiết bị công nghệ phục vụ hoạt động tín dụng ngân hàng
Nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu áp dụng các công nghệ tiên tiến vàotrong các nghiệp vụ của ngành tài chính ngân hàng là một ngành có vai trò quan
Trang 30trọng và có tốc độ phát triển chóng mặt là cần thiết Vì nó không những giảm khoảnchi phí bình quân cho các nghiệp vụ, tiết kiệm thời gian giao dịch… tạo cho cả ngânhàng dễ dàng hơn trong việc nắm bắt cơ hội đầu tư mới, đồng thời giảm gắng nặngtrong công tác quản trị nhân sự đối với ngân hàng… Sự phân tích của hệ thống côngnghệ hiện đại sẽ nhanh nhạy, chính xác và hạn chế được sự lợi dụng quyền hạn củamột số cán bộ ngân hàng đưa ra quyết định cho vay không đủ tiêu chuẩn… Nhưvậy, áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động tín dụng ngân hàng cũng góp phầnnâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.
b) Từ phía khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng khoản vay của ngân hàng, do đó có ảnhhưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Khoản tín dụng có mang lạihiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khách hàng và phương án, dự án sử dụngvốn của họ
Mục đích sử dụng vốn
Khi một khoản tín dụng được xem xét là có cho vay hay không thì vấn đề đầutiên là mục đích sử dụng vốn của khách hàng về khoản tín dụng đó Vì chính mụcđích của phương án, dự án sử dụng vốn là yếu tố hàng đầu quyết định đến tính khảthi và khả năng trả nợ của khách hàng Mục đích sử dụng vốn phải hợp pháp, phùhợp với mục tiêu của ngành, vùng khu vực hay cả nước
Năng lực của khách hàng
Đây là nhân tố quyết định tới việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quảhay không Nếu năng lực của khách hàng có hạn, họ không dự đoán đúng nhữngbiến động lên xuống của nhu cầu thị trường, không có kinh nghiệm trong việc giớithiệu quảng cáo sản phẩm… nên doanh nghiệp dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh.Tất cả điều đó làm cho chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng Và ngược lại, năng lựccủa khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng lớn và có hiệuquả Năng lực của khách hàng bao gồm:
+ Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự: Nó đảm bảo giá trịpháp lý cho các văn bản đã ký kết giữa ngân hàng và khách hàng
Trang 31+ Năng lực tài chính: Đây là yếu tố quyết định đến chất lượng tín dụng cấpcho khách hàng Năng lực tài chính cuả khách hàng là năng lực về vốn và tài sảncủa khách hàng đáp ứng cho sản xuất kinh doanh, cũng như trả nợ của khách hàng.Khả năng tài chính của khách hàng được đánh giá qua các chỉ tiêu như các hệ số cơcấu về vốn, về khả năng thanh khoản, về hiệu quả hoạt động, về các chỉ tiêu lợinhuận…
+ Năng lực thị trường: Đối với một khách hàng luôn hoạt động kinh doanhtrong một thị trường có nhiều cạnh tranh lớn về tất cả các mặt, nhận định về nănglực thị trường của khách hàng tức là xác định được vị trí của khách hàng, sản phẩmcủa họ trên thị trường như thế nào, từ đó biết được tính khả thi của phương án, dựán… biết được đơn vị đó có đứng vững trong cạnh tranh để tồn tại và phát triểnkhông
+ Năng lực sản xuất: Nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu là từ kết quả củaquá trình sản xuất, lợi nhụân của phương án, dự án mang lại Do vậy, năng lực sảnxuất của khách hàng quyết định đến số lượng và chất lượng đầu ra của sản phẩm, từ
đó ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận, đầu vào và cả đầu ra – nguồn thu dùng đểtrả nợ ngân hàng
+ Năng lực quản lý: Cơ cấu hệ thống quản trị, ban lãnh đạo, trình độ kinhnghiệm, phương pháp quản lý của cán bộ lãnh đạo… có ảnh hưởng tới tính chất,khả năng hoạt động của khách hàng
Phẩm chất đạo đức của khách hàng
