DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ĐTH : Đô thị hoá GQVL : Giải quyết việc làm GRDP : Tổng sản phẩm nội địa H
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHÍ VĂN KỶ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu của bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Phú Thọ, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Ngọc Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy, cô giáo đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và
nghiên cứu, đặc biệt là TS Phí Văn Kỷ, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp và các cơ quan, đơn vị, các cá nhân có liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn này
Phú Thọ, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Ngọc Mai
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ ĐÔ THỊ HOÁ 5
1.1 Việc làm 5
1.1.1 Khái niệm việc làm 5
1.1.2 Các đặc trưng về việc làm 5
1.1.3 Ý nghĩa của chỉ tiêu việc làm 6
1.1.4 Sự hình thành thị trường lao động 7
1.1.5 Thất nghiệp, thiếu việc làm 7
1.2 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và Đô thị hoá 10
1.2.1 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá 10
1.2.2 Đô thị hóa 11
1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của đô thị hóa 12
1.2.4 Các hình thức biểu hiện của đô thị hóa 13
1.2.5 Những đặc điểm của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam 14
1.3 Những tác động của đô thị hoá đến kinh tế, xã hội nói chung và nông nghiệp, nông thôn 17
1.3.1 Tác động tích cực 17
Trang 61.3.2 Tác động tiêu cực 19
1.3.3 Mối quan hệ giữa việc làm và đô thị hoá 20
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm của người lao động trong quá trình đô thị hoá 21
1.4.1 Chính sách vĩ mô của Nhà nước 21
1.4.2 Lựa chọn mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế và lựa chọn công nghệ 22
1.4.3 Thị trường lao động 23
1.4.4 Đặc điểm của người lao động 24
1.4.5 Tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, quy mô hội tụ kinh tế đô thị 25
1.5 Kinh nghiệm của một số địa phương về giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hoá 25
1.5.1 Kinh nghiệm của các tỉnh bạn 25
1.5.2 Kinh nghiệm của huyện trong tỉnh 30
1.5.3 Một số bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn có thể áp dụng cho thành phố Việt Trì 35
1.6 Các nghiên cứu có liên quan 36
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 39
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 40
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 43
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về việc làm cho người lao động 45
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ đô thị hoá ở thành phố 45
2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh về giải quyết việc làm, chất lượng việc làm 45
Chương 3 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 46
3.1 Những nhân tố tác động đến việc làm trong quá trình đô thị hoá tại thành phố Việt Trì 46
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện địa lý và tự nhiên 46
Trang 73.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 48
3.1.3 Đô thị hoá ở thành phố Việt Trì qua những năm gần đây 51
3.1.4 Đặc điểm lao động thành phố Việt Trì 56
3.2 Thực trạng việc làm trong quá trình đô thị hoá tại thành phố Việt Trì thời gian qua 60
3.2.1 Thực trạng việc làm và thất nghiệp tại thành phố Việt Trì 60
3.2.2 Kết quả khảo sát việc làm tại các điểm nghiên cứu 65
3.2.3 Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết việc làm cho lao động trong quá trình đô thị hoá của thành phố Việt Trì trong những năm gần đây 69
3.3 Đánh giá những mặt đạt được, tồn tại và nguyên nhân trong giải quyết việc làm cho lao động thành phố Việt Trì trong quá trình đô thị hoá hiện nay 73
3.3.1 Những kết quả đạt được 73
3.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 77
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN NĂM 2020 83
4.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Việt Trì giai đoạn đến năm 2020 83
4.1.1 Phương hướng 83
4.1.2 Mục tiêu 83
4.1.3 Dự báo xu thế đô thị hoá trên địa bàn Thành phố 86
4.1.4 Dự báo dân số, lao động và sử dụng lao động 86
4.2 Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động thành phố Việt Trì trong quá trình đô thị hoá 87
4.2.1 Giải quyết việc làm gắn với quy hoạch phát triển đô thị 87
4.2.2 Tăng cường đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 90
Trang 84.2.3 Giải pháp về khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, tìm kiếm
việc làm 93
4.2.4 Giải pháp về sử dụng tiền đền bù theo hướng giải quyết việc làm cho người lao động 94
4.2.5 Giải pháp hỗ trợ nông dân vùng bị thu hồi đất chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp 95
4.2.6 Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lâu dài cho Thành phố 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 105
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ĐTH : Đô thị hoá
GQVL : Giải quyết việc làm GRDP : Tổng sản phẩm nội địa HĐND, UBND : Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế
KT - XH : Kinh tế, xã hội LLLĐ : Lực lượng lao động SXKD : Sản xuất kinh doanh
TP : Thành phố TTDVVL : Trung tâm dịch vụ việc làm XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: GRDP, GRDP bình quân đầu người 49
Bảng 3.2: Biến động đơn vị hành chính trên địa bàn thành phố Việt Trì 52
Bảng 3.3: Diện tích đất theo công dụng kinh tế của thành phố Việt Trì 53
Bảng 3.4: Diện tích đất theo khu vực của Thành phố Việt Trì 53
Bảng 3.5: Dân số và mật độ dân số Thành phố Việt Trì 55
Bảng 3.6: Số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh 56
Bảng 3.7: Số lao động của thành phố Việt Trì 57
Bảng 3.8: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của thành phố Việt Trì 57
Bảng 3.9: Lao động phân theo trình độ chuyên môn 59
Bảng 3.10: Tỷ trọng lao động phân theo trình độ chuyên môn của Việt Trì 59
Bảng 3.11: Số lao động làm việc theo ngành kinh tế của thành phố Việt Trì 61
Bảng 3.12: Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp, 62
Bảng 3.13: Số lao động, tỷ lệ lao động có việc làm của thành phố Việt Trì 63
Bảng 3.14: Thất nghiệp của thành phố Việt Trì 65
Bảng 3.15: Một số chỉ tiêu chủ yếu của các xã thuộc điểm nghiên cứu 67
Bảng 3.16: Kết quả thực hiện giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố Việt Trì 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) cũng
là quá trình đô thị hoá (ĐTH) diễn ra, là xu hướng tất yếu Đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hiện nay quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác, đô thị hoá cũng là một trong những tiêu chí quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước Điều kiện để thực hiện quá trình đô thị hoá cần phải mở rộng diện tích đô thị bằng cách thu hồi diện tích đất nông nghiệp để chuyển đổi thành đất đô thị, đất phục vụ khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc đất phục vụ mục đích công cộng Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của đô thị hoá, vẫn còn không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề việc làm cho người lao động, hơn nữa đối với một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp phục vụ mục tiêu đô thị hoá Do vậy, việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, nó quyết định đến mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân,
nó cũng là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề việc làm cho người lao động, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối, chính sách
về tạo việc làm cho người lao động một cách thiết thực hiệu quả Các chính sách đó nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH, ĐTH tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng
tỷ lệ sử dụng thời gian của lao động nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân
Trang 12Tuy nhiên, trong bối cảnh của nền kinh tế hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn, thách thức cần tháo gỡ Ở thành phố Việt Trì, hiện nay tốc độ ĐTH đang phát triển một cách nhanh chóng, việc thu hồi và chuyển đất nông nghiệp sang nhu cầu xây dựng đô thị và khu công nghiệp thực hiện khá khẩn trương Trong quá trình thu hồi đất thực hiện dự án, nhiều hộ nông dân đã mất 50-70% đất sản xuất, thậm chí có hộ mất 100% đất sản xuất Không còn đất canh tác người nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác như: làm thuê cho các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại, dịch vụ hoặc đi xuất khẩu lao động, làm thuê công việc cho các hộ gia đình,… Tuy nhiên, vấn đề là chuyển đổi nghề như thế nào và thời gian bao lâu để người nông dân thích nghi với nghề mới, có thu nhập ổn định nhằm đảm bảo và nâng cao mức sống đang là một câu hỏi đặt ra?
