1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)

113 480 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ HẢI YẾN

THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN, VÕ SA HÀ, NGUYỄN THÚY QUỲNH TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ HẢI YẾN

THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN, VÕ SA HÀ, NGUYỄN THÚY QUỲNH TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn: TS HOÀNG ĐIỆP

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Người cam đoan

LÊ THỊ HẢI YẾN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

tới.TS Hoàng Điệp đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận

văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng,

Khoa sau đại học, Khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên cùng

các thầy cô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực

hiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng

nghiệp, các bạn lớp văn học việt nam CH K22B đã động viên, khích lệ, giúp đỡ

tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày thánh năm 2016

Học viên

LÊ THỊ HẢI YẾN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp của luận văn 8

8 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 9

1.1 Khái niệm văn hóa, văn học 9

1.1.1 Khái niệm văn hóa 9

1.1.2 Khái niệm văn học 11

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 12

1.2 Thơ Thái Nguyên và hành trình kiến tạo những giá trị văn hóa 15

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển thơ Thái Nguyên 15

1.2.2 Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ Thái Nguyên 17

1.3 Các tác giả và quá trình sáng tác 19

1.3.1 Tác giả Ma Trường Nguyên 19

1.3.2 Tác giả Võ Sa Hà 24

1.3.3 Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh 29

Tiểu kết chương 1 30

Trang 6

Chương 2 CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN,

VÕ SA HÀ, NGUYỄN THÚY QUỲNH 31

2.1 Cảm thức văn hóa phong tục trong thơ Ma Trường Nguyên 31

2.1.1 Nhà sàn - nơi ở gắn liền với sinh hoạt, phong tục của người Tày 31

2.1.2 Nhà sàn - nơi khởi nguồn cho mọi tình cảm 36

2.2 Cảm thức văn hóa sinh thái trong thơ Võ Sa Hà 40

2.2.1 Hình ảnh núi - phong phú, đa cảm, đa thanh, đa nghĩa 41

2.2.2 Hình ảnh trăng - muôn hình, muôn khối, giàu màu sắc và đầy tâm trạng 45

2.2.3 Hình ảnh đá - phong phú, nhiều vẻ, là hình ảnh tượng trưng cho con đường sáng tạo nghệ thuật 50

2.2.4 Hình ảnh sông suối - sinh động, có hồn và gắn bó với cuộc sống của con người 54

2.3 Cảm thức văn hóa đô thị trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh 57

2.3.1 Những biến đổi trong xã hội đô thị trước sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường 58

2.3.2 Nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người trong một xã hội xô bồ, náo nhiệt 64

2.3.3 Những số phận bất hạnh, đau khổ, vất vả xuất hiện nhiều trong đời sống xã hội 68

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG BIỂU HIỆN CẢM THỨC VĂN HÓA QUA THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN, VÕ SA HÀ, NGUYỄN THÚY QUỲNH 72

3.1 Không gian văn hóa trong thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh 72

3.1.1 Những điểm tương đồng về một không gian văn hóa Thái Nguyên 72

3.1.2 Những mảng màu khác nhau trong không gian văn hóa qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh 73

Trang 7

3.2 Thời gian nghệ thuật 79

3.2.1 Những điểm tương đồng 79

3.2.2 Những bước đi của thời gian qua cảm nhận chủ quan của các nhà thơ 81

3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 90

3.3.1 Điểm giống nhau 90

3.3.2 Điểm khác nhau 91

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Ở bất kì một quốc gia, dân tộc nào trên thế giới, văn hóa luôn là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu Bởi lẽ, văn hóa biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng và vị thế, tầm vóc của một dân tộc Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang có chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng) Một trong số những cách thức lưu giữ và phát triển văn hóa hiệu quả nhất chính là văn học Ngày nay, bên cạnh những tác giả người Kinh thì đội ngũ các tác giả người dân tộc thiểu số đã phát triển khá đông đảo với nhiều thành tựu rực rỡ

- Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô

Hà Nội Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế xã hội lớn của khu vực Đông Bắc hay cả vùng trung du miền núi phía bắc Là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi phía bắc với đông bắc bắc bộ Đồng thời, Thái Nguyên cũng là trung tâm giao lưu văn hóa miền núi và đô thị Chính vì thế mà các nhà thơ Thái Nguyên đã tìm cho mình được một nguồn cảm hứng sáng tác đặc biệt là thơ viết về Thái Nguyên, về mảnh đất và con người nơi đây với những phong tục tập quán, những nếp ăn, nếp ở mang đậm bản sắc vùng miền, dân tộc

- Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh là ba nhà thơ tiêu biểu viết về đề tài miền núi Từ trước đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đi sâu, tìm hiểu về nhiều khía cạnh trong thơ của ba nhà thơ này xong tất cả mới chỉ dừng lại là những công trình nghiên cứu đơn lẻ, chưa có sự nghiên cứu toàn diện dựa trên thế đối chiếu so sánh giữa ba nhà thơ cùng sinh sống và làm việc trên quê hương kháng chiến, cùng viết về đề tài miền núi Việc lựa chọn ba nhà thơ ở ba thế hệ để nghiên cứu là một sự nỗ lực nhằm kiến giải sự tiếp kiến và giao thoa văn hóa được biểu hiện trong thơ Thái Nguyên nói chung và ba nhà thơ trên nói riêng Đó sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho rất nhiều người nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn học Thái Nguyên

Trang 9

- Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thái Nguyên, chịu

sự tác động sâu sắc từ yếu tố địa lý, văn hóa đã làm nên bản sắc của đất và người Thái Nguyên Chúng tôi muốn dành công trình nghiên cứu đầu tiên của mình để nghiên cứu về các tác giả thơ Thái Nguyên mà bản thân đã từng gặp

gỡ, quen biết và kính trọng

Xuất phát từ những lí do nói trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài:

“Thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa”

làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Văn hóa là một trong những lĩnh vực rất được quan tâm, vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu được đặt ra Về văn hóa không thể không nhắc tới

cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh in lần đầu tiên năm 1938

được ấn hành bởi Quan Hải Tùng Thư Ngoài ra, còn rất nhiều công trình

nghiên cứu khác như: “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc, “Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á” của Đinh Gia Khánh, “Văn hóa Việt Nam đỉnh cao Đại Việt” của Nguyễn Đăng Duy, “Văn hóa gia đình Việt Nam” của Vũ Gia

Khánh… Nhiều tác phẩm của các tác giả thơ văn nổi tiếng cũng đã được nhiều người nghiên cứu, tiếp cận, tìm hiểu theo hướng từ góc nhìn văn hóa

Bản thân Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh là ba nhà thơ tiêu biểu của nền thơ Thái Nguyên nói riêng, nền thơ Việt Nam hiện đại nói chung cho nên cũng có nhiều nhà nghiên cứu đi sâu, tìm hiểu thơ họ từ nhiều hướng, nhiều góc độ khác nhau Dưới đây, chúng tôi xin tổng hợp một số công trình nghiên cứu, một số bài viết, luận văn nghiên cứu về ba nhà thơ này

2.1 Những công trình nghiên cứu về thơ Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên là một trong những nhà thơ dân tộc thiểu số tiêu

biểu của "Cái nôi kháng chiến" Sáng tác của ông nhận được nhiều nhận xét,

đánh giá của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học:

Trang 10

- Nguyễn Đức Thiện với bài viết "Một chút tình si trong thơ Ma Trường Nguyên" đăng trên trang Văn học và Nghệ thuật số ra ngày 21/5/2006 đã đưa ra nhận xét: "Ma Trường Nguyên đã sống căn cơ ở thị thành nhiều năm mà vẫn giữ nguyên hồn của một người dân tộc Trong bài thơ, chất chứa rất nhiều chi tiết đời thường của quê hương rừng núi".[84]

- Duy Hồng trong bài viết: "Thơ văn Ma Trường Nguyên: Ngọn lửa cháy đến khôn nguôi " đăng trên Trang tin điện tử của Ủy ban Dân tộc ngày 11/9/2008 có viết: "Với ông, cả hai thể loại thơ và văn xuôi đều là sở trường Những gì không thể hiện hết trong tiểu thuyết, trong văn xuôi thì được thể hiện trong thơ Những gì không nói được trong thơ thì giãi bày trong tiểu thuyết Thơ và văn xuôi đều là nơi gửi gắm hành trình lịch sử, nơi bộc lộ trung thực cuộc sống đa sắc diện của mỗi con người, mỗi cuộc đời" và "Thơ Ma Trường Nguyên đẫm chất dân ca Tày".[35]

- Trong cuộc hội thảo "Nhà văn Ma Trường Nguyên - Tác giả, tác phẩm"

do chi hội nhà văn Việt Nam tỉnh Thái Nguyên tổ chức ngày 9 tháng 6 năm

2009, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đưa ra những nhận xét về con người

và tác phẩm của Ma Trường Nguyên đồng thời cũng khẳng định những đóng góp to lớn của nhà văn đối với thành tựu văn học tỉnh Thái Nguyên trên cả hai mảng văn xuôi và thơ

Trung Trung Đỉnh nhận xét Ma Trường Nguyên là "Người đốt lửa bằng trái tim" với "Dáng vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành" [Dẫn theo 12;3] Phạm Tiến Duật cho đó là "Tâm hồn nhiều đắm say" [Dẫn theo 12;3] Hồ Thủy Giang lại gọi Ma Trường Nguyên là "Một trái tim thức cùng năm tháng" và "Hiền lành một cách bẩm sinh" [Dẫn theo 12;3] Nguyễn Đức Thiện lại đưa ra ý kiến khác cho rằng Ma Trường Nguyên "Nói năng chất phác, thật thà của người Tày nguyên gốc" và "Chất rừng núi, chất dân tộc đã được thể hiện sâu sắc không chỉ ở tả cảnh, tả người mà nó còn đậm đà trong tình cảm" [Dẫn theo 12; 3]

