Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động thương mại điện tử ở Việt Namgiai đoạn 2010 – 2014, bao gồm hạ tầng công nghệ thông tin, môi trường pháp lý,nhân lực cho thương mại điện tử tại c
Trang 1“Xây dựng chiến lược và đề xuất giải pháp phát triển thương mại điện tử
ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2020”
Đỗ Thị Mai Anh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 5
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử 5 1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 5
1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử 8
1.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử 10
1.1.4 Hạn chế của thương mại điện tử 18
1.2 Tổng quan về chiến lược phát triển thương mại điện tử 20
1.2.1 Khái niệm chiến lược 20
1.2.2 Chiến lược phát triển thương mại điện tử 21
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển thương mại điện tử 22
1.3.1 Thực trạng thương mại điện tử 22
1.3.2 Mục tiêu của chiến lược phát triển thương mại điện tử 23
1.3 Các tiêu chí xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử 23
1.3.1 Nhận thức về thương mại điện tử 23
1.3.2 Hành lang pháp lý 24
1.3.3 Hạ tầng cơ sở về công nghệ 24
1.3.4 Hạ tầng cơ sở về nhân lực 24
1.3.5 Vấn đề bảo mật, an toàn 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 26
2.1 Thực trạng phát triển thương mại điện tử trên thế giới 26
2.1.1 Thực trạng phát triển của thương mại điện tử B2C trên thế giới 26
2.1.2 Thực trạng phát triển của thương mại điện tử B2B trên thế giới 26
Trang 32.2 Đánh giá thực trạng hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam từ 2010 - 2014 27
2.2.1 Đánh giá thực trạng nhận thức về thương mại điện tử 27
2.2.2 Đánh giá thực trạng môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử 33
2.2.3 Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho thương mại điện tử 34
2.2.4 Đánh giá công tác tuyên truyền, đào tạo nhân lực cho thương mại điện tử 38
2.2.5 Đánh giá tính bảo mật trong thương mại điện tử 40
2.3 Những thuận lợi và khó khăn, bất cập trong việc xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 41
2.3.1 Thuận lợi trong việc xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 41 2.3.2 Khó khăn, bất cập trong việc xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 43
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 49
3.1 Xu hướng phát triển thương mại điện tử trên thế giới 49
3.1.1 Sự phát triển của Thương mại di động 49
3.1.2 Những tiến bộ của mạng xã hội 49
3.1.3 Dữ liệu lớn (Big Data) 50
3.1.4 Thương mại điện tử B2B học tập kinh nghiệm của thương mại điện tử B2C 51
3.1.5 Mô hình lưu hành tiền tệ mới 52
3.1.6 Phân tích dự đoán 52
3.1.7 Giá động (Giá linh hoạt) 53
3.2 Chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 54
3.2.1 Mục tiêu phát triển 54
3.2.2 Định hướng phát triển 55
3.2.3 Phương hướng triển khai 57
3.3 Một số giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 58
3.3.1 Nâng cao nhận thức của toàn dân về thương mại điện tử 58
3.3.2 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về thương mại điện tử 59
3.3.3 Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ phục vụ thương mại điện tử 60
3.3.4 Nâng cao trình độ nhân lực đáp ứng yêu cầu của thương mại điện tử 62
3.3.5 Nâng cao tính bảo mật của thương mại điện tử 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ADSL Asymmetric Digital Subcriber Line
ATM Automatic Teller Machine
APEC Asia-Pacific Economic Co-operation
ICTs Information Communication Technologies
LAN Local Area Network
OECD Organisation for Economic Co-operation and DevelopmentPOS Point of Sale
WAN Wide Area Network
WTO World Trade Organisation
CNTT Công nghệ thông tin
CNTT-TT Công nghệ thông tin – Truyền thông
Trang 52.5 Tỷ lệ nhân viên sử dụng máy tính thường xuyên cho
công việc trong doanh nghiệp từ 2010-2014 402.6 Các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin từ 2010-2014 41
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) ngày nay mà đại diện tiêubiểu của nó là mạng Internet đã trở thành một phần của quá trình toàn cầu hóa, vốn
đã và đang biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa,
xã hội Internet đặt nền tảng cho sự hình thành của thương mại điện tử (TMĐT),trong đó người mua và người bán có thể liên lạc trực tiếp với nhau, không cần đếngiấy tờ, càng không phải đối mặt thực thể Dòng lưu chuyển thông tin và thươngmại hàng hóa, dịch vụ trong không gian không có biên giới ấy mở ra khả nănggiảm chi phí giao dịch, tiếp cận thị trường và thúc đẩy tiến bộ công nghệ, từ đóthay đổi cấu trúc của nền kinh tế thế giới
Các chuyên gia đều cho rằng thương mại điện tử sẽ là xu hướng mới cho sựphát triển nền kinh tế toàn cầu Bởi ngay từ khi xuất hiện, cùng với những tiện ích
to lớn của mình, thương mại điện tử đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của cácquốc gia trên thế giới Những quốc gia đi tiên phong trong phát triển thương mạiđiện tử như Mỹ và một số nước châu Âu đã gặt hái được những thành công khôngnhỏ Đơn cử như trường hợp của tập đoàn máy tính Dell Computer Corp Từ khichào bán các sản phẩm của mình qua www.Dell.com, hãng đã tạo được thế mạnhtrong cuộc cạnh tranh với Compaq, trở thành công ty cung cấp máy tính hàng đầuthế giới vào năm 2000 Một ví dụ khác có thể dẫn ra ở đây là trường hợp củaGoogle Những dịch vụ mới mà Google tung ra tận dụng khả năng về công nghệ đãgiúp Google thực hiện được sứ mệnh tổ chức thông tin toàn cầu, đưa Google trởthành thương hiệu dẫn đầu thế giới hiện nay
Tại Việt Nam, thương mại điện tử đã hình thành từ năm 1997 và đã gópphần nâng cao hiệu quả kinh doanh ngay từ những ngày đầu mới xuất hiện Chođến nay thương mại điện tử đã chứng minh được vai trò của nó đối với nền kinh tếnói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng Mối quan tâm dành cho thươngmại điện tử cũng đang tăng lên hàng ngày Nhà nước đã vạch ra chủ trương, đườnglối chung mở đường cho thương mại điện tử phát triển Quyết định số
Trang 7246/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triểnCông nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020” đã khẳng định “Công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ quantrọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rútngắn quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” Đối với Việt Nam, cơhội phát triển không phải là điều không thể nhưng để hoà nhập vào nhịp phát triểnchung của nền kinh tế thế giới vẫn còn là một thách thức lớn Cho nên, việc nghiêncứu, phát triển thương mại điện tử đang trở thành một vấn đề bức thiết đối với cácnước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
Tuy nhiên nguồn nhân lực của thương mại điện tử vẫn còn yếu và thiếu, hạtầng kỹ thuật cho thương mại điện tử chưa thuận lợi cũng như hành lang pháp lývẫn còn kẽ hở khiến thương mại điện tử chưa tạo được sự tin tưởng cũng như chưaphát triển mạnh mẽ Do vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện
tử đóng vai trò giúp thương mại điện tử Việt Nam phát triển lành mạnh theo xuhướng phát triển của thế giới để các doanh nghiệp ứng dụng phương pháp kinhdoanh này ngày càng lớn mạnh
Với những lý do cấp thiết trên, em xin chọn đề tài: “Xây dựng chiến lược
và đề xuất giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2020” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là căn cứ trên những phân tích vàđánh giá về thực trạng hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2010 –
2014, đề tài sẽ đề xuất chiến lược phát triển thương mại điện tử trong giai đoạnmới đến năm 2020, từ đó giúp thương mại điện tử ở Việt Nam bắt kịp với xu thếphát triển của thế giới
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề cơ sở lý luận về thương mại điện tử,bao gồm các vấn đề cơ sở lý luận về khái niệm, lợi ích và hạn chế của thương mạiđiện tử, khái niệm chiến lược thương mại điện tử và chiến lược phát triển thương
Trang 8mại điện tử, các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển thương mại điện tử vàcác tiêu chí ảnh hưởng đến chiến lược phát triển thương mại điện tử
- Phân tích, đánh giá thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn
2010 – 2014, thông qua phân tích các mặt: nhận thức về thương mại điện tử, cơ sởpháp lý, hạ tầng kỹ thuật công nghệ, nhân lực cho thương mại điện tử, tính an toànbảo mật của thương mại điện tử
- Nghiên cứu và phân tích xu hướng phát triển thương mại điện tử trên thếgiới, xây dựng chiến lược và đề xuất giải pháp phát triển thương mại điện tử ở ViệtNam đến năm 2020 căn cứ trên những đánh giá thực trạng thương mại điện tử ởViệt Nam giai đoạn 2010 – 2014
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng hoạt động thương mại điện tử ở ViệtNam, và chiến lược phát triển thương mại điện tử
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động thương mại điện tử ở Việt Namgiai đoạn 2010 – 2014, bao gồm hạ tầng công nghệ thông tin, môi trường pháp lý,nhân lực cho thương mại điện tử tại các doanh nghiệp và đề xuất chiến lược pháttriển thương mại điện tử trong giai đoạn mới đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm cácphương pháp chính như phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháptham khảo ý kiến chuyên gia,… trong đó, phương pháp phân tích được sử dụngkhá nhiều trong luận văn Phương pháp này được sử dụng trong trong việc nghiêncứu cách ứng dụng và phát triển thương mại điện tử ở các nước trên thế giới để rút
ra kinh nghiệm ứng dụng cho các công ty trong nước
Ngoài ra, luận văn cũng tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của cáccông trình khoa học đã được công bố
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của để tài là hệ thống hóa các vấn đề cơ sở lý luận vềthương mại điện tử và chiến lược phát triển thương mại điện tử
Trang 9Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện ở khía cạnh đề tài phân tích, đánh giáthực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014, góp phần xâydựng chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, giúp các doanh nghiệpứng dụng thương mại điện tử một cách đúng đắn và phát huy được sức mạnh củathương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
6 Kết cấu luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các từviết tắt, danh muc bảng biểu, khóa luận bao gồm 3 chương như sau
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thương mại điện tử và chiến lược phát triển thương mại điện tử.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014
- Chương 3: Xây dựng chiến lược và đề xuất giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam đến năm 2020.