Trong giai đoạn hiện nay, sự mất cân đối trong cung, cầu việc làm đang gây sức ép tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động khu vực nông thôn trên địa bàn thành phố Việt Trì Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc làm cho người lao động vùng nông thôn thành phố Việt Trì nhằm phát huy tiềm năng nguồn lực của lao động, với mục tiêu là người lao động nông thôn có việc làm và việc làm đầy đủ với thu nhập khá và ổn định thì cần trang bị cho họ tay nghề, kiến thức chuyên môn nghề nghiệp,… Có như vậy họ sẽ tự tạo được cho mình việc làm hoặc có nhiều cơ hội hơn trong lựa chọn việc làm từ đó tạo ra sự ổn định về đời sống vật chất và tinh thần Vấn đề việc làm cho người lao động khi đã được giải quyết ổn thoả một mặt góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đồng thời góp phần giữ vững ổn định an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Việt Trì Với những
lý do đó, em đã chọn đề tài “Việc làm trong quá trình đô thị hoá tại thành
phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng việc làm của người lao động tại thành phố Việt Trì trong quá trình ĐTH, tìm ra những ưu điểm, hạn chế về tạo việc làm cho người lao động trong thời gian qua, những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết nhu cầu việc làm để nâng cao đời sống cho người lao động thành phố Việt Trì, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thành phố, của tỉnh
- Đề xuất một số giải pháp tạo việc làm cho lao động thành phố Việt Trì
trong quá trình đô thị hoá đến năm 2020
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là việc làm của người lao động trong quá trình đô thị hoá
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến 2013
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại một số xã (vùng nông thôn) có ảnh hưởng trong quá trình đô thị hoá thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tác động của đô thị hoá đến việc làm của lao động thành phố Việt Trì, lấy 3 xã ven thành phố để nghiên cứu
Trang 144 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu tham khảo, giúp cơ quan của tỉnh Phú Thọ xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và việc làm trong quá trình ĐTH ở thành phố Việt Trì Cụ thể:
Làm rõ tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trong quá trình ĐTH tới đời sống, việc làm, những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm (GQVL) cho lao động nông thôn vùng ven thành phố Việt Trì
Chỉ ra thực trạng GQVL cho lao động trong quá trình ĐTH tại thành phố Việt Trì, những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những vấn đề trên
Đề xuất một số giải pháp GQVL cho lao động trong quá trình ĐTH tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm có
4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và đô thị hoá;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng việc làm trong quá trình đô thị hoá tại thành phố
Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Chương 4: Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động tại thành
phố Việt Trì trong quá trình đô thị hoá đến năm 2020
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM
VÀ ĐÔ THỊ HOÁ 1.1 Việc làm
1.1.1 Khái niệm việc làm
Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về việc làm dưới góc độ nghiên cứu khác nhau Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc làm là phạm trù được dùng để chỉ bất cứ hoạt động nào nằm trong đường biên sản xuất của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Theo Điều 13, Bộ Luật lao động được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 23/6/1994, việc làm là các hoạt động tạo thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm Theo Tổng cục Thống kê (Tổng điều tra dân số và nhà ở
2009 và các cuộc điều tra mẫu lao động - việc làm 2007 và 2009), việc làm là mọi hoạt động lao động từ 1 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm
1.1.2 Các đặc trưng về việc làm
Có 3 thông tin cơ bản mô tả đặc trưng của việc làm đó là:
Nghề nghiệp: Theo khuyến nghị của Liên hợp quốc, nghề nghiệp được
hiểu là loại công việc mà người lao động đã làm trong tuần quan sát được quy định cho số liệu về đặc trưng kinh tế của người lao động có việc làm bất kể ngành kinh tế hoặc vị thế làm việc nào
Ngành kinh tế: Cùng với thông tin về loại công việc hay nghề nghiệp
mà cá nhân người lao động tham gia, cũng cần biết loại hoạt động mà cơ sở, nơi người lao động đang làm việc, thực hiện Theo Liên hợp quốc, ngành kinh
tế chỉ hoạt động của đơn vị, cơ sở nơi người lao động đã làm việc trong tuần quan sát quy định cho thông tin về đặc trưng kinh tế, hoặc đã làm trước đây nếu là người thất nghiệp Hoạt động của đơn vị có nghĩa là loại hàng hoá hoặc dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp
Trang 16Vị thế làm việc: (như chủ cơ sở, lao động làm thuê,…) chỉ địa vị của
một người hoạt động kinh tế trong mối liên hệ với những lao động khác, nếu có, trong cùng cơ quan/đơn vị và bao gồm các phân tổ như: người sử dụng lao động (chủ cơ sở sản xuất kinh doanh), lao động tự làm, lao động làm thuê, lao động gia đình không nhận tiền công và xã viên của một tổ sản xuất/hợp tác xã
1.1.3 Ý nghĩa của chỉ tiêu việc làm
Việc làm là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng vì các lý do chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, việc làm là cơ sở đầu tiên cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con
người, là căn cứ cho sự bình đẳng và dân chủ xã hội
Thứ hai, việc làm phản ánh mức độ tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế Thông qua đo lường chỉ tiêu người có việc làm và năng suất lao động theo từng thời kỳ, có thể tính toán được quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Thứ ba, việc làm phản ánh mức độ sử dụng lao động và khả năng tạo
việc làm của nền kinh tế thông qua chỉ tiêu về người có việc làm theo các phân tổ thời gian làm việc Mặt khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh năng suất lao động và phúc lợi xã hội của người lao động
Thứ tư, việc làm có quan hệ mật thiết và tác động trực tiếp đến tình
trạng thất nghiệp Tỷ lệ lao động có việc làm đồng nghĩa với khả năng thất nghiệp thấp và do đó góp phần làm giảm các vấn đề xã hội
Thứ năm, việc làm cũng phản ánh phần nào mức độ bất bình đẳng giới
trên thị trường lao động khi phân tổ lao động có việc làm theo giới tính, thu nhập, thời gian làm việc, vị thế công việc,…
Thứ sáu, việc làm là cơ sở quan trọng để định hướng các chiến lược và
chính sách vĩ mô
Trang 171.1.4 Sự hình thành thị trường lao động
* Sức lao động là hàng hoá
Theo các nhà khoa học kinh tế Việt Nam khái niệm “Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động ), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động” “Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác” “Thị trường “sức lao động”
là nơi thể hiện quan hệ xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền công” “Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng
lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng”
Cung và cầu lao động:
Cung lao động: Nguồn cung lao động là tập hợp tất cả những người lao động đang có nhu cầu lao động và sẵn sàng tham gia hoạt động lao động xã hội ở tại địa phương hoặc ở địa phương khác
Cầu lao động: Là tổng số nhu cầu số lượng và chất lượng lao động cần