- Nguyễn Thúy Quỳnh trong bài viết "Ba phác thảo về thơ Ma Trường Nguyên" đã đề cập đến ngôn ngữ và cách thức tổ chức ngôn ngữ trong thơ Ma

Trường Nguyên đồng thời tác giả cũng đề cập đến chất giọng chủ đạo trong thơ ông

Trang 11

2.2 Những công trình nghiên cứu về thơ Võ Sa Hà

Võ Sa Hà là người dân tộc Kinh nhưng ông đã sống và gắn bó với miền núi ngay từ nhỏ, hồn thơ ông có sự giao thoa giữa văn hóa Tày - Nùng với văn hóa Việt Tác phẩm của ông luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình Chẳng hạn như:

- Đào Nam Sơn (1998), "Sóng nhạc hồn tôi hay là lời núi hát", Tạp chí Thế giới quanh ta Trong đó, nhà thơ đưa ra nhận xét về tập thơ "Sóng nhạc hồn tôi": "Thơ anh có vẻ không phải là một ca khúc hiện thực Dường như anh không mô tả cuộc sống mà tạo ra những ảo giác về cuộc sống Đôi khi những hình tượng thơ được bật ra từ cõi sâu thẳm của vô thức Có lẽ anh muốn đứng trên bản ngã để hướng về siêu ngã hoặc ngược lại Nói theo luận điểm của phân tâm học, đó là những "giấc mơ tỉnh" Tôi nghĩ thơ Võ Sa Hà có nét hiện đại chính là ở chỗ đó" [73]

- Trịnh Thanh Sơn (2005), "Võ Sa Hà đi hoang vào lũng núi", trang Báo

điện tử đăng ngày 06/09/2005 Trong bài viết của mình, tác giả đã đưa ra nhận

xét khá xác đáng về tập thơ "Cánh chim về núi" - tập thơ đạt giải nhất giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (2001- 2006) tỉnh Thái Nguyên: "Thơ Võ Sa

Hà không điệu đàng, không làm dáng Anh giản dị trong ngôn ngữ thơ tự chắt lọc và nhiều sáng tạo Anh làm thơ như người kể chuyện, mà chuyện của anh về nỗi người, nỗi đau xót vô cùng" [74]

- Nông Quốc Chấn (2007), "Tuyển tập Văn học dân tộc và miền núi" (Nxb

Giáo dục) Cuốn sách giới thiệu những gương mặt tiêu biểu của thơ ca dân tộc thiểu số, cung cấp cho độc giả những nét sơ lược, những bài thơ hay Trong đó,

Võ Sa Hà có được giới thiệu hai bài thơ là "Anh khóc" và "Bài hát cũ"

- Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên (2008), "Văn học Thái Nguyên",

tài liệu giảng dạy văn học địa phương cấp Trung học cơ sở Trong đó Võ Sa Hà

được giới thiệu bài thơ "Ông ngoại"

Trang 12

- Tạ Văn Sỹ (2008), "Võ Sa Hà nặng lòng quê núi", trang Báo điện tử

360 plus ngày 13/07/2008 Bài báo đã chỉ ra một số đặc sắc về nội dung trong

tập thơ "Cánh chim về núi": "Phải nói ngay rằng Võ Sa Hà là người tình sâu nghĩa nặng với mảnh đất vùng cao Việt Bắc quê mình Qua suốt tập thơ "Cánh chim về núi" dường như không một trang nào không dính dáng ít nhiều đến cảnh sắc, con người vùng cao địa đầu Tổ quốc" [77]

- Nguyễn Kiến Thọ (2009), "Võ Sa Hà - Hành trình đam mê và sáng tạo",

- Anh Vũ (2012), "Rung theo tiếng gió lời thầm thì", Báo Văn nghệ Thái

Nguyên số 30 (470) - ra ngày 20/10/2012 đã đưa ra lời bình luận rất sắc sảo về

bài thơ "Thái Nguyên của tôi": "Thơ trẻ mãi, như sự sống miên viễn, lúc sôi sục, lúc trầm lắng Như sự cuốn hút mê đắm, mãi mãi tươi ròng căng nức sức thanh xuân, sóng sánh và hương và sắc Vậy nên kể chi từ ấy bài thơ "Thái Nguyên của tôi" chịu trận ngót chục năm rồi, cứ cho mai đây ngót cả trăm năm nữa, dưới cỏ xanh, Võ Sa Hà còn rung theo tiếng gió lời thầm thì câu Thái Nguyên của tôi Chất Thơ bao giờ chẳng là loài men quý Càng ủ lâu, càng hạ thổ cố quên đi lưu cữu lưu niên, chất men vàng càng ngấm, càng đượm, càng lóng lánh say lịm lòng người nưng nức" [97]

Trang 13

Mới đây nhất là hai bài viết "Thái Nguyên thương nhớ" của Vi Thùy Linh đăng trên báo online An ninh thế giới ra ngày 06/4/2016 và "Ghé thăm cuộc rượu của Võ Sa Hà với Núi" của Cao Xuân Thử đăng trên trang Văn nghệ

Thái Nguyên của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên cũng đã đề cập đến vai trò, vị trí cũng như tầm quan trọng của quê núi đối với mạch nguồn

cảm xúc trong thơ Võ Sa Hà

2.3 Những công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

Một vài năm trở về đấy, Nguyễn Thúy Quỳnh đã và đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và nhiều độc giả trên khắp cả nước

Có nhiều bài nghiên cứu, bài báo, luận văn về nhiều khía cạnh thơ của chị:

- Phạm Văn Vũ - nhà phê bình trẻ có bài "Ngẫu luận - Nguyễn Thúy Quỳnh", "Sự nghiệp làm người tốt còn quan trọng hơn sự nghiệp văn chương"

- Nhà phê bình Vũ Nho có bài: "33 gương mặt thơ nữ tiêu biểu Việt Nam" trong đó có nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

- Hồ Thủy Giang với "Thái Nguyên một dòng chảy văn chương"

- Sở GD & ĐT Thái Nguyên tổ chức và biên soạn cuốn "Văn học Thái Nguyên" - tài liệu giảng dạy văn học địa phương cấp Trung học cơ sở Cuốn sách

đã giới thiệu khái quát tiến trình văn học Thái Nguyên bao gồm văn học dân gian

và văn học Thái Nguyên từ sau Cách mạng tháng Tám tới nay trên nhiều phương diện như thể loại, đặc điểm và những thành tựu nổi bật Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã được giới thiệu trong cuốn sách này Trong đó, có tác giả Nguyễn

Thúy Quỳnh với bài thơ "Thơ về nhà mình" in trong tập "Mưa mùa đông"

Ngoài hệ thống tư liệu mang tính tập trung mà chúng tôi đã liệt kê ở trên còn có những bài viết được đăng tải trên các báo, tạp chí như:

- "Người làm thơ không chỉ vì đam mê" - Nguyễn Hòa, đăng trên báo

Văn nghệ số 29, ra ngày 18/7/2011

- "Nguyễn Thúy Quỳnh - mạnh mẽ và đôn hậu" - Vũ Nho

- "Ẩn ức về đêm trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh" - Nguyễn Kiến Thọ (Hội

thảo thơ nữ Thái Nguyên)

- "Thơ Thái Nguyên thập niên đầu thế kỉ XXI" - Luận văn thạc sĩ của Đỗ

Thu Hà

Trang 14

Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài báo và luận văn nghiên cứu về thơ của ba nhà thơ trên song những vấn đề văn hóa trong thơ của ba nhà thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh vẫn còn là điều gì đó mới mẻ, cần được khai thác, tìm hiểu triệt để Chúng tôi rất trân trọng những ý kiến, nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước và coi đó như những tiền đề khoa học quý báu, là những gợi ý bổ ích để chúng tôi thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích:

- Nhằm lí giải, cắt nghĩa những nét đặc trưng mang tính bản sắc của văn hóa vùng miền qua ba nhà thơ thuộc ba thế hệ khác nhau

- Đề tài chỉ đi sâu tập trung nghiên cứu vào các tập thơ tiêu biểu của ba nhà thơ từ góc nhìn văn hóa Đi sâu tìm hiểu về văn hóa Thái Nguyên qua ba nhà thơ tiêu biểu

- Làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Đánh giá những thành công và đóng góp của ba nhà thơ trong nền văn học thơ Thái Nguyên

- Đề tài cũng giúp người viết hiểu thêm về con người và phong cách sáng tác của các nhà thơ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên,chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Vận dụng lí thuyết về văn hóa để đi sâu tìm hiểu

- Tìm hiểu khái quát về ba nhà thơ và đi sâu vào các tập thơ có giá trị của các nhà thơ

- Tìm hiểu về văn hóa và con người Thái Nguyên đã tạo nên những nét đặc sắc cho ba nhà thơ

- Tìm hiểu đặc điểm thơ của ba nhà thơ trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật thơ

- Xác định những đóng góp của ba nhà thơ cho thơ Thái Nguyên

Trang 15

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Nghiên cứu thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn

Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa

- Phạm vi nghiên cứu: Đi sâu vào nghiên cứu các tập thơ của các nhà

thơ và chỉ ra được sự khác biệt của ba thế hệ nhà thơ

Ma Trường Nguyên thể hiện qua bốn tập thơ: “Cây nêu”, “Trái tim không ngủ”, “Câu hát vắt qua vai”, "Mở núi"

Võ Sa Hà thể hiện qua bốn tập thơ: “Sóng nhạc hồn tôi”, “Ngựa đá”,

“Cánh chim về núi”, “Lửa trắng”