Trang 10CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử là một khái niệm tương đối rộng, vì vậy mà nó có nhiềutên gọi khác nhau Hiện nay có một số tên gọi phổ biến như: thương mại trực tuyến(online trade), thương mại không giấy tờ (paperless commerce) hoặc kinh doanhđiện tử (e-business) Tuy nhiên, tên gọi thương mại điện tử (e-commerce) được sửdụng nhiều nhất, được biết đến nhiều nhất và gần như được coi là quy ước chung
để gọi hình thức thương mại giao dịch qua mạng Internet Hiện nay, định nghĩathương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa ra song chưa có một địnhnghĩa thống nhất về thương mại điện tử Nhìn một cách tổng quát, các định nghĩathương mại điện tử được chia thành hai nhóm tùy thuộc vào các quan điểm
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp có một số quan điểm như sau
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), 1998, “Thương mại điện tử là công việc kinh doanhđược tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”[24, tr 17];
Theo Cục thống kê Hoa Kỳ, 2000, “Thương mại điện tử là việc hoàn thànhbất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà baogồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ” [24,
tr 17]
Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử thể hiện qua việc cácdoanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hànghóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình Các giao dịch có thể giữa doanh nghiệp vớidoanh nghiệp (B2B) như mô hình của trang web www.alibaba.com, giữa doanhnghiệp với khách hàng cá nhân (B2C) như mô hình của trang www.amazon.com,hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C) trên www.eBay.com
Trang 11Thương mại điện tử theo nghĩa rộng có một số khái niệm điển hình như sau
- Theo OECD, 1997, “Thương mại điện tử gồm các giao dịch thương mạiliên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện
đã được số hóa thông qua các mạng mở (như Internet) hoặc các mạng đóng cócổng thông với mạng mở (như AOL) Trong đó, hàng hóa và các dịch vụ được đặthàng qua mạng như thanh toán và phân phối thì có thể thực hiện ngay trên mạnghoặc không” [24, tr 18];
- Theo Luật mẫu về TMĐT của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mạiquốc tế (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce), năm 1996, thuật ngữ
“thương mại” (commerce) cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn
đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợpđồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, cácgiao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặcdịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng(factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuậtcông trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khaithác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinhdoanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không,đường sắt hoặc đường bộ Với quan điểm này, Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa
về thương mại điện tử theo chiều ngang như sau: “thương mại điện tử là việc thựchiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm: marketing, bán hàng, phân phối vàthanh toán” [24, tr 18-19]
Khái niệm này đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉgiới hạn riêng hoạt động mua và bán, toàn bộ các hoạt động kinh doanh này đượcthực hiện thông qua các phương tiện điện tử Khái niệm này được viết tắt bởi 4 chữMSDP Trong đó:
M – Marketing (có trang web, hoặc xúc tiến thương mại qua Internet)
S – Sales (có trang web có chức năng hỗ trợ giao dịch, ký kết hợp đồng)
Trang 12D – Distribution (phân phối sản phẩm số hóa trên mạng)
P – Payment (thanh toán qua mạng hay thông qua trung gian như ngânhàng)
Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử vàmạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phânphối, thanh toán thì được coi là tham gia thương mại điện tử
Ở Việt Nam, chúng ta hiểu “Thương mại điện tử là việc tiến hành một phầnhay toàn bộ hoạt động thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu” [20] Trong đó,
“Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưutrữ bằng các phương tiện điện tử” [19] và “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạtđộng dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây,quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự” [19] Như vậy, về bản chất, thươngmại điện tử là hoạt động thương mại, nó chỉ khác duy nhất đối với thương mạitruyền thống là nó sử dụng các phương tiện điện tử vào trong hoạt động thươngmại
Tóm lại, mặc dù trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mạiđiện tử nhưng nhìn chung, đều thống nhất ở quan điểm cho rằng: thương mại điện
tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại Nói chính xác hơn:thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phươngtiện điện tử mà nói chung ta không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nàocủa toàn bộ quá trình giao dịch Các phương tiện điện tử nói đến ở đây chính là cácphương tiện kỹ thuật được sử dụng với mục đích tạo thuận tiện, hỗ trợ cho các hoạtđộng trong thương mại điện tử, bao gồm điện thoại, máy điện báo (telex) và máyfax, truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ và mạng liên nội
bộ, Internet và web Và khái niệm thông tin không chỉ là tin tức đơn thuần màđược hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải được bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm:thư từ, các file văn bản (text based file), các cơ sở dữ liệu (database), các bảng tính(spreadsheet); các hình đồ họa (graphical image), quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng,bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động (video image, avartars), âm thanh, v.v…
Trang 131.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử
Thương mại điện tử đang diễn ra trong tất cả các ngành nghề, không chỉtrong giao dịch thương mại mà còn trong cả các ngành vận tải, bảo hiểm, đầu tư …Tuy nhiên, bất kỳ lĩnh vực nào tham gia vào thương mại điện tử đều có đặc điểmchung: Các hoạt động đều được tiến hành trên các mạng và thông qua các phươngtiện điện tử (truyền dữ liệu, ký kết hợp đồng qua mạng, khai thông tin, v.v…); Đểtham gia vào thương mại điện tử đều cần có thiết bị phần cứng, phần mềm và kếtnối mạng; Các hoạt động giao dịch đều dựa trên nền tảng truyền thống, không còngặp trở ngại về rào cản địa lý; Mọi giao dịch (kể cả thanh toán) đều diễn ra trênmạng ảo (mạng Internet), chỉ có hành động giao hàng là không thực hiện trênmạng và phạm vi giao hàng là phạm vi rộng lớn mang tầm khu vực và thế giới;Đặc biệt, tất cả các doanh nghiệp hoặc cá nhân khi tham gia thương mại điện tửđều chịu phụ thuộc vào sự phát triển của công nghệ thông tin
So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có những điểm khácbiệt như sau:
+ Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ítnhất 3 chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch
vụ mạng, các cơ quan chứng thực
+ Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại củakhái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong thịtrường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) thương mại điện tửtrực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu
+ Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phươngtiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tinchính là thị trường
+ Các bên tham gia giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trựctiếp với nhau và không đòi hỏi biết nhau từ trước
1.1.2.1 Hàng hóa trong thương mại điện tử
Nếu hiểu thương mại điện tử là một loại hình thương mại có sự trợ giúp của
Trang 14công nghệ thông tin đặc biệt là mạng Internet thì ngoài các hàng hóa và dịch vụtrong các giao dịch truyền thống, trong thương mại điện tử còn có các hàng hóađặc thù của mình đó là hàng hóa và dịch vụ số Hàng hoá và dịch vụ số là nhữnghàng hóa và dịch vụ có thể phân phối qua cơ sở hạ tầng mạng, bao gồm: các dữliệu, các số liệu thống kê, thông tin, âm thanh, hình ảnh, phần mềm máy tính, kinhdoanh trong bảo hiểm, tài chính, an ninh và các loại hàng hoá khác.
