Nhật Bản là một quốc gia Đông Bắc Á duy nhất trực tiếp tiếp thu rất nhiều từ Đông Á vá Đông Nam Á các nghề trồng củ, trồng lúa nước, dệt vải, tín ngưỡng nữ thần… hình thành một đảo quốc
Trang 1NGUYỄN THỊ BÍCH DUYÊN
LỚP ĐH 3C2LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Đại học An Giang, ngày 22 tháng 04 năm 2006
Người thực hiện
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Duyên
Lớp ĐH 3C2
Trang 3III- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
IV- Mục đích nghiên cứu
V- Đóng góp của đề tài
VI- Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp tập hợp – khảo sát tư liệu
Chương I: Thời đại
1 Khái quát văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến nay
1.1 Thời cổ đại
1.2 Thời trung đại
1.3 Thời hiện đại
1 Thơ haiku
135566777779999111314141718
Trang 4Chương II: Quan niệm về thiên nhiên của người Nhật
1 Cảm thức về thiên nhiên của người Nhật
1.1 Thiên nhiên biến đổi theo vòng luân hồi của vũ trụ
1.2 Thiên nhiên chứa đựng bí ẩn siêu phàm
1.3 Thiên nhiên và con người có một mối tương giao hòa hợp
1 Biểu tượng về thiên nhiên trong nghệ thuật Nhật Bản
2.1 Biểu tượng “tam tuyệt”
2.2 Một số biểu tượng khác
1 Những quan điểm mĩ học chi phối văn chương Nhật Bản
Chương III: Vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Basho
1 Thiên nhiên tươi đẹp trữ tình
1.1 Thiên nhiên vừa bình dị, nguyên sơ vừa hùng vĩ
1.2 Thiên nhiên là một bức tranh hữu tình
1.3 Thiên nhiên nơi biểu hiện tình yêu quê hương, đất nước, gia đình,
bạn bè
1.4 Thiên nhiên của tấm lòng thương cảm
1 Thiên nhiên trong thơ Basho nhuốm màu Thiền
2.1 Quan niệm về “Thiền”của người Nhật
2.2 Hương vị “Thiền” trong thiên nhiên thơ Basho
2.3 So sánh thơ “Thiền” trong thơ Basho với thơ “Thiền” Việt Nam
18222323232324252526273030303539434747485056606062
Trang 51 Thiên nhiên trong thơ Basho mang tính triết lí sâu sắc
Chương IV: Đặc sắc nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong thơ
Basho
1 Nghệ thuật gợi tả thiên nhiên một cách hồn nhiên mộc mạc
2 Nghệ thuật liên tưởng và tính đa nghĩa của hình ảnh
3 Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên bằng thể thơ ngắn gọn, cô đọng nhất
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6467
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
&
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước Nhật Bản có điều kiện địa lí khá đặc biệt so với nhiều nước trên thế giới Là một đảo quốc có
vị trí biệt lập Nhật Bản cách đại lục khoảng chừng 115 dặm Toàn bộ đất đai Nhật gồm gần 4000 hòn đảo được bao bọc như một cù lao xanh nổi giữa biển khơi Với bốn đảo lớn nằm xếp hàng nối nhau từ Bắc xuống Nam và hàng nghìn đảo nhỏ có tên và không tên ấy tạo thành “một quần đảo dài hình con ngựa đang giằng sợi dây xỏ mũi để bay lên từ giữa biển khơi” [9, trang 3] Truyền thuyết kể rằng Nhật Bản là kết quả của một cuộc tình đẹp thơ mộng của hai vị thần Izanagi (nam thần) và Izanami (nữ thần)
Đó còn được coi là xứ sở thiêng liêng của Mặt Trời Mọc, nơi được cai trị bởi dòng dõi Thiên hoàng concháu của Nữ thần Mặt Trời huyền thoại với biểu trưng bộ ba báu vật: thanh kiếm – chiếc gương – vòng ngọc
Trong quá khứ xa xưa, nhờ vị trí đảo quốc đặc biệt của mình mà Nhật Bản tránh được nhiều cuộc xâm lược chiếm cứ đất đai giữa các nước láng giềng lục địa Nhật Bản là một quốc gia Đông Bắc
Á duy nhất trực tiếp tiếp thu rất nhiều từ Đông Á vá Đông Nam Á các nghề trồng củ, trồng lúa nước, dệt vải, tín ngưỡng nữ thần… hình thành một đảo quốc luôn tạo ra những chuổi bất ngờ cho thế giới cả trong quá khứ lẫn hiện đại về một nền văn hóa độc đáo của xứ sở Phù Tang Nhất là thời kỳ cận đại, công cuộc Minh Trị Duy Tân một bước chuyển đổi làm cho cả thế giới bất ngờ Một xứ sở huyền bí củaThần đạo với vô số các tập tục và nghi lễ Với vẻ đẹp lãng mạn của những cánh hoa anh đào nở rộ như những đám mây hoa và “hoa đạo” nên còn gọi là xứ sở hoa anh đào Với những “thiếu nữ duyên dáng trong tà áo kimono” [8, trang 12] Đây còn là xứ sở dũng mãnh của “truyền thống võ sĩ đạo” và “kiếm đạo”, của những môn phái võ thuật nổi tiếng như: sumo, akido, karate, judo… Một xứ sở thâm trầm củaThiền đạo và Trà đạo gắn liền với những bài thơ haiku ngắn đến mức tưởng chừng như không thể ngắn hơn được nữa và ý nghĩa sâu sắc Đối với thế giới, văn học và văn hóa Nhật Bản là hai nguồn văn minh lớn
Nền văn hóa Phù Tang mê hoặc thế giới là như thế đấy Chúng ta còn có thể thấy sức mê hoặc ấy được thể hiện tinh tế nhất ở trong thơ văn Nhật Bản Chúng ta sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bởi bên cạnh những bài thơ haiku cực ngắn ấy là những trang tiểu thuyết dài hàng nghìn trang tỏa bóng mát cho cả nền văn học Trên sân khấu kịch Noh là những gương “mặt nạ” người trầm lặng không nói
và bất động Vậy mà đâu đâu cũng lấp lánh chất thơ và cũng chẳng dễ dàng hiểu được trọn vẹn Những con người góp phần tạo ra những trang văn học ấy thường là phụ nữ, thiền sư và võ sĩ
Nền văn học Nhật Bản đến thế giới một cách trầm lặng mà gây ra tiếng vang xa rộng như một bước nhảy của một con ếch từ trên bờ nhảy “tủm” xuống ao làm mặt nước xao động, cây cối ngỡ ngàng giật mình mỉm một nụ cười thân thiện trìu mến dịu dàng như những cánh hoa anh đào Do đâu mà lại như thế ? Có lẽ đó là do bản chất rất Nhật Bản tự ngàn xưa của xứ sở dân tộc này Người Nhật ưa chuộng cái
gì thuộc về tự nhiên nên họ có Thần đạo Họ yêu thiên nhiên, sùng bái tôn thờ thiên nhiên Vì thế cả nềnvăn học văn hóa Nhật Bản thấm đẫm thiên nhiên Bất cứ cái gì của dân tộc Nhật Bản đều có chứa một phần nào đó là thiên nhiên hay mang chất thiên nhiên kể cả con người cũng thế từ xưa cho đến nay Thiên nhiên Nhật Bản tuyệt đẹp, dịu dàng, tinh tế nhưng cũng rất hung bạo như: động đất, núi lửa, sóng thần… “thường xuất hiện như những biểu tượng kinh hoàng của nguyên lý hủy diệt” [5, trang 5]
Trang 7Nhưng thiên nhiên cũng trở thành chuẩn thước đo cho mọi cái đẹp Chính điều này tạo cho dân tộc Nhậtmột cảm thức đặc biệt tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên Cả thơ, hội họa, Trà đạo, Hoa đạo, Thiền đạo… đều nhuộm màu thiên nhiên, đều được tẩm hương sắc của thiên nhiên và hơn nữa thiên nhiên đã trở thành linh hồn của bản sắc văn hóa.
Thiên nhiên trong nền văn học Nhật giữ một vị trí quan trọng tạo nên những vẻ đẹp những bước đột phábất ngờ nhất Trong nền văn học thế giới nói chung, đặc biệt là ở phương Đông, thiên nhiên cũng chiếmmột vị trí đáng kể Đó là nét tương đồng giữa văn học Nhật Bản và văn học thế giới Thơ ca Nhật là nơi thiên nhiên sống trầm lặng với bao ý nghĩa sâu lắng Thơ haiku Basho đã ngâm mình trong thiên nhiên
và chở mọi vẻ đẹp của thiên nhiên đến với con người Nhật và ra cả thế giới Từ cái nhỏ bé đơn sơ nhất, thơ haiku Basho làm rung dộng từng cảm giác tinh vi nhất của con người tưởng chừng như không bao giờ có, và trở thành một vẻ đẹp không thể nào chối cãi được Đó là những giá trị thẩm mỹ tuyệt vời của thiên nhiên mà Basho đã đưa vào thơ Con người cũng nhờ đó mà nối gần nhau hơn bằng những xúc cảm qua “thiên nhiên” Vì vậy, thơ haiku trở thành thể thơ đặc trưng của người Nhật mà thế giới biết đến Còn người đưa tên tuổi thơ haiku lên đỉnh cao là thiền sư Basho
Hiện nay trên thế giới, giới yêu thích văn thơ đang rất ưa chuộng thơ haiku Nhật Bản, thơ haiku Basho nói riêng bởi nét dung dị của nó như một nhà văn Nhật từng nói: “Nhân lọai gặp nhau trong một chén trà”
Thực tế ở Việt Nam cho chúng ta thấy việc nghiên cứu và phổ biến văn học Nhật Bản chưa được rộng rãi Trong các nền văn học Châu Á Việt Nam tiếp thu, văn học Trung Quốc có quan hệ lâu đời và gần gũi với văn học Việt Nam Do vậy, văn học Trung Quốc rất phổ biến, quen thuộc với người đọc và giới nghiên cứu Việt Nam Còn văn học Nhật Bản thì chưa phổ biến và chưa quen thuộc Ở Việt Nam chỉ là những bước đầu đang tiếp cận nền văn học Nhật Sách ngữ văn lớp 10 bộ mới cũng lần đầu tiên đưa vàogiảng dạy thơ haiku Nhật Bản cho học sinh Phổ thông nghiên cứu Thơ haiku là thành tựu rực rỡ của nền văn học Nhật Bản Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ haiku Basho là rất cần thiết và có ý nghĩa
Do hạn chế nhiều vấn đề nên người viết chỉ có thể tìm hiểu riêng về thơ Basho, về gía trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ haiku của ông
Phần trình bày trên là lý do người viết chọn đề tài “tìm hiểu giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên
trong thơ Basho”.
II - LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nền văn học Nhật Bản nói chung, thơ haiku nói riêng cũng từ khá lâu rồi được nhiều dịch giả, giới nghiên cứu và bạn đọc trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam Ở Việt Nam việc quan tâm đến văn học xứ Phù Tang ngày càng tăng nhưng sách biên soạn về chuyên đề này đang thiếu Do nhu cầu tìm hiểu tinh hoa của nền văn học Nhật Bản đã phát sinh từ nhà trường và xã hội mà nó được đón nhận một cách nồng nhiệt Việc nghiên cứu tìm hiểu và sáng tác thơ haiku ở Việt Nam đang ở bước đầu Dù Việt Nam còn mới mẻ trong việc tiếp cận nền văn học Nhật Bản nhưng Việt Nam và Nhật Bản vốn là những nước Đông Á nên việc tiếp cận có phần dễ dàng hơn
Thơ haiku của Basho được dịch sang tiếng Việt chưa nhiều, có nhiều bản dịch khác nhau và về số lượngđược dịch cũng hạn chế Hình dung trên tổng thể của quá trình phiên dịch rồi đi vào tìm hiểu thơ haiku các nhà phiên dịch đã đưa ra những điều cần thiết như là nguyên lý để cảm được thơ haiku và sự thật nhờ những nguyên lý ấy mà thơ haiku được người Việt tiếp cận một cách dễ dàng Thơ haiku đến với người Việt bước đầu là từ dịch thơ rồi đi đến khám phá nguyên lý thơ và sau cùng là sáng tác thơ theo
Trang 8thể haiku bằng tiếng Việt Giới bạn đọc dần dần hiểu được rồi say mê thơ haiku Đến ngày nay, thơ haiku được giới thiệu một cách êm dịu như cách hoa anh đào trước gió rung rinh trên các trang báo Tài hoa trẻ, Tạp chí Văn học, Báo Văn học và Tuổi trẻ hay sách viết về văn học văn hóa Nhật Bản với các bài dịch thơ, bài viết của các tác giả nổi tiếng ở Việt Nam như: Nhật Chiêu, Đoàn Lê Giang, Vĩnh Sính, Nguyễn Thị Bích Hải… khi giới về lịch sử văn hóa phương Đông thì nền văn hóa Nhật Bản là một trong những thành viên xuất sắc không thể thiếu, đại diện cho nền văn hóa ấy là thơ haiku cùng với người chủ trì luôn luôn đi theo bên cạnh là đại thi hào Basho lỗi lạc của dân tộc Nhật Bản Ngày nay trên các trang web cũng thấy xuất hiện một số bài viết, trang tin đăng tải có liên quan đến thơ haiku và tác giả Basho Đặc biệt là Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh khoa Đông Phương học đã ấn hành và cho ra đời một quyển sách có ý nghĩa vào năm 2003 đó là cuốn
“Nhật Bản trong thế giới Đông Á và Đông Nam Á” trong đó thơ haiku Basho được coi là một phần linh hồn của văn học văn hóa Nhật Bản Hiện nay, văn học Nhật Bản đang nở rộ trên thế giới với những tên tuổi lỗi lạc đã mang những giải Nobel văn học cho đảo quốc Mặt Trời Mọc này như Kawabata, Oe, nhưng linh hồn thật sự của văn học văn hóa Nhật Bản là thơ haiku Basho Những vấn đề trên đã đưa đến một kết quả rất khả quan là nền văn học Nhật Bản đang bước từng bước vào Việt Nam làm những người yêu thơ đi vào nghiên cứu tìm hiểu thơ haiku Basho
Ở các trường Đại học sư phạm, ngành Ngữ văn cũng được giới thiệu vào chương trình cho sinh viên học tập tìm hiểu Vì vậy, thơ haiku cũng được các bạn sinh viên thích thú tìm hiểu và học sáng tác thơ haiku bằng tiếng Việt Người viết còn biết thêm nữa là không chỉ riêng các bạn sinh viên ngành Ngữ văn mà còn có nhiều bạn sinh viên ngành khác cũng rất thích thơ haiku cùng cái tên Basho giản dị này
Cụ thể là các bạn hay lên các trang web để truy cập thông tin về thơ haiku
Trên thế giới cũng như nước ta, nhiều người chưa biết nhiều đến văn học Nhật Bản một cách trọn vẹn Trong khoảng chừng 10 năm trở lại đây học sinh Trung học Việt Nam mới được làm quen với truyện ngắn “Thủy nguyệt” của tác giả Kawabata, sách văn học lớp 11 tập II là đại diện cho nền văn học Nhật Bản trong chương trình văn học Phổ thông Việt Nam Hiện nay, bộ sách Ngữ văn cấp III mới phần văn học Nhật Bản lại được bổ sung vào những bài thơ haiku ngộ nghĩnh và lí thú ở lớp 10 và không quên tôn vinh ông tổ thơ haiku Basho do tiến sĩ Đoàn Lê Giang biên soạn giới thiệu Có thể nói sự xuất hiện của thơ haiku Basho trong chương trình văn học nước ngoài ở Phổ thông Việt Nam đã thực sự đánh dấumột bước dài cho chân trụ vững chắc của thơ haiku ở Việt Nam
Ngày nay, Việt Nam đang tiếp thu rất nhiều từ Nhật Bản và mở rộng quan hệ hợp tác bang giao trên nhiều lĩnh vực Lĩnh vực văn học Nhật Bản đang được mở rộng cửa đón chào dù còn gặp nhiều mới mẻ trong việc tiếp cận nền văn học này, nhưng tương lai nền văn học Nhật Bản sẽ được khám phá sâu rộng
ở Việt Nam Trong đó thơ haiku Basho là một đại diện không thể thiếu bởi nó là chiếc gương soi nhỏ xinh xinh để soi rọi linh hồn văn hóa Nhật Bản Với đề tài “Tìm hiểu giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho” người viết sẽ đi vào tìm hiểu và giới thiệu những nét đặc sắc về thiên nhiên trong thơ Basho với hy vọng thơ haiku sẽ đến từng con người Việt Nam bằng nét dung dị tinh tế nhất mà thơ haiku có thể làm được với bản chất vốn có của nó
III – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho, nên đối tượng nghiên cứu là thơ Basho Nhưng thơ Basho chủ yếu là thơ haiku Vì vậy, có thể gói gọn lại đối tượng nghiên cứu ở đây là thơ haiku của Basho
Trang 92 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài là: “Tìm hiểu giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho”, luận văn chỉ đi sâu vào khảo sát các tác phẩm thơ haiku của Basho đã được dịch sang tiếng Việt do các dịch giả Nhật Chiêu, Đoàn LêGiang, Vĩnh Sính… Khảo sát một cách khái quát toàn bộ các bài thơ haiku đã được dịch sang tiếng Việt
để thấy được những giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên được tác giả Basho thể hiện như thế nào Bên cạnh
đó, luận văn còn đi vào tìm hiểu về giá trị nội dung ý nghĩa và nghệ thuật của thiên nhiên trong thơ để làm nổi bật lên những vấn đề cần nghiên cứu, đặc biệt là những hình ảnh đối tượng thuộc về thiên nhiênđược thể hiện trong thơ như: các mùa, cảm thức thẩm mỹ và biểu tượng của thiên nhiên…
IV – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thơ haiku là một thể thơ có cấu tứ mới lạ, khó hiểu gây ấn tượng mạnh song lại rất gần gũi với những aimuốn tiếp nhận thơ haiku Tuy thơ haiku Basho đã thuộc về thể thơ truyền thống của một thời đại rực rỡ
đã qua nhưng nó đã để lại những đóng góp to lớn và ảnh hưởng không nhỏ đến thế giới thơ ca hiện đại
Vì thế việc nghiên cứu “giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho” của người viết nhằm:
Trước tiên đó là những bài thơ haiku hết sức cô đọng lại có sức chứa đặc biệt những vẻ đẹp của thiên nhiên Nghiên cứu giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên để thấy được cái hay, cái đẹp và sức hấp dẫn của thơ haiku Basho Hơn nữa một nét về những giá trị thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật, một “thiên nhiên” đậm chất thiên nhiên không chỉ sản phẩm thuộc về văn học mà nó còn phản ánh chứa đựng tư tưởng thẩm mỹ vẻ đẹp văn hóa truyền thống của một dân tộc Thơ haiku Basho là những câu chữ siêu ngắn chứa đựng thiên nhiên của nước Nhật Là những “tác phẩm kiệt xuất” của người Nhật Do vậy, tìm hiểu giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho sẽ góp phần khám phá những nét đẹp về tư tưởng thẩm
mỹ trong văn học văn hóa truyền thống của dân tộc xứ Phù Tang
Kết quả của đề tài này sẽ góp phần thiết thực trong việc phổ biến văn học Nhật Bản ở Việt Nam và phục
vụ đắc lực, cho công tác nghiên cứu giảng dạy văn học Nhật Bản ở các trường Phổ thông
V – ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Thơ haiku Basho là một trong những thành tựu văn học có giá trị lớn ở nhiều mặt Thiên nhiên trong thơhết sức phong phú và tuyệt mỹ Nó còn thể hiện tâm hồn của đảo quốc Phù Tang Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thiên nhiên thơ haiku Basho cũng chỉ để nhằm giới thiệu thơ haiku và chưa có sự đi sâu tìm hiểu về giá trị thiên nhiên trong thơ Basho Vì vậy, việc nghiên cứu thiên nhiên trong thơ Basho mộtcách khái quát từ góc độ văn học hy vọng có thể đem lại những đóng góp mới của đề tài
Ở đề tài luận văn này, những giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên với những tầng lớp ý nghĩa, những giá trịvăn học sẽ được khai thác cần thiết để đem đến cho người đọc những rung động thẩm mỹ sâu xa và sâu sắc nhất cũng như những nét chấm phá mới về văn học văn hóa Nhật Bản một cách giản dị tinh tế nhất
mà người đọc có thể cảm nhận được và đến với thế giới thơ haiku tự nào không hay biết Bên cạnh đó, với đề tài “giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho” người viết mong muốn góp vào đấy một phần nhỏ bé của mình để giúp cho việc nghiên cứu và phổ biến nền văn học Nhật Bản ở Việt Nam
Trang 10VI - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào đối tượng nghiên cứu của đề tài mà người viết đã chọn và để
hoàn thành mục đích nghiên cứu, người viết đã sử dụng một hệ thống những phương pháp cụ thể như sau:
1 Phương pháp tập hợp – khảo sát tư liệu
Thơ haiku của Basho được khá nhiều dịch giả và nhà nghiên cứu quan tâm nên có nhiều bản dịch của một tác phẩm do nhiều tác giả dịch ra tiếng Việt Đồng thời, các bản dịch thơ haiku Basho lại nằm rải rác trên khắp các báo, tạp chí, sách, trang web… Nói chung là không tập trung một chỗ Và số lượng tácphẩm được dịch ra tiếng Việt ngày một nhiều thêm Do vậy, người viết cần thiết sử dụng phương pháp này để khám phá những giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho Đó là vừa tập hợp hay thu thập tất cả những tác phẩm dịch thơ vừa tiến hành khảo sát tư liệu
2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Nhằm làm nổi bật những vấn đề cần khai thác khám phá người viết sẽ tiến hành phân tích các dẫn chứng sau đó tổng hợp khái quát lại để đi đến đúc kết vấn đề
3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Trong quá trình phân tích và tìm ra những giá trị thẩm mỹ mà tác giả đã xây dựng thành công qua các tác phẩm của mình thì người viết cần phải có sự so sánh, đối chiếu để khẳng định được vấn đề tức là phải đặt các tác phẩm vào trong mối quan hệ lịch sử để so sánh với các tác phẩm cùng thời hoặc trước
và sau đó ở trong cùng một nước hay nước ngoài
4 Phương pháp hệ thống
Sau khi phân tích, khám phá hình ảnh thiên nhiên của từng tác phẩm cụ thể, người viết hệ thống lại tất
cả các tác phẩm ấy trong mối lên hệ tư tưởng chung của tác giả Basho Từ đó, người viết rút ra kết luận