Trong quan hệ tín dụng với khách hàng, tư cách đạo đức quyết định thiện chítrả nợ và điều này quyết định đến hoạt động trả nợ của khách hàng Có trường hợpkhách hàng vay vốn nhưng với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt bằng những thủ thuậttinh vi Nhiều trường hợp do làm ăn thua lỗ cũng nảy ra ý định lừa đảo, không trả
nợ ngân hàng Hịên nay, tình trạng các khách hàng vay vốn, nhất là các doanhnghiệp luôn đối phó với ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không chínhxác, trung thực, mặc dù số liệu này đã được cơ quan chức năng kiểm duyệt Khôngnhững thế nhiều doanh nghiệp không thực hiện nghiêm túc chế độ hạch toán thống
kê gây ra nhiều khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình kinh doanhcũng như việc quản lý vốn của doanh nghiệp
Trang 321.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng của một số NHTM nước ngoài
1.3.1 Kinh nghiệm của các NHTM Trung Quốc
Cuối những năm 1990, hầu hết ngân hàng Trung Quốc đều vật lộn với vô sốvấn đề như hiệu quả kinh doanh thấp, chất lượng tài sản xấu đi, cạn kiệt thanhkhoản, tỷ lệ nợ dưới chuẩn thực tế thậm chí vượt quá mức 40% ở nhiều tổ chức tíndụng… Qua nghiên cứu thị trường tín dụng tại Trung Quốc cho thấy nguyên nhâncác khoản nợ xấu xuất phát từ:
- Dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, thực hiện cho vay ồ ạt trong khi trình độchuyên môn nghiệp vụ của các CBTD chưa đạt tiêu chuẩn Thực hiện cho vay vượtquá nhu cầu và khả năng chi trả
- Thực hiện cung cấp tín dụng cho những lĩnh vực đặc biệt trên cơ sở tín chấp,bảo lãnh của bên thứ ba mà không cần có tài sản đảm bảo Tài sản thế chấp cho cáckhoản vay chủ yếu là tài sản hình thành trong tương lai, hàng tồn kho và các khoảnphải thu hay quyền đòi nợ Tuy nhiên, công tác định giá tài sản thế chấp còn nhiềubất cập, việc định giá còn mang nặng tính thủ tục, chủ yếu dựa trên các văn bảnpháp quy và báo cáo của khách hàng mà không đánh giá thực tế dẫn tới giá trị tàisản đảm bảo bị đánh giá sai lệch gây ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định cho vay.Chưa có phương thức quản lý sát sao, hữu hiệu đối với loại tài sản đảm bảo là hàngtồn kho và khoản phải thu gây ảnh hưởng xấu tới công tác thu hồi nợ của ngânhàng
- Công tác thu thập, xác minh và phân tích thông tin, báo cáo tài chính khôngđược thực hiện thường xuyên trong suốt thời gian hiệu lực của khoản vay Đồngthời công tác thanh tra, kiểm soát sau khi giải ngân kém, không bám sát chặt chẽquá trình sử dụng vốn vay của khách hàng… dẫn tới các ngân hàng không nắm bắtđược kịp thời tình hình hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn vay của kháchhàng đề từ đó đưa ra biện pháp xử lý, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Trước thực trạng trên, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện việc tái cấu trúc lại
hệ thống ngân hàng mà trước tiên là tổ chức lại ngân hàng Nhân dân Trung Hoa
Trang 33(PBC) và thực hiện với 5 yếu tố then chốt đó là: (1) giải quyết triệt để các khoản nợxấu, nợ dưới chuẩn trong đó có tỷ lệ lớn là nợ ở khối doanh nghiệp nhà nước; (2)tăng cường năng lực quản trị ngân hàng bao gồm cả về tổ chức, nhân sự; (3) thu hútcác nhà đầu tư chiến lược; (4) đưa ngân hàng niêm yết ở trong nước và nước ngoài,một mặt giúp các ngân hàng tăng vốn, mặt khác buộc các ngân hàng tự đẩy mạnhtái cấu trúc để tuân thủ các chuẩn mực quốc tế theo yêu cầu của thị trường; (5) sửdụng vốn huy động mới để tăng cường đầu tư vào hệ thống công nghệ, quản trị rủi
ro để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng
Với những nỗ lực trên, Ngành tài chính Trung Quốc không những không bịảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng nợ công đang diễn ra trên thế giới hiện nay
mà con nổi lên trong vai trò của một đại gia sẵn tiền có thể cho các nước như HyLạp, Iceland vay và giờ là chủ nợ lớn nhất của Mỹ