1.1.2.2 Đối tượng tham gia thương mại điện tử
Các đối tượng tham gia thương mại điện tử cũng tương tự như thương mạitruyền thống bao gồm:
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp ở đây bao gồm các công ty, tổ chức có tư cách pháp nhân, họchính là đối tượng tham gia quan trọng nhất của thương mại điện tử bởi vì doanhnghiệp mới có nhu cầu bán hàng hóa dịch vụ và tìm kiếm thông tin với quy mô lớnhơn và thường xuyên hơn là các giao dịch cá nhân nhỏ lẻ, mang tính tự phát vànhất thời Họ tham gia giao dịch thương mại điện tử để phục vụ nhu cầu sản xuấtkinh doanh, luôn cần phải quảng cáo và bán các sản phẩm hoặc dịch vụ của mìnhtới người tiêu dùng và đối tác Sự tiến bộ của công nghệ thông tin đã mang lại chocác doanh nghiệp thêm nhiều cơ hội để quảng bá chính mình qua website cá nhân,qua “chợ ảo”, qua các trang web khác
Chính phủ
Chính phủ có vai trò dỡ bỏ các rào cản về công nghệ và pháp lý để tạo điềukiện cho thương mại điện tử phát triển Chính phủ ở đây phải bao gồm cả các cơquan thuộc Chính phủ Chính phủ tham gia vào thương mại điện tử vừa với tư cáchtrung gian (tạo nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin), vừa với tư cách trựctiếp (tham gia giao dịch G2B, G2G, G2C được đề cập ở phần sau)
Trang 15quyết định xem nên lựa chọn lĩnh vực nào, phát triển mặt hàng nào, có nên đi sâu
sử dụng thương mại điện tử không, v.v…
1.1.2.3 Các hình thức giao dịch của thương mại điện tử
Có nhiều tiêu chí để phân loại các hình thức giao dịch của thương mại điện
tử, nhưng phương thức phổ biến là phân loại dựa vào các chủ thể tham gia thươngmại điện tử Dựa vào phương thức này, người ta chia thương mại điện tử theo cáchình thức sau:
Người tiêu dùng
C2C (Consumer to Comsumer): Người tiêu dùng với người tiêu dùng
C2B (Consumer to Business): Người tiêu dùng với doanh nghiệp
C2G (Consumer to Government): Người tiêu dùng với Chính phủ
Doanh nghiệp
B2C (Business to Consumer): Doanh nghiệp với người tiêu dùng
B2B (Business to Business): Doanh nghiệp với doanh nghiệp
B2G (Business to Government): Doanh nghiệp với Chính phủ
B2E (Business to Employee): Doanh nghiệp với người lao động
Chính phủ
G2C (Government to Consumer): Chính phủ với người tiêu dùng
G2B (Government to Business): Chính phủ với doanh nghiệp
G2G (Government to Government): Chính phủ với Chính phủ
1.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử
Hiện nay, thương mại điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng trongthương mại quốc tế vì đó là phương thức giao dịch nhanh nhất, hiệu quả nhất, cungcấp thông tin cập nhật nhất, tận dụng được tối đa các nguồn lực và đem lại sự tiệndụng nhất cho các bên tham gia Thương mại điện tử giúp người tham gia nhanhchóng tiếp cận những thông tin phong phú về thị trường, đối tác, đối tượng, giảmchi phí trong kinh doanh, rút ngắn chu kỳ sản xuất Từ đó, thương mại điện tử giúpcác nền kinh tế hoạt động và phát triển mau lẹ hơn gấp nhiều lần Dưới đây lànhững lợi ích TMĐT đem lại cho doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội
Trang 161.1.3.1 Lợi ích của thương mại điện tử đối với các tổ chức doanh nghiệp
a Mở rộng thị trường
Theo hình thức bán hàng truyền thống, chủ cửa hàng phải đầu tư một số vốnlớn và đáng kể cả về sức người và sức của để dựng nên một cửa hàng tạp hóa vớinhiều loại hình sản phẩm khác nhau khiến giá sản phẩm tăng lên Nhưng khi mởmột cửa hàng ảo trên Internet thì chủ cửa hàng không cần phải đầu tư nhiều nhưvậy Với gian hàng ảo, các hàng hóa chỉ là những hình ảnh được sao chụp hoặcđược mô tả trên website của cửa hàng Nếu trước đây người bán chỉ có thể cungcấp một lượng nhất định sản phẩm, thì nay họ hoàn toàn có thể cung cấp lượng sảnphẩm lớn hơn nhiều, cả về chủng loại và số lượng Như vậy, với ưu thế đa dạnghóa sản phẩm thương mại điện tử giúp các nhà cung cấp có thể mở thêm thị trường
và phạm vi khách hàng Đây chính là một trong những ưu thế để thành công
Ngoài ra, thương mại điện tử còn tạo thị trường cho người bán và người muagặp nhau trên phạm vi toàn cầu, đảm bảo tính thường xuyên cho người cung cấp và
sự lựa chọn toàn cầu cho người tiêu dùng Nhà cung cấp nhỏ hay lớn đều có cơ hộiđược biết đến như nhau Thương mại điện tử ngày càng thể hiện dược tính ưu việtcủa mình bằng việc cho phép tiến hành các thương vụ mọi lúc mọi nơi một cáchthuận tiện Thời gian giao dịch có thể lên tới 24h/ngày, 7 ngày/tuần Với lợi thếnày, một công ty nhỏ cũng có cơ hội cạnh tranh như một công ty xuyên quốc gia
b Giảm chi phí, tăng lợi nhuận
Việc áp dụng thương mại điện tử giúp doanh nghiệp giảm rất nhiều chi phí
Cụ thể bao gồm:
Giảm chi phí thuê cửa hàng
Cửa hàng trên Internet của doanh nghiệp được mở ngay tại nhà của kháchhàng trước màn hình máy tính mà không phải thuê cửa hàng cố định ở bên ngoài
Vì khi doanh nghiệp thiết lập một trang web, nó hiện hữu trên các máy tính nốimạng Internet, khi người sử dụng truy cập vào địa chỉ trang web đó, người cungcấp và người tiêu dùng gặp nhau trực tuyến chứ không cần phải trực tiếp Hiệnnay, đặc điểm này còn được thực hiện cách dễ dàng hơn nhờ những thiết bị mới
Trang 17như điện thoại di động kết nối Internet
Giảm chi phí bán hàng và marketing
Thông qua Internet, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với nhiềukhách hàng trong một khoảng thời gian ngắn hơn trước kia Catalogue điện tử trênweb phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue dạng ấnphẩm bị hạn chế về số lượng, không gian và thời gian
Thông thường lượng khách hàng tăng lên, lực lượng bán hàng cũng phảităng lên kèm theo nó là lương, bảo hiểm Với thương mại điện tử, khi doanhnghiệp kinh doanh trên mạng Internet thì chỉ mất rất ít chi phí hoặc không mấtthêm bất cứ chi phí nào khi số lượng khách hàng tăng lên bởi chi phí mà họ bỏ rakhông được đo bằng thời gian mạng hoạt động (24h/ngày, 7 ngày/tuần) Cùng mộtlúc, một người bán hàng có thể giao dịch với nhiều khách hàng nên hao phí làkhông đáng kể, nếu không tính các lí do chủ quan khác thì năng lực bán hàng củadoanh nghiệp sẽ chỉ bị giới hạn do tốc độ xử lý, chất lượng đường truyền
Giảm chi phí trong giao dịch
Trong các doanh nghiệp, mỗi thương vụ hay mỗi giao dịch đều gây phát sinhchi phí, dần dần số chi phí đó sẽ tăng lên theo tốc độ phát triển của doanh nghiệp,nhất là chi phí văn phòng, giấy tờ Thương mại điện tử qua Internet có thể giúpdoanh nghiệp thực hiện một cách nhanh chóng các hoạt động giao dịch với dunglượng không hạn chế và chi phí thấp nhất
Ngoài ra, quảng cáo qua Internet là hình thức quảng cáo kinh tế nhất Thôngqua trang web, doanh nghiệp có thể tự giới thiệu về mình trên quy mô toàn cầu màkhông cần thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và phải trả chi phí dịch
vụ rất cao
c Giảm lượng hàng tồn kho
Hàng tồn kho của một công ty càng lớn thì chi phí vận hành của công ty đócàng tăng và lợi nhuận vì vậy sẽ giảm xuống Giảm hàng tồn kho cũng đồng nghĩavới việc năng suất được tận dụng hiệu quả hơn Điều này lại giúp giảm sức ép phảiđầu tư bổ sung vào trang thiết bị sản xuất, qua đó góp phần giảm chi phí cho doanh
Trang 18nghiệp Việc trao đổi thông tin qua hệ thống mạng điện tử giữa các nhà máy, bộphận marketing và bộ phận thu mua đã giúp đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóatrong kho và phòng kế hoạch sản xuất sẽ xác định được năng lực sản xuất vànguyên vật liệu của từng nhà máy Kho có vấn đề phát sinh, toàn bộ các bộ phậntrong tổ chức ngay lập tức nắm rõ và có những điều chỉnh phù hợp Nếu như mứccầu trên thị trường bất ngờ tăng hoặc một nhà máy không thể hoàn thành kế hoạchsản xuất thì tổ chức có thể kịp thời nhận biết được tình hình và tăng cường hoạtđộng sản xuất tại một nhà máy khác Chính vì vậy mà vấn đề hàng tồn kho của cáccông ty, các doanh nghiệp luôn được giải quyết tốt, giúp các công ty và tổ chứccủa mình tiết kiệm được rất nhiều trong một năm sản xuất kinh doanh.