về giá trị thẩm mỹ của thiên nhiên trong thơ Basho
VII – CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn được chia bố cục theo các phần sau:
Phần mở đầu bao gồm: Lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đóng góp của đề tài, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc luận văn
Trang 11Phần nội dung: Được chia thành 4 chương như sau:
Chương I: Thời đại
Chương II: Quan niệm về thiên nhiên của người Nhật
Chương III: Vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Basho
Chương IV: Đặc sắc nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong thơ BashoPhần kết luận
Tài liệu tham khảo
ªª
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
&
CHƯƠNG I: THỜI ĐẠI
1 Khái quát văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến nay: văn học Nhật Bản có thể chia ra 3 thời kỳ như
sau:
1.1 Thời cổ đại
Khởi đầu là thời Nara (Nại lương) thế kỉ thứ VIII chấm dứt thời kì “di đô” của Hoàng gia, mở đầu thời
kì định đô của Nhật Bản (vì trước kia mỗi lần thiên hoàng mất đi, triều đình lại bỏ cung điện cũ chuyển đến nơi khác xây dựng cung điện mới) Trước thời Nara tính đã có hơn 60 kinh đô trên đất nước Từ nay, Nara được chọn làm nơi đóng đô, gọi là kinh đô Nara hay HeijoKyo (Bình thành kinh) được xây dựng vào năm 710 theo lệnh nữ thiên hoàng Genmei và theo khôn mẫu là kinh đô Trường An của nhà Đường ở Trung Quốc Người Nhật đã tiến những bước dài trong cuộc kiến tạo văn minh trên xứ sở của mình từ sau khi thống nhất và định đô tại Nara
Vào khoảng đầu công nguyên, Nhật Bản có trên 100 xứ nhỏ (theo xử liệu Trung Quốc Hậu Hán Thư), thực ra đó chỉ là những bộ tộc tranh giành quyền lực với nhau Trong đó Yamato (Đại hòa) là xứ hùng mạnh nhất và là nơi khởi nghiệp của các thiên hoàng Nên “Yamato” cũng được dùng để chỉ nước Nhật xưa
Theo bộ sử thi Nihonsoki (Nhật Bản thư kỉ) thì vào năm 552 Phật giáo đã theo người Triều Tiên du nhập vào xứ đảo quốc này và ít lâu sau được tôn làm Quốc giáo Cùng với Phật giáo là Thần đạo truyền thống vẫn tồn tại bên cạnh Cả hai đã liên kết dung hòa để phát triển bên nhau Đồng thời, Nhật Bản còntiếp thu các nền văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên… để xây dựng nền văn hóa của dân tộc mình
Vào thời kì này, nền văn học viết bắt đầu xuất hiện như: thơ, tùy bút, nhật ký, tiểu thuyết viết bằng chữ Hán, cũng ưa dùng điển tích Hán nhưng mang đậm chất Nhật Bản, bởi nó chứa đựng trong đấy là thiên nhiên và tâm hồn người Nhật Những tác phẩm như Kojiki (Cổ kí sự) có nghiã là “ghi chép chuyện xưa”viết bằng tiếng Nhật qua dạng chữ Hán do Yasumaro – một học giả ưu tú đương thời biên soạn Hay Nihonsoki (Nhật Bản thư kỉ) gọi tắt là Nihongi (Nhật bản kỉ) do thái tử Toneri và Yasumaro biên soạn Hay Fudoki (Phong thổ kí), Kogoshui (Cổ ngữ thập di), các Norito (Chúc từ), Nihon Ryoiki (Nhật Bản linh di kí) năm 822, hợp tuyển thơ ca Kaifusso (Hoài phong tảo hay còn gọi là Hoài niệm thơ ca) năm
751 với 126 bài thơ chữ Hán làm theo lối Đường luật Đặc biệt là tập thơ Manyoshu (Vạn diệp tập)
“Nghìn chiếc lá” do thiên hoàng tổ chức và phát hành hoàn thành khoảng năm 771 với 4500 bài thơ trong ngôn ngữ Nhật bản với hầu hết là thể tanka của rất nhiều tác giả hữu danh và vô danh Có thể nói
Trang 13Manyoshu là nơi quy tụ mọi tâm hồn trên toàn cõi Nhật Đó là khúc hát giao mùa của thiên nhiên và cả tâm hồn con người
Đàn nhạn bay về
Cây phong của ta ơi
Đến lượt em rồi đó
Đã sang mùa
Em hãy đổi màu đi.
( bài 2183 – vô danh)
Tóm lại, nền văn học Nhật Bản thời Nara là “buổi bình minh văn học Phù Tang” [6, trang 11] nên chưa
định hình rõ phong cách
Thời Heain (Bình an) từ 794-1185: Vào năm 794, thiên hoàng Kanmu dời đô về Heian (Kyoto) chấm
dứt những rối ren ở Nara mở đầu cho thời đại thái bình kéo dài ngót bốn thế kỉ Heian nghĩa là Bình an
là một trong những kinh đô có cuộc sống kéo dài từ thời cổ đại đến cận đại tức năm 1868
Thời kì này văn hóa Nhật Bản phát triển trong một tinh thần độc lập và tự tin Với phong trào tân hưng Phật giáo như: chủ trương đọc kinh, không phân biệt nam nữ, đề cao nghệ thuật Sau đó là hệ thống văn
tự Kana thay thế cho cách mượn chữ Hán để phiên âm tiếng Nhật
Thời Heian, gia tộc Fujiwara chiếm một địa vị quan trọng trong cung đình cũng như lịch sử Nhật Bản
và thật sự thống trị triều đình Giới quý tộc vui hưởng cuộc sống xa hoa, ngắm trăng, đốt hương… Đó là
sự tôn thờ cái đẹp trong nghệ thuật lẫn thiên nhiên Cái đẹp trở thành tiêu chí của văn hóa Cái đẹp đượctôn thờ như là một tôn giáo Chính nhờ xã hội quý tộc này những kiệt tác văn chương thể hiện một
phong cách diễm lệ và tao nhã gọi là Miyabi của sự giao hòa êm ái giữa con người với nhau và với thiên
nhiên
Văn chương thời Heian “nở rộ như hoa cỏ mùa xuân” Đặc biệt là sự đăng quang của các cây bút thiên tài nữ quý tộc và tác phẩm của họ trở thành tiêu biểu cho cả nền văn học thời Heian Đây cũng là thời đại mà yếu tố “dân tộc” và “nữ lưu” đã phát tiết vẻ đẹp huy hoàng chưa từng có cho văn chương Đến nỗi bước vào thế giới văn chương Heian là ta cảm nhận lập tức sự thoát ra một không khí diễm tình, đa cảm đầy mùi hương nữ tính
Văn học giai đọan này đã bắt đầu hình thành phong cách Nhật khá ổn định và mang nét truyền thống sâu sắc chẳng hạn như những xúc cảm tinh tế về thiên nhiên, về nỗi buồn và cái đẹp đã trở thành đặc
trưng truyền thống của mỹ cảm Nhật Bản “mononoaware” (bi cảm Nhật Bản) Về thể loại thì phong phú đa dạng: thơ ca, tiểu thuyết, nhật ký, tùy bút… với các tác phẩm: Các tập cổ kim tập, Thần nhặt bụi
trần, Tiểu thư ánh trăng, Tiểu thư yêu sâu bọ, Sách gối đầu, Phù du ký và đặc biệt là tiểu thuyết truyện Genji Monogatari của nữ sĩ Murasaki Đấy là quyển tiểu thuyết vĩ đại nhất của năn học Nhật Bản là một
trong những kiệt tác vào bậc nhất của thế giới Tiểu thuyết Genji Monogatari dài khoảng 1000 trang kể
về chuyện tình của thái tử Genji hào hoa phong nhã Qua cuộc đời Genji, Murasaki đã miêu tả lại hiện thực xã hội cung đình và đời sống người Nhật thế kỉ XI Ngoài ra còn có sân khấu Noh với những gương “mặt nạ” người bất động ra đời
Trang 14Có thể nói thời Heian là thời của cái đẹp là thời rực rỡ nhất của văn học Nhật Bản từ trước đến nay.
1.2 Thời trung đại (“Thời khói lửa”) từ thế kỉ XIII – XV
Mạc phủ Kamakura (Liêm thương): Đây là thời kì mà sự vinh quang của tầng lớp quý tộc bị rơi
xuống thì ngọn sóng lịch sử lại đẩy lên một quyền lực mới thuộc về giới võ sĩ gọi là Bushido hay Samurai
Năm 1192 Yoritomo trở thành tướng quân và thiết lập chế độ Mạc phủ (Bakufu) ở Kamakura Đến năm
1333 Ashikaga đảo chính lật đổ tướng Kamakura và sau đó chiếm luôn Kyoto, lập thiên hoàng mới là Komyo Thiên hoàng Godaigo về núi Yoshino lập triều đình mới Từ đó diễn ra tranh chấp Nam Bắc và kết thúc 1392 chỉ còn lại thên hoàng Kyoto Sau đó nữa là cuộc chiến tranh giữa các lãnh chúa địa phương kéo dài hơn một thế kỉ, 60 xứ “bốc mùi khói lửa” [6, trang 143] Năm 1542 Nhật Bản được người Bồ Đào Nha phát hiện và từ đấy súng đạn phương Tây cũng xen vào khói lửa Văn hóa thời Mạc Phủ chịu sự ảnh hưởng của khói lửa chiến tranh và tư tưởng tôn giáo Thiền tông (Zen) Các loại hình nghệ thuật gắn liền với Thiền tông cũng phát triển rất mạnh như: Trà đạo, kiếm đạo, hoa đạo, thi đạo… Một nền văn học dịu dàng trong sáng của Heian đã bị “khói lửa” làm nhòa đi thay vào đó là bóng tối bi đát trong từng trang tùy bút, trong lời ca ngâm của nghệ sĩ hát rong và trên sân khấu u huyền của kịch Noh Có thể nói đây là thời kì võ sĩ và tu sĩ là lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học Cả hai loại thơ ca
và văn xuôi đều phát triển với những tác phẩm tiêu biểu như: Nhà trên núi, Mây hoang dại, Ghi chép
trong lều, Trầm tư trên cỏ, Những truyện kể theo tiếng đàn tì bà… và một loại hình nghệ thuật mới: sân
khấu Noh phát triển mạnh vào thời kì này Thời Mạc phủ là thời văn chương của võ sĩ và tu sĩ
Thời Edo (“văn chương Phù thế”): Cuộc chiến tranh dai dẳng cũng đã đến hồi kết thúc Tướng quân
Tokugama Iegasa mở ra một thời đại mới gọi là thời Tokugana hay thời Edo (vì Edo được chọn làm Thủ phủ trở thành trung tâm văn hóa mới), với một nền hòa bình kéo dài gần 3 thế kỉ (từ 1600 – 1868) Dưới chế độ Mạc phủ Tokugana, học vấn phát triển mạnh mẽ cả Nho học lẫn Quốc học đến cả việc hìnhthành văn hóa và đạo lí của tầng lớp võ sĩ trên toàn cõi Nhật Bản Đó là tinh thần võ sĩ đạo “Bushido” Ngoài ra văn hóa Edo còn bị chi phối bởi hiện tượng chính trị khép mình theo lệnh tỏa quốc hay “bế quan tỏa cảng” Nhưng hiện tượng nổi bật của văn hóa Edo lại chính là tầng lớp thị dân, chính vì vậy
mà văn hóa Edo còn gọi là “Văn hóa thị dân” [6, trang 215] Là thời của thị dân, nghệ sĩ, kĩ nữ… của những “Thành phố không đêm” [6, trang 215], của nhà hát, lữ quán… là nguồn đề tài phong phú cho các nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia, họa sĩ và cả nhà thơ Chính cái thị tứ ấy đã tạo nên một “nền văn hóa Phù thế” Đời sống thường ngày và con người thường dân bắt đầu xâm nhập vào một thế giới mà mới đây dường như hãy còn là một cõi xa lạ đó là văn chương và nghệ thuật Nho giáo được xem là chính thống Đạo Thiên chúa bị cấm đoán Thời kì đầu của Edo trải dài hơn một thế kỉ rưỡi Nhật Bản được cai trị bởi mười tướng quân kể từ Ieyasu
Sân khấu, nghệ thuật, điêu khắc, hội họa… phát triển mạnh Hai loại hình sân khấu nổi trội là múa rối Joruri và Kabuki, trong hội họa là “hình ảnh ngọn sóng chính là biểu tượng của một thời đại đầy khát vọng” [3, trang 203] Riêng văn học với nhiều thể loại để lại những thành tựu văn học đặc sắc như: tiểu
thuyết gia bậc nhất Saikaku và “thế gian gia đình”, hay các tác gia tiểu thuyết khác như: Akinai, Ikku và
Bakin…
Thơ thời Edo cũng xuất hiện với hình thức mới mẻ và giản dị vào hiện thực đời sống như thơ và văn
xuôi vậy Đó là thể thơ 17 âm tiết hay còn gọi là thơ haiku với bậc thầy của nó là Basho, bên cạnh còn
có các tác gia khác như: Buson, Issa, Kikaku, Chiyo, Onitsuro… Có thể nói đây là thời rực rỡ nhất của thơ haiku đã làm cho Basho trở thành thi hào Nhật Bản
Trang 15Thời Edo là thời tự trị của văn chương Phù thế, vì văn chương Phù thế là văn chương của những ngọn sóng trần gian chỉ biết “con người tại thế” mà quay lưng lại với thần linh xưa cũ Văn học cổ điển Nhật Bản kết thúc vào cuối thời Edo.