Nguyễn Thúy Quỳnh thể hiện qua ba tập thơ: “Giá mà em từ chối”,

“Mưa mùa đông”, “Những tích tắc quanh tôi”

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp đối chiếu so sánh

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

7 Đóng góp của luận văn

- Khẳng định được những thành tựu và đóng góp của Ma Trường Nguyên,

Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh trong thơ Thái Nguyên

- Luận văn thể hiện rõ sự khác biệt trong phong cách sáng tác của ba thế

hệ khác nhau khi viết về thơ Thái Nguyên

- Góp thêm cái nhìn mới về thơ Thái Nguyên dưới góc nhìn văn hóa

- Đồng thời ở mức độ nào đó , luận văn cũng đóng góp làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy về văn học Thái Nguyên

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

có ba chương:

Chương 1: Giới thuyết chung

Chương 2: Cảm thức văn hóa trong thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh

Chương 3: Tương đồng và khác biệt trong biểu hiện cảm thức văn hóa qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh

Trang 16

Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG

Trong chương 1, đề tài xây dựng những khái niệm cần thiết để tìm hiểu đề tài: Khái niệm văn hóa, khái niệm văn học, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Đồng thời tìm hiểu khái quát về quá trình hình thành và phát triển thơ Thái Nguyên… Từ đó đi sâu vào tìm hiểu ba nhà thơ Thái Nguyên và quá trình sáng tác thơ của họ

1.1 Khái niệm văn hóa, văn học

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra và chi phối toàn bộ hoạt động của con người Với vai trò quan trọng của mình, văn hóa đã trở thành một trong những đối tượng được nghiên cứu nhiều nhất của khoa học nhân văn Thêm vào đó, văn hóa là một khái niệm rất phức tạp cho nên luôn tạo ra những cuộc tranh luận hết sức phong phú Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, sự khác nhau này tùy thuộc vào góc độ, phương diện mà người nghiên cứu muốn nhấn mạnh Theo thống kê, hiện nay có gần 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa Tuy nhiên, ở đề tài này của mình, chúng tôi lựa chọn sử dụng khái niệm văn hóa của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu là Trần Ngọc Thêm, Đào Duy Anh, Hồ Chí Minh và của UNESSCO làm nền tảng cơ sở

Trần Ngọc Thiêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội" [80;10] Đây là định

nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến và lựa chọn làm công cụ đắc lực trong việc tìm hiểu văn hóa Cũng từ khái niệm đó mà Vũ Ngọc Thêm đã đưa

ra hệ thống cấu trúc văn hóa bao gồm bốn tiểu hệ cơ bản là: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

Trang 17

Đào Duy Anh trong cuốn Văn hóa là gì? (1945) đã nhắc đến mối quan hệ

giữa văn hóa với sinh hoạt đồng thời phân tích sâu sắc mối quan hệ này để từ đó đi

đến quan niệm "Văn hóa là phương thức sinh hoạt" Với cách tiếp cận này, ông đã

đề cập đến phạm vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả các phương diện sinh hoạt của con người, từ sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần đến sinh hoạt xã hội Cái sinh hoạt mà nhà nghiên cứu dùng để chỉ văn hóa ở đây không phải là những sinh hoạt bình thường trong cuộc sống hàng ngày mà là những sinh hoạt mang tính chất sáng tạo Ông cho rằng tất cả những sáng tạo đó đã kết tinh thành những giá trị văn hóa của dân tộc, của nhân loại Từ quan niệm đó, ông đi đến định

nghĩa: "Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã hội" Nó bao gồm: hình thái kinh tế,

hình thái chính trị, pháp luật, binh chế, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán Như vậy, Đào Duy Anh đã xác định được cấu trúc của văn hóa, mặc dù cách phân chia còn khá đơn giản nhưng nó vẫn có một ý nghĩa khá lớn trong giai đoạn ở nước ta chưa có chuyên ngành lý luận văn hóa

Đặc biệt khi tìm hiểu khái niệm văn hóa của các nhà nghiên cứu, chúng tôi phát hiện ra có một điểm khá thú vị là giữa hai nhà nghiên cứu Đào Duy Anh và

Hồ Chí Minh có sự gặp gỡ nhau trong khái niệm văn hóa Hồ Chí Minh cho rằng:

"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi hình thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh

ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"

Ở nước ngoài, theo thời gian, khái niệm văn hóa được mở rộng và được

E.Tylor đưa vào trong cuốn sách "Văn hóa nguyên thủy" (1871) Sau khái niệm

của E.Tylor đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra, mỗi định nghĩa lại phản ánh một cách nhìn, một cách đánh giá khác nhau Trong số đó, định nghĩa

của UNESCO được đánh giá là có tính khái quát cao: "Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả

Trang 18

phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng" [dẫn theo cuốn Hướng tới một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, 78;18] Đây

là định nghĩa mang tính tổng quát, nó nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa nhưng cũng đảm bảo mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa

Qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận thấy văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Đó là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra và phục vụ cho sự phát triển của xã hội Văn hóa đã cấu tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mĩ và lối sống mà từng dân tộc dựa vào đó để khẳng định bản sắc riêng của mình

1.1.2 Khái niệm văn học

Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Trong đó phương thức sáng tạo của văn học được thông qua

sự hư cấu và nội dung các đề tài được thể hiện qua ngôn ngữ Văn học có nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lý luận phê bình Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời từ văn học dân gian (truyền miệng) đến văn học viết Văn học là một bộ phận quan trọng của văn nghệ

Xét theo nghĩa rộng thì văn học chính là thuật ngữ dùng để gọi chung cho mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩm ngôn ngữ, bao gồm cả những tác phẩm được xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo Như vậy theo nghĩa rộng thì văn học chính là văn hóa

Xét theo nghĩa hẹp thì văn học lại là văn hóa - nghệ thuật mà chúng ta vẫn thường dùng hiện nay Nó bao gồm tất cả những tác phẩm ngôn từ được sáng tác bằng hư cấu và tưởng tượng Như vậy, nếu chúng ta hiểu văn học theo nghĩa hẹp thì những tác phẩm về chính trị, tôn giáo, triết học lại nằm ngoài phạm trù này Nói cách khác, văn học hiểu theo nghĩa hẹp chính là văn chương

Văn học chính là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ Văn học được bắt nguồn từ đời sống, phản ánh mọi khía cạnh của đời sống hay bày tỏ một quan điểm, một lập trường đối với đời sống, một sự việc, hiện tượng, số phận trong xã hội

Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học: văn học là sự phản ánh

đời sống xã hội, thể hiện nhận thức và sự sáng tạo của con người Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Văn học nhận thức con người

Trang 19

với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó Văn học xây dựng những hình tượng nghệ thuật

có khả năng tác động vào trí tuệ, vào liên tưởng của con người

Do đó, văn học có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất cứ giới hạn nào

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, phong tục, tập quán, đạo đức, lễ nghi là những bộ phận cấu thành nên văn hóa Nếu như văn hóa là sự biểu hiện của những quan niệm hay cách ứng xử của con người đối với tự nhiên hoặc với một vấn đề của xã hội thì văn học lại là những tác phẩm lưu giữ lại những biểu hiện đó một cách sinh động nhất Để có thể có được những đặc trưng riêng biệt, những giá trị riêng trong văn hóa của từng quốc gia, dân tộc thì mỗi dân tộc, mỗi đất nước trên thế giới phải trải qua một quá trình hình thành lâu dài với những sáng tạo, chọn lọc và đấu tranh thật sự nghiêm túc Văn học vừa thể hiện con đường đấu tranh, quá trình hình thành vừa là nơi khẳng định những giá trị văn hóa đã được định hình, chọn lựa

Văn học biểu hiện văn hóa cho nên có thể coi văn học chính là tấm gương độc đáo của văn hóa Trong các tập thơ, ta tìm thấy hình ảnh văn hóa qua ngòi bút tái hiện của nhà thơ Tác phẩm nào cũng ra đời trong những hoàn cảnh lịch

sử cụ thể, trong những bối cảnh văn hóa khác nhau Vì thế, văn học mỗi thời kì đều mang hơi thở văn hóa đặc trưng của giai đoạn mà nó trải qua và tồn tại

Bản thân nhà thơ với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hóa Như đã nói, nền văn học nào cũng được ra đời trong bối cảnh văn hóa nhất định Nó chi phối cách nhìn thực tại, quan niệm sáng tác của nhà thơ nên trong các trang thơ của mỗi người, ta đều thấy thấp thoáng bóng dáng của văn hóa qua từng câu văn, hình ảnh Chính không gian văn hóa này chi phối cách xử lí

đề tài, thể hiện chủ đề, nội dung, cách xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác để làm nổi bật thông điệp, tư tưởng của tác giả cùng như phản ánh một phần tính chất của xã hội Đồng thời, văn hóa cũng chi phối đến hoạt động nhận thức, cảm thụ và đánh giá trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học của độc giả

Trang 20

Như vậy, các tác phẩm văn học được coi là những cơ sở, những dữ liệu đáng tin cậy để nghiên cứu về các đặc trưng văn hóa của một dân tộc trong một thời đại nào đó Chẳng hạn, nghiên cứu về các tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn hay các bài thơ của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới chúng ta biết được có sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào Việt Nam đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, chúng ta sẽ thật sai lầm nếu như chỉ cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là mối quan hệ một chiều: văn học chỉ là tấm gương phản chiếu những biểu hiện của văn hóa Bởi nếu coi như vậy thì sẽ vô hình chung làm cho văn hóa xóa mờ, nuốt chửng những giá trị riêng của văn học

Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học không phải là mối quan hệ một chiều, đơn nhất mà nó là mối quan hệ hai chiều, song song Tức là nếu như văn hóa chi phối đến quá trình sáng tác, tiếp nhận và sự phát triển của văn học thì ngược lại, văn học cũng tác động trở lại đến văn hóa Bằng nghệ thuật ngôn từ, các nhà văn, nhà thơ trong các tác phẩm văn học của mình đã lên án, đấu tranh quyết liệt đối với những biểu hiện lỗi thời, cổ hủ không còn phù hợp với thời đại hay vi phạm nghiêm trọng đến nhân quyền của con người Đồng thời khẳng định, cổ vũ, động viên, kêu gọi duy trì những giá trị văn hóa tiến bộ, nhân bản Bao giờ cũng vậy, từ xưa đến nay, dù phản ứng trước những biểu hiện văn hóa tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến của những yếu tố văn hóa tích cực thì những nhà văn, nhà thơ cũng là những người đi tiên phong đầu tiên

Xuất phát từ mối quan hệ qua lại giữa văn hóa và văn học mà xu hướng tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa được coi là một hướng tiếp cận cần thiết và có nhiều triển vọng Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu sâu hơn, lý giải toàn diện hơn những gì được đề cập trong tác phẩm Nói một cách đơn giản, tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa thực chất là việc chúng ta đặt tác phẩm văn học đó trong một không gian văn hóa với những đặc trưng cơ bản, những đặc trưng đó đã được thẩm thấu, ẩn hiện trong thế giới nghệ thuật của nhà văn Có hai xu hướng thẩm thấu của văn hóa trong văn học: một là những giá trị văn hóa truyền thống được lưu truyền từ lâu đời, từ thế hệ này sang thế

hệ khác như một mạch nước ngầm cứ rì rầm chảy suốt, không ngừng dần dần thấm vào trong cách cảm, cách nghĩ, cách sử dụng ngôn từ hay cách ứng xử

Trang 21

của nhà văn, nhà thơ một cách tự nhiên, vốn có Hai là những giá trị văn hóa mới được hình thành trong thời đại mà tác giả đó đang sinh sống; chính vì là mới cho nên nó tồn tại rất nhiều những thắc mắc, cám dỗ đòi hỏi các nhà văn tìm hiểu, lý giải, đánh giá bằng nghệ thuật ngôn từ của mình Đôi khi, trong một số tác phẩm của một số tác giả có sự hòa quyện, đồng điệu giữa hai xu hướng thẩm thấu này của văn hóa

Chính vì văn học là cái gương phản chiếu văn hóa cho nên văn học được coi là cầu nối, là một trong những phương tiện góp phần duy trì, bảo lưu và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống Cũng nhờ có sự ẩn hiện của các yếu tố văn hóa mà chúng ta dễ dàng tìm được sự tiếp nối và gần gũi giữa các nhà văn, nhà thơ của thời đại trước với các nhà văn, nhà thơ ở thời đại sau hay giữa các nhà văn, nhà thơ trong cùng một thời đại lịch sử Đặc biệt, văn học có vai trò rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho con người: văn học nêu gương những người tốt, lên án những kẻ xấu xa, độc ác, vô nhân tính; văn học khơi dậy sự ăn năn, hối hận ở con người như một tòa án lương tâm Thông qua các tác phẩm văn học, người đọc tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm về cách ứng xử đạo đức, biết được nên làm như thế nào thì đúng Mặc dù, Văn học có tính giáo dục cao nhưng sự giáo dục của văn học không hề cứng nhắc, rập khuôn, gượng ép mà ngược lại rất tự nhiên, dễ đi vào lòng người Bởi văn học không đưa ra những triết lý khô khan, cứng nhắc, khó hiểu mà giáo dục thông qua những hình tượng, những nhân vật sinh động, chân thực Nhìn vào thực tiễn, chúng ta thấy ở tất cả các quốc gia từ xưa đến nay không có một quốc gia nào trong hệ thống giáo dục lại thiếu bộ môn văn học bởi văn học và giáo dục là hai lĩnh vực cùng đồng hành với nhau trong việc xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Cùng tồn tại trên thế giới nhưng mỗi dân tộc, mỗi quốc gia lại có một hệ thống những phong tục, tập quán riêng, mang tính đặc trưng riêng Tôn trọng bản sắc văn hóa cũng chính là tôn trọng những phong tục, tập quán đó; và vì phong tục, tập quán có tính đặc trưng cho từng dân tộc cho nên chúng ta không được lấy chuẩn mực trong phong tục, tập quán của dân tộc này để so sánh với phong tục, tập quán của dân tộc khác Trong quá trình vận động của văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử, chúng tôi thấy có sự xuất hiện của một dòng

Trang 22

văn viết về phong tục, đặc biệt là các phong tục, tập quán, lễ nghi ở chốn thôn

quê: Chân quê (Nguyễn Bính), Việc làng, Lều Chõng (Ngô Tất Tố), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Nằm vạ (Bùi Hiển)

Tóm lại, văn học và văn hóa luôn luôn có mối tác động qua lại với nhau Một nhà văn đích thực cũng chính là một nhà hoạt động văn hóa chân chính, tác phẩm văn học mà họ sáng tạo ra cũng chính là một tác phẩm văn hóa của một dân tộc nào đó và khi đến với độc giả, được độc giả tiếp nhận thì quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học đó cũng chính là quá trình thưởng thức, tiếp nhận văn hóa Thời đại ngày nay, với sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các quốc gia cũng làm cho nền văn hóa của các quốc gia, dân tộc ngày càng đa dạng hơn, kéo theo đó văn học cũng ngày càng đa dạng, phong phú hơn

1.2 Thơ Thái Nguyên và hành trình kiến tạo những giá trị văn hóa

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển thơ Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở phía đông bắc Việt Nam với diện tích hơn 3000Mm2, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Thái Nguyên là tỉnh nổi tiếng với những đồi chè bát ngát, với những nhà máy thép có sản lượng khai thác hàng năm lớn và tốt vào loại nhất nhì trong cả nước Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, đây chính là Thủ đô gió ngàn, căn cứ địa cách mạng của cuộc kháng chiến Việt Nam Ngày nay, Thái Nguyên đã và đang trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực đông bắc hay nói rộng hơn là của cả vùng trung du và miền núi phía bắc Việt Nam

Thái Nguyên cũng là một trong những mảnh đất có truyền thống văn hóa từ lâu đời, những truyền thống văn hóa đó chính là mầm sống thúc đẩy sự

ra đời và phát triển của văn học Cũng như tiến trình phát triển của văn học cả nước, văn học nói chung và thơ ca Thái Nguyên nói riêng cũng được phát triển bắt đầu từ văn học dân gian, thơ ca dân gian Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều dân tộc anh em sinh sống, ngoài người Kinh còn có người Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, H'Mông và người Hoa cho nên nơi đây có một nền văn hóa rất phong phú, đa dạng Văn học dân gian Thái Nguyên chính là tổng hòa của tất

cả những giá trị văn học dân gian của các dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên Nó vừa chứa đựng những nguồn sống trong mạch chảy

Trang 23

chung của văn hóa cộng đồng người Việt Nam nói chung vừa tích tụ những nét bản sắc mang tính đặc trưng riêng của cộng động dân cư Thái Nguyên

Trải qua rất nhiều những biến thiên của lịch sử và thời đại, văn học dân gian Thái Nguyên vẫn liên tục phát triển với nhiều loại hình khác nhau như: loại hình tự trự, loại hình trữ tình và loại hình trung gian Ở đây, do sự giới hạn của đối tượng nghiên cứu cho nên chúng tôi xin phép không nhắc đến loại hình

tự sự Loại hình trữ tình có tính bao trùm trong văn học dân gian Thái Nguyên

là ca dao Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ca dao bao gồm tất cả các thể loại hát dân ca trong đời sống sinh hoạt dân gian các dân tộc Thái Nguyên, đặc biệt là các bài hát Sli, Lượn Những bài hát dân ca này đã phản ánh rõ nét sự giao lưu văn hóa giữa người Kinh và người Tày

Loại hình trung gian trong văn học dân gian Thái Nguyên bao gồm tục ngữ, các bài hát mo, hát pụt, loàn, mại xòe, phuối rọi Thể loại này cho đến ngày nay vẫn ít được nghiên cứu đến

Văn học dân gian Thái Nguyên nói chung và loại hình trữ tình dân gian nói riêng chính là một kho báu về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, thẩm mĩ của nhân dân các dân tộc anh em ở Thái Nguyên Nó chính là cội nguồn, là nền tảng cho

sự phát triển của văn học nói chung, thơ ca nói riêng giai đoạn sau này

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với các nhà thơ đàn anh ở mọi miền đất nước, các tác giả là người dân tộc ít người có quê gốc ở Việt Bắc

đã viết những tác phẩm bằng tiếng Tày, Dao, Nùng góp phần làm cho văn học kháng chiến thêm đa dạng, nhiều màu sắc

Năm 1957, hội Văn nghệ Việt Bắc được thành lập ở thị xã Thái Nguyên

đã tạo nên một cuộc hội tụ lớn của tất cả các nhà thơ ở sáu tỉnh miền núi phía bắc là Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn

Sang đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước bùng nổ đã đưa văn học bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn toàn Đảng, toàn dân tập trung, dồn toàn bộ sức lực cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước Những tác phẩm sáng tác trong thời kì này đều mang hơi thở nóng hổi của thời đại Tuy nhiên, do yêu cầu của thời đại mà trong giai đoạn của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống mỹ cứu nước, văn xuôi là thể loại phát triển hơn thơ ca trong văn học Thái Nguyên

Trang 24

Năm 1987, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên ra đời đã tạo nên một bước ngoặt mới của thơ ca tỉnh nhà