d Hỗ trợ công tác quản lý
Quản lý phân bổ
Công nghệ điện tử đáp ứng được yêu cầu truyền tải, đưa các văn kiện giaohàng như các vận đơn, hợp đồng mua bán, thông báo trước khi giao hàng, khiếunại thương mại và cung cấp khả năng quản lý nguồn lực tốt bằng việc sử dụng cácphần mềm, các hệ thống kiểm soát theo quy trình Theo đó, các số liệu được cậpnhật thường xuyên và liên tục, đặc biệt các số liệu này được tập hợp từ nhiềunguồn khác nhau, từ nhiều địa điểm phân bổ sản phẩm khắp nơi trên thế giới
Quản lý các kênh thông tin
Các thông tin về kỹ thuật, sản phẩm, giá cả trước kia được yêu cầu nhắc đi,nhắc lại qua nhiều cuộc đàm thoại và ghi chú lại mất nhiều giờ lao động căngthẳng thì bây giờ việc tập hợp, lưu trữ thông tin không hề mất nhiều thời gian,thậm chí việc bổ sung, xóa bớt hay xử lý các số liệu cũng trở nên vô cùng dễ dàng,khiến cho việc lưu giữ và xử lý số liệu rất khoa học và nhanh chóng
Quản lý thanh toán
Thanh toán điện tử chính xác và giảm bớt được các nhầm lẫn sai sót mà nếu
là con người thì dễ mắc phải do vấn đề tâm lý tại thời điểm diễn ra thanh toán Mộtđặc tính ưu việt của thương mại điện tử trong thanh toán là ở chỗ hiệu quả cao, tốc
độ xử lý lớn, độ chính xác đáng tin cậy và chi phí thấp
Trang 19e Nâng cao khả năng phục vụ và chăm sóc khách hàng thường xuyên
Các tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng sản phẩm có thể được gửi trực tiếpcho khách hàng qua Internet mà không cần in ấn, vận chuyển, vừa tốn kém chokhách hàng lại vừa tốn kém cho công ty Với cơ sở dữ liệu được cập nhật thườngxuyên, doanh nghiệp có thể nắm được đặc điểm của từng khách hàng, nhóm kháchhàng, qua đó phân đoạn thị trường, hướng những chính sách phù hợp riêng biệt chotừng nhóm khách hàng Kể từ lần mua hàng thứ hai trở đi, khách hàng không cầnphải cung cấp chi tiết các thông tin về mình nữa mà doanh nghiệp có thể xác địnhmột cách nhanh chóng và xu hướng nhu cầu của khách hàng
Khi kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp có thể hình thành các chuyênmục như giải đáp thắc mắc, hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, bảo quản, v.v…Những chuyên mục này sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp, để giải quyết một cách tựđộng vấn đề này trên website mà không phải tốn chi phí và đầu tư nhân lực lâu dài.doanh nghiệp có thể cập nhật những tin tức về khách hàng thường xuyên và làmdài thêm danh sách khách hàng tiềm năng thông qua các trang miền điện tử Ngoài
ra, doanh nghiệp có thể gửi đến đối tác, khách hàng những gì họ muốn và nhậnthông tin phản hồi nhanh không kém Điều đó giúp cho việc quảng cáo hệ thốngcủa doanh nghiệp với khách hàng, đối tác để họ có mối quan hệ gắn bó hơn, hiểubiết sâu sắc hơn về nhau Các mối quan hệ đó giúp ích rất nhiều cho doanh nghiệptrong việc nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định cũng như chiến lượckinh doanh của mình
1.1.3.2 Lợi ích của thương mại điện tử đối với người tiêu dùng
a Mua sắm mọi nơi mọi lúc
Ngày nay, trong thời đại thông tin, khái niệm “shopping qua mạng”, “siêu thịđiện tử”, “mua hàng trực tuyến” đang trở nên ngày càng có tính xã hội hóa cao, sốngười tiếp cận với Internet, với mạng ngày càng tăng và kèm theo nó là rất nhiềudịch vụ được mở ra, tạo nên một lớp thị trường mới: “thị trường ảo” Người tiêudùng có thể lựa chọn và tiến hành mua bán tại nhà thông qua việc truy cập Internetvới hình thức thanh toán thông qua các loại thẻ tín dụng Người tiêu dùng có thể
Trang 20ngồi tại nhà để lựa chọn sản phẩm với đầy đủ âm thanh, hình ảnh và các thông số
kỹ thuật Điều này là rất thuận tiện và tiết kiệm so với việc phải đi tìm kiếm hànghóa ở các cửa hàng và siêu thị
b Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp để lựa chọn
Đây là một lợi thế mà chỉ có hình thức mua bán siêu thị mới có thể cạnhtranh được Đơn cử một ví dụ sau: một người muốn mua xe ô tô, theo cách truyềnthống, người ấy sẽ phải đi đến từng đại lý để tìm hiểu thông tin và giá cả, thamkhảo trên báo chí, catalogue, hỏi bạn bè, thậm chí nếu mẫu xe này đã hết ở đại lýnày thì lại phải tìm đến đại lý khác của hãng đó để xem loại xe muốn xem Thống
kê lại, để mua được chiếc xe theo ý muốn, người đó phải rất mất thời gian, côngsức và tiền bạc (chi phí đi lại, hao tổn sức khỏe, v.v…) Nhưng với thương mạiđiện tử, người đó chỉ cần ngồi một chỗ, truy cập Internet và tham quan tất cảnhững hãng xe mà mình muốn tìm hiểu, thậm chí lượng thông tin thu được cònhơn cả sự mong đợi, trong khi đó không phải mất thời gian đi lại, cũng không phảimất chi phí nào ngoài chi phí truy cập Internet đang có xu hướng ngày càng rẻ hơn
Số lượng hàng hóa mà các cửa hàng và doanh nghiệp cung cấp cũng dễ lựachọn và đa dạng, phong phú hơn rất nhiều so với hình thức kinh doanh truyềnthống Trên thực tế, người tiêu dùng phải mất rất nhiều thời gian để di chuyển giữacác cửa hàng và ngay tại một cửa hàng cũng cần nhiều thời gian để lựa chọn hoặctìm kiếm một sản phẩm nào đó mà không phải chỗ nào người tiêu dùng tìm đếncũng đều sẵn sàng cung cấp cái mà họ cần Với thương mại điện tử thì vấn đề này
sẽ hoàn toàn được khắc phục
c Giá cả và phương thức giao dịch tốt
Do có nhiều sự lựa chọn, người tiêu dùng chắc chắn sẽ lựa chọn được mộtsản phẩm hợp ý mình mà nếu tính chi tiết thì chi phí bỏ ra là không hề lớn Hơnnữa, do nhà sản xuất tiết kiệm được những chi phí như đã nêu trên nên giá thànhsản phẩm hạ và người tiêu dùng mua hàng qua phương thức thương mại điện tử sẽ
được hưởng mức giá thấp hơn khi mua hàng hóa bằng phương thức thông thường.