1.3 Thời hiện đại (1868 đến nay)
Đến giữa thế kỉ XIX Nhật Bản mới mở cửa giao lưu với các nước ngoại quốc kể từ sau chính sách “tỏa quốc” [3, trang 292] thế kỉ XVI Rồi các hiệp ước được kí kết với Mĩ, Anh, Pháp, Hà Lan và Nga lần lượt ra đời Chế độ Mạc phủ tướng quân bị tan rã Quyền lực thuộc về thiên hoàng được phục hồi Thiênhoàng mới là Meiji mới 15 tuổi Từ đây, năm 1868 thời đại Meiji bắt đầu Kinh đô Edo được đổi thành Tokyo Nước Nhật lao vào cuộc Duy tân Nền văn hóa, giáo dục phương Tây được du nhập vào Nhật Bản Sinh viên Nhật Bản du học sang các nước phương Tây như ở thời Nara, Heian người Nhật từng sang Trung Quốc Cuộc Duy tân Meiji đã làm bùng nổ sức mạnh của Nhật Nhật gây chiến tranh với Trung Quốc, Nga rồi ngang nhiên sáp nhập Triều Tiên vào quần đảo của mình Khi thiên hoàng Meiji qua đời vào năm 1912 và cuối thế chiến thứ nhất Nhật trở thành cường quốc lớn của thế giới Sau đó, Taisho kế vị Năm 1926, kỉ nguyên Showa bắt đầu với những rối loạn chính trị và tập đoàn Quân phiệt gây chiến dẫn đến nước Nhật thảm bại trong điêu tàn Trong sáu năm tiếp theo, nước Nhật chịu sự chiếm đóng của quân Đồng minh là Mĩ Năm 1947 Nhật Bản thi hành hiến pháp mới xem thiên hoàng
“chỉ là biểu tượng của quốc gia” [3, trang 294] từ bỏ vũ lực quân sự… Từ đó, Nhật khôi phục kinh tế Sau hai thập kỉ, Nhật trở thành quốc gia cường thịnh của thế giới
Trong thời kì này, nền giáo dục Nhật Bản đã thành công rực rỡ với các công trình nghiên cứu khoa học đoạt giải Nobel như: Yukawa, Hideki và Tomogana Shinichiro Còn về nghệ thuật ngành điện ảnh đã nhanh chóng phát triển Về phương diện văn học làn sóng văn học phương Tây đã bắt đầu tràn vào NhậtBản từ những năm 1880 qua các bản dịch Tác phẩm đầu tiên của văn học Nhật hiện đại là tiểu thuyết Ukigumo (Phù vân) 1887 của Futabotei Shibei Sau đó hàng loạt các nhà văn lớn thời Meiji là Mori Ogai, Nagaikafu, Natrumei, Soseki… Họ thể hiện những băn khoăn đau khổ của con người trong cuộc sống đầy những giằng xé giữa mới và cũ Đến thời Taisho xuất hiện truyện ngắn xuất sắc của AkutagwaRyunosuke Sang kỉ nguyên Shona lại là thời đại cực kì phong phú của văn học Nhật Kawabata
Yasunari và Oe Kenzaburoo đã vượt lên trên các nhà văn thơ cùng thời vươn ra thế giới nhận giải Nobelmang về vinh quang cho nền văn học xứ sở Phù Tang Nhìn chung, tác phẩm của nhà văn hiện đại Nhật Bản ngày càng có tính quốc tế hơn trong đề tài và phong cách, nhưng vẫn giữ được nét đẹp riêng độc đáo của Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản đang đối đầu với những bất ổn của xã hội và kinh tế Nước Nhật đã hiện đại hóa vớimột tốc độ chóng mặt và dường như tâm hồn Nhật cũng chịu sự căng thẳng và khủng hoảng nên những giá trị văn hóa là những gì ổn định nhất cần phải bảo tồn và phát triển
Thời hiện đại của Nhật Bản là thời mọi giá trị của Nhật bản được vươn mình, soãi cánh ra thế giới trong
đó có cả văn học Nhật Bản cũng đang là đối tượng được thế giới quan tâm Đây cũng là thời kì đăng quang của các cây bút văn xuôi lỗi lạc
2 Thơ haiku
Dân tộc Nhật Bản có hai thể thơ chính là tanka và haiku Thơ haiku là một thể thơ rất Nhật Bản, là linh hồn văn hóa xứ Phù Tang Cho nên, nói đến văn học Nhật Bản người ta không quên nói đến thơ haiku Ngày nay, thơ haiku không còn là của riêng dân tộc Nhật Bản mà nó trở thành thể thơ của quốc tế – mộtthể thơ của mọi người cảm nhận và sáng tác Vậy từ đâu có tên gọi là haiku ? Haiku có nghĩa là gì ?
Trang 162.1 Nguồn gốc ra đời
Như chúng ta đã biết thể thơ khởi đầu của dân tộc Nhật bản là thể tanka (tức Đoản ca hay còn gọi là Wa-ka hay Hòa ca) với 31 âm tiết, ngắt nhịp theo kiểu: 5-7-5-7-7 và bài thơ tanka sau đây được xem là bài thơ mở đầu cho thơ ca Nhật Bản
Tám tầng mây dựng
Ở xứ Izumo
Ta làm tám tầng mây xa
Tám tầng mây ấy
Che chở người vợ ta
Là bài thơ mà thần Susanoo làm tặng người vợ yêu quý của mình là nàng Kushinada Theo H H Hondathì một bài thơ tanka tựa như “Hoa anh đào ẩn hiện trong sương mờ mùa xuân” Còn thơ haiku thì ngắn hơn nữa Từ haiku theo âm Hán Việt là “hài cú” Nó không xuất hiện vào thời Basho mà về sau mới có Thử nhìn vào một bài thơ haiku sau đây sẽ dễ hiểu hơn
Dậy đi thôi
Cùng ta kết bạn
Cánh bướm ngủ say ơi !
Đấy là một bài thơ rất ngắn Cả bài chỉ có 17 âm tiết (17 onji), đôi khi cũng không nhất thiết phải thế Một bài thơ như thế, Basho gọi là hokku (phát cú) tức là thơ khởi xướng của một bài renga (liên ca) Thơ renga được giải thích như sau:
Thơ renga là thơ xướng họa có từ rất lâu đời trong văn học Nhật Từ một bài tanka 31 âm tiết, 5 dòng
được tách ra hai phần để cho mọi người xướng thơ với nhau (phần ba câu đầu gọi là thượng cú, phần hai câu sau gọi là hạ cú) Renga ra đời là như thế Ví dụ như một bài thơ trong Shui shu (Thập di tập 997).
Qua rồi nửa đêm
Chờ nhau chi nữa
Cho thêm ưu phiền
Một tiểu thư đã gửi cho người tình của mình phần đầu bài tanka với ba câu như trên với ý trách móc người yêu lỗi hẹn Sau đó, người ấy nhận được và làm tiếp phần còn lại thành một bài tanka trọn vẹn
Muốn gặp em trong mộng
Nhưng rồi anh ngủ quên.
Một bài tanka được sáng tác như trên gọi là renga Giới quý tộc thời Heian rất thích lối sáng tác như thế
và trở thành cuộc vui xướng thơ của họ Sang thời Mạc Phủ Kamakura thì thể renga từ một bài tanka
Trang 17như thế được nối dài ra thành một chuỗi thơ vô tận với hàng chục đoạn, hàng trăm đoạn… do các nhà thơ họa nối theo nhau.
Đến thế kỷ XIV, lý luận về thơ renga ra đời với quy tắc chặt chẽ do nhà thơ tanka Nijo Yoshimoto nổi tiếng lúc bấy giờ biên soạn
Bước sang thế kỷ XV thì thơ renga đã vươn lên đến đỉnh cao thực sự của mình Thơ renga trở thành niềm say mê đế mức được tôn thờ như một tín ngưỡng “thiêng liêng hóa” Người ta mua các bài thơ renga từ các nhà thơ đem đến vườn chùa để cầu phúc trước khi đi chiến đấu hay sinh nở Cũng trong giai đoạn này các trường phái renga ra đời Đó là phái Ushin (hữu tâm) theo phong cách tao nhã của thơ
ca truyền thống và phái Mushin (vô tâm) của sự dung tục và đùa cợt trong thơ Ban đầu phái Ushin chiếm ưu thế với đỉnh cao là Sogi Lúc này, đoạn thơ khởi xướng phần thượng cú gọi là hokku viết với hình thức 17 âm tiết (5-7-5) đã chiếm một vị trí đặc biệt thường do các nhà thơ nổi tiếng soạn trước Phần còn lại dành cho các đối tác khác thích xướng họa Về sau đến thời Edo thì phái Mushin lại tạo được danh thế với thể renga trào lộng còn gọi là haikai no renga (bài hài liên ca), gọi tắt là haikai, do tầng lớp thị dân thích đùa cợt phóng túng Đồng thời thể haikai cũng dễ sa vào sự dung tục chắp nối, gượng ép thiếu tâm hồn thơ Chính Soin (1605-1682) đã góp phần đưa haikai ra khỏi sự dung tục và giải trí đơn thuần Rồi định mệnh lại an bài haikai cho Basho Thiên tài Basho đã đưa haikai thoát khỏi lối chơi tầm thường bằng sự dung hợp cả cái vô tâm lẫn hữu tâm, sự trào lộng đời thường của haikai hiện đại với sự tao nhã tâm linh của renga cổ điển vào trong 17 âm tiết của một bài hokku Từ đấy, hokku không phụ thuộc vào renga nữa, nó trở thành một thể thơ độc lập và có tên là haikai hay haiku Tên gọi này có từ thời nhà thơ Shiki (1867-1902) trở đi Haiku là do cách ghép thu gọn của hai từ haikai
và hokku lại thành Có thể nói renga đã làm nảy sinh một thể thơ độc đáo là haiku Thơ haiku là một thểthơ độc đáo mang phong vị Thiền Mỗi bài thơ được ví như một chiếc gương soi rọi thiên nhiên của bốnmùa và tâm hồn của nghìn đời
Từ đấy, thơ haiku phổ biến trên khắp thế giới nên các bài thơ 17 âm tiết như thế của Basho và người cùng thời với ông vẫn gọi tên ấy Tên gọi haiku rất phổ biến trên sách báo tiếng Anh Các từ haiku, hokku, haikai vẫn dược dùng lẫn lộn Khi đến Việt Nam cũng thế, đặc biệt, ở trường Phổ thông gọi là haiku Thơ haiku khi dịch ra tiếng nước ngoài thường được xếp thành ba dòng trông như ba câu Còn trong chữ Nhật thì một bài haiku thường nằm gọn trên một dòng Đây là nét riêng biệt của thơ haiku không thể lẫn với bất cứ thể thơ nào khác
Thơ haiku là khúc ca của bốn mùa Mỗi bài thơ haiku đều có quí ngữ (kigo hay từ ngữ báo hiệu mùa)
Nội dung thơ cô đọng trong cái cực ngắn Thơ haiku chỉ miêu tả những cái gì ở thực tại và lặng thinh Khoảng lặng ấy là “khoảng trống” của “chân không” Ở thực tại là sự vật xuất hiện ngay thời khắc tinh khôi nhất như một đóa hoa triêu nhan
A ! Hoa asagao
Chiếc gàu vương hoa bên giếng
Đành xin nước nhà bên.