sử dụng trên các khu vực sản xuất, dịch vụ ở một địa phương
1.1.5 Thất nghiệp, thiếu việc làm
* Khái niệm, định nghĩa về thất nghiệp và thiếu việc làm:
a Thất nghiệp: Định nghĩa chuẩn quốc tế về thất nghiệp được dựa trên
ba tiêu chuẩn phải thoả mãn riêng nếu có thể Mặt khác, người có việc làm
Trang 18tìm công việc khác hoặc công việc làm thêm phải loại ra khỏi nhóm người thất nghiệp Cụ thể:
Không làm việc
Tiêu chuẩn “không làm việc” nhằm đưa ra ranh giới phân biệt giữa làm việc và không làm việc để đảm bảo rằng làm việc và thất nghiệp loại trừ lẫn nhau, với ưu tiên cho làm việc Do đó, một người được xem là không làm việc nếu trong thời kỳ quan sát người đó không làm bất kỳ công việc gì, cũng không tạm nghỉ việc Hai tiêu chuẩn còn lại của định nghĩa chuẩn về thất nghiệp, tức, “sẵn sàng làm việc” và “tìm việc làm”, nhằm phân biệt trong dân số không làm việc những người thất nghiệp với những người không hoạt động kinh tế
Tìm việc làm
Phù hợp với nguyên tắc hoạt động của phương pháp lực lượng lao động, tiêu chuẩn “tìm việc làm” được xây dựng theo định nghĩa tìm việc làm thực sự Để được xem là tìm việc làm, thì người đó phải có những biện pháp
cụ thể trong khoảng thời gian cụ thể gần đây để nhận được việc làm
Sẵn sàng làm việc ngay
Theo tiêu chuẩn quốc tế, để được xếp là thất nghiệp thì trong thời kỳ quan sát người đó phải sẵn sàng làm việc ngay Sẵn sàng làm việc có nghĩa là,
có một cơ hội việc làm thì người đó có thể và bắt tay làm việc ngay
Theo Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia năm 2011, người thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần quan sát thoả mãn đồng thời ba điều kiện (i) không làm việc, (ii) sẵn sàng làm việc, (iii) đang tìm việc làm, kể cả những người trước đó chưa bao giờ làm việc Những người không làm việc, sẵn sàng/có nhu cầu làm việc, những hiện không tìm việc do giãn việc, thời tiết xấu, công việc thời vụ, đang chuẩn bị để bắt đầu công việc mới, hoặc các hoạt động kinh doanh sau tuần tham chiếu, bận việc gia đình, ốm đau tạm thời cũng được phân loại là người thất nghiệp
Trang 19b Thiếu việc làm: ILO đã đưa ra định nghĩa chung về thiếu việc làm
như sau: Thiếu việc làm là sự chênh lệch giữa khối lượng công việc được thực hiện bởi một lao động có việc làm và khối lượng công việc bình thường có thể làm được và muốn làm Để có thể đo lường được, ILO đã làm cho định nghĩa này cụ thể hơn bằng cách chia “thiếu việc làm” thành hai nhóm chính: thiếu việc làm hữu hình, khi người đó không tự nguyện làm ít thời gian hơn bình thường và thiếu việc làm vô hình, khi người đó làm đủ thời gian nhưng công việc không phù hợp vì thu nhập quá thấp hoặc công việc không đòi hỏi hết khả năng chuyên môn của người lao động
Theo ILO, thiếu việc làm phản ánh mức độ sử dụng thấp năng lực sản xuất của dân số có việc làm, kể cả mức độ sử dụng thấp nẩy sinh từ một hệ thống kinh tế yếu kém Sử dụng thấp có liên quan tới tình trạng việc làm trong
đó người lao động muốn và sẵn sàng tham gia
* Ý nghĩa của chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm:
Thất nghiệp và thiếu việc làm là vấn đề kinh tế và xã hội của hầu hết các nước trên thế giới Đến nay, vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm đang được nhiều đối tượng quan tâm, nhất là việc thất nghiệp ở khu vực thành thị
và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn Các chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm được quan tâm vì một số lý do chính sau đây:
Thứ nhất, các chỉ tiêu về thất nghiệp và thiếu việc làm phản ánh mức
độ phát triển của nền kinh tế Thông qua việc đo lường chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm theo từng thời kỳ, có thể tính được quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Thứ hai, các chỉ tiêu này phản ánh mức độ thoả dụng lao động của
nền kinh tế thông qua chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm được phân tổ theo thời gian thất nghiệp, loại thất nghiệp và mức độ thiếu việc làm Đồng thời các chỉ tiêu này cũng phản ánh năng suất lao động và phúc lợi xã hội của người lao động
Trang 20Thứ ba, các chỉ tiêu này phản ánh mức độ bất bình đẳng giới Chỉ
tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm phân tổ theo giới tính, thời gian thất nghiệp, loại thất nghiệp, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, nhóm tuổi,… sẽ cho thấy bức tranh toàn cảnh về chênh lệch giữa nam và nữ trong chủ đề thất nghiệp
Thứ tư, các chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để xây dựng các chiến lược
và chính sách vĩ mô Thông tin về thất nghiệp, thiếu việc làm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và đánh giá các chính sách về đào tạo (đặc biệt là đào tạo nghề) và phát triển nguồn nhân lực, chiến lược phát triển kinh
tế và chiến lược việc làm; chính sách liên quan đến phát triển thị trường lao động; chính sách tiền lương và tiền công; chính sách xã hội,…
1.2 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và Đô thị hoá
1.2.1 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Dưới góc độ kinh tế, quá trình chuyển đổi nông thôn được hiểu là quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ Trong đó:
- CNH-HĐH là quá trình chuyển nền sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá dưới tác động của công nghiệp, chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn là giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ Quá trình chuyển đổi ở nông thôn đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn, phát huy thế mạnh, tiềm năng của các địa phương Quá trình này đồng nghĩa với việc gia tăng các mô hình trồng trọt, chăn nuôi có quy mô lớn gắn liền với sản xuất hàng hóa: mô hình hộ gia đình vừa sản xuất hàng hóa, vừa kinh doanh phục vụ sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản; mô hình sản xuất trang trại; các làng nghề dịch vụ nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp; chế biến nông sản Từ đó, cơ cấu kinh tế ở nông thôn
có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
Trang 21Song song với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phân công lao động ở nông thôn cũng diễn ra theo hướng lao động nông nghiệp, nông thôn ngày càng giảm, lao động ở các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ tăng lên hay việc làm của người lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng thay đổi theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình thay đổi cơ bản kết cấu kinh tế xã hội nông thôn, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp Quá trình CNH, HĐH diễn ra
ở khu vực nông thôn gắn liền với quá trình chuyển đổi đất đai từ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ hoặc phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng Kết quả của quá trình đó chính là đô thị hóa khu vực nông nghiệp, nông thôn
1.2.2 Đô thị hóa
- Có nhiều cách hiểu khác nhau về đô thị hóa:
Theo cách tiếp cận của nhân khẩu học và địa lý kinh tế thì ĐTH chính là
sự di cư từ nông thôn vào thành thị, sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị Đó là quá trình gia tăng tỷ
lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia Theo cách tiếp cận này, chỉ tiêu tỷ lệ phần trăm dân số đô thị trên tổng dân số dường như là chỉ tiêu duy nhất đo lường mức độ ĐTH Vì thế nó không giải thích được tầm quan trọng và vai trò của ĐTH đối với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện đại