1.3.2 Kinh nghiệm của các NHTM Nhật Bản
Vào giữa những năm 1980, với cam kết của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
là sẽ giữ ổn định tỷ giá đồng yên, các Chi nhánh chỉ tập trung vào hoạt động sảnxuất, phó thác việc tạo vốn cho các ngân hàng khiến nền kinh tế tăng trưởng nhanh,mức đầu tư lớn (khoảng 30% GDP) Giá bất động sản tăng nhanh liên tục, làm tănggiá trị tài sản thế chấp Những khoản vay lại tiếp tục được đầu tư vào bất động sản
và thị trường cổ phiếu, khiến ”bong bóng” bất động sản ngày một bị bơm căng Đếnnăm 1990, nền kinh tế bị tăng trưởng quá nóng và hậu quả là “bong bóng” bất độngsản vỡ tung Giá bất động sản và cổ phiếu tụt dốc nhanh chóng (giá bất động sản chỉcòn ¼ so với trước kia) mà “nhà tài trợ chính” cho các hoạt động này lại chính làcác ngân hàng Nhật Bản Do vậy, khi giá tài sản giảm mạnh và kéo dài thì giá trị tàisản thế chấp cũng vì thế mà giảm theo, các doanh nghiệp con nợ bị thua lỗ hàngloạt, nợ quá hạn và nợ khó đòi tăng cao đã gây ra cuộc khủng khoảng tín dụng trong
hệ thống ngân hàng Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên:
- Việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách mở rộng tín dụng quá thamvọng là kết quả gây ra lỗ tại các ngân hàng Mặt khác, do không có kinh nghiệm xử
lý những khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng NhậtBản không biết cách quản lý khi có phát sinh lỗ tín dụng
Trang 34- Các ngân hàng không hiểu hết hậu quả nghiêm trọng của việc trì hoãn nhữngbiện pháp dứt khoát đối với các khoản vay xuất hiện rủi ro Vì vậy, để ngăn chặnkịp thời rủi ro và giảm thiểu thua lỗ, các ngân hàng nên chủ động trong việc đánhgiá các rủi ro có khả năng xảy ra đối với khách hàng cả ở hiện tại và tương lai nhằm
đề ra phương hướng xử lý thích hợp Tuy nhiên, nếu mức lỗ vượt quá khả năng chitrả của các NHTM, Nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can thiệp phụchồi, tránh gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng
Trước đây, công tác xử lý tài sản để thu hồi nợ vay của các ngân hàng gặp rấtnhiều khó khăn do không có cơ quan chuyên trách xử lý nợ cũng như vướng mắcnhiều đến thủ tục pháp lý Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng Nhật đã xử lý thànhcông các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được Tổ chức dịch vụ tài chính(The Financial Service Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngânhàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những khoản nợ xấu màtrước đây đã từng gây ra các khoản lỗ kéo dài trong nhiều năm đối với hầu hết cácngân hàng
1.3.3 Kinh nghiệm của các NHTM Thái Lan
Năm 1985, Thái Lan bắt đầu mở cửa cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài ồ
ạt, các ngân hàng Thái Lan được phép trực tiếp vay ngoại tệ đáp ứng nhu cầu đầu tư
để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và đặc biệt Thái Lan xây dựng các tổ hợp côngnghiệp với quy mô lớn Bên cạnh đó, ngân hàng Thái Lan còn tận dụng nhữngnguồn vốn tư bản ngắn hạn nước ngoài để bổ sung khoản trống giữa tiết kiệm cógiới hạn trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, dư nợ vay nước ngoài khôngngừng tăng lên đến năm1996 chiếm 55% GDP, riêng Ngân hàng quốc tế Thái Lan
đã thu hút đến 50 tỷ USD Nằm trong xu thế toàn cầu hóa, thị trường chứng khoánThái Lan phát triển mạnh sôi động, đến năm 1995, trên 50% giao dịch thị trườngchứng khoán do người nước ngoài thực hiện Thời kỳ này các ngân hàng Thái Lanphát triển mạnh mẽ nghiệp vụ đầu tư vào thị trường tài chính do tỷ lệ vay vốn nướcngoài gia tăng, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn của ngân hàng đạt đến 25%, đến năm 1996,tài sản của hệ thống ngân hàng và tổng giá trị của thị trường chứng khoán đạt đến15% GDP, cho thấy cả hai hệ thống trên đóng vai trò ngang nhau trong việc cungcấp vốn cho nền kinh tế