(Chiyo)
Thơ haiku lấy thiên nhiên làm chủ đề và bộc lộ cảm xúc cô tịch (sabi), aware (bi ai), wabi (đà), karumi (khinh) Thơ haiku còn thể hiện triết lí về “thiên nhiên” Tác giả Nhật Chiêu cảm nhận về thơ haiku nhưsau: “Một bài thơ haiku có thể chứa ba chiều của vũ trụ Còn chiều thứ tư để dành cho người đọc” [5, trang 22] Hay nhà thơ Paul (Pháp) cũng nói: “Tôi viết nửa bài thơ Người đọc viết phần còn lại.” [5, trang 22] Đó là những nội dung mà thơ haiku diễn đạt
Trang 18Vậy, thơ haiku có nguồn gốc từ thơ ca truyền thống Nhật Bản.
2.2 Quá trình phát triển
Thơ haiku có một quá trình ra đời lâu dài và phát triển thật mạnh mẽ Thơ haiku ra đời từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII, nó đạt tới đỉnh cao với Basho Sau Basho còn có rất nhiều nhà thơ đã chọn haiku làm
“con đường” để bước vào trong nghệ thuật, vào trong một lối sống, vào một “đạo” và mang những triết
lí sâu sắc gọi là “hài cú đạo” (haikudo) hay “haiku no michi” Đó là các nhà thơ Buson (1716-1784) “thi
sĩ của mùa xuân” [6, trang 279], là Issa (1762-1826) “nhà thơ của nhân tình” [6, trang 282], là shiki (1867-1902), Onitsura (1660-1738), là Ryokan – “kẻ đại ngu” [6, trang 285]… Đối với họ sáng tác thơ haiku không chỉ là niềm vui mà còn là lối sống Thơ haiku đến với họ bằng “con đường”, tức cái đạo
mà thơ haiku chứa ở trong nó Đấy là con đường sâu thẳm trong cái bình thường giản dị nhất giữa cuộc
đời như Tagore đã từng nói: “Trong vội vã, ta bỏ quên những bông hoa bên hàng giậu ven đường…”.
Hiện nay, Nhật Bản “tiếp tục” phát triển thơ haiku Bài thơ haiku sau do Tiến sĩ Đoàn Lê Giang dịch từ thơ của tác giả Ozakihosai trong báo Tài hoa trẻ số 325
Chỉ một tiếng ho thôi
Cũng một con người.
Thay vì haiku cổ điển gồm ba câu nhưng ở đây tác giả chỉ dùng hai câu như để thể nghiệm cho thơ ở bước hiện đại Xét đến cùng thì thơ haiku vẫn đến với mọi người bằng tinh thần Thiền tông đề cao thiênnhiên, đề cao cái đẹp thô sơ, mộc mạc, tầm thường, nhỏ bé nhưng chẳng tầm thường chút nào
Khi thơ haiku tỏa ra thế giới hay “haiku đã vươn xa ra ngoài biên giới Nhật, trở thành một dòng thơ của thế giới, ảnh hưởng đến thơ ca hiện đại Thơ ca phương Tây trong những tìm kiếm và thể nghiệm của mình, đã nhiều lần đi theo phong thái haiku” [6, trang 183] Thơ haiku được mọi người đón nhận nồng nhiệt Người ta dịch thơ haiku từ tiếng Nhật, rồi nghiên cứu, khám phá những gì mà linh hồn thơ haiku chất chứa Giới yêu thơ còn sáng tác thơ haiku bằng tiếng dân tộc mình như tác giả Nhật Chiêu đã trình bày: “Nói một cách chừng mực hơn, thơ haiku mà Basho đã hoàn thiện bằng thiên tài của mình, trở nên thể thơ quốc tế trong thế kỉ XX Bên ngoài Nhật Bản, haiku chẳng những được nghiên cứu rộng rãi mà còn được các nhà thơ ở nhiều xứ khác nhau sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình, trong đó có cả Paul Eluard của Pháp, Octavio Paz của Tây Ban Nha và George Seferis của Hi Lạp” [6, trang 274] Ở Việt Nam, Trịnh Công Sơn, Chế Lan Viên… cũng đã từng tiếp thu, ảnh hưởng thơ haiku
Vậy, Thơ haiku bắt đầu hình thành vào thế kỉ XVI, đạt đỉnh cao ở thế kỉ XVII với Basho Đến cuối thế
kỉ XIX được nhà thơ Shiki định danh la haiku Ngày nay, haiku lan ra thế giới thành một thể thơ được quốc tế đón nhận
3 Tác giả Basho đỉnh cao của thơ haiku
3.1 Cuộc đời
Basho là một trong những nhà thơ lớn của Nhật Bản Basho nói về mình như sau:
Trang 19Tên tôi trên đời
“một người lữ khách”
mưa mùa thu ơi
Ông chính là “một người lữ khách”, cuộc đời hành hương hành giả qua bao nhiêu mùa gió bụi Có
người bảo rằng ông đi trong im lặng “như ngày đi, như đêm đi, như mùa đi” [7, trang 15] Cuộc đời
thiền sư, nhà thơ Basho là như thế đấy
Matsuo Basho tên thật là Matsuo Munefusa sinh ngày 15-11-1644, trong một gia đình thuộc dòng dõi
võ sĩ đạo samurai cấp thấp, ở thị trấn Ueno xứ Iga Năm lên chín tuổi làm tiểu đồng cho con trai lãnh chúa xứ Iga là Yoshitada lớn hơn Basho hai tuổi Hai người kết thành đôi bạn thân cùng vui chơi, học tập, làm thơ Họ học làm thơ dưới sự hướng dẫn của thầy Kigin Một số bài thơ do hai người sáng tác đãbắt đầu được đăng trên vài hợp tuyển thơ ca lúc bấy giờ là thời Tokugawa (Thời Bình an 1600-1868)
Nhưng chẳng bao lâu Yoshitada mất lúc 24 tuổi Sau đó, Basho lên núi Koya để đặt nạm tóc của bạn vào chùa Chính nơi đây Basho cảm nhận được nỗi “vô thường” và niềm “cô tịch” sẽ dần thấm sâu vào từng câu chữ của ông Basho quyết định rời khỏi xứ Iga dù không được phép của lãnh chúa Đại danh
Những năm tiếp theo ông sống ở Tyoto để tiếp tục học cổ văn Nhật và nghiên cứu cổ văn Trung Quốc cũng như thư pháp Ông lại về thăm quê vài tháng
Năm 28 tuổi, Basho lên Edo, một thành phố thị dân (sau này là Tokyo) Ông học Thiền đạo và gia nhập
văn giới Edo một cách nhanh chóng Nơi đây có nhiều trường phái thơ Thơ haiku lúc ấy còn gọi là
hokku hay haikai chưa thành một thể thơ độc lập Ban đầu Basho thử làm nhiều công việc khác nhau
nhưng rồi dần dần ông trở thành người dạy sáng tác thơ haikai Chính Basho đã dung hợp sự trào lộng đời thường của thể haikai hiện đại với sự tao nhã tâm linh của renga truyền thống làm nảy sinh thể haiku độc lập Đặc biệt là năm 1675, Basho được mời tham dự renga với Soin Cuộc gặp gỡ này là một ảnh hưởng có ý nghĩa trong đời Basho
Ở những năm gần 40 tuổi, Basho mới thật sự viết những bài haiku mang phong cách Basho tức “giải
thoát haiku khỏi trò chơi chữ và ông là một với haiku, là một với vĩnh cửu” [7, trang 22].
Những năm cuối đời, để nuôi dưỡng tinh thần và cảm hứng thơ của mình Basho làm cuộc du hành khắpđất nước Ông vừa đi vừa viết du kí và sáng tác thơ haiku Cuộc đời thi hào Basho có thể chia ra các giaiđọan như sau:
“Ba tiêu am”: một thương gia giàu có, ngưỡng mộ Basho xây cho ông một ngôi nhà ở Fukagawa, gần
dòng Sumida Cạnh nhà có trồng một cây chuối đọc là Basho (ba tiêu) Cũng từ đây, ông lấy “Basho” làm bút danh cho mình Còn ngôi nhà ông ở gọi là Bashoan (Ba tiêu am) Nơi này ông cảm nhận được
âm thanh của tiếng mưa rơi trên tàu lá chuối như những vần thơ của Bạch Cư Dị (Trung Quốc)
Cách song tri dạ vũ
Ba tiêu tiên hữu thanh
mà ông viết bài thơ sau:
Lá chuối tả tơi
Trang 20đêm nghe mưa tí tách
xuống chậu sành không ngơi.
(Đoàn Lê Giang dịch thơ)
Từ đây ông bắt đầu học thiền đạo dưới sự hướng dẫn của thiền sư Butcho nên các bài thơ của ông thấm sâu tinh thần Thiền tông hay phong thái Basho định hình như Issa từng nói: “Basho rất khó bắt chước nhưng ở đó có sự hoàn thiện phong cách và tâm hồn” [6, trang 285] Bài thơ sau là ví dụ
Trên cành khô
cánh quạ đậu
chiều thu.
Bài thơ đưa ta vào thế giới u huyền, cô tịch, thế giới “chân không” của Thiền (Zen)
Được hai năm thì Ba tiêu am bị cháy trong một cuộc hỏa hoạn lớn ở thành phố Edo Bạn bè và đệ tử xâylại nhà mới cho ông Một năm sau, tức mùa thu năm 1684, Basho từ bỏ Ba tiêu am lên đường phiêu lãng làm “lữ nhân của phù thế”
“Những bước đường phiêu lãng”: Kể từ đây Basho dấn thân vào con đường gió bụi như các nhà thơ
nổi tiếng: Lí Bạch, Đỗ Phủ của Trung Quốc; Sogi của Triều Tiên; Saigyo của Nhật Bản Sau “những
bước đường phiêu lãng” là bút ký Nozarashi kiko (Dã sái kỉ hành, tức Nhật kí gió mưa đồng nội) 1865
ra đời
Hai năm sau, Basho làm “chấn động” thế giới văn học bằng bước nhảy của một con ếch trong hợp tuyển
thơ của ông và đồ đệ là “Hurunohi” (Xuân nhật), tức Mặt trời muà xuân
Ao cũ
con ếch nhảy vào
vang tiếng nước xao.
Có rất nhiều lời bình luận về bài thơ kì bí này
Basho lên đường đi tiếp về Kashima hành trình được kể lại trong tác phẩm Kashima kiki (1687) Ông về
đây để thăm lại sư phụ là thiền sư Butcho và người bạn yểu mệnh năm xưa
Nhiều điều xiết bao
gợi hồn ta nhớ
những cánh hoa đào.