Theo cách tiếp cận xã hội học, đô thị hóa được hiểu rộng hơn, đó là quá
trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại, là sự thay đổi những phương thức hay hình thức cư trú của nhân loại Theo cách hiểu này, ĐTH không chỉ thay đổi phương thức sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh tế, mà còn là sự thay đổi lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và cá nhân, trong đó các quan hệ xã hội, các mô hình hành vi và ứng xử tương ứng với điều kiện CNH, HĐH và ĐTH
Trang 22Theo quan điểm một vùng, ĐTH là quá trình hình thành, phát triển các
hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Theo quan điểm nền kinh tế quốc dân, ĐTH là quá trình biến đổi về sự
phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải thành thị thành đô thị Ngày nay, khi mà đô thị hóa luôn gắn liền với CNH đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến trên thế giới thì cách hiểu về ĐTH cũng có những thay đổi, cách hiểu được nhiều người chấp nhận, ĐTH là quá trình mang tính quy luật gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội từ nông nghiệp - nông dân - nông thôn sang công nghiệp - thị dân - đô thị
Tóm lại, theo quan điểm của tác giả thì ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất
kỹ thuật và tăng quy mô dân số
1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của đô thị hóa
Một là, ĐTH không phải là kết quả, mà là một quá trình lâu dài diễn ra
trên một không gian lãnh thổ rộng lớn;
Hai là, tiền đề cơ bản của ĐTH là sự phát triển công nghiệp, hay CNH,
HĐH Trong quá trình ĐTH có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ;
Ba là, ĐTH là quá trình hình thành, nâng cấp và mở rộng quy mô đô thị
với cơ sở hạ tầng hiện đại;
Bốn là, các làn sóng di cư từ nông thôn đến đô thị làm tăng nhanh quy
mô dân số đô thị, tạo sự chuyển dịch từ lối sống phân tán, mật đọ dân số thưa thớt sang lối sống tập trung, mật độ dân số cao Điều đó dẫn đến sự bố trí lại dân cư, thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội;
Năm là, không gian đô thị ngày càng mở rộng, cùng với nó là sự thu
hẹp đất nông nghiệp để phát triển các khu đô thị mới, khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch;
Trang 23Sáu là, tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị ngày càng gia tăng, thể
hiện ở sự gia tăng của quy mô và tốc độ thu hút vốn, gia tăng số lượng và quy
mô các đơn vị kinh tế;
Bảy là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn
hóa làng xã sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp;
Tám là, cùng với quá trình đô thị hóa là sự thay đổi về cơ chế, chính
sách phát triển và quản lý đô thị
Ngoài những đặc trưng chung nêu trên, ĐTH của Việt Nam còn có đặc trưng riêng gắn liền với đặc điểm của nước nông nghiệp truyền thống, đó là ĐTH có tính chất điển hình Tính chất này có nguồn gốc từ sự tồn tại đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị ở mọi phương diện, từ không gian địa lý,
cơ sở hạ tầng, dân cư, tôn giáo, văn hóa cho đến các hoạt động kinh tế Làng trong phố, phường, cư dân nông thôn hoạt động nông nghiệp với nếp sống làng, xã truyền thống vẫn còn đang hiện hữu ngay trong lòng hầu hết các đô thị ở Việt Nam
1.2.4 Các hình thức biểu hiện của đô thị hóa
Đô thị hoá có hai hình thức biểu hiện, đó là:
- ĐTH theo chiều rộng, trong đó quá trình ĐTH diễn ra tại các khu vực trước đây không phải là đô thị Đó là quá trình mở rộng quy mô diện tích các
đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các đô thị mới, các thành phố, thị xã, các phường, thị trấn mới Với hình thức này, dân số và diện tích đô thị không ngừng gia tăng Sự hình thành các đô thị mới được tạo ra trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp, thương mại và dịch vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô ĐTH theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển trong thời kỳ đầu CNH
- ĐTH theo chiều sâu, đó là quá trình hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện có Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phương thức và các
Trang 24hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng tăng cường, hiệu quả kinh tế - xã hội cũng ngày càng được cải thiện và nâng cao
1.2.5 Những đặc điểm của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam
Quá trình ĐTH ở Việt Nam có những đặc điểm riêng, khác với các quốc gia khác đó là: Việt Nam đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh kéo dài, cùng với đó quá trình ĐTH diễn ra chậm chạp Quá trình ĐTH ở Việt Nam có thể chia thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước 1954, thời kỳ này đất nước ta chịu sự đô hộ của thực dân Pháp Sau khi giành được quyền kiểm soát, thực dân Pháp một mặt tích cực củng cố bộ máy chính quyền tay sai, mặt khác tích cực công cuộc khai thác thuộc địa Hai đô thị lớn là Hà Nội và Sài Gòn là nơi tập trung bộ máy chính quyền thực dân được thực dân Pháp mở rộng quy mô với những quy hoạch cụ thể nhưng mức độ vẫn còn hạn chế, dân cư chỉ mới hơn 40 ngàn người và diện tích thì nhỏ hẹp Nhằm thuận tiện cho việc vận chuyển các loại tài nguyên khai thác được từ Việt Nam về nước, thực dân Pháp đã thực hiện xây dựng các bến cảng mới ở Hòn Gai, Hải Phòng Quy mô của các đô thị này còn nhỏ, hẹp và được xây dựng từ những làng chài ven biển Bên cạnh đó các trung tâm chính trị tại các tỉnh lỵ nơi thực dân Pháp đặt bộ máy cai trị của vùng thì mức độ ĐTH hầu như không diễn ra Kết quả trong thời kỳ Pháp thuộc, quá trình ĐTH ở Việt Nam diễn ra rất chậm và hầu như không đem lại nhiều sự thay đổi về mặt kinh tế - xã hội
- Giai đoạn 1954-1975, tại miền Bắc, một số trung tâm kinh tế được thành lập như khu công nghiệp hoá chất Việt Trì, khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, tại những nơi này quá trình ĐTH đã diễn ra Tuy nhiên, thời kỳ này tốc độ ĐTH ở miền Bắc còn chậm do sự đánh phá của giặc Mỹ Với miền Nam, nơi đang trực tiếp diễn ra cuộc chiến tranh, hầu hết các đô thị được tổ chức theo mô hình khép kín thời chiến, mức độ mở rộng đô thị, hình thành
Trang 25mới đô thị đã phát triển kinh tế hầu như không có Tóm lại, thời kỳ này tốc độ ĐTH ở Việt Nam còn rất chậm
- Giai đoạn 1975-1989, thời kỳ này đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, những thay đổi trong chính sách chưa thật sự phù hợp cho một thời kỳ mới để phát triển của đất nước Nền kinh tế phát triển chậm, giao thương hàng hoá hạn chế, cách thức quản lý hành chính về dân cư còn cứng nhắc không tạo điều kiện cho quá trình di dân vùng nông thôn ra thành thị, giai đoạn này tốc
độ ĐTH ở Việt Nam chỉ mức 15%
- Giai đoạn 1990 đến nay, bước vào thời kỳ đổi mới, với những chính sách cởi mở, tạo điều kiện cho người dân đầu tư làm kinh tế, hàng loạt các khu công nghiệp ra đời kéo theo sự hình thành các khu đô thị mới Các trung tâm đô thị trở thành nơi thu hút lao động ở các vùng lân cận và quá trình mở rộng đô thị ra các vùng ngoại thành diễn ra nhanh chóng Trong vòng hơn 20 năm đổi mới, số lượng đô thị tăng lên khá nhanh, năm 2006 cả nước có 675
đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 30 thành phố và 57 thị