Với các doanh nghiệp kinh doanh trên mạng, một dịch vụ không thể thiếu là vận
Trang 21chuyển hàng hóa, dịch vụ đến cho người đặt hàng Nhờ đó, việc giao dịch có thểđược tiến hành ngay tại nhà hoặc đến bất cứ địa điểm nào mà người đặt hàng yêucầu Người đặt hàng có thể thanh toán ngay bằng thẻ hoặc chuyển khoản, hoặcthanh toán bằng tiền mặt cho nhà cung cấp Theo cách này, hàng hóa, dịch vụ đượcchuyển đến người tiêu dùng một cách chuyên nghiệp hơn, tốt hơn và đảm bảo chấtlượng hơn Vì người tiêu dùng vẫn có quyền từ chối nhận hàng khi phát hiện hànghóa, dịch vụ trên không phù hợp với đơn đặt hàng
Hơn nữa, thông qua Internet, người tiêu dùng được lựa chọn hàng hóa, dịch
vụ trên phạm vi toàn cầu Đặc biệt, đối với các sản phẩm hàng hóa mà không cầnđến sự kiểm tra bằng xúc giác thì thương mại điện tử đem lại cho người tiêu dùngmột khả năng lựa chọn tốt nhất với đầy đủ các thông tin về sản phẩm, ví dụ: cácsản phẩm phần mềm, sách, trò chơi, v.v…
d Chia sẻ thông tin nhanh chóng và dễ dàng
Thông tin trên mạng vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó, đa số thôngtin được đăng tải với mục đích truyền bá rộng rãi nên người tiêu dùng rất thuậntiện và dễ dàng trong việc thu thập thông tin, vừa nhanh, vừa đầy đủ lại vừa cậpnhật Và kèm theo đó là tinh thần tập thể, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau MạngInternet là một dạng mạng mở có khả năng liên kết con người rất lớn dưới hìnhthức mạng xã hội, diễn đàn, câu lạc bộ, hiệp hội ngành hàng, quỹ, v.v… Vì vậy,việc thông báo chia sẻ thông tin diễn ra rất nhanh sau vài thao tác trên bàn phím.Đây chính là hình thức giao dịch dạng P2P (Peer to Peer) – các cá nhân giao dịch,liên hệ với nhau
1.1.3.3 Lợi ích của thương mại điện tử đối với xã hội
a Thúc đẩy nền công nghệ thông tin phát triển, tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa
Thương mại điện tử phát triển dựa trên nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệthông tin hiện đại Do vậy, phát triển thương mại điện tử sẽ tạo nên những nhu cầuđầu tư mới và phát triển công nghệ thông tin Các nhà nghiên cứu dự đoán, các nềnkinh tế đang phát triển sẽ dần tiến tới “nền kinh tế số hóa” hay còn gọi là “nền kinh
Trang 22tế mới” lấy tri thức và thông tin làm nền tảng phát triển Đây là khía cạnh mangtính chiến lược đối với các nước đang phát triển vì nó đem lại cả nguy cơ tụt hậulẫn cơ hội tạo “bước nhảy vọt” bắt kịp xu thế phát triển của nhân loại trong mộtthời gian ngắn hơn nhiều
b Nâng cao nhận thức của xã hội về công nghệ thông tin
Các kế hoạch mở rộng thị trường đều giúp cho doanh nghiệp và người tiêudùng tiếp cận nhanh với thương mại điện tử để có một phương thức kinh doanh vàmua bán mới, hiện đại, hỗ trợ, xúc tiến các hoạt động giao thương của doanhnghiệp được thuận lợi và dễ dàng hơn, tạo động lực thúc đẩy, nâng cao nhận thức
về mua bán quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế Từ biết Internet, đến dùngInternet là cả một bước tiến trong nhận thức, trong thói quen sống của con người.Thông qua việc truy cập vào các trang web mua hàng, người tiêu dùng sẽ biết đếncác lợi ích của nó, từ đó nảy sinh nhu cầu mua hàng qua mạng Và như vậy,thương mại điện tử định hình và phát triển theo mức tăng nhận thức của xã hội vềcông nghệ thông tin
c Tăng cường lợi ích cho xã hội thông qua việc phát triển Chính phủ điện tử
Internet ra đời đã làm thay đổi nhiều hình thái hoạt động của con người,đồng thời thúc đẩy việc phổ cập và thâm nhập của tri thức vào các hoạt động trêntoàn thế giới Về mặt điều hành Nhà nước (hay còn gọi là về mặt cầm quyền),người ta thường nói đến chính phủ điện tử (CPĐT), vì đó là môi trường bảo đảmcho sự thành công của thương mại điện tử và nền kinh tế số hóa Chính phủ điện tửđược hiểu là “việc ứng dụng công nghệ thông tin để các cơ quan của Chính quyền
từ trung ương đến địa phương đổi mới, làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minhbạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các
tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ vàtham gia quản lý Nhà nước” [33]
Chính phủ điện tử ra đời với mục đích cải tiến và cung cấp các dịch vụ củaChính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân Quan trọng hơn nữa, chính phủđiện tử còn đặt ra mục tiêu tăng cường năng lực của Chính phủ theo hướng quản
Trang 23lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch nhằm quản lý tốt hơn cácnguồn lực kinh tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển Điểm chủ yếu củachính phủ điện tử là xây dựng chiến lược dài hạn, có phạm vi sâu rộng nhằm liêntục cải tiến các hoạt động với mục đích cuối cùng là đáp ứng nhu cầu của ngườidân thông qua việc thay đổi các hoạt động như quản lý cán bộ, công nghệ và quytrình công việc Do vậy, chính phủ điện tử còn mang lại lợi ích là cung cấp dịch vụmột cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp, các cơ quan và nhânviên Chính phủ Đối với người dân và doanh nghiệp, chính phủ điện tử là sự đơngiản hóa các thủ tục và tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt Đối với các cơquan và nhân viên Chính phủ, chính phủ điện tử là sự hỗ trợ hợp tác giữa các cơquan nhằm đảm bảo đưa ra các quyết định một cách chính xác và kịp thời.
1.1.4 Hạn chế của thương mại điện tử
Bên cạnh những lợi ích to lớn thì thương mại điện tử cũng có những hạnchế, thách thức đối với các doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử Đó là
sự thay đổi môi trường kinh doanh, vấn đề công nghệ, pháp luật, nguy cơ ăn cắpbản quyền và các chính sách của Chính phủ, sự cạnh tranh lớn hơn và dĩ nhiên là
cả chi phí cho việc trang bị công nghệ Sau đây là một vài hạn chế chủ yếu củathương mại điện tử
1.1.4.1 Sự thay đổi của môi trường kinh doanh
Giống như thương mại truyền thống, thương mại điện tử cũng chịu tác độngcủa môi trường kinh tế trong và ngoài nước, như tình hình phát triển quốc gia, cácchính sách về kinh tế, tài chính, hoặc môi trường pháp luật, văn hóa, xã hội Tuynhiên, thương mại điện tử còn phải chịu thêm tác động rất lớn bởi sự thay đổi côngnghệ Sở dĩ như vậy bởi trong thương mại điện tử, người mua và người bán khônggặp gỡ trực tiếp mà thông qua mạng máy tính Môi trường kinh doanh điện tử tạonên bởi các yếu tố công nghệ nên nó không ngừng thay đổi theo sự thay đổi củacông nghệ Tham gia thương mại điện tử đòi hỏi con người phải có trình độ, hiểubiết về sử dụng và làm chủ mà điều này vốn không hề dễ dàng
Trang 241.1.4.2 Chi phí đầu tư cao cho công nghệ
Thương mại điện tử phụ thuộc vào mạng viễn thông và công nghệ Công nghệcàng phát triển, thương mại điện tử càng có cơ hội phát triển, tạo ra những dịch vụmới, nhưng cũng nảy sinh vấn đề là làm tăng chi phí đầu tư công nghệ Nếu trướcđây, thương mại điện tử chỉ mang tính chất giao dịch thông qua dạng chữ thì ngàynay có thể giao dịch bằng tiếng nói – voicechat (rẻ hơn điện thoại rất nhiều).Nhưng chi phí cho một thiết bị như vậy không phải là nhỏ Thực tế ở Việt Nam,các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải vượt qua nhiều rào cản để có thể ứng dụng côngnghệ thông tin như: chi phí công nghệ thông tin cao, thiếu sự tương ứng giữa cungcầu công nghệ thông tin, thiếu đối tác, khách hàng và nhà cung ứng, v.v Với tỷ lệchi phí đầu tư cao như vậy, rất ít doanh nghiệp dám đầu tư toàn diện, mà nếu cómong muốn đầu tư thì khó theo được đến nơi đến chốn, vì ngoài chi phí đó ra,doanh nghiệp phải chi rất nhiều chi phí khác Hơn nữa, công nghệ thay đổi nhanhchóng cùng với tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho người sử dụngphải không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức sử dụng công nghệ hiện đại
1.1.4.3 Khung pháp lý chưa hoàn thiện
Tại Phiên họp thứ 29 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (12/1996), Uỷ banLiên Hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã thông qua “Luật mẫu
về Thương mại điện tử”, tạo điều kiện giúp đỡ các quốc gia trên thế giới hoàn thiện
hệ thống pháp luật của mình trong lĩnh vực thương mại điện tử Tuy nhiên, đểthương mại điện tử phát triển một cách toàn diện, các quốc gia còn cần bổ sung rấtnhiều các văn bản luật hướng dẫn, quy định cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực.Hiện nay, chỉ một số nước phát triển như Mỹ, Nhật, Úc… có quy định chặt chẽ vềpháp lý giao dịch điện tử, còn hầu hết các nước đang phát triển vẫn thiếu nhữngvăn bản pháp luật quy định cụ thể; và nếu có thì cũng chưa hoàn toàn chặt chẽ, đầy
đủ trong khi ngày càng có nhiều hình thức kinh doanh dựa trên TMĐT ra đời.Chính vì vậy các công ty, tổ chức không thực sự yên tâm về sự bảo vệ quyền lợicủa mình khi tham gia thương mại điện tử Đây là những vấn đề cần giải quyết củatoàn thế giới mà nếu không nó sẽ cản trở thương mại điện tử phát triển
Trang 251.2 Tổng quan về chiến lược phát triển thương mại điện tử
1.2.1 Khái niệm chiến lược
Có nhiều định nghĩa về chiến lược là gì, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểmkhác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả Năm 1962, chiến lược đượcChandler định nghĩa như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạncủa doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổcác nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”
Chandler là một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trịchiến lược Cho đến những năm 1980 khi mà môn học quản trị chiến lược đã trởnên chín muồi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là
mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và cácchuỗi hành động vào một tổng thẻ được cố kết một cách chặt chẽ”
Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môitrường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng vàphạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chứcthông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đápứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”
Chúng ta thấy rằng tất cả các định nghĩa về chiến lược đều xuất hiện cáccụm từ biểu thị các khía cạnh khác nhau cần phải bao hàm trong đó Do đó, cầnphải có các định nghĩa đa diện để có thể hiểu rõ hơn lĩnh vực này Trong địnhnghĩa chiến lược với 5 chữ P của mình Mintzberg khái quát các khía cạnh quản trịchiến lược như sau:
Kế hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán
Mô thức (Pattern): sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự địnhhay không dự định
Vị thế (Position): phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó
Quan niệm (Perspective): cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới
Thủ thuật (Ploy): cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ
Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn
Trang 26khác nhau tùy theo cấp độ Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ vềbản chất tùy thuộc quan điểm Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diện:Chiến lược cấp công ty; Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh; và các chiến lược chứcnăng Chiến lược cấp công ty hướng tới mục đích và phạm vi tổng thể của tổ chức.Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành côngtrên các thị trường cụ thể Chiến lược chức năng (hay chiến lược hoạt động) là cácchiến lược giúp cho các chiến lược cấp kinh doanh và cấp công ty thực hiện mộtcách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện nguồn lực, các quátrình con người và các kỹ năng cần thiết Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, cáccông ty đang nhanh chóng đa dạng hóa hoạt động của mình vượt ra khỏi biên giớiquốc gia, từ đó, chiến lược toàn cầu như là sự lựa chọn đương đầu với các vấn đềkinh doanh có tính quốc tế.