Tiếp theo, Basho lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, từ Akashi đến Sarahina để hưởng mùa trăng trênđỉnh Obasute Nhưng chuyến đi dài nhất của Basho được thực hiện trong cuộc du hành lên phương Bắc năm 45 tuổi
Trang 21“Con đường sâu thẳm”: Đây là cuộc du hành đầy khó khăn trắc trở và gian khổ để đến nơi còn sự
hoang dã và huyền bí sâu xa Mùa xuân 1689, Basho rời Edo đi lang thang suốt ba năm qua các thị trấn mới lạ như Nikko, Shirakawa, Sendai… rồi băng qua Honshu đến Sakata ở phía Tây biển Nhật Bản Ông lặn lội xuống miền duyên hải và tạm dừng ở Ogaki Kết quả “con đường sâu thẳm” là một cuộc hành trình nổi tiếng nhất trong văn học Nhật Bản vì nó để lại cho đời một kiệt tác văn xuôi xen lẫn thơ
Oku no hosomichi (Áo chi tế đạo), tức Áo rơm cho khỉ.
Basho lại tiếp tục bước lãng du, đến mùa đông 1691 ông trở về Edo Trên đường đi, ông đã qua cố đô Kyoto, rồi về thăm quê nhà và cùng các bạn thơ du quan hồ Biwa Ngoài ra ông còn ghé vào một mái
lều nhỏ tên là Genjuan (Huyễn trú am) gần hồ Biwa Và tùy bút Genjuan noki (Huyễn trú am chi ký) ra
đời 1690 cùng một số tác phẩm khác Trên “con đường sâu thẳm” Basho đã ghi lại biết bao cảnh đời, biết bao giấc mơ cũng như những nỗi buồn nhân thế…
Chung một mái trọ
phòng bên những du nữ ngủ
trăng và hoa thu.
(Đoàn Lê Giang dịch thơ)
Hay:
Hãy rung lên, nấm mồ
giọng ta than khóc
là gió mùa thu.
“Con đường sâu thẳm” là sự cảm nghiệm của Basho về sự “vô thường” và “vĩnh cửu” của đời sống
Nhà thơ không chỉ trải nghiệm được cái huyền diệu của cuộc sống mà còn có thể truyền đạt được nó
Chính con đường sâu thẳm ôm lấy mọi phương diện của cuộc sống Là cuộc hành trình đi tìm cái diệu
kỳ của cuộc sống, cái đẹp cuộc sống đã bị xã hội Edo đánh mất Đó cũng chính là Basho đang quay lại với thiên nhiên, với một nền văn hóa truyền thống mà phương Bắc xa xôi vẫn còn lưu giữ được
“Huyễn trú am” là niềm hạnh phúc ở am đời hư huyễn mà Basho đã kể lại: “và tôi lê chân dọc theo bờ
biển hoang dại của phương Bắc, nơi mỗi bước chân băng qua cồn cát đều khốn khó Tôi lang thang ven
bờ hồ tìm nơi trú ngụ, một nhánh lau sậy mà chiếc tổ chim cộc trắng sẽ tấp vào trên dòng nước chảy Đây là nơi Huyền trú của tôi, và nó đứng bên mạn núi gọi là Kokubi Gần đây có một đền thờ xưa cũ, nơi tôi cảm thấy mình gột sạch cát bụi trần gian.
Chủ nhân của nó đã bỏ đi từ tám năm trước, am còn lại phía sau giữa ngã tư đời hư huyễn”.
Khi trở về Edo, Basho được mọi người đón tiếp trong niềm vinh quang của một nhà thơ lừng danh
Những năm tiếp sau đó, Basho sống trong cô tịch theo ý nguyện của mình “niềm cô tịch sẽ là bạn tôi và
sự nghèo nàn là của cải tôi Trong tuổi năm mươi, đấy là điều tôi tự nguyện” Thời gian này thơ ca của
ông cũng hướng về một lý tưởng gọi là karumi (khinh) tức sự nhẹ nhàng thanh thoát mà ông tìm thấy
giữa ngay cuộc đời
Trang 22Mưa mù sương
phù dung một đóa
làm mùa lên hương
Mùa xuân 1694 đến, Bashon lại một lần nữa quyết định tiếp tục dấn bước trên con đường “lữ nhân” để thăm phương Nam Điểm dừng sẽ là Kyusu Nhưng trên đường đi, Basho lâm trọng bệnh khi đến Usaka Đệ tử khắp nơi tụ về bên giường bệnh của thầy mà họ yêu quý Basho đã soạn một bài thơ từ biệt thế gian vào một đêm mùa đông (còn gọi là bài Từ thế chi ca)
Đau yếu giữa hành trình
chỉ còn mộng tôi phiêu lãng
trên những cánh đồng hoang.
Nhà thơ Basho đã ra đi vào ngày 12-10-1694 theo đúng như lời người đã dự đoán “tôi sẽ chết trên
đường, đó là định mệnh” lúc tuổi năm mươi.
Basho mất đi, được chôn cất ở một ngôi chùa “được phong thần trong nhiều ngôi đền thần đạo, có đền còn lấy tên theo câu thơ của ông về tiếng vang của nước do con ếch nhảy vào” [7, trang 42]
Mười ba năm sau khi Basho mất, nhà thơ lớn Onit Sura đã đọc bài thơ sau:
Những giấc mơ hoa
những cánh đồng cháy rụi
cơn gió thở than qua.
để tưởng nhớ về nhà thơ về bài Từ thế chi ca của ông Trên khắp Nhật Bản nơi nào Basho đi qua dường như đều được dựng lên những tấm bia kỉ niệm và đã có hơn 300 tấm như thế, thường thì những tấm bia
có khắc các bài thơ haiku của Basho
nội (1685), Đoản văn trong đẫy (1688), Nẻo đường Đông Bắc (1689)… góp phần đưa Basho thành bậc
vĩ nhân của văn hóa Nhật Bản: “Nước Nhật sinh ra cùng với Basho vào năm 1644 Ông chính là người
sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản” [6, trang 274].
ªª
Trang 23CHƯƠNG II: QUAN NIỆM VỀ THIÊN NHIÊN CỦA
NGƯỜI NHẬT
1 Cảm thức về thiên nhiên của người Nhật
Đối với mỗi xứ sở dân tộc, mỗi con người, thiên nhiên lúc nào cũng hiển hiện ngay trước mắt nhưng nó lại được cảm nhận khác nhau ở mọi lúc mọi nơi “Thiên nhiên” còn tượng trưng cho văn hoá của từng dân tộc Chúng ta đi tìm hiểu thiên nhiên cũng chính là tìm hiểu văn hóa của dân tộc hay nói khác đó là tìm hiểu cách giao cảm với con người và giao cảm với chính thiên nhiên của dân tộc đó Đồng thời, mỗi
xứ sở dân tộc đều có những quan niệm khác nhau về thiên nhiên Người Hy Lạp cổ đại xem thiên nhiên như “Một năng lực sáng tạo” Còn dân tộc Nhật thiên nhiên lại mang ý nghĩa huyền bí sâu xa Do vậy, người Nhật có cảm thức riêng về thiên nhiên của dân tộc mình Họ tìm thấy từ thiên nhiên mọi cái đẹp, tình yêu và thơ ca Thiên nhiên là nơi để con người gửi hồn vào tha hồ ngụp lặn, cảm nhận được mọi vẻ đẹp nảy sinh bao tình cảm và là linh hồn của thơ ca Cảm thức thiên nhiên của người Nhật dựa trên ba yếu tố sau:
1.1 Thiên nhiên biến đổi theo vòng luân hồi của vũ trụ
Thiên nhiên trong cảm nhận của người Nhật giống như trong Kinh Dịch: “Nam nữ cấu tinh, vạn vật hóasinh” Thiên nhiên không đứng yên một chỗ mà di chuyển theo vòng xoay vô tận của các mùa để “ biến đổi hóa sinh”, ra đi rồi lại trở về
Đã rơi năm nào
1.2 Thiên nhiên chứa đựng bí ẩn siêu phàm
Tính thần linh là yếu tố thứ hai trong cảm thức thiên nhiên của người
Nhật Người Nhật luôn tự hào là con cháu của Nữ thần mặt trời Đất nước của họ là vương quốc Mặt trời mọc Với họ, cỏ cây sông núi đều có bóng dáng của thần linh hay ẩn chứa một cái gì đấy siêu phàm.Thiên nhiên của họ được coi là có tính thần linh Họ sùng bái tôn thờ thiên nhiên biểu hiện cho niềm tin
ấy Vì vậy, họ có “Thần đạo”
Trang 24Trong cảm nhận của người Nhật, thiên nhiên còn có sự hòa, hợp trật tự mà biểu trưng là bộ ba vật “đế biểu” (thanh kiếm – chiếc gương – vòng ngọc) Do đó, họ tìm thấy cái thần và vẻ đẹp của thiên nhiên Khi ngắm hoa đào hay ngồi dưới bóng hoa, người Nhật không chỉ thưởng thức vẻ đẹp của hoa mà còn muốn giao cảm với linh thần của cây Hay khi ngắm núi Fuji (Phú Sĩ) cũng thế, tức có một linh thần củanúi trong tư tưởng họ
Nơi mặt trời mọc
người là một linh thần.
(Vạn diệp tập)
Tóm lại, tính thần linh của thiên nhiên là tín ngưỡng từ xa xưa của người Nhật
1.3 Thiên nhiên và con người có một mối tương giao hòa hợp
Người Nhật luôn tinh tưởng rằng con người được sống, được bao bọc chở che trong lòng thiên nhiên Thiên nhiên hiện hữu bình đẳng với con người Cả hai quan hệ gắn bó kết giao tình thân thiết Thiên nhiên không phải là cái để con người chinh phục và đối lập với con người Vì thiên nhiên và con người
là những biểu hiện vòng luân hồi của vũ trụ nên con người hòa đồng vào thiên nhiên bằng sự giao cảm
từ tâm hồn trong trạng thái “chân không” của Thiền tông Thế giới chân không là nơi sâu thẳm của sự
an lạc “sung thực không hư” [8, trang 247] Đó là một chân không đầy ắp thiên nhiên, là nơi con người tìm lại mình từ trong lòng thiên nhiên Sự hòa hợp giao cảm của con người và thiên nhiên được thể hiệnqua bài thơ haiku sau đây của Basho
Tôi vỗ bàn tay
dưới trăng mùa hạ
tiếng dội về ban mai !
Con người và thiên nhiên trong bài thơ hòa vào nhau để đổi trao tâm sự, đồng cảm với nhau Vào một đêm trăng bên dòng sông Sumida, Basho đứng trước Ba tiêu am ngắm trăng Ông vỗ bàn tay thoát ra một âm vang Âm vang đó là “Tiếng dội về ban mai !” Vũ trụ đã trả lời với nhà thơ bằng ánh ban mai
đã mọc Nhưng thật ra ánh ban mai đó có sẵn trong lòng nhà thơ từ bao giờ và trả lời cho nhà thơ Chẳng qua đó là sự giao cảm của nhà thơ với thiên nhiên
Sự giao cảm của con người với thiên nhiên làm thiên nhiên nhuộm màu “Thiền” (Thiền hay còn gọi là Zen “là một trong nhiều trường phái Phật giáo ở Nhật Bản, được xây dựng trên cơ sở đào tạo con người qua trầm tư mặc tưởng” [3, trang 312], hay trạng thái tĩnh tâm) Và trong cảm nhận con người là “khi người ta cảm nhận được chân không trong hiện hữu và hiện hữu trong chân không thì nhờ cả hai người
ta tìm thấy Bình An mà sống” [8, trang 250] Đó cũng là sự giao cảm giữa cái đẹp của thiên nhiên với cái đẹp của con người trong thiên nhiên
Tóm lại, người Nhật cảm nhận thiên nhiên trong văn hóa Thần đạo, Thiền tông nên “Thiên nhiên, tự nhiên (shizen) là thần linh (kami) và ngược lại thần linh là thiên nhiên” [8, trang 251] Thiên nhiên lại làbiểu hiện của chân không và chân không đầy thiên nhiên Đấy là nét rất Nhật Bản trong cảm nghiệm thiên nhiên của người Nhật dù có ảnh hưởng Thiền Tông (Trung Quốc)
Trang 252 Biểu tượng về thiên nhiên trong nghệ thuật Nhật Bản
Chúng ta đã biết, thơ haiku là thơ của thiên nhiên, tức bài thơ phải có quí ngữ (từ ngữ báo hiệu mùa)
Thiên nhiên Nhật mỗi mùa có biểu tượng riêng “Cửa hàng trưng bày thời tiết” sẽ mở cửa theo từng mùa một Và biểu tượng thiên nhiên đầu tiên của người Nhật là biểu tượng “Tam tuyệt” (Tuyết – Nguyệt – Hoa), biểu tượng cơ bản của thiên nhiên Nhật Bản Con đường đi vào thế giới thơ văn Nhật nói chung, thơ haiku Basho nói riêng dễ dàng nhất là phải thông qua biểu tượng “Tam tuyệt” và các vị
“sứ giả” thời tiết trong từng bài thơ Vậy, biểu tượng về thiên nhiên trong lòng người Nhật như thế nào ?