xã thuộc tỉnh Tính đến 31/12/2013 cả nước có 770 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 59 thành phố và 92 quận và thị xã trực thuộc tỉnh Dân số đô thị năm 2006 chiếm 27,66%, năm 2010 là 30,50%, năm 2013 là 33,0%, dự báo năm 2020 sẽ là 45% Có thể nói quá trình ĐTH ở Việt Nam chỉ thực sự diễn ra từ năm 1990 và theo đó đã tạo ra được những thay đổi căn bản cho mọi mặt đời sống KT-XH của đất nước
Đô thị ở Việt Nam hình thành diễn ra trong quá trình CNH, HĐH đất nước theo các xu hướng sau đây:
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô thị lớn: đây là một xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị là biểu hiện tính chất chuyên môn hoá cao trong sản xuất Tất cả các hoạt động sản xuất có cùng đặc điểm, tính chất được tập trung vào một khu vực tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất với năng suất hiệu quả
Trang 26hơn và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của đô thị, thị trường lao động phong phú hơn
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại ở các ngoại ô:
sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng có tính khách quan nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên của chính vùng đó Đó là biểu hiện tính tập trung hoá trong sản xuất Tuy nhiên, quy
mô sản xuất và hoạt động thương mại, dịch vụ sẽ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng để đảm bảo tính hoạt động có hiệu quả Đồng thời các trung tâm này là điểm nối hay sự chuyển tiếp giữa các đô thị lớn làm cho tính hiệu quả của hệ thống đô thị được nâng cao Trong quá trình đô thị hoá, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn
- Mở rộng các đô thị hiện có: việc mở rộng các đô thị hiện có theo mô hình làn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khả năng mở có thể thực hiện tương đối dễ Xu hướng này sẽ tạo sự ổn định tương đối và giải quyết các vấn đề quá tải cho các đô thị hiện có
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: đây là một xu hướng hiện tại được thực hiện trong điều kiện có sự đầu tư lớn của Nhà nước Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài chính để cải tạo đất, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại
- Thành lập các đô thị mới: khu đô thị mới là khu đô thị đang được phát triển tập trung theo dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh đồng bộ các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình sản xuất và công trình phúc lợi và nhà ở Các
đô thị mới thường được gắn với một đô thị hiện có hoặc với một đô thị mới đang hình thành
Xây dựng các khu đô thị mới thực chất là quá trình ĐTH và là “từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, cơ sở hạ tầng KT-XH, kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý
Trang 27trên địa bàn cả nước, đảm bảo mỗi đô thị, theo vị trí, chức năng của mình phát huy được đầy đủ các thế mạnh góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược
là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” (Quyết định số TTg ngày 23 tháng 10 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020)
10/1998/QĐ-Xây dựng khu đô thị mới là kết quả của việc thực hiện quá trình CNH, HĐH và ĐTH đất nước với yêu cầu thực tế cải tạo, chỉnh trang những thành phố quá chật chội, sự quá tải về dân số, được xây dựng thiếu quy hoạch từ những năm trước Việc xây dựng các đô thị kiểu mới, đô thị hiện đại chỉ có thể thực hiện trong điều kiện kinh tế cho phép và đặc biệt dưới sự đầu tư hợp tác với nước ngoài
Như vậy, với sự hình thành đô thị theo xu hướng trên thì ĐTH ở Việt Nam diễn ra theo chiều rộng Quá trình ĐTH theo chiều rộng sẽ làm giảm diện tích đất nông, lâm nghiệp để tăng diện tích đất cho xây dựng các khu đô thị mới, các khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng đô thị Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc làm cho lao động nông thôn nói riêng và khu vực nông thôn nói chung
1.3 Những tác động của đô thị hoá đến kinh tế, xã hội nói chung và nông nghiệp, nông thôn
ĐTH nông nghiệp nông thôn chính là kết quả của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với việc xây dựng một nền văn minh công nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn Trong các loại ĐTH thì ĐTH nông thôn là xu hướng bền vững, đó là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các vùng nông thôn Quá trình ĐTH này sẽ tác động đến nhiều mặt ở khu vực nông thôn trong đó có cả những tác động tích cực và tiêu cực Cụ thể:
1.3.1 Tác động tích cực
1.3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn
Quá trình ĐTH gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, thay vào đó là các chính
Trang 28sách về đất đai ưu tiên cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ Do đó đã dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng giá
trị sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, không còn phương tiện
để sản xuất, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, kinh doanh dịch
vụ hình thành trong quá trình ĐTH đã thu hút lao động làm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Đây chính là chuyển dịch sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp và là tiền đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng hiện đại, thu nhập người lao động tăng lên Tuy nhiên tính bền vững của cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động còn yếu do lực lượng sản xuất chưa phát triển phù hợp với phương thức sản xuất
1.3.1.2 Phát triển cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn
Quá trình ĐTH là quá trình hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng kỹ thuật như cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống chợ,
hệ thống giao thông,… được hoàn thiện từng bước trong các khu dân cư Trong những năm qua cơ sở hạ tầng nông thôn không ngừng được cải thiện Theo số liệu thống kê, năm 2006 số xã có điện là 98,9%, số thôn có điện là 92,4%, số hộ có sử dụng điện là 94,2% thì đến năm 2013 còn số này tương ứng là 99,8%, 95,5% và 97,3%
Giao thông nông thôn có nhiều khởi sắc cả về số lượng và chất lượng ở đường xã, đường liên thôn và đường nội đồng Theo số liệu thống kê, năm
2006 cả nước có 8.783 xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã (chiếm 96,9%), kết quả này năm 2013 là 9.051 xã (chiếm tỷ lệ 98,3%) Tỷ lệ xã có đường đến UBND xã được nhựa, bê tông hoá tăng nhanh trong thời gian qua Theo số liệu thống kê cho thấy đến năm 2013, số xã có đường ô tô đến UBND xã được nhựa hoặc bê tông hoá tăng 1.572 xã (+24,7%) so với năm 2006; chiếm 87,4% tổng số xã
Trang 291.3.1.3 Tạo việc làm cho người lao động
- ĐTH tạo nhiều việc làm mới trong các lĩnh vực công nghiêp, xây dựng, thương mại và dịch vụ
- ĐTH làm tăng chỗ việc làm trong khu vực kinh tế không chính thức
- ĐTH mở rộng khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm của người lao động
- ĐTH là tăng chỗ việc làm tạm do quy hoạch mở rộng không gian đô thị, cải tạo, nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
1.3.2 Tác động tiêu cực
1.3.2.1 Biến đổi môi trường sinh thái của khu vực nông thôn
Cùng với quá trình ĐTH theo chiều rộng là việc hình thành các khu, cụm công nghiệp ở khu vực nông thôn Thực hiện chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư, các cấp chính quyền đã bỏ qua những quy định về vấn đề môi trường Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng thực sự không quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải công nghiệp, đặc biệt là các chất thải nguy hại nên đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước ở khu vực này Ngoài ra trong quá trình ĐTH, chưa quy hoạch các điểm thu gom rác thải sinh hoạt một cách khoa học đã dẫn đến hiện tượng người dân tự