1.2.2 Chiến lược phát triển thương mại điện tử
Để hiểu sâu hơn về chiến lược phát triển thương mại điện tử, chúng ta tìmhiểu qua một vài khái niệm liên quan sau đây:
Chiến lược thương mại điện tử là một kế hoạch toàn diện, nó chỉ ra cách
thức mà người lập chiến lược có thể đạt được nhiệm vụ và mục tiêu của thươngmại điện tử, đáp ứng tương thích những thay đổi của tình thế cũng như xảy ra các
sự kiện bất thường trong thương mại điện tử
Quản trị chiến lược theo Fred David là “khoa học và nghệ thuật nhằm thiết
lập, thực hiện và đánh giá các chiến lược cho phép tổ chức đạt được các mục tiêudài hạn của nó.” Hay quản trị chiến lược là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổchức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược nhằm đảm bảo tổ chức luôn tậndụng được mọi cơ hội cũng như loại bỏ được các đe dọa trên con đường thực hiệncác mục tiêu của mình
Quản trị chiến lược thương mại điện tử là việc xác định định hướng và phạm
vi hoạt động ứng dụng thương mại điện tử trong dài hạn, ở đó nhà quản trị phải kếthợp các nguồn lực trong môi trường nhiều thử thách, nhằm đạt được những mụctiêu đề ra ban đầu và xử lý các tình huống phát sinh để đảm bảo kết quả cuối cùng
Trang 27Xây dựng chiến lược thương mại điện tử
Xây dựng chiến lược cũng có thể được hiểu như hoạch định chiến lược, làmột trong bốn giai đoạn hay chức năng cơ bản của quản trị chiến lược thương mạiđiện tử
Hoạch định chiến lược là việc xác định rõ tầm nhìn, mục tiêu, sứ mạng,
phân tích những cơ hội và đe dọa từ bên ngoài đồng thời phân tích những điểmmạnh, điểm yếu bên trong tổ chức, những chiến lược dài hạn và đưa ra những đánhgiá để lựa chọn chiến lược phù hợp cho tổ chức
Hoạch định chiến lược phát triển thương mại điện tử là quá trình mà nhà
quản trị thương mại điện tử đánh giá viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp mình vàquyết định xem lựa chọn chiến lược nào để đạt được các mục tiêu phát triểnthương mại điện tử trong dài hạn của tổ chức
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển thương mại điện tử
1.3.1 Thực trạng thương mại điện tử
Cuộc cách mạng về Internet đã thay đổi tương lai của các công ty, các quốcgia và nhân loại Những thay đổi này đang tạo ra nền kinh tế internet, trong đócông nghệ sẽ liên kết tất cả mọi người, đến tất cả mọi thứ và là nền kinh tế mà sự
mở cửa về viễn thông, về trình độ và về thị trường là điều phổ biến Chính phủ,cũng giống như các ngành, phải áp dụng một tiến trình kinh doanh mà trọng tâm vàviệc sử dụng công nghệ - đặc biệt là thương mại điện tử - để chuyển tải thông tin
và dịch vụ một cách nhanh hơn, rẻ hơn, và đến được với nhiều người hơn
Để phát triển nền thương mại điện tử của một quốc gia một cách bền vữngcần có chiến lược rõ ràng Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triểnthương mại điện tử, yếu tố căn bản đầu tiên chính là thực trạng của thương mạiđiện tử Thị trường thương mại điện tử Việt Nam vẫn chỉ mới ở giai đoạn sơ khai,nên tất yếu sẽ gặp khó khăn từ việc hoạch định chiến lược cho đến ứng dụng Kháiquát, có khó khăn khách quan và khó khăn chủ quan Khó khăn khách quan gồm
các yếu tố như thị phần thương mại điện tử nhỏ bé, thói quen mua hàng của người
dân, sự tin tưởng vào thương mại điện tử còn hạn chế, hạ tầng thanh toán, dịch vụ
Trang 28giao nhận, vốn đầu tư Khó khăn chủ quan, xét một cách toàn diện thì các đơn vịlàm thương mại điện tử vẫn đang ở tâm lý vừa làm vừa thăm dò thị trường và tìmcách phản ứng để phù hợp với tâm lý người tiêu dùng Do vậy việc triển khai khó
có thể diễn ra bài bản ngày từ đầu và xuyên suốt trong quá trình hoạt động Mặtkhác, rất nhiều đơn vị làm thương mại điện tử vẫn chưa hiểu rõ thấu đáo sự khácbiệt của thương mại điện tử với bán hàng offline truyền thống, vẫn bê nguyên tưduy vận hành offline lên online, dẫn đến sự phản ứng chậm chạp, thiếu chuyênnghiệp và không phát huy hết lợi thế của online, chưa đánh trúng tâm lý của ngườitiêu dùng online
1.3.2 Mục tiêu của chiến lược phát triển thương mại điện tử
Điều quan trọng nhất của một chiến lược phát triển thương mại điện tử quốcgia nhằm định hướng, hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ứng dụng thươngmại điện tử thành công và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính bộ máy Nhànước Ngoài ra, chiến lược đó còn phải bắt kịp tốc độ phát triển của thương mạiđiện tử trên thế giới cũng như các xu hướng phát triển trong từng thời kỳ Như vậy,mục tiêu hướng đến ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển thương mại điện
tử Nó quyết định tầm cỡ, nội dung, cách thức thực hiện chiến lược Do đó, khi xâydựng chiến lược phát triển thương mại điện tử cần nghiên cứu kỳ lưỡng mục tiêumuốn đạt được để đảm bảo thương mại điện tử phát triển bền vững và thực sự đemlại lợi ích cho các đối tượng sử dụng
1.3 Các tiêu chí xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử
1.3.1 Nhận thức về thương mại điện tử
Thương mại điện tử đã trở thành một khái niệm quen thuộc đối với cácdoanh nghiệp và hầu hết người dân tại các nước phát triển và đang dần dần trở nênquen thuộc với các doanh nghiệp của các nước đang phát triển Doanh nghiệp càngmuốn phát triển và hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế thì càng phải nhận thức rõcác cơ hội của thương mại điện tử và quan tâm tới việc xây dựng các mô hình kinhdoanh thương mại điện tử, đưa thương mại điện tử thành một phần không thể táchrời của chiến lược phát triển doanh nghiệp
Trang 291.3.2 Hành lang pháp lý
Thương mại điện tử là hoạt động thương mại có quy mô toàn cầu, vì vậy,hàng loạt quy định về luật pháp quốc tế và quốc gia về lĩnh vực này phải được đápứng Những nội dung chính của hành lang pháp lý này là quy định về tiêu chuẩnchất lượng hàng hóa, dịch vụ, quy định về những điều cấm và được phép thay đổitheo quốc gia, quy định về sở hữu công nghiệp, bản quyền chế tạo, luật về chữ kýđiện tử, luật giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng kinh tế điện tử, v.v…
1.3.3 Hạ tầng cơ sở về công nghệ
Thương mại điện tử là hệ quả của sự phát triển kỹ thuật số hóa, của côngnghệ thông tin Thế nên, chỉ khi đã có hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin thì mới hivọng tiến hành thương mại điện tử thực sự với nội dung và hiệu quả đích thực Hạtầng cơ sở công nghệ ấy từ các hệ thống chuẩn của doanh nghiệp, của nhà nước và
sự liên kết của các hệ thống chuẩn ấy với tiêu chuẩn quốc tế, tới kỹ thuật ứng dụng
và thiết bị ứng dụng và không chỉ của riêng từng doanh nghiệp mà phải là một hệthống quốc gia với tư cách như một phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin khuvực và toàn cầu, v.v… Hệ thống ấy đòi hỏi phải ngày càng phổ biến và thuận tiện
để mỗi cá nhân có thể tiếp cận nó ngày càng nhanh chóng và hiệu quả hơn
1.3.4 Hạ tầng cơ sở về nhân lực
Nhân lực cho thương mại điện tử bao gồm hầu hết mọi thành viên trong xãhội hiện đại, từ người tiêu thụ đến người sản xuất và phân phối, tới cơ quan Chínhphủ và tất cả những ai làm việc trong lĩnh vực công nghệ và phát triển Áp dụngthương mại điện tử cần có những người biết tạo ra thương mại điện tử – đó chính