Bước sang thế kỉ XXI, cùng với sự chuyển mình của đất nước, nền văn học Thái Nguyên trong đó có thơ ca có bước tiến mới, đạt được nhiều thành tựu mới cả về số lượng, giá trị tác phẩm cũng như đội ngũ sáng tác Hòa vào dòng chảy văn chương của thời đại, sự xuất hiện của hàng loạt các nhà thơ mới bên cạnh những nhà thơ cũ với nhiều lứa tuổi, nhiều thể loại, nhiều bút pháp khác nhau đã làm cho kho tàng thơ ca nói riêng, văn chương Thái Nguyên nói chung ngày càng thêm phong phú Tiêu biểu là: Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Ma Trường Nguyên, Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Hoàng Tố Nga, Cao Hồng Trong thơ của mình, các nhà thơ đều ít nhiều tự tạo cho mình một hướng đi riêng, không hòa lẫn với nhau: có nhà thơ thì nhẹ nhàng, có nhà thơ lại mạnh mẽ, thách thức hoặc khiêm nhường, gai góc hoặc dịu êm Tuy có những nét rất riêng như vậy nhưng giữa các nhà thơ vẫn có sự gặp gỡ nhau ở nỗi buồn, sự cô đơn và đều có sự bứt phá về thi pháp thơ

Các nhà thơ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước thống nhất này đều hướng ngòi bút của mình vào những biểu hiện của cuộc sống mới với những chủ đề về tình yêu, gia đình, cuộc sống và con người Sáng tác của các nhà thơ giai đoạn này đã ít nhiều khẳng định được giá trị thông qua một số giải thưởng: giải thưởng thơ của Văn nghệ Quân đội và Báo Văn nghệ, giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học Nghệ thuật Việt Nam, giải thưởng trong cuộc thi thơ tình Điều này đã chứng tỏ thơ ca Thái Nguyên ngày càng

có một vị trí quan trọng trong nền thơ ca chung của cả dân tộc

1.2.2 Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ Thái Nguyên

1.2.2.1 Giá trị nội dung của thơ Thái Nguyên

Giá trị nội dung thơ Thái Nguyên có sự thay đổi theo từng thời kì lịch sử nhất định

Ở thế kỉ trước, khi đất nước còn chìm trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, mọi sáng tác nghệ thuật đều được giới hạn trong khuôn khổ Văn chương chủ yếu được sáng tác nhằm mục đích chiến đấu: vạch trần bản chất tàn ác, giả dối, mị dân của chính quyền tay sai bù nhìn; sự đạo đức giả của người Pháp núp sau lá cờ Tự do - Bình đẳng - Bác ái, khai hóa

Trang 25

văn minh nhưng thực chất là vào biến nước ta thành nô lệ; tái hiện cuộc sống đau khổ, bế tắc đến cùng đường, tha hóa của những người dân Việt Nam hay nêu gương những anh hùng bất khuất nhằm cổ vũ, động viên, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc Cũng xuất phát từ mục đích, chức năng ấy của văn chương mà đề tài, cảm hứng của các nhà thơ cũng bị giới hạn Những đề tài viết về cái chung được đẩy mạnh còn những đề tài mang tính chất riêng tư,

cá nhân chẳng hạn như tình yêu đôi lứa lại bị hạn chế

Sang đến thế kỉ XXI, mọi đề tài, cảm hứng đều được tự do mở rộng Chức năng tuyên truyền, giáo dục không còn là chức năng chủ yếu, cơ bản nữa, văn học cũng như thơ ca lúc này mang nhiều chức năng hơn, đặc biệt là chức năng thẩm mĩ - chức năng cơ bản của văn chương đã được đề cao Các nhà thơ được thỏa hồn mình vào những cảm hứng mới Các nhà thơ Thái Nguyên bắt đầu tìm về với cội nguồn, với truyền thống giàu màu sắc của dân tộc mình hay cảm hứng về chính quê hương Thái Nguyên với những đồi chè thơm ngát, với dòng sông Cầu thơ mộng hay nàng Công, chàng Cốc đầy huyền thoại Cảm hứng về tình yêu, đôi lứa được các nhà thơ khai thác rất nhiều bởi đó là một thứ tình cảm phức tạp, nhiều màu nhiều vẻ của đời sống tinh thần mỗi con người Cảm hứng về thế sự và cảm hứng về chính công việc sáng tạo nghệ thuật cũng được các nhà thơ khai thác mạnh Với sự phong phú trong cảm hứng đã làm cho thơ ca Thái Nguyên trở lên phong phú, nhiều vẻ hơn, hấp dẫn hơn, bao quát hơn đối với cuộc sống và con người

1.2.2.2 Giá trị nghệ thuật của thơ Thái Nguyên

Thơ ca Thái Nguyên theo thời gian, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với biết bao nhiêu thăng trầm đã có sự đổi mới về hình thức thơ trên cả ba phương diện là thể thơ, hình ảnh thơ và ngôn ngữ thơ

Về thể thơ, các nhà thơ đã ít vận dụng những thể thơ truyền thống với những niêm, luật, những ước lệ, tượng trưng; nếu có sử dụng thể thơ truyền thống thì cũng là sự vận dụng sáng tạo hay kết hợp Thay vào đó, các thể thơ hiện đại được sử dụng nhiều hơn bởi nó không gò bó khiến cho mọi cảm xúc, tâm tư, tình cảm của chủ thể sáng tạo bộc lộ một cách tự nhiên, đầy đủ nhất

Về hình ảnh thơ và ngôn ngữ thơ: những hình ảnh và ngôn ngữ thơ đã thoát khỏi sự sáo mòn, sự rập khôn, ước lệ, tượng trưng mà trở lên linh hoạt

Trang 26

hơn, tươi sáng hơn và chân thật hơn Những hình ảnh được tác giả lấy từ chính hiện thực cuộc sống ngoài đời như những hình ảnh về thiên nhiên trong thơ Võ

Sa Hà, những hình ảnh về cuộc sống xung quanh ngôi nhà sàn của đồng bào Tày - Định Hóa trong thơ Ma Trường Nguyên hay những hình ảnh về con người, cuộc sống đang từng bước biến đổi ở thành thị trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh Ngôn ngữ thơ cũng bám sát, cũng xuất phát từ chính cuộc sống đời thường của người dân Một số nhà thơ còn dùng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của dân tộc mình để sáng tác Điều đó, góp phần to lớn trong việc giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa của các đồng bào dân tộc ít người

Nói tóm lại, thơ Thái Nguyên đã đạt được một số giá trị nội dung cũng như nghệ thuật nhất định Những thành tựu này ngày càng góp phần làm lớn mạnh hơn nền thơ ca các dân tộc thiểu số Thái Nguyên và làm phong phú hơn nền thơ ca của cả nước Hòa nhịp với quá trình đổi mới của dòng chảy thơ ca cả nước, thơ Thái Nguyên ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên những trang báo và tạp chí có tên tuổi như: Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Quân đội nhân dân, Văn nghệ quân đội Nhiều tác phẩm đã được tuyển chọn vào những tuyển tập thơ hay của cả nước Thành tựu thơ Thái Nguyên được khẳng định rõ thông qua những giải thưởng văn học: Nguyễn Thúy Quỳnh - giải nhì về thơ của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (2004); Võ Sa Hà - Giải ba về thơ của

Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (2004); Phạm Văn Vũ - Giải khuyến khích cuộc thi thơ của tạp chí Tài hoa trẻ (2005), Ma Trường Nguyên - Giải C Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

1.3 Các tác giả và quá trình sáng tác

1.3.1 Tác giả Ma Trường Nguyên

1.3.1.1 Tiểu sử nhà thơ Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên được coi là "người đốt lửa bừng trái tim" với "dáng

vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành" Ông được coi là một trong những tác

giả tiêu biểu của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ

XX, đầu thế kỉ XXI

Trang 27

Ma Trường Nguyên là người dân tộc Tày Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm

1944 tại xóm Đồng Chẩn, xã Phú Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Ngay từ thuở thơ ấu, Ma Trường Nguyên đã đắm mình trong những câu chuyện

cổ tích, những điệu hát Sli, hát Lượn của dân tộc mình Điều đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ sau này

Năm 1963, Ma Trường Nguyên tham gia vào quân đội và hoạt động trong một đội pháo cao xạ Đây là nơi ông được trải nghiệm qua những khó khăn, mất mát mà người lính pháo binh phải chịu đựng Đồng thời cũng được chứng kiện tinh thần gan dạ, quả cảm, sự lạc quan trong mọi khó khăn gian khổ của đồng đội, của nhân dân toàn miền Bắc Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Ma Trường Nguyên làm phóng viên cho báo Quân khu 3, biên tập viên nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Tiếp đó, ông theo học trường viết văn Nguyễn Du Sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại quê hương Thái Nguyên

Trải qua một quá trình sáng tác, nhà thơ đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong nhiều cơ quan khác nhau của tỉnh Thái Nguyên: Phó giám đốc Sở Văn hóa - thông tin (1985), Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (1998 - 2003), Bí thư Đảng đoàn Hội văn nghệ, Tổng biên tập báo Văn nghệ Thái Nguyên Cho dù ở cương vị nào ông cũng luôn hoàn thành xuất sắc công việc được giao

Với những năm tháng trải qua trong cuộc đời, Ma Trường Nguyên đã tích lũy được một vốn tri thức phong phú, một nhân cách đáng kính trọng, một tình yêu quê hương đất nước tha thiết Chính điều đó đã tạo thành một mạch nguồn xuyên suốt hết các sáng tác của ông

1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên là nhà thơ sáng tác thơ ca từ rất sớm Năm 16 tuổi,