ý vứt rác thải một cách bừa bãi hoặc các điểm thu gom rác quá gần khu dân cư Điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống người dân ở khu vực này và khu vực lân cận, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở các khu vực đất đai còn lại
1.3.2.2 Biến đổi môi trường sống của cư dân khu vực nông thôn
Quá trình ĐTH đã làm thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống và phương thức kiếm sống của người dân nông thôn, nhất là người dân bị thu hồi đất để xây dựng các cụm công nghiệp và khu đô thị mới Nông thôn vốn là nơi đã dư thừa lao động, quá trình ĐTH làm một bộ phận người lao động diện thu hồi đất nông nghiệp không có việc làm đã tạo nên sức ép dư thừa lao động ngày càng
Trang 30tăng Thêm vào đó, số tiền Nhà nước đền bù đất để tạo công ăn việc làm mới ở một số hộ gia đình đã không được sử dụng đúng mục đích mà đã sử dụng để xây dựng nhà cửa, mua sắm vật dụng, tài sản phục vụ cuộc sống và sử dụng vào một số việc không có ý nghĩa Từ đó đồng tiền đền bù đất đã không được
sử dụng có hiệu quả, trái lại còn gây ra một số tệ nạn xã hội
Trong ĐTH, quá trình tiếp thu khoa học công nghệ, văn hoá mới đồng thời cũng là quá trình du nhập văn hoá không phù hợp với văn hoá truyền thống dân tộc Khu vực nông thôn bị ảnh hưởng bởi lối sống thành thị đã làm mất đi phong tục, tập quán, lối sống truyền thống ở khu vực nông thôn
Quá trình ĐTH diễn ra, cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn có những cải thiện rõ rệt, đã từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Tuy nhiên trong quá trình phát triển cần tính đến sự hợp lý của việc xây dựng cơ
sở hạ tầng nhằm đảm bảo khai thác tối đa lợi ích của việc đầu tư, tránh lãng phí hoặc đầu tư xây dựng không phù hợp
1.3.3 Mối quan hệ giữa việc làm và đô thị hoá
Giữa ĐTH và việc làm có mối quan hệ biện chứng với nhau, đó là: ĐTH tạo điều kiện tiền đề cho việc hình thành việc làm cho người lao động tại những đơn vị kinh tế được thành lập do quá trình đô thị hoá như: doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, tại các hộ gia đình,… Tuy nhiên, một mặt ĐTH cũng có những tác động tiêu cực phát sinh làm nhiều lao động lâm vào hoàn cảnh không có việc làm do trong quá trình ĐTH đã sử dụng tư liệu sản xuất là đất đai của người nông dân; quá trình ĐTH diễn ra cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ cũng ảnh hưởng đến việc làm của người lao động, cụ thể: công nghệ tiên tiến thay cho sức lao động của con người, đó là nguyên nhân gây nên tình trạng bị thất nghiệp đối với những lao động không có trình độ chuyên môn hoặc trình độ chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu mới
Trang 311.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm của người lao động trong quá trình đô thị hoá
1.4.1 Chính sách vĩ mô của Nhà nước
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có liên quan đến việc giải quyết việc làm nói chung và việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình ĐTH nói riêng không chỉ tác động trực tiếp đến quy mô số lượng, chất lượng lao động khu vực đô thị mà còn tác động đến số lượng, chất lượng những chỗ việc làm mới sẽ được tạo ra Cụ thể:
- Chính sách tiền lương: tiền lương, tiền công là sự biểu hiện của giá cả sức lao động trên thị trường sức lao động Trên thực tế, ở một mức độ nào đó Nhà nước có thể can thiệp một cách gián tiếp đến việc hình thành tiền công, tiền lương Ví dụ, để bảo vệ lợi ích của người lao động cần đặt chủ doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động dưới áp lực của các tổ chức đoàn thể, hội nghề nghiệp của người lao động Nhà nước có thể quy định mức lương tối thiểu ở một mức cao Với việc quy định mức lương tối thiểu cao ở khu vực đô thị có thể tạo động lực khuyến khích nâng cao năng suất lao động, chất lượng công việc Từ đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo mở nhiều việc làm mới ở
cả khu vực chính thức và khu vực kinh tế không chính thức, góp phần giải quyết áp lực về việc làm Tuy nhiên, với chính tiền công, tiền lương cao sẽ là một lực hút mạnh mẽ cho sự di dân từ vùng nông thôn ra thành thị và lúc này lại trở thành áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm
- Chính sách giáo dục, đào tạo: Một chính sách giáo dục đào tạo tốt ít nhất hội tụ đủ hai tiêu chuẩn cơ bản: một là, cung cấp đủ số lượng lao động cho số lượng việc làm tạo ra; hai là, cơ cấu về giáo dục đào tạo, bao gồm cơ cấu về giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề đào tạo theo vùng, khu vực phải phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ĐTH Chính sách giáo dục, đào tạo tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết việc làm ở tất cả các khu vực đặc biệt là khu vực nông thôn đang trong quá trình ĐTH
Trang 32- Chính sách đất đai, nhà ở: Nhà ở, đất đai không chỉ là tài sản có chức năng làm nơi cư trú mà còn có chức năng kinh tế Vì vậy, chính sách đất đai, nhà ở, phát triển cơ sở hạ tầng ở các khu đô thị tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và thay đổi chức năng kinh tế của nhà ở, đất đai, vị trí nơi cư trú,… do đó chính sách này cũng đã tác động đến số lượng, cơ cấu việc làm
có khả năng được tạo ra
1.4.2 Lựa chọn mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế và lựa chọn công nghệ
Trên phương diện lý thuyết, lựa chọn mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tức là nghiên cứu lựa chọn cách thức khai thác và sử dụng các nguồn lực: vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ Việc khai thác và sử dụng ít hay nhiều lao động là do sự lựa chọn mô hình tăng trưởng quyết định
- Tăng trưởng dựa trên việc sử dụng công nghệ cao: việc lựa chọn công nghệ càng hiện đại, mức tự động hoá càng cao, cần nhiều vốn sẽ làm giảm chỗ việc làm năng suất thấp với lao động thủ công và tăng chỗ việc làm có chất lượng, năng suất cao với lao động có trình độ chuyên môn cao
- Tăng trưởng dựa trên công nghệ nhiều tầng: là sự lựa chọn nhiều loại công nghệ, cả công nghệ thấp và công nghệ cao Công nghệ cao áp dụng cho các ngành mũi nhọn làm động lực thúc đẩy tăng trưởng, còn công nghệ thấp vào một số ngành không trọng tâm hoặc vì lý do thiếu vốn, thừa lao động
- Tăng trưởng dựa trên công nghệ thấp, sử dụng nhiều lao động: đây là công nghệ giải quyết được nhiều việc làm nhất là ở những nơi đông dân, lao động trình độ thấp thì việc lựa chọn công nghệ này sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm
Đối với khu vực nông thôn, nơi có nguồn lao động dồi dào và chủ yếu
là lao động trình độ chuyên môn thấp, chưa qua đào tạo Do đó nếu lựa chọn tăng trưởng dựa vào công nghệ thấp thì sẽ giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn, ngược lại dựa vào công nghệ cao thì sẽ làm cho một số lượng lao động nông thôn thất nghiệp ngày càng nhiều
Trang 331.4.3 Thị trường lao động