Trang 35Sau khủng hoảng tài chính năm 1997, Thái Lan phải cho đóng cửa 58 chinhánh ngân hàng và Chi nhánh tài chính, tỷ lệ nợ xấu lên đến 15% Chính phủ TháiLan đang cố gắng phân tán rủi ro bằng việc quy định về cho vay như hạn mức chovay đối với một khách hàng không quá 25% vốn tự có, các khoản nợ ngoài bảngtổng kết tài sản hạn chế dưới 50% tổng số vốn, các ngân hàng không được đầu tưquá 20% tổng số vốn vào cổ phiếu, giấy chứng nhận nợ của một Chi nhánh, tỷ lệ dựtrữ thanh khoản theo quy định là 7% trong đó 2% tiền gửi tại Ngân hàng trungương, tối đa không quá 2,5% tiền mặt, còn lại dưới dạng chứng khoán, bên cạnh đóngân hàng phải thực hiện lập 100% dự phòng đối với những tài sản có xếp loại đángnghi ngờ và buộc các ngân hàng bị đóng cửa phải tăng vốn điều lệ lên 15% tổngvốn thì mới có thể tiếp tục hoạt động Với những kiên quyết trong cải cách ngânhàng vừa qua đã giúp Thái Lan phục hồi sau khủng hoảng
1.3.4 Bài học vận dụng cho các NHTM tại Việt Nam
Tín dụng ngân hàng là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu (chiếm tới 60% 80%) cho đa số các NHTM ở Việt nam, đồng thời cũng là một trong những hoạt độngnhạy cảm với rủi ro nhất Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động kinh doanhcủa các NHTM và là loại rủi ro để lại hậu quả nặng nề nhất, có thể khiến cho mộtngân hàng có nguy cơ bị phá sản Do đó, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụngluôn được xem là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các NHTM Ngoài những rủi rothông thường mà các doanh nghiệp phải gánh chịu, thì các ngân hàng còn phải chịuthêm rủi ro xuất phát từ đạo đức, kết quả kinh doanh của khách hàng Vì vậy, cácNHTM cần phải chú trọng tăng cường công tác thu thập, sàng lọc những thông tinchắc chắn để đưa ra quyết định cho vay đúng đắn, phòng tránh các rủi ro đáng tiếc cóthể xảy ra Bên cạnh việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín dụng trong quá trìnhthực hiện việc xét duyệt vay vốn; kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốnvay của khách hàng, cũng như việc trích lập các quỹ dự phòng theo đúng quy định;các NHTM Việt Nam nên sàng lọc, học hỏi thêm kinh nghiệm và các kỹ năng quảntrị của một số ngân hàng tại các nước nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, phục vụ tốtnhất cho quá trình hoạt động kinh doanh của mình Một số bài học rút ra vận dụng tạicác NHTM Việt Nam:
Trang 36-Thứ nhất, Mở rộng quy mô dư nợ, tìm kiếm cơ hội kinh doanh phải được xúc
tiến đồng thời với công tác quản trị, nâng cao chất lượng tín dụng Trên thực tế, vàonhững thời điểm đẩy mạnh tăng trưởng quy mô tín dụng, các NHTM thường chovay ồ ạt và dễ bỏ qua những nguyên tắc đảm bảo an toàn trong quá trình cho vaynhư: không tuân thủ đúng quy trình xét duyệt vay, vượt quá giới hạn cho phép về tỷ
lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, nhận tài sản thếchấp không đủ tiêu chuẩn Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếugây ra rủi ro, dẫn tới nguy cơ thua lỗ tại các NHTM Việt Nam Các ngân hàng cầnnhận thức rõ việc theo đuổi chính sách mở rộng tín dụng bằng cách nới lỏng nhữngquy định về đảm bảo an toàn, hoạt động tín dụng sẽ mang lại cho ngân hàng nhiềutổn thất hơn là lợi nhuận khi rủi ro đồng loạt xảy ra Theo đó, cùng với việc mởrộng quy mô dư nợ, các ngân hàng phải chú trọng đến các biện pháp nhằm nâng caohiệu quả hoạt động tín dụng, cho vay dựa trên nguyên tắc thận trọng, an toàn
Thứ hai, Thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn của