ông đã khởi đầu sự nghiệp văn chương của mình với bài thơ Cờ hồng được in trong tập Tiếng trống đồng xuân do Ty văn hóa Thái Nguyên xuất bản Nhuận bút mà nhà thơ nhận được rất đặc biệt, đó là năm cuốn sách trong "Tủ sách lí luận - hướng dẫn sáng tác" Đối với Ma Trường Nguyên, những quyển sách

này giống như những người thầy đầu tiên dìu dắt ông trong những bước chập chững bước những bước đi đầu tiên vào sự nghiệp sáng tác

Giai đoạn từ 1960 - 1990, Ma Trường Nguyên chủ yếu sáng tác thơ in

trên các báo, tạp chí Những tập thơ in chung có: Đường qua kỉ niệm (1975),

Trang 28

Rừng sáng (1980), Quê núi (1987) Và các tập thơ riêng: Mát xanh rừng cọ (1985), Trái tim không ngủ yên (1988)

Năm 1991, tiểu thuyết đầu tiên được ông cho trình làng với tên gọi "Mũi tên ám khói" Và liên tiếp 8 năm tiếp theo, nhà thơ đã cho ra đời tất cả 6 cuốn

tiểu thuyết, một tập truyện kí:

- Mùa hoa hải đường (1998)

- Cơn giông thời niên thiếu (Kí - 1997)

Đến năm 2004, sau một thời gian vắng bóng, ông trở lại với văn

chương và gây ấn tượng với một số thể loại khác như: tự truyện Dòng suốt tuổi thơ tôi và ba tập thơ: Câu hát vắt qua vai (2005), Cây nêu (2006), Bắc cầu vồng thăm nhau (2007)

Năm 2009, ông tiếp tục trình làng tập kí Những người bạn và gần đây nhất, năm 2012 là cuốn tiểu thuyết Phượng Hoàng núi

Ma Trường Nguyên đã nhận được nhiều giải thưởng cao về văn học nghệ thuật như:

- Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật

Việt Nam cho tiểu thuyết Rễ người dài (1996)

- Giải C Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập

thơ Cây nêu (2007)

- Giải C giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1987 - 1992) của tỉnh

Thái Nguyên cho tập thơ Trái tim không ngủ

- Giải B giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm của tỉnh Thái Nguyên với

tiểu thuyết Mũi tên ám khói

- Giải B giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1992 - 1997) cho tiểu

thuyết Mùi hoa hải đường

- Giải B văn học nghệ thuật 5 năm (2002 - 2007) cho tập thơ Câu hát vắt qua vai

Trang 29

Với 50 năm miệt mài, say sưa với sự nghiệp văn chương, Ma Trường Nguyên đã để lại nhiều trang viết chân thật, đậm đà tình cảm, mang đậm dấu ấn

cá nhân Những giải thưởng mà ông nhận được chính là những thành quả xứng đáng cho quá trình sáng tạo không mệt mỏi của ông

1.3.1.3 Quan niệm nghệ thuật của Ma Trường Nguyên

Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội nhà văn (1997), Ma

Trường Nguyên đã đưa ra lời tự bạch: "Các nhà thiên văn cảnh báo rằng trái đất đang nóng dần lên đến một ngày nào đó môi trường sống của con người khó thích nghi nổi Ngược lại, các nhà văn lại dự báo rằng: Cõi người ngày càng nguội lạnh dần đi Lòng người hạ nhiệt, sẽ có thể đóng băng khép kín trong cuộc sống văn minh kĩ thuật Để tồn tại, bản thân từng cá thể sống đều phải lệ thuộc vào không gian thực tại đang sống Cái kết dính chất người lại với nhau ấy đích thực là tình yêu Cái để con người lên ngôi người, khác với muôn loài, cái không thể mua bán, chỉ có thể trao gửi cho nhau như một phần tâm hồn của chính mình Tôi sống thật như tôi Tôi tự nhủ không phải viết như thế nào? Mà sống như thế nào để viết Tôi viết để giữ ấm lòng mình với người khác" Quan niệm này đã chi phối rất nhiều đến nội dung được phản ánh trong

các tác phẩm của ông Khảo sát các tập thơ của Ma Trường nguyên, chúng tôi thấy cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là cảm hứng tình yêu, chẳng hạn như

trong tập Câu hát vắt qua vai có đến 35/47 bài, tập Cây nêu có 23/35 bài, tập Bắc cầu vồng thăm nhau có 33/43 bài viết về chủ đề tình yêu Trong tiểu thuyết

cũng vậy, một trong hai cảm hứng chủ đạo xuyên suốt trong các tiểu thuyết của ông chính là tình yêu Viết về tình cảm giữa con người với con người trong cuộc đời chính là cách để nhà thơ tồn tại, để giữ ấm lòng mình

Nhà thơ cũng đã tâm niệm: "Trong sáng tạo văn học cũng như xây dựng một công trình, một tòa nhà nào đó sang trọng hơn ngôi nhà sàn, điều quan trọng nhất là không đào nền móng dưới gầm sàn nhà mình đi" Nền móng là một yếu tố

vô cùng quan trọng, không thể thiếu của mỗi một công trình, nếu thiếu nó thì công trình dù có đẹp đến đâu cũng không được bền vững Trong văn học, nền móng chính là nền tảng để văn học phát triển và nền móng văn học không phải là cái gì

xa lạ, nó chính là văn hóa dân tộc Văn hóa chính là bộ gen di truyền của xã hội, phản ánh trình độ văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử, dùng để phân biệt giữa quốc gia này với quốc gia kia Ma Trường Nguyên là một

Trang 30

nhà văn dân tộc Tày, ngay từ nhỏ ông đã được tiếp xúc, được sống trong nền văn hóa của người Tày chính vì vậy mà đọc các tác phẩm của ông, người đọc cảm nhận được rõ màu sắc văn hóa mang đậm phong vị Tày Như vậy, theo quan niệm của nhà thơ thì sáng tác văn học phải biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa mới đồng thời cũng phải giữ gìn, phát huy những nét văn hóa đẹp của dân tộc

mình: "hiện đại mà không đánh mất mình, đánh mất tâm hồn dân tộc mình" Riêng đối với thơ, Ma Trường Nguyên lại có những cảm nhận riêng: "Thơ là tiếng lòng chân thật nhất, là lời tự thú của trái tim mình"

Theo Ma Trường Nguyên, người làm thơ lúc nào cũng phải nuôi dưỡng

trong lòng mình một "dư vọng ngân nga" của cuộc đời, khi cần chỉ khẽ động

vào cũng đã thành thơ Thơ chỉ đến với những người biết rung cảm, nồng nhiệt với đời mà thôi Người làm thơ phải luôn gắn với đời, giao cảm với đời thì mới

có thể có được những vần thơ chân thật, chân thành nhất

Dây đàn anh mắc treo sự sống nảy sinh Mỗi nốt nhạc hát một đời của nó

Không kéo căng mà lượn theo từng chỗ Điểm nốt đâu hát thật nhất lòng mình

(Đối thoại núi và biển)

Là một nhà thơ dân tộc thiểu số, ông luôn tâm niệm trước hết phải học để chắt lọc những di sản tinh túy của dân tộc làm vốn Nhưng không được lười biếng, chỉ biết vận dụng máy móc, rập khuôn những di sản của ông cha mà phải vận dụng sáng tạo để vươn lên, tạo thành cái riêng cho chính mình Theo Ma

Trường Nguyên: "Trên con đường khám phá, sáng tạo trong sự lao động thơ, không phải chỉ là kế thừa về mặt hình thức mà là nội dung bên trong của tác phẩm" Do vậy mà nhà thơ đã tích lũy cho mình một kho tàng những câu Lượn,

câu Ví mang đậm bản sắc dân tộc

Trong các tác phẩm của mình, Ma Trường Nguyên đã sử dụng thành công ngôn ngữ của dân tộc mình (Tày) qua đó người đọc cảm nhận được nét đặc biệt trong con người của người đàn ông dân tộc Tày: luôn sống và yêu mãnh liệt, đường hoàng Không chỉ kế thừa, Ma Trường Nguyên còn thổi vào tác phẩm của mình hơi hướng của thời đại Nhờ vậy mà chúng ta thấy được sự vận động khách quan của hiện thực cuộc sống trong thơ ông

Trang 31

Với những quan niệm nghệ thuật trên, Ma Trường Nguyên đã cho trình làng một loạt những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc Thông qua những tác phẩm ấy, người đọc không chỉ biết được những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Tày mà còn có thể rút ra cho mình những bài học về đối nhân xử thế, về tình đời, tình người trong xã hội

1.3.2 Tác giả Võ Sa Hà

1.3.2.1 Tiểu sử nhà thơ Võ Sa Hà

Võ Sa Hà tên thật là Ngô Gia Võ, ông sinh ngày 27/10/1959 tại thị trấn Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng Quê gốc của ông ở Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Cao Bằng là một tỉnh nằm ở địa đầu của tổ quốc Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, Cao Bằng đã có bề dày về truyền thống văn hóa cũng như lịch sử trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống cho nên Cao Bằng là một vùng đất có sự đa dạng, phong phú về văn hóa thông qua hoạt động giao lưu văn hóa của các dân tộc anh em Quê hương Cao Bằng chính là một trong những ngọn nguồn cảm hứng trong các sáng tác của nhà thơ góp phần làm nên tính dân tộc và phong cách riêng, độc đáo trong thơ Võ Sa Hà Quê hương yêu dấu ấy đã hiện lên trong những trang thơ của ông thông qua những hình ảnh rất đỗi thân quen mà khi đọc chúng ta không thể nhầm sang một vùng quê khác như: ngọn đèn dầu li ti, bếp lửa đỏ suốt ngày đêm, sương muối phủ dày