2.1 Biểu tượng “Tam tuyệt”
Thiên nhiên xứ Phù Tang biểu trưng bằng ba hình ảnh: “Tuyết – Nguyệt – Hoa” “Tuyết” là sứ giả tượng trưng cho bốn mùa đổi thay hay thời gian trôi đi theo mùa “Trăng” gợi cho ta thế giới bao la êm
ả và vũ trụ mênh mông “Hoa” là sự hiện diện của từng mùa, từng thời khắc thời gian Biểu tượng “Tamtuyệt” được gói gọn trong bài tanka sau
Mùa xuân có hoa đào
Mùa hạ chim cu hót
Mùa thu thì trăng soi
Mùa đông tuyết lạnh buốt
Và sáng ngời nơi nơi.
Bốn mùa thoạt hiện lên lướt qua như soi gương, lướt qua như ánh sáng phù du Nhưng nó cũng để lại
những vẻ đẹp lộng lẫy nhất, kiêu sa nhất Tiến sĩ Yashiro Yukio cũng xúc động trước thiên nhiên: “Khi
tuyết rơi, khi hoa nở, khi trăng lên – hơn bao giờ hết ta nhớ tới bạn” [8, trang 245] Hay văn hào
Kawabata Yasunari diễn giải như sau: “Khi chúng tôi thấy vẻ đẹp của tuyết trắng, của trăng tròn, khi
chúng tôi trông hoa anh đào nở, tóm lại khi mà vẻ đẹp của bốn mùa lướt tới và đánh thức chúng tôi dậy, đó chính là lúc chúng tôi nghĩ nhiều nhất đến những người thân và muốn chia sẻ sự sung sướng cùng họ Kích thích bởi cái đẹp, ta thấy rất cần người chia sẻ, rất cần tình bạn – mà chữ “bạn” ở đây
có thể hiểu là “Nhân gian” Tuyết – Nguyệt – Hoa, những danh từ diễn tả các mùa nối tiếp nhau theo phong tục Nhật Bản đã gồm cả núi sông cây cỏ và muôn ngàn biểu hiện khác của thiên nhiên cũng như cảm nghĩ của con người Tinh thần ấy, cảm nghĩ ấy, đối với bạn đồng hành trên tuyết, dưới trăng, trong hoa cũng là bản chất của trà đạo”[8, trang 245] Vậy, biểu tượng “Tam tuyệt” là cái đẹp tuyệt vời của
thiên nhiên mà người Nhật cảm nghiệm được từ sự giao cảm giữa con người và thiên nhiên
2.2 Một số biểu tượng khác
Tùy từng bài thơ haiku, “quí ngữ” sẽ xuất hiện khác nhau Chẳng hạn mùa xuân có hoa anh đào Nhưng
“sứ giả” của mùa xuân còn là những cánh hoa mơ trắng ngần, hoa đỗ quyên, hoa tử đằng, hoa trà, hoa cẩm chướng, hoa diên vĩ và những bông hoa dại khác Vì mùa xuân là mùa của muôn hoa khoe sắc Trong hương hoa mùa xuân, thoảng đâu đó ta còn nghe tiếng chim Vân Tước, chim sẻ, rồi gặp chú ếch hay cơn mưa mùa xuân, cơn gió mùa xuân… đó cũng là “sứ giả” báo hiệu mùa xuân trong các bài haiku Sau đây là tiếng chim Vân Tước báo hiệu mùa xuân của tác giả Basho
Trang 26Trên bình nguyên
chim Vân Tước hát
xa mọi ưu phiền.
Khi mùa xuân qua đi mùa hạ lại về bằng những cơn mưa tháng sáu Sau những cơn mưa là những ngày đầy nắng ấm Vị sứ giả hotogisu (chim cu hay chim đỗ quyên) lại cất tiếng hót lảnh lót trên bầu trời đầy nắng Các loại côn trùng như: chấy, ruồi, muỗi… cũng đua nhau hát khúc ca mùa hạ Những bông hoa quỳ, hoa mẫu đơn, hoa thược dược khoe sắc tô điểm thêm cho hương sắc mùa hè Trăng mùa hè rất đẹp
Hoa đinh hương ơi
3 Những quan điểm mĩ học chi phối văn chương Nhật Bản
Trang 27Trong tập quán văn hóa xứ Phù Tang, “Cảm thức thẩm mỹ hầu như được đưa lên hàng đầu” [6, trang 66] Nó đã ngấm vào máu thịt họ tự hồi nào Họ “tôn thờ cái đẹp trong nghệ thuật lẫn thiên nhiên” [6, trang 66] “Họ quen nhìn nhận mọi cái thông qua cảm xúc riêng tư, ngay cả khi lẽ ra phải quan sát một cách tỉnh táo, khách quan hơn Tình yêu đối với cái đẹp, dĩ nhiên mọi dân tộc khác đều có, nhưng ở người Nhật, đó là một bộ phận không thể tách rời với truyền thống dân tộc” [13, trang 33] Thơ haiku Basho cũng như toàn bộ thơ văn Nhật đều thấm nhuần tính văn hóa này Đó là cảm thức sabi (tịch), wabi (đà), aware (bi ai) và karumi (khinh) Các cảm thức thẩm mỹ này ảnh hưởng rất lớn đến văn chương Nhật, đặc biệt là thơ haiku Basho, vì thơ haiku là thơ của “kinh nghiệm của cảm thức, của trực giác tâm linh” [7, trang 47].
Sabi là cảm thức về cái cô tịch, cô liêu, tĩnh lặng, cổ xưa… của linh hồn vạn vật Nó còn là niềm cô tịch
vô ngã của tinh thần Thiền tông, nơi có “vô tận” và “tự nhiên” là hai dòng nước đổ vào “hồ sabi” Điều này giống cội nguồn của thế giới muôn màu trong “chân không” và ngược lại
Sabi cũng là yugen (u huyền), tức cái chúng ta cảm nhận được nhưng không phân tích được Chẳng hạn
ta vỗ hai bàn tay vào nhau làm phát ra một âm thanh ta nghe được Nếu ta chỉ vỗ một bàn tay thì âm thanh được phát ra là gì ? “Đó là âm thanh của sự tĩnh lặng !” [14, trang 239] Vậy, yugen là cảm thức
về sự sâu thẩm, u ẩn và huyền diệu của sự vật Yugen thuộc ở tâm linh Basho cảm nghiệm cái sabi của
sự vật như sau
Ôi tiếng ve kêu
thấu xuyên vào đá
trong cõi quạnh hiu.
Niềm cô tịch của thiên nhiên được thể hiện qua âm thanh mạnh và sắc của tiếng ve Tiếng ve làm xuyênthủng không gian, thời gian và đến tận cõi hư vô Ta cảm nhận được cái u huyền sâu thẳm của tiếng ve
mà không thể giải thích hết thành lời Nếu sabi là nỗi cô đơn huyền diệu của thiên nhiên, tịch liêu của muôn đời thì ở con người nó là nỗi cô đơn với vũ trụ
Cảm thức thẩm mỹ tiếp theo là wabi (đà)
Wabi là những cái gì thuộc về tự nhiên rất bình thường, rất đơn sơ, mộc mạc mà ta thấy được Ta có
niềm vui và hòa điệu cùng nó Wabi cũng chính là sự nghèo nàn nhất của tự nhiên trong cuộc sống đượcđưa vào thơ ca Nhật Bản
Cảm thức wabi ban đầu là của Trà đạo, dần dần trở thành đặc điểm của thơ haiku Vì thơ haiku là thơ
của sự bình thường, mộc mạc, thô sơ… nên thơ haiku gắn với wabi và chọn wabi làm “đạo”, tức “là trái
tim bình thường” [7, trang 51] như những hình ảnh thật hồn nhiên, bình dị trong bài thơ sau
Trong lều ngư dân
giữa đám tôm cá
có con dế mèn.
Bài thơ trên là những hình ảnh trong sinh họat hằng ngày Nó có vẻ “vô nghĩa”, “vô duyên” nhưng ý nghĩa của nó ngược lại Nó còn là hình ảnh của sự sống rất bình thường, thân thiết và gần gũi với chúng ta
Trang 28Aware cũng là một trong những cảm thức thẩm mỹ thường xuất hiện trong văn chương Nhật Aware gọi
đầy đủ là mononoaware, là nỗi buồn của sự vật, là bi cảm, một cảm thức xao xuyến trước mọi cái đẹp
của sự vật Nó chịu ảnh hưởng tư tưởng “vô thường” của Phật giáo Aware còn là cảm thức thâm trầm trước cái đẹp não lòng của sự vật vì sự vật nào cũng vậy có lúc rực rỡ, cũng có lúc tàn phai
Aware mang màu sắc lãng mạn và chú trọng khoảnh khắc Nhưng khoảnh khắc ấy làm nên xúc cảm thẩm mỹ chớ không phải là “cái bi lụy ngông cuồng của lãng mạn hay nỗi bi tráng ngất trời của bi kịch”[7, trang 52] Bài thơ sau của Basho là một ví dụ
Tiếng ve mải mê
không hề để lộ
cái chết gần kề
Đấy là xúc cảm trước cái đẹp của tiếng ve ngân vang điệp khúc mùa hè Tiếng ve tượng trưng cho sự sống Còn cái chết sắp đến với ve không là bi kịch mà đó là điều tự nhiên của sự sống và cái chết Khoảnh khắc sống và chết không là gì cả, là “vô thường” Bi cảm aware là thế đấy
Một cảm thức thẩm mỹ nữa ta hay gặp trong thơ haiku cụ thể là thơ Basho, đó là karumi (khinh).