Chuyển đổi việc làm cho lao động mất việc làm do mất đất chịu sự tác động lớn của xu hướng phát triển thị trường lao động địa phương, vùng và liên vùng Tại các vùng thị trường lao động phát triển mang tính thống nhất cao, ít bị phân mảng, có sự hoạt động mạnh của quan hệ cung - cầu lao động, môi trường thị trường lao động được thiết lập thuận lợi (hệ thống tư vấn, giới thiệu việc làm,… ) thì cơ hội việc làm của lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất lớn hơn Các mối liên hệ giữa thị trường lao động với khả năng chuyển đổi việc làm của lao động mất việc làm do mất đất thể hiện ở:
- Hoạt động của quy luật cung - cầu sức lao động là điều kiện cơ bản để lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lựa chọn, tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng chuyên môn - kỹ thuật của mỗi người
- Sự liên kết thị trường lao động các địa phương trong vùng thúc đẩy sự di chuyển sức lao động của các địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đất dưới tác động của giá cả sức lao động
- Thị trường lao động phát triển sẽ mở rộng được quy mô lao động làm công ăn lương, tạo sức thu hút lao động nông nghiệp của các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất vào làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp (công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ)
- Cạnh tranh trên thị trường lao động có tác động kích thích lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất tích cực tham gia đào tạo, nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và nâng cao thu nhập
Như vậy, vai trò của thị trường lao động có tác động lớn đối với việc chuyển đổi nghề cho lao động mất việc làm tại các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất Do đó, thực hiện các giải pháp thúc đẩy sự phát triển hoạt động lành mạnh của thị trường lao động các địa phương, thị trường lao động vùng là nhân
Trang 34tố quan trọng để hỗ trợ cho việc chuyển đổi việc làm cho lao động bị mất việc làm trong quá trình ĐTH
1.4.4 Đặc điểm của người lao động
Đặc điểm của người lao động bao gồm đặc điểm về nhân khẩu, đặc điểm về giáo dục (học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề), đặc điểm
về kinh tế (mức sống, thu nhập, thói quen chi tiêu, nhà ở, tài sản,…), đặc điểm về văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, tác phong lao động, khả năng thích ứng với những thay đổi,… sẽ quyết định đến khả năng giam gia vào thị trường lao động, tác động đến sự lựa chọn cơ cấu và nhu cầu sử dụng các yếu
tố đầu vào của các cơ sở kinh tế khi người lao động được tuyển dụng Trong môi trường KT-XH sôi động thì cơ hội tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc tự tạo việc làm cho bản thân người lao động trong nhiều trường hợp lại được quyết định bởi khả năng của người lao động trong việc thiết lập các mối quan hệ để nhận được sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng và nhà nước về công ăn việc làm Thái độ tích cực, sự năng động và niềm tin của bản thân người lao động về khả năng tìm kiếm việc làm cũng là một trong những nhân tố quan trọng để có cơ hội tìm được việc làm phù hợp
Hầu hết ở các khu vực ĐTH ở nước ta hiện nay thường có số lượng lao động cao nhưng chất lượng lao động không đáp ứng các yêu cầu Tình trạng
dư thừa lao động, thiếu việc làm, thất nghiệp với tỷ lệ cao là một trong những nguyên nhân cản trở quá trình ĐTH, CNH Chất lượng lao động thấp, thu nhập không ổn định, hầu như chỉ đủ trang trải cho bản thân, do vậy nhu cầu tìm được việc làm có thu nhập ổn định đủ khả năng cho chi dùng của gia đình gây nên một áp lực cho KT-XH tại khu vực ĐTH Bên cạnh đó, thu nhập thấp cũng là lý do cản trở việc tham gia của người lao động vào các chương trình giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng lao động Vì vậy việc nâng cao chất lượng nguồn lao động tại đô thị nói chung và vùng đang trong quá trình ĐTH nói riêng là một yêu cầu vô cùng bức thiết
Trang 351.4.5 Tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, quy mô hội tụ kinh tế đô thị
Quá trình ĐTH cũng là kết quả của quá trình CNH Tốc độ CNH nhanh
sẽ tạo nhiều việc làm, giảm tình trạng thất nghiệp Tuy nhiên trong quá trình
đó cũng tiềm ẩn những nguy cơ người lao động bị thất nghiệp khi chất lượng lao động của người lao động tại khu vực ĐTH, CNH không đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi về công nghệ sản xuất Tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị là nhân tố tổng hợp tác động trực tiếp đến tăng trưởng, phát triển kinh tế vùng
đô thị Nó thể hiện mức độ tập trung ngày càng cao các nguồn lực cho phát triển kinh tế đô thị và mức độ sôi động của các hoạt động kinh tế ở đô thị, nhất là các hoạt động phi nông nghiệp như công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ Tốc độ ĐTH càng nhanh thì tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị càng cao, nó quyết định đến số lượng, chất lượng việc làm được tạo ra, đồng thời cũng tạo ra được một môi trường KT-XH thuận lợi để người lao động có thể tiếp cận thông tin, các dịch vụ việc làm và thực hiện các dịch vụ trên thị trường lao động
1.5 Kinh nghiệm của một số địa phương về giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hoá
1.5.1 Kinh nghiệm của các tỉnh bạn
1.5.1.1 Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Thị xã Phúc Yên có 10 đơn vị hành chính (6 phường: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng, Xuân Hoà, Đồng Xuân và 4 xã: Ngọc Thanh, Cao Minh, Nam Viêm, Tiền Châu) Thị xã Phúc Yên có 116.898 nhân khẩu (tính đến năm 2013), mật độ dân số trung bình là 772 người/km2
Trang 36Yên đã, đang và sẽ phát triển mạnh mẽ các khu đô thị để thu hút dân cư các vùng phụ cận của Hà Nội
Ở Phúc Yên, các chương trình quốc gia giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả Thị xã Phúc Yên đã quan tâm triển khai thực hiện các Nghị quyết của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc về hỗ trợ cho lao động vùng dành đất nông nghiệp cho công nghiệp và đô thị Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện và nâng cao Mỗi năm bình quân có 2.500 - 3.000 lao động được giải quyết việc làm Những kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho người lao động có hiệu quả đã được áp dụng thời gian qua tại Thị xã Phúc Yên chủ yếu như sau:
- Hoàn thiện việc quy hoạch đất đai và quản lý tốt kinh phí trong đền
bù, giải phóng mặt bằng Việc quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cũng như các khu đô thị mới cần được thông qua một cách công khai sớm trước mọi người dân và cần chỉ rõ thời gian cần thu hồi, quy mô cần thu hồi để người dân có kế hoạch chủ động trong tìm kiếm việc làm, chuyển đổi ngành nghề cũng như có kế hoạch sản xuất phù hợp
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế: việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh kinh tế công nghiệp, dịch vụ để tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và phát triển du lịch Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại cũng đã giải quyết việc làm cho người lao động một cách có hiệu quả và tương đối bền vững vì thu nhập của người lao động ở các ngành trên cao hơn thu nhập của người lao động hoạt động nông nghiệp thuần tuý
- Tổ chức đào tạo nghề cho nông dân: nhìn chung, nông dân Phúc Yên nói riêng và nông dân Việt Nam nói chung đều có chất lượng thấp: trình độ chuyên môn chưa sâu, tay nghề còn hạn chế, còn tuỳ tiện trong sản xuất kinh doanh,… nên chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại, công nghiệp Chính vì vậy, sau khi thu hồi đất, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng nhận lại những lao động trong vùng giải toả làm công nhân của doanh nghiệp Tuy