khách hàng nhằm đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệuquả, phát hiện kịp thời những sai sót để cùng khách hàng đưa ra phương hướng giảiquyết nhằm ngăn chặn các rủi ro có thể xảy ra Bên cạnh đó, các ngân hàng cần phảichú trọng hơn nữa đến công tác chấm điểm, xếp hạng khách hàng định kỳ Đâychính là công cụ giúp ngân hàng nhận biết, định lượng những rủi ro có thể xảy ravới khách hàng để từ đó đưa ra biện pháp thích hợp ngăn ngừa, giảm thiểu rủi rocho ngân hàng, qua đó góp phần giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt độngtín dụng của mình
Thứ ba, Cần có các biện pháp hữu hiệu nhằm kiểm tra tình hình thực tế và
định giá lại tài sản đảm bảo thường xuyên, đặc biệt là đối với những loại tài sảnđảm bảo hàm chứa nhiều rủi ro như hàng tồn kho, khoản phải thu,… Điều này sẽgiúp cho các ngân hàng phát hiện kịp thời những rủi ro như biến động giảm giáhàng tồn kho, giảm sút giá trị khoản phải thu… để đưa ra những biện pháp ngănchặn, giảm thiểu rủi ro kịp thời Bên cạnh việc nhận tài sản làm vật thế chấp chokhoản vay, tại thời điểm giải ngân các ngân hàng nên thực hiện việc trích lập một tỷ
Trang 37lệ nhất định trên giá trị khoản vay đối với những khách hàng có kết quả xếp hạng tíndụng chưa thật sự tốt, số tiền trích lập này sẽ được duy trì trên tài khoản phong tỏacủa khách hàng nhằm đảm bảo bù đắp một phần tổn thất cho ngân hàng khi kháchhàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi
Thứ tư, Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tập trung và phân tích giữa các bộ
phận Quy trình tác nghiệp trong các hoạt động ngân hàng nói chung và các hoạtđộng tín dụng nói riêng thông thường được tách bạch thành 3 chức năng:
- Front office: cán bộ tín dụng tìm kiếm khách hàng, đề xuất khởi tạo giao dịchvới khách hàng và chuyển đến bộ phận tiếp theo
- Middle office: là bộ phận phân tích độc lập, phê duyệt giao dịch theo thẩmquyền hoặc trình cấp phê duyệt
- Back office: hỗ trợ các giao dịch front office, lưu trữ hồ sơ tài liệu giao dịch,theo dõi, quản lý các khoản vay, đồng thời tổng hợp số liệu làm báo cáo kịp thờicho ban lãnh đạo
Hoạt động quản lý rủi ro không đơn thuần chỉ là hoạt động của một bộ phậnnào đó mà phải được nhìn nhận là mô hình hoạt động của toàn ngân hàng, từ đó mớigóp phần nâng cao chất lượng tín dụng một cách hiệu quả Việc áp dụng mô hìnhquản lý rủi ro này sẽ giúp cho ngân hàng kiểm soát tương đối chặt chẽ các rủi ro cóthể xảy ra trong quá trình cho vay đối với khách hàng, đồng thời tăng cường giámsát lẫn nhau giữa các bộ phận nhằm ngăn chặn những rủi ro đạo đức nghề nghiệpphát sinh
Tóm lại, tín dụng ngân hàng luôn giữ vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triểncủa một nền kinh tế, chính trị và xã hội Việc củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt độngtín dụng là điều thực sự cần thiết và vô cùng quan trọng tác động trực tiếp đến sự tồntại và phát triển lâu dài của mỗi ngân hàng, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh gaygắt như hiện nay Điều này đặt ra một nhiệm vụ tối quan trọng cho các ngân hàng làphải có những biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng tín dụng để giữ vững uytín, thị phần và khuyếch trương hình ảnh của mình
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1, luận văn đã khái quát những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng,rủi ro trong tín dụng và chất lượng tín dụng của NHTM, đặc biệt là cơ sở về chấtlượng tín dụng của NHTM Thêm vào đó luận văn đưa ra các tiêu chí cơ bản đánhgiá chất lượng tín dụng tại các NHTM
Cơ sở lý luận trình bày ở Chương 1 là nền tảng cho việc đánh giá thực trạngchất lượng tín dụng tại Sở giao dịch Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển NôngThôn Việt Nam cũng như cơ sở để đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụngcủa các NHTM trong nền kinh tế nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng phát triển antoàn