là các chuyên gia công nghệ thông tin và một cộng đồng người biết sử dụng vàkhai thác thương mại điện tử Các chuyên gia cần mạnh về lực lượng, chất về trítuệ và năng lực Cộng đồng dân chúng cần thành thạo các hoạt động trên mạng.Ngoài ra, một yêu cầu tự nhiên nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả nhữngngười tham gia đều phải có trình độ ngoại ngữ nhất định (chủ yếu là tiếng Anh).Đòi hỏi này của thương mại điện tử sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáodục và đào tạo
Trang 301.3.5 Vấn đề bảo mật, an toàn
Giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử, trong đó mọi số liệu đều
ở dạng số hóa đặt ra các yêu cầu về tính bảo mật, an toàn Mất tiền, lừa đảo, lấytrộm hoặc làm thay đổi thông tin, xâm nhập dữ liệu, v.v… là các rủi ro ngày cànglớn không chỉ đối với người kinh doanh mà cả với người quản lý, với từng quốcgia, vì các hệ thống điện tử có thể bị các tin tặc (hacker) xâm nhập Do đó, cầnphải có các hệ thống bảo mật, an toàn được thiết kế trên cơ sở kỹ thuật mã hóa(encryption) hiện đại và một cơ chế an ninh hữu hiệu Ngoài ra, vấn đề bảo vệ bímật riêng tư cũng cần được quan tâm
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
2.1 Thực trạng phát triển thương mại điện tử trên thế giới
2.1.1 Thực trạng phát triển của thương mại điện tử B2C trên thế giới
Hoạt động thương mại điện tử B2C trên thế giới đang có những bước tăngtrưởng nhảy vọt, với doanh số của các giao dịch B2C ngày càng cao Theo báo cáonghiên cứu thị trường thương mại điện tử toàn cầu của eMarketer, doanh số bánhàng B2C trên toàn thế giới đạt khoảng 1.471 tỷ USD vào năm 2014, tăng gần20% so với năm 2013 với 1.250 tỷ USD Và trong năm 2015, doanh số bán hàng
đã được dự đoán sẽ tăng 17,7%, đạt khoảng 1.771 tỷ USD trên toàn thế giới Châu
Á - Thái Bình Dương sẽ trở thành thị trường B2C khu vực có doanh số lớn nhấtthế giới vào cuối năm 2014 đầu 2015 Kinh doanh thương mại điện tử B2C tạiChâu Á - Thái Bình Dương sẽ đạt 681,2 tỷ USD trong năm nay, trong khi ở Bắc
Mỹ doanh số sẽ đạt 538,3 tỷ USD [41]
Tăng trưởng thương mại điện tử toàn cầu với doanh thu dự báo đạt 2.356 tỷUSD vào năm 2018, tốc độ tăng trưởng dự kiến sau năm 2014 là trên 10% tươngđương với hơn 200 tỷ USD mỗi năm eMarketer dự kiến Châu Á - Thái BìnhDương sẽ trở thành khu vực thương mại điện tử hàng đầu về doanh số bán hàngB2C trong năm 2015, đại diện cho 33,4% tổng số, so với 31,7% ở Bắc Mỹ và24,6% Tây Âu Ba khu vực kết hợp sẽ tiếp tục chiếm khoảng 90% thị trườngthương mại điện tử toàn cầu trong giai đoạn từ 2015 đến 2018 Sự gia tăng doanh
số bán hàng thương mại điện tử B2C ở Châu Á - Thái Bình Dương được gắn với
sự gia tăng của số lượng khách hàng trực tuyến, cũng như sự xuất hiện và tham giacủa nhiều người mua mới, điều này sẽ khiến doanh số bán hàng sẽ tăng [41]
2.1.2 Thực trạng phát triển của thương mại điện tử B2B trên thế giới
Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng thương mại điện tử B2B có tiềm năng đáng
kể để tăng lợi nhuận và hiệu quả trong thị trường kinh doanh, là một thị trườngkhổng lồ còn đang bị bỏ ngỏ, chưa được khai thác hiệu quả
Thực trạng hoạt động thương mại điện tử B2B toàn cầu xem xét trong báo
Trang 32cáo của các tổ chức lớn như Forrester Research và Oracle được mô tả bởi các đặctrưng lớn sau đây:
+ Phát triển thương mại điện tử B2B đối diện với nhiều thách thức
+ Phát triển thương mại điện tử B2B tạo ra các cơ hội kinh doanh mới chodoanh nghiệp
+ Các doanh nghiệp B2B phải cung cấp trải nghiệm khách hàng giống nhưB2C
Khi đó các trang web B2B cần phải cung cấp các dịch vụ và tiện ích chokhách hàng B2B như các trang web B2C hàng đầu hiện nay cung cấp cho kháchhàng của họ [46]
2.1.3 Thực trạng phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới
Chính phủ điện tử và sự đổi mới có thể cung cấp những cơ hội đáng kể đểbiến đổi quản lý nhà nước thành một công cụ phát triển bền vững Thông qua đổimới và chính phủ điện tử, các cơ quan hành chính trên toàn thế giới có thể hoạtđộng hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về tính minhbạch và trách nhiệm
Chính phủ điện tử có thể giúp các chính phủ quản lý hiệu quả tài nguyênthiên nhiên, cũng như kích thích kinh tế tăng trưởng và thúc đẩy hòa nhập xã hội.Công nghệ thông tin cũng đã được chứng minh là nền tảng hiệu quả để tạo điềukiện chia sẻ kiến thức, phát triển kỹ năng, chuyển giao các giải pháp chính phủđiện tử sáng tạo và xây dựng năng lực cho phát triển bền vững giữa các nước.Chính phủ điện tử có thể tạo ra lợi ích quan trọng trong các hình thức làm việcmới, tốt hơn cho y tế và giáo dục
2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam từ 2010 2014
-2.2.1 Đánh giá thực trạng nhận thức về thương mại điện tử
Thương mại điện tử chịu sự tác động của bốn yếu tố chính, bao gồm: nhậnthức, nhân lực, công nghệ thông tin và hoạt động thương mại Trong đó, nhận thức
xã hội về thương mại điện tử luôn được coi là một yếu tố quan trọng cho sự phát
Trang 33triển thương mại điện tử Từ khi Luật Giao dịch điện tử có hiệu lực (1/03/2006)đến nay, trong xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức đối vớithương mại điện tử Những thay đổi về nhận thức điển hình được thể hiện qua sựhình thành Hiệp hội Thương mại điện tử, sự phát triển của hoạt động tuyên truyền,đào tạo về thương mại điện tử, sự đa dạng của các giao dịch điện tử và đặc biệt là
sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụcông điện tử
Trang 342.2.1.1 Hiệu quả thương mại điện tử mang lại qua sự đánh giá của doanh nghiệp
Theo khảo sát của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, để đánh giá về hiệu quả của thương mại điện tử, các
doanh nghiệp khảo sát được yêu cầu cho điểm bốn chỉ tiêu:
1) Mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng;
2) Quảng bá hình ảnh doanh nghiệp;
3) Giảm chi phí kinh doanh;
4) Tăng doanh thu và lợi nhuận
Thang điểm cho mỗi tiêu chí từ 0 (hoàn toàn không hiệu quả) tới 4 (rất hiệu quả)
Sau đây là tổng hợp điểm số theo 4 chỉ tiêu về hiệu quả mà thương mại điện tử mang lại cho các doanh nghiệp từ năm
Tăng doanh thu, lợi nhuận 2,51 2,57 2,41 2,42 2,42 0,06 -0,16 0,01 0 102,39 93,774 100,41 100
Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2010-2014
Trang 35So sánh các điểm này trong 5 năm có thể thấy sự chênh lệch giữa các điểmtrung bình có xu hướng giảm dần qua các năm Chẳng hạn, năm 2011 điểm trungbình cao nhất thuộc về tiêu chí mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng và quảng báhình ảnh doanh nghiệp với số điểm là 2,73 Điểm này cao hơn so với điểm thấpnhất của tiêu chí tăng doanh thu, lợi nhuận với số điểm là 2,57 Sang các năm gầnđây, điểm các tiêu chí chỉ ở quanh mức 2,42 đến 2,55 Kết quả này phản ánh cácdoanh nghiệp đã nhận thức được các lợi ích mà thương mại điện tử mang lại Tuynhiên điểm đánh giá cho các tiêu chí vẫn chưa thật sự cao như kỳ vọng, Chính phủcần phải tuyên truyền hơn nữa để các doanh nghiệp nhận thức sâu hơn và ứng dụngthương mại điện tử rộng hơn.