Đặc biệt, những sản vật đặc trưng của quê hương Cao Bằng như: hạt dẻ Trùng Khánh, lê Đông Khê cũng đã được ông đưa vào trong thơ rất đỗi tự nhiên, mộc mạc, giản dị góp phần làm nên một sức hút rất riêng cho những bài thơ của ông Có thể khẳng định rằng, Võ Sa Hà là một nhà thơ yêu quê hương

da diết, nồng đậm

Võ Sa Hà có một tuổi thơ thiếu thốn tình cảm của mẹ: khi ông mới được

17 ngày tuổi đã mất mẹ Đến khi 17 tuổi, sắp trở thành sinh viên khoa văn thì lại mất cha Đây là một nỗi đau, sự mất mát quá lớn, không gì có thể bù đắp được Nỗi đau, nỗi buồn ấy luôn luôn thường trực trong tâm trí nhà thơ và sau này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác của ông

Trang 32

Thuở thiếu niên, Võ Sa Hà học phổ thông tại thị trấn Quảng Uyên Năm

1976, ông đạt giải Nhất học sinh giỏi văn toàn tỉnh Cao Lạng đồng thời cũng trong năm này ông đã tốt nghiệp phổ thông loại giỏi

Từ năm 1976 - 1980, Võ Sa Hà học tại khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Việt Bắc Vì là sinh viên ưu tú cho nên sau khi tốt nghiệp ông được giữ lại trường làm giảng viên Tuy nhiên không bao lâu, đến tháng 12/1980, ông tình nguyện nhập ngũ và công tác tại trường Văn hóa Quan khu I

Đến tháng 2/1984, ông ra quân, trở về tiếp tục làm giảng viên tại trường Đại học Sư phạm Việt Bắc - nay là trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Tháng 12 năm 1999, ông chuyển sang làm giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học của trường Đại học Sư phạm Hiện nay đang là trưởng khoa Giáo dục Tiểu học - Đại học Sư phạm Thái Nguyên Đến năm 2002, Võ Sa Hà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam

Võ Sa Hà là một người luôn hết lòng vì công việc, dù cho ở cương vị nào: một người thầy giáo, một vị trưởng khoa hay một nhà thơ ông cũng luôn luôn dồn hết tâm sức của mình để hoàn thành Đồng thời, ông cũng là một người có nghị lực sống và vươn lên không ngừng, chính sự phấn đấu vươn lên không mệt mỏi ấy đã giúp ông tích lũy được một vốn hiểu biết sâu rộng, làm tiền đề cho những sáng tác của mình

1.3.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Võ Sa Hà

Thơ ca là một phần không thể thiếu trong cuộc đời Võ Sa Hà Ông đã

cho xuất bản tất cả bốn tập thơ là: Sóng nhạc hồn tôi (Nxb Văn học, 1998), Ngựa đá (Nxb Quân đội nhân dân, 2001), Cánh chim về núi (Nxb Hội nhà văn, 2004), Lửa trắng (Nxb Lao động, 2009)

Thơ Võ Sa Hà rất giàu tính nhạc cho nên có nhiều bài thơ của ông đã được nhiều nhạc sĩ lựa chọn để phổ nhạc, đáng chú ý là trong số những bài được phổ nhạc ấy có những bài gây được ấn tượng rất tốt và giành được nhiều giải thưởng

cao như: Quê anh - nhạc sĩ Hoàng Sòi (Đạt huy chương vàng Liên hoan ca khúc Cao Bằng), Thổ cẩm - nhạc sĩ Vũ Lực (Đạt giải xuất sắc trong Liên hoan âm nhạc các tỉnh khu vực phía bắc năm 2009), Chữ O đầu đời - nhạc sĩ Phạm Đình Chiến

Trong quá trình sáng tác của mình, Võ Sa Hà đã giành được nhiều giải

thưởng cao như: Giải thơ Cao Bằng về đề tài chiến tranh biên giới (1980); đoạt giải

Trang 33

nhì (không có giải nhất) - giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1998 - 2002) tỉnh Thái Nguyên cho tập "Sóng nhạc hồn tôi", Giải A tác phẩm văn học tỉnh Thái Nguyên với tập thơ "Cánh chim về núi" (2002 - 2006); Giải C - Giải thưởng Ủy ban

toàn quốc Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam (2004) cũng với tập thơ

"Cánh chim về núi"; Giải B cuộc thi thơ tình do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức trên báo Văn nghệ trẻ trong hai năm 2006 - 2007; Giải khuyến khích cuộc thi thơ do Tạp

chí Văn nghệ Quân đội tổ chức (2008 - 2009) Thơ là thể loại sáng tác chủ yếu của

Võ Sa Hà Tuy nhiên, ngoài sáng tác thơ, ông còn tham gia hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học; sáng tác truyện ngắn, tản văn và một số thể loại khác nữa

Với việc giành được nhiều giải thưởng cao đã nâng cao, khẳng định được giá trị của thơ Võ Sa Hà Thơ ông còn được tuyển chọn để đưa vào trong nhiều

hợp tuyển thơ ca của cả nước: "Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số" - Nxb Giáo dục, 2001; "Thơ Việt Nam 1975 - 2000" - Nxb Hội nhà văn Việt Nam, 2002; "Thơ viết về mẹ" - Nxb Lao động, 2002; "Tuyển tập thơ tình Việt Nam và thế giới" (Nxb Quân đội nhân dân, 2005); "Thơ với lời bình đài tiếng nói Việt Nam" - Nxb Hội nhà văn, 2006; "Chung bước quân hành" - Tập thơ viết về thương binh liệt sĩ, được xuất bản do Nxb Quân đội nhân dân, 2006; "Thơ Việt Nam 1975 - 2000" - Nxb Hội nhà văn, 2006; "Thơ tình Việt Nam thế kỉ XX" - Nxb Giáo dục, 2007; "Sống mãi với thời gian" - Nxb Lao động, 2010

Nói tóm lại, Võ Sa Hà là nhà thơ có sự đóng góp lớn cho sự phát triển của phong trào sáng tác thơ ở khu vực miền núi Những bài thơ đậm đà bản sắc dân tộc, vùng miền của ông đã làm cho vườn hoa thơ ca dân tộc thêm nhiều màu sắc, nhiều phong vị

1.3.2.3 Quan điểm nghệ thuật của Võ Sa Hà

Mỗi nhà thơ khi đến với văn chương đều có một quan điểm nghệ thuật riêng Quan điểm nghệ thuật ấy chi phối đến toàn bộ sự nghiệp sáng tác của họ:

từ nội dung cho đến hình thức; từ chủ đề, đề tài, tư tưởng cho đến hình tượng

và các phương tiện nghệ thuật Võ Sa Hà cũng vậy, ông cũng có quan điểm sáng tác riêng Nó được thể hiện thông qua những tác phẩm và qua chính lời tâm sự của ông về sự nghiệp trong các bài viết

Trang 34

Trong bài phỏng vấn nhà thơ ngày 3/12/2011 nhà thơ đã tâm sự: "Niềm đam mê thơ có lẽ sẽ gắn bó với tôi suốt đời" Võ Sa Hà là nhà thơ viết nhiều về

người thân, về quê hương, về những miền đất mà nhà thơ đã đi qua, về những kỉ niệm tình yêu, tình bạn, tình đồng đội và về cả những vui buồn trong cuộc sống Ông gửi gắm vào trong thơ những suy tư và những khát vọng của bản thân mình

Võ Sa Hà quan niệm con đường sáng tạo của nhà thơ được kéo dài vô

tận, không có giới hạn, không bao giờ đến đích vì "cứ đi sẽ đến, đến đâu hay đến đó"; Phạm Văn Vũ (2011), "Ngẫu luận văn chương", Nxb Hội nhà văn, Hà

Nội [98;14] Nói như Võ Sa Hà thì nghệ thuật chính là một hành trình kiếm tìm không mệt mỏi cái đẹp mang tính chất nhân văn Thơ ca chính là sự kết tinh, sự hội tụ của nỗi đau và cái đẹp, thi sĩ đi tìm cái đẹp trong biển khơi vô tận của cuộc sống, trong tận cùng của niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau Nhà thơ cũng bày tỏ quan điểm rằng ông không tham vọng nắm bắt tất cả những cái đẹp trong cuộc sống mà chỉ cần chạm được vào cái thần, cái hồn của cái đẹp mà thôi Đó là một cuộc kiếm tìm đầy gian khổ cần có sự kiên trì, dũng cảm và ý chí quyết tâm Dù vất vả nhưng thi sĩ sẽ nhận được:

Đã nhận được cái hương ngọt ngào

Đã ngời sắc hồng trong mắt Với tay tôi vừa định ngắt Phì! Phì! Rắn độc, cuốn chân

(Tìm)

Nhà thơ cho rằng nghệ thuật đều giống nhau về bản chất sáng tạo Các tác phẩm văn học đều nói, đều kể về đời, về những cảnh tượng, những con người trong cuộc sống ở một giai đoạn nào đó, đều mang những thông điệp khách quan nhưng tác phẩm văn học cũng chính là một sản phẩm mang tính chủ quan, mang dấu ấn riêng, cụ thể của đời sống tinh thần của người sáng tác Nhà thơ nào cũng

có thế giới nghệ thuật riêng của mình Thế giới nghệ thuật ấy không bao giờ cố định mà luôn luôn cựa quậy, thay đổi, phát triển theo sự trải đời, vốn sống, vốn văn hóa, vốn tri thức của người làm thơ Tuy nhiên, muốn làm thơ trước hết người đó phải là người có tài đã còn việc có đến được với thơ không thì lại là do

nghiệp: "là do thiên tư và đến lúc nào đó là do nghiệp chướng" [98;16]

Trang 35

Võ Sa Hà cho rằng thơ là "sóng nhạc tâm tôi" cho nên ông luôn quan tâm đến tiếng lòng, đến những cung bậc cảm xúc riêng của mình bởi: "Tiếng lòng riêng của một con người không thể không viết ra Thơ là hành trình đi tìm cái bản thể của chính mình trong khát khao hướng về cái đẹp Khi thi sĩ cô đơn nhất, thơ sẽ thăng hoa ( ) Người làm thơ phải luôn tự làm mới mình, không say mê, không kiên trì, không tử tế không thể có thơ hay, không thể đi lâu bền trên con đường thơ được" [33;1117]

Hay thơ là ngọn "Lửa trắng" cháy lên từ đỉnh điểm khát vọng cô đơn của người nghệ sĩ, là "Ngựa đá" với những cảm xúc chân thành nhất từ tâm

hồn Nhưng cho dù thế nào thì nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống, bởi nếu không gắn liền với cuộc sống thì nó đơn giản chỉ là một thứ cảm xúc màu mè, vô nghĩa

Cháy đi nào lửa trắng Soi nhân thế khóc cười Một vầng trăng sấp bóng Một mảnh hồn mù khơi

(Lửa trắng)

Nhà thơ cho rằng: một nhà thơ đích thực không cần phải được lưu danh hậu thế bằng tên tuổi mà chỉ cần có những vần thơ sống mãi trong lòng bạn đọc các thế hệ mà thôi Đối với một thi sĩ đó chính là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi:

Một nén hương chữ nghĩa Gửi về sau, về sau

Hỡi người ai nhận được Xin đừng hỏi từ đâu

(Thi sĩ)

Thơ chính là mảnh đất để người thi sĩ gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời, về con người và về chân lý sáng tạo nghệ thuật, về cái bản thể cô đơn nhiều khát vọng nhưng cũng không thiếu sự khổ đau của bản thân

Trang 36

1.3.3 Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh

1.3.3.1 Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

Nguyễn Thúy Quỳnh sinh ngày 09/10/1968 Quê gốc nhà thơ ở Nghĩa Hưng - Nam Định nhưng nhà thơ lại sinh sống nhiều năm ở xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Hiện nay, nhà thơ đang có hộ khẩu thường trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên

Năm 1989, Nguyễn Thúy Quỳnh tốt nghiệp khoa Ngữ Văn - trường đại học Sư phạm Việt Bắc Chị từng có thời gian làm giáo viên của trường Phổ thông Trung học Đại Từ, sau đó được chuyển công tác sang làm ở Tỉnh đoàn Thái Nguyên Nguyễn Thúy Quỳnh là hội viên Hội nhà báo Việt Nam và hội viên Hội nhà văn Việt Nam Hiện nay, Nguyễn Thúy Quỳnh là thạc sĩ văn học, giữ chức vụ Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Tổng biên tập báo Văn nghệ tỉnh Thái Nguyên

1.3.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thúy Quỳnh

Ngay từ thời còn rất nhỏ tuổi, Nguyễn Thúy Quỳnh đã có một niềm đam

mê sáng tác văn chương Đến năm 1982, khi mới 14 tuổi, nhà thơ đã cho ra đời tác phẩm đầu tay, in trên Tạp chí Văn nghệ Bắc Thái

Năm 2003, Nguyễn Thúy Quỳnh bắt đầu công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên Cũng bắt đầu từ đây, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ thật sự bước sang một trang mới với tư cách là một nhà thơ, một nhà báo chuyên nghiệp

Nguyễn Thúy Quỳnh đã cho xuất bản hai tập thơ là: "Giá mà em từ chối" (Nxb Văn hóa dân tộc, H.2002), "Mưa mùa đông" (Nxb Hội nhà văn, H.2004) và

mới đây nhất, vào tháng 11/2011 nhà thơ đã cho ra mắt tập thơ thứ ba với tên gọi

"Những tích tắc quanh tôi" viết về sự trải nghiệm mới của nhà thơ về cuộc đời

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Thúy Quỳnh cũng đạt được một số giải thưởng cao về văn học của trung ương như: Giải nhì về thơ của Ủy

ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho tập thơ "Mưa mùa đông", Giải thưởng của tạp chí Văn nghệ Quân đội, của Tạp chí Văn hóa các

dân tộc Việt Nam Với những giải thưởng đã đạt được, thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

đã bước đầu khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn thi ca Việt Nam

1.3.3.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Thúy Quỳnh

Nguyễn Thúy Quỳnh là một nhà thơ có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người làm thơ, đó chính là ý thức của một con người có trách nhiệm với cộng

Trang 37

đồng Nhà thơ từng đưa ra quan niệm: "Mình không giúp được gì cho những thân phận nhỏ bé và bất hạnh thì mình chia sẻ bằng trang viết" Xuất phát từ ý

thức đó mà nhà thơ đã có sự chuyển biến lớn trong xu hướng sáng tác, từ việc chủ yếu viết về cuộc đời mình, về gia đình, tình yêu nhà thơ đã chuyển hướng

sự quan tâm, lo lắng, trăn trở đến những điều rộng lớn hơn, vượt hẳn ra ngoài phạm vi bản thể để hướng tới cộng đồng xã hội

Nhà thơ quan niệm: "Mình không giúp được gì cho những thân phận nhỏ

bé và bất hạnh thì mình chia sẻ bằng trang viết" Đó chính là ý thức của một

nhà thơ có trách nhiệm Điều này đã trở thành một tư tưởng chi phối xuyên suốt quá trình sáng tác về sau của Nguyễn Thúy Quỳnh

Tiểu kết chương 1

- Khái niệm văn hóa, văn học và mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là những giới thuyết quan trọng, cần thiết mà chúng tôi đi tìm hiểu trước khi đi sâu vào những ý chính của luận văn Giữa văn hóa và văn học luôn luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó và có sự tác động qua lại lẫn nhau Văn hóa tác động, ảnh hưởng đến văn học đồng thời văn học cũng góp phần làm cho những biểu hiện tích cực của văn hóa ngày càng phát huy, duy trì đồng thời loại bỏ những biểu hiện còn tiêu cực, cổ hủ

- Thơ Thái Nguyên là một bộ phận cấu thành nên nền thơ ca Việt Nam Thơ Thái Nguyên cũng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài song song cùng với những thăng trầm, biến cố của lịch sử dân tộc Trải qua quá trình phát triển ấy, thơ Thái Nguyên bên cạnh một số hạn chế cần phải khắc phục đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng Những thành tựu đó đã góp phần khẳng định chỗ đứng, vị trí của thơ Thái Nguyên trong nền thơ ca dân tộc

- Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh là những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ Thái Nguyên Cả ba nhà thơ đều có một quá trình hoạt động sáng tác lâu dài cho đến tận ngày nay, trong sáng tạo nghệ thuật mỗi người lại có một quan niệm riêng, không ai giống ai Chính điều này đã góp phần tạo nên phong cách riêng cho mỗi nhà thơ Đây cũng là những nhà thơ đạt được nhiều giải thưởng ấn tượng của cả hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên cũng như giải thưởng của nhà nước về văn học nghệ thuật

Trang 38

Chương 2 CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN,

VÕ SA HÀ, NGUYỄN THÚY QUỲNH 2.1 Cảm thức văn hóa phong tục trong thơ Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên là một trong những nhà thơ dân tộc Tày tiêu biểu của Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Lớn lên trong một không gian tràn ngập văn hóa dân tộc Tày với những nhà sàn, áo chàm, những câu hát Sli, Slượn cho nên thơ ông cũng mang đậm văn hóa của dân tộc mình

Các nhà thơ dân tộc Tày đều mang trong mình niềm tự hào sâu sắc đối với những nét đẹp văn hóa của dân tộc nhưng mỗi nhà thơ lại có một sự ưu ái đặc biệt đối với một nét đẹp nào đó Cùng là người dân tộc Tày nhưng nếu như

Võ Sa Hà ấn tượng bởi núi, trăng, đá, sông suối thì Ma Trường Nguyên lại bị

ấn tượng bởi nét đẹp của nhà sàn với những hoạt động sinh hoạt, những vật dụng liên quan

Ma Trường Nguyên sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Định Hóa - Thái Nguyên Đây là nơi sinh sống chủ yếu của người Tày ở Thái Nguyên Do đặc điểm địa hình rừng núi, có nhiều thú dữ và cũng do nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày mà người Tày ở đây sống trong những ngôi nhà sàn, muốn lên đến nhà thì đều phải leo lên một cầu thang khá cao, sàn nhà cũng nằm cách mặt đất một khoảng và được giữ chắc bởi các cây cột trụ ở các góc Nhà sàn chính

là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh hoạt của con người và cũng là nơi khởi nguồn cho mọi thứ tình cảm

2.1.1 Nhà sàn - nơi ở gắn liền với sinh hoạt, phong tục của người Tày

Ma Trường Nguyên luôn luôn yêu quý và tự hào về ngôi nhà sàn của

mình Mở đầu bài thơ "Con về quê núi" nhà thơ đã giới thiệu về vị trí của ngôi

nhà thân yêu ấy:

Sau nhà ta dãy Khau Rì Chon von núi dựng tứ thì hoa chen

Trang 39

Một vị trí đích xác đã được nhà thơ đưa ra: trước dãy núi Khau Rì - đó là nơi ngôi nhà thân yêu ngự trị Xung quanh ngôi nhà được bao bọc bởi những ngọn núi cao thấp khác nhau, tạo thế vững chắc, khỏe khoắn cho ngôi nhà Nhưng không vì thế mà làm cho ngôi nhà