Karumi là niềm khinh thanh dịu nhẹ thường được các nhà thơ thiền sư hay nhắc đến Đó còn là một
niềm khinh thanh êm đềm bay lượn giữa tro than và cát bụi trần gian Basho nói về karumi trong thơ mình ở cuối đời như một phong thái ung dung tự tại Một bông hoa mới nở cũng làm ta ngất ngây
Mong manh mong manh
một nhành hoa cúc
vừa đơm nụ vàng
Vậy “lí tưởng thẩm mỹ Phù Tang thường hướng về những gì chưa hoàn tất, chưa hoàn thiện, chưa mãn
khai… Vì nơi đó chứa đựng sức mạnh lớn của sự vô thường” [6, trang 178] Cảm thức thẩm mỹ Nhật là
giá trị về cái đẹp và cái đẹp là tiêu chí của văn hóa Nó thấm nhuần trong tư tưởng người Nhật Nó trở thành “đạo” và mọi thứ đều gắn với đạo như: Thơ đạo, Trà đạo, Hoa đạo, Kiếm đạo… “Trà đạo” (chado) là một nghệ thuật tổng hợp mang rõ nét Nhật Bản Người uống trà phải tuân theo những nguyêntắc và qui định phức tạp Trà đạo bao gồm cả nghi thức pha trà, mời khách và uống trà Điều làm Trà
đạo trở thành nhu cầu nghệ thuật là “Cả khách lẫn chủ đều phải có vốn kiến thức nhất định về thơ ca,
hội họa, văn học cổ điển, nghệ thuật cắm hoa, các nghề thủ công khác nhau và lòng hiếu khách” [3,
trang 304] “Hoa đạo” là nghệ thuật cắm hoa, trồng hoa và ngắm hoa Còn “Kiếm đạo” là nghệ thuật chiến đấu ngày xưa Tinh thần “võ sĩ đạo” luôn đi liền với kiếm đạo Kiếm đạo lấy Thiền làm tinh thần
“Thơ đạo” là nghệ thuật làm thơ, chủ yếu là thơ haiku
Tóm lại, cảm thức thẩm mỹ Nhật Bản chi phối tất cả nghệ thuật văn hóa Nhật, nhất là văn chương Thơ haiku của Basho thấm đẫm cảm thức thẩm mỹ này Phần trình bày trên là những quan niệm về thiên nhiên của người Nhật
ª ª
Trang 29CHƯƠNG III: VẺ ĐẸP THIÊN NHIIÊN TRONG THƠ
BASHO
Cái đẹp luôn luôn hiện hữu trong tự nhiên và trong xã hội Con người có khả năng cảm nhận và khu biệt
nó Con người cũng luôn luôn có nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ra cái đẹp Bản chất của cái đẹp dường như còn là điều bí ẩn Người ta càng tìm hiểu cái đẹp càng thấy nó mênh mông Cái đẹp trong thơ ca là nơi con người cảm nhận được vẻ đẹp đầy đủ nhất Trong thơ ca, cái đẹp bao gồm cả nội dung và hình thức Đồng thời nó cũng thể hiện ở mọi cung bậc bao gồm tình yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống Thiên nhiên được tái hiện trong thơ ca còn nhằm tái hiện con người Thơ Basho thấm đẫm màu sắc thiên nhiên Vì vậy, vẻ đẹp của thiên nhiên trong thơ Basho cũng được thể hiện ở mọi cung bậc của nó
1 Thiên nhiên tươi đẹp trữ tình
Thơ haiku là thơ của thiên nhiên bốn mùa Mỗi bài thơ haiku của Basho đều gắn liền với thiên nhiên Hình ảnh thiên nhiên gợi lên bao xúc cảm trong ông Trong mỗi bài thơ, thiên nhiên hiện lên với mọi vẻđẹp vốn có của nó từ cái ban sơ, mộc mạc đến những gì tinh tú kiêu sa lộng lẫy đầy quyến rũ cũng như sắp đi vào phai tàn và gợi lên những rung cảm sâu xa trong lòng người Bằng tài năng của mình Basho
đã cho ra đời hàng loạt các bài thơ haiku rực rỡ hương sắc bốn mùa Mỗi bài thơ là một bức tranh tuyệt
mỹ Những tác phẩm kiệt xuất ấy là kết quả của một đời lãng du trên bước đường hành giả, làm lữ nhân phù thế Thiên nhiên trong thơ Basho thật tươi đẹp hồn nhiên trữ tình nồng thắm
1.1 Thiên nhiên vừa bình dị, nguyên sơ vừa hùng vĩ
Với mọi vẻ đẹp vốn có của mình, thiên nhiên trong thơ Basho là những hình ảnh thật bình dị, nguyên sơ và hùng vĩ Trong thơ, mọi hình ảnh thiên nhiên thường có như: tuyết, trăng, hoa, núi,
sông… đến các loài hoa dại, dưa, bùn, cỏ… Bên cạnh các loài chim đỗ quyên, chim sẻ… còn có cả chấy, ruồi, muỗi, rận, nước đái ngựa… Basho đưa chúng vào thơ rất tự nhiên y như những gì mắt ông trông thấy Ông không hề có sự chọn lựa cảnh kiêu sa, lộng lẫy Vì vậy, thiên nhiên hiện lên thật hồn nhiên trong cái trong trẻo và nguyên sơ của nó
Trang 30dòng Sông Trong.
(Đoàn Lê Giang dịch thơ)
Đấy là hình ảnh dòng thác, hay dòng Sông Trong (Kiyotaki), trong sạch không bụi, lấp lánh sóng bạc khi trăng mùa hạ lên trông thật nguyên sơ, thanh sạch Một bức tranh tuyệt đẹp của dòng sông lấp lánh dưới trăng mùa hạ
Còn đây là hình ảnh sông Ngân Hà bao la trên bầu trời như tuôn xuống ôm chầm, vây lấy đảo Sado của làng chài nhỏ thưa thớt giữa biển Nhật Bản thăm thẳm hoang vu
Ôi biển hoang vu
Ngân Hà vươn trải
trên đảo Sado.
Hình ảnh dải Ngân Hà gợi bao cảm xúc trong lòng thi sĩ Ngay cả nhân vật của Kawabata trong “Xứ tuyết”còn cảm nhận được: “Shimamura có cảm tưởng mình đang bơi lội trong đó, Ánh lân quang của dải Ngân Hà như tỏa xuống gần đến độ chàng thấy như mình bị nó hút lên tận nơi Phải chăng thi sĩ Basho đã vì ấn tượng của vẻ bao la rực rỡ chói sáng ấy mà ví nó như một vòng cầu hòa bình bắc qua biển đang sôi sục ? Bởi vì dải Ngân Hà vòm xuống ngay trên đầu chàng, ôm lấy trái đất tối đen trong vòng tay thanh khiết, khó hiểu và không cảm xúc của nó Hình ảnh thuần khiết và gần gũi của một niềmkhoái cảm dữ dội…” [5, trang 27]
Hay đó là hình ảnh dòng thác Mogami tuôn nước trắng xóa như cuốn cả bầu trời rực lửa lúc hoàng hôn
và dìm xuống sóng nước trùng dương Thiên nhiên trong vắt, hùng vĩ mênh mông
Mùa xuân đến rồi
vô danh ngọn đồi ấy
sáng nay khoác áo sương mù.
Đó là hình ảnh một ngọn đồi bao phủ bởi sương mù mùa xuân Hay một hòn đảo cô liêu, không tên hiện
ra trong tiếng chim cu kêu não lòng
Tiếng cu kêu
biến tan về phía
hòn đảo cô liêu.
Trang 31Thiên nhiên trong mắt Basho mang vẻ đẹp nguyên thủy, sơ khai Nếu Basho so với Nguyễn Trãi (Việt Nam) cũng hay viết về đề tài thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ thì cả hai có điểm tương đồng Nguyễn Trãi
tả thiên nhiên như sau:
Thanh Hư trúc mọc như rừng
Thác bay phơi phới như gương lạnh người
Đêm qua trăng lẫn nước trời
Ta mơ cưỡi hạc lên chơi tiên đàn.
(Thanh Hư động lý trúc thiên can
phi bộc phi phi lạc kính hàn
tạc dạ nguyệt minh thiên tự thủy
mộng ki hoàng hạc thướng tiên đàn.)
Mộng sơn trung (Mộng giữa núi)
Động Thanh Hư của Nguyễn Trãi cũng trong vắt nguyên sơ dưới ánh trăng như sông Kiyotaki hay đảo Sado, thác Mogami Hình ảnh thiên nhiên cũng mang vẻ đẹp hùng vĩ, mênh mông
Thiên nhiên trong thơ Basho còn là những bức tranh tuyệt đẹp đó là âm thanh của tiếng chim oanh làm
trong ánh trăng nghiêng.
Sự im lặng trong trẻo của rừng trúc đó là nơi giấu mình của giông tố
Giông tố dấu mình
trong khu rừng trúc
và rồi lặng thinh.
Trang 32Và đây là những bức tranh sơn thủy gợi tình
Dục Thúy mưa tan non tựa ngọc,
Đại An triều dậy nước ngang trời
hoa cẩm chướng đầy.
Trong thơ Basho, thiên nhiên còn là những hình ảnh gần gũi quen thuộc với chúng ta Nó ở xung quanh cuộc sống chúng ta Nó hiện diện rất hồn nhiên, rất khiêm tốn, bé bỏng dễ thương chẳng hạn như
Trên thân nấm rơm
chiếc lá từ đâu đến
vẫn còn nằm yên.
Trang 33Một chiếc lá lìa khỏi cành rơi xuống nằm trên thân cây nấm rơm rất bình thường không có gì cả Đó là điều tự nhiên của cuộc sống Hay một chú ngựa đang ăn hoa dâm bụt bên đường.
Bên đường
hoa dâm bụt
đưa mình cho ngựa ăn.
Hay một con bướm phải vất vả với cành liễu nghiêng bay theo gió để tìm một chỗ đậu cho vững vàng
Trên cành liễu nghiêng
con bướm đổi chỗ
mỗi lần gió lên.
Hay một con ong hút mật no nê còn “tần ngần” không muốn bay đi ngay như còn lưu luyến tình cảm với hoa
Con chuồn chuồn
đậu mãi mà không được
trên ngọn cỏ gió rung.
Hay một con cua nhỏ đang bò dưới dòng nước trôi chảy vô tình Dù cuộc sống khắc nghiệt, cua vẫn bám víu lấy sự sống, cố bò lên bờ để khỏi bị nước cuốn trôi và đã bò lên chân thi nhân
Dưới làn nước trôi
có con cua nhỏ
bò lên chân tôi.
Những hình ảnh tự nhiên bình thường, quen thuộc ta thường hay gặp như thế Và đó còn là tiếng kêu của chim sẻ và chuột như đang trò chuyện nhau
Từ trong rầm nhà
đáp lời chim sẻ
rúc rích chuột con.
Trang 34Hay một hình ảnh đơn sơ mộc mạc dễ thương
Trong lều ngư dân
ngựa đứng đái không xa.
Những hình ảnh bình thường ta gặp trong cuộc sống Ta thường thấy xuất hiện trong thơ haiku Basho
Nó được đưa vào thơ bởi cảm thức thẩm mỹ truyền thống về cái đơn sơ, bình dị, nguyên thuỷ, sơ khai…của tự nhiên Không riêng Basho các nhà thơ haiku khác ở Nhật cũng thế Issa cảm nhận về hình ảnh chú chuột uống nước bên bờ sông
Bên dòng Sumida
chú chuột kia uống nước
mưa mùa xuân pha.
Hình ảnh một chú chuột bé xíu đang ung dung uống từng ngụm “nước mùa xuân” của dòng sông Sumida trong khi cơn mưa đang rơi xuống dòng sông mênh mông nước Giữa hai sự vật nhỏ bé và mênh mông nhưng lại hòa hợp với nhau, đều mang bản tính của chúng và hiện thân của vũ trụ biến đổi Chuột vẫn thản nhiên, đất trời, mưa, sông vẫn mênh mông
Nhà thơ Onitsura cũng chợt reo vui khi nhận ra những sự vật quen thuộc đơn sơ quanh mình
1.2 Thiên nhiên là những bức tranh hữu tình
Thiên nhiên trong thơ Basho hồn nhiên tươi tắn, trẻ trung, yêu đời nên không phải là những bức tranh
vô hồn Thiên nhiên với nhà thơ như có sự ràng buộc vô hình khiến nhà thơ phải rời Ba tiêu am lên
đường lãng du vào “con đường sâu thẳm” tìm về với thiên nhiên Thiên nhiên là nơi chứa đựng và giãi