2.2.1.2 Thanh toán điện tử
Theo báo cáo thương mại điện tử năm 2014 của Bộ Công thương, về tổngthể kết quả điều tra chưa cho thấy sự thay đổi đột phá nào trong việc thanh toánkhông dùng tiền mặt Hầu như tất cả doanh nghiệp đều sử dụng hình thức chuyểnkhoản qua ngân hàng Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng ví điện tử và thẻ cào hầu nhưkhông thay đổi so với năm 2013 Trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng thẻthanh toán thấp hơn đáng kể so với năm trước Các tỷ lệ này có thể phản ảnh cuộcđiều tra năm 2014 mở rộng tới nhiều doanh nghiệp ở các tỉnh nghèo [14, tr 37]
Hình 2.1 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt từ 2012-2014
Trang 362.2.1.3 Tình hình xây dựng và sử dụng website trong doanh nghiệp
Có thể nhìn vào tỷ lệ doanh nghiệp có website để biết mốc đánh dấu sự pháttriển của thương mại điện tử Năm 2005 chỉ có 26% doanh nghiệp có websitenhưng số lượng website của doanh nghiệp tiếp tục tăng đều đến 2008 với tỷ lệ45% Sau đó do suy thoái kinh tế 2008 kéo theo sự phá sản của nhiều doanh nghiệpkhiến tỷ lệ doanh nghiệp có website giảm xuống 38% rồi 30% vào năm 2011.Nhưng từ 2012 trở đi tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng trở lại 42% rồi 45% vàonăm 2013
Năm 2014, tỷ lệ doanh nghiệp có website là 45%, tăng không đáng kể so với
tỷ lệ này của năm 2013 Trong đó, 47% doanh nghiệp cho biết đã cập nhật thôngtin hàng ngày trên website, 32% cập nhật hàng tuần, còn lại 21% doanh nghiệptrung bình mỗi tháng chỉ cập nhật một lần 41% doanh nghiệp đã cử cán bộ phụtrách website Tỷ lệ website có tính năng đặt hàng trực tuyến là 58%, cao hơn đáng
kể so với năm 2013 Trong khi đó tỷ lệ website có tính năng thanh toán trực tuyến
là 15% và hầu như không đổi so với năm 2013 Đón nhận xu hướng người tiêudùng ngày càng chuyển mạnh sang mua sắm trên các thiết bị di động, 15% doanhnghiệp đã xây dựng phiên bản di động cho website của mình Năm 2014 chứngkiến mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất để quảng bá website với tỷ lệ lên tới50%, tiếp đó là các công cụ tìm kiếm
Trang 372.2.1.4 Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử
Tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử của năm 2010
và 2011 là 14%, sau đó giảm xuống 9% vào năm 2012 nhưng tăng trở lại 12% vàonăm 2013 và 15% năm 2014 Các tỷ lệ này phản ánh xu hướng các doanh nghiệpcàng ngày càng quan tâm tới việc khai thác những lợi ích do các sàn thương mạiđiện tử mang lại Nếu xét về tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sàn theo lĩnh vực hoạtđộng của doanh nghiệp thì lĩnh vực tài chính, bất động sản và công nghiệp có tỷ lệtham gia cao nhất Nhìn chung các doanh nghiệp đánh giá hiệu quả tham gia giaodịch trên sàn là tốt, với 82% doanh nghiệp được hỏi cho điểm hiệu quả ở mứctrung bình hoặc cao
2.2.1.5 Tình hình tiếp cận Chính phủ điện tử của doanh nghiệp
Năm 2014 có 42% doanh nghiệp cho biết thường xuyên tra cứu thông tin tạiwebsite của các cơ quan nhà nước tại địa phương, 53% doanh nghiệp thỉnh thoảngmới truy cập và 5% doanh nghiệp chưa bao giờ truy cập các website này Các tỷ lệnày cho thấy tình hình truy cập website của các cơ quan nhà nước để tra cứu thôngtin phục vụ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có sự tiến bộ đáng kể sovới năm 2013 và 2012 Có khoảng 57% doanh nghiệp đã sử dụng các dịch vụ côngtrực tuyến, tỷ lệ này phản ảnh sự tăng rõ ràng so với hai năm trước Có 39% doanhnghiệp đánh giá dịch vụ công trực tuyến rất có ích cho hoạt động kinh doanh của
Trang 38Mặc dù chưa có số liệu năm 2015, nhưng có thể nhận thấy việc khai thácdịch vụ công trực tuyến của các doanh nghiệp năm 2014 có mối liên quan chặt chẽvới việc triển khai chính phủ điện tử năm 2013 Xét về khía cạnh “cung”, năm
2013 số dịch vụ công trực tuyến mức 3 đạt 2.366, tiếp tục tăng mạnh từ con số1.662 của năm 2012 Các con số tương tự cho dịch vụ công trực tuyến mức 4 là
111 và 9 Sự tăng mạnh này hầu hết diễn ra ở các địa phương: số dịch vụ công trựctuyến mức 3 tăng từ 1.609 lên 2.258 và mức 4 từ 5 lên 56
Những con số này mới phản ảnh được mức độ cung cấp dịch vụ công trựctuyến ở chiều “cung” của các cơ quan nhà nước mà chưa phản ảnh được mức độ sửdụng ở chiều “cầu” của các doanh nghiệp và người dân Về việc ứng dụng chínhphủ điện tử, số liệu của Báo cáo thương mại điên tử Việt Nam năm 2014 [14] cótín hiệu lạc quan hơn so với Báo cáo thương mại điên tử Việt Nam năm 2013 [13]
2.2.2 Đánh giá thực trạng môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử
Mặc dù chậm hơn yêu cầu nhưng môi trường pháp lý cho thương mại điện
tử đã tương đối hoàn thiện nhờ một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hướngdẫn như:
- Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 27/6/2005;
- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 09/12/2005;
- Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006;
- Luật viễn thông số 41/2009/QH12 ngày 4/12/2009;
- Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và chứng thực chữ ký số;
- Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính Phủ về quản lý,cung cấp và sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên Internet;
- Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ về quản lýđầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn ngân sách nhà nước;
- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính Phủ về việc cungcấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc Trangthông tin điện tử của cơ quan nhà nước;
Trang 39- Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thươngmại điện tử;
- Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ về quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bánhàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Quyết định số 1073/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử Việt Namgiai đoạn 2011 - 2015;
- Quyết định 689/QĐ-TTg ngày 11/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2014 – 2020;
Nhìn chung, việc phát triển cơ sở hạ tầng mã khóa công khai - PKI (PublicKey Infrastructure) cũng như chứng thực điện tử - CA (Certification authority)đang triển khai đúng hướng và bài bản Tuy nhiên bên cạnh đó cũng không tránhkhỏi những rào cản về pháp lý, nhận thức dẫn tới việc tiến độ triển khai đại trà môhình này vẫn còn chậm Trong thời gian tới, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các
bộ, ban ngành, các tổ chức Chính phủ và các doanh nghiệp để từ đó thắt chặt sựliên kết, giao dịch, hình thành một hạ tầng vững chắc, tạo tiền đề thúc đẩy thươngmại điện tử và chính phủ điện tử phát triển
2.2.3 Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho thương mại điện tử
2.2.3.1 Trang thiết bị phục vụ thương mại điện tử trong doanh nghiệp
Máy tính là thiết bị phần cứng cơ bản cho ứng dụng CNTT và TMĐT tronghoạt động kinh doanh Do đó các thống kê về máy tính là tiêu chí quan trọng để
Trang 40đánh giá mức độ sẵn sàng cho thương mại điện tử nhìn từ góc độ hạ tầng kỹ thuậtcủa doanh nghiệp Kết quả điều tra cho thấy, số lượng máy tính sử dụng trongdoanh nghiệp không thay đổi nhiều trong 5 năm từ 2010 đến 2014 Năm 2011 cóthể coi là sự phát triển nóng của thương mại điện tử khi số lượng doanh nghiệp nhỏ(có dưới 10 máy tính) phát triển mạnh mẽ.
Năm 2014, khoảng 55% doanh nghiệp có từ 1 đến 10 máy tính; 20% doanhnghiệp có từ 11 đến 20 máy tính, 15% doanh nghiệp có từ 21 đến 50 máy tính và10% doanh nghiệp có trên 51 máy tính Hầu hết doanh nghiệp tham gia khảo sát cómáy tính PC và laptop và có tới 45% doanh nghiệp có máy tính bảng Trong đó,100% doanh nghiệp tại năm thành phố trực thuộc Trung ương đều có máy tính Tại
Hà Nội, 59% doanh nghiệp có máy tính bảng, tỷ lệ này ở Tp Hồ Chí Minh là 57%.Như vậy, gần như 100% doanh nghiệp đã có máy tính, đáp ứng cơ bản điều kiệntiên quyết để ứng dụng thương mại điện tử (Xem bảng 2.2)