Trang 37nhiên do trình độ thấp không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp nên một bộ phận công nhân bị loại thải hoặc tự rút lui do không đáp ứng được yêu cầu Chính vì vậy, đào tạo nghề cho bà con nông dân là một việc không thể thiếu
Để việc đào tạo nghề thực sự hữu hiệu cần rà soát lại hệ thống các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, xem xét nhu cầu về lao động của họ để đào tạo, ngoài ra, cần làm tốt công tác tư vấn để người lao động có thể chọn nghề phù hợp với khả năng và sức khoẻ của họ
- Tăng cường các hoạt động hỗ trợ để khuyến khích người lao động tìm kiếm việc làm và phát triển sản xuất Trong điều kiện hiện nay, nếu người nông dân không được sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ rất khó khăn, vì vậy bất cứ
sự trợ giúp nào cũng sẽ là tác động quan trọng giúp người nông dân nhanh chóng ổn định cuộc sống sau thu hồi đất Các biện pháp hỗ trợ đã được thực hiện có hiệu quả như: trợ giúp về vốn, hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho các hộ
bị mất đất trong quá trình ĐTH, các tổ chức đoàn thể cũng có thể có những hỗ trợ khác trợ giúp cho bà con nông dân thông qua các hoạt động phong trào giúp nhau làm kinh tế, làm trung gian tìm kiếm thông tin về việc làm để cung cấp cho những người có nhu cầu tìm việc làm Ngoài ra, cần làm tốt công tác thông tin tuyên truyền để người lao động biết lượng sức mình chọn những ngành nghề phù hợp tham gia đào tạo
- Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, tăng cơ hội việc làm ngoài nước cho người lao động Đây được coi là một trong những biện pháp tạo việc làm hiệu quả và thiết thực được nhắc tới rất nhiều trong những năm gần đây Các cơ quan chức năng cần có sự liên kết với nhau trong việc tổ chức thực hiện, sao cho những người bị thu hồi đất sẽ được ưu tiên đi trước, số còn lại mới dành cho các đối tượng khác Tuy nhiên, để việc xuất khẩu lao động được thuận lợi, người lao động cũng cần được đào tạo cả về ngoại ngữ, ý thức
tổ chức kỉ luật và chuyên môn kỹ thuật
- Phát triển thông tin thị trường lao động, tổ chức hiệu quả sàn giao dịch việc làm vệ tinh
Trang 38- Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động ở những nơi chuyển đổi mục đích đất sử dụng Những năm qua công tác đào tạo nghề đã được tỉnh quan tâm đúng mức, như đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật,
mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo Tỉnh đã xây dựng quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề giai đoạn 2010 -
2020 và bước đầu triển khai công tác dạy nghề cho nông dân trong tỉnh Các
cơ sở dạy nghề ngày càng được củng cố về quy mô, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên
Ngoài ra, công tác dạy nghề của tỉnh và thành phố cũng được xã hội hóa với nhiều hình thức như đào tạo nghề dài hạn, ngắn hạn, tập huấn nghề, kèm cặp,… Để khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo nghề, tỉnh có chính sách như: hỗ trợ cho thuê mặt bằng, hỗ trợ doanh nghiệp tự đào tạo nghề trước khi sử dụng lao động, khuyến khích việc truyền nghề trong các làng nghề,… Khi người lao động
đã được đào tạo, vấn đề việc làm được mở rộng theo 3 kênh: người lao động tự lo việc làm, thông qua các trung tâm giải quyết việc làm và trung tâm dịch vụ việc làm thu xếp, bố trí
Từ việc đào tạo nghề cho người lao động có tư vấn nhu cầu lao động của các khu công nghiệp, làng nghề trước khi được đào tạo nên người lao động tích cực học tập để có tay nghề Nguồn kinh phí dạy nghề
Trang 39ở Bắc Ninh được phân bổ cho “ba nhà” cùng lo, đó là tỉnh trích một phần ngân sách, doanh nghiệp trích một phần quỹ phúc lợi và người lao động lo phần còn lại Đối với những lao động không có khả năng tài chính thì ngân hàng sẽ cho vay hỗ trợ
- Quy định các doanh nghiệp, các chủ dự án sử dụng đất thu hồi phải ưu tiên tạo việc làm cho lao động của những hộ bị thu hồi đất và lao động tại địa phương Nhằm đảm bảo việc làm, ổn định cuộc sống của người dân tại các nơi thực hiện dự án thu hồi đất, tỉnh, thành phố đã yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư trong các khu công nghiệp, các chủ đầu tư vào các trung tâm thương mại, dịch vụ phải ưu tiên tuyển dụng lao động tại địa phương trước sau đó mới tới lao động các tỉnh khác dựa trên trình độ tay nghề, nhu cầu của các doanh nghiệp Đối những lao động có tay nghề phù hợp được các doanh nghiệp sắp xếp đúng vị trí, đối với những lao động phổ thông một phần được các doanh nghiệp cho đi đào tạo kỹ thuật, một phần được bố trí làm bảo vệ Tuy nhiên, về phía người lao động trước khi được tuyển dụng cũng đã được các ban, ngành có liên quan tư vấn việc học nghề, gặp gỡ nhà tuyển dụng và được tư vấn về những vấn đề có liên quan tới việc làm,… Do có sự kết hợp từ
ba bên (địa phương, doanh nghiệp và người lao động) nên tỷ lệ lao động tại địa phương, trong đó có lao động nông nghiệp bị thu hồi đất được tuyển dụng vào các khu công nghiệp, các trung tâm thương mại, đô thị ngày càng tăng
- Phát triển làng nghề truyền thống thu hút lao động, cấp đất dãn dân, đất khu dân cư dịch vụ để người nông dân “ly nông” nhưng không “ly hương” Bắc Ninh có ưu thế là có rất nhiều làng nghề truyền thống Làng nghề Bắc Ninh đã thu hút hàng ngàn lao động, phần lớn là nông dân Bởi vì các ngành nghề truyền thống phần lớn chỉ yêu cầu lao động thủ công, chịu khó, khéo tay Lao động ở những vùng thu hồi đất, đại đa số là nông dân chưa qua đào tạo Vì vậy, đây là kênh giải quyết việc làm tương đối hiệu quả đối với nông dân vùng thu hồi đất
Trang 40Đối với cơ sở nghề truyền thống tham gia dạy nghề giải quyết việc làm cho con em bị thu hồi đất, tỉnh và thành phố có chính sách ưu đãi như hỗ trợ
về vốn, mặt bằng, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để các cơ sở yên tâm sản xuất
Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện cho người lao động chuyển đổi sang nghề phi nông nghiệp, tỉnh thực hiện cấp đất giãn dân và đất khu dân cư dịch vụ cho nông dân chuyển sang làm dịch vụ quanh khu vực công nghiệp, khu đô thị Đây chính là phương thức tạo nguồn lực giải quyết việc làm và chuyển đổi ngành nghề lao động bằng quỹ đất
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động: để khuyến khích và tạo điều kiện cho lao động trong các vùng thực hiện dự án thu hồi đất đi xuất khẩu lao động, HĐNH&UBND tỉnh đã có Nghị quyết về hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với các đối tượng chính sách, trong đó có lao động trong các khu dự án thu hồi đất thực hiện quá trình ĐTH của tỉnh Sau khi phân loại những lao động có thể tham gia xuất khẩu lao động được tập trung học nghề, học tiếng, học luật nước đến lao động Để tạo điều kiện thuận lợi cho những lao động bị thu hồi đất tham gia xuất khẩu lao động, HĐNH tỉnh đã có Nghị quyết về hỗ trợ các khoản như sau:
1.5.2 Kinh nghiệm của huyện trong tỉnh
1.5.2.1 Huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Huyện Lâm Thao nằm ở phía Đông của tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp thị
xã Phú Thọ và huyện Phù Ninh, phía Đông giáp thành phố Việt Trì và huyện
Ba Vì (Hà Nội), phía Tây và phía Nam giáp huyện Tam Nông Lâm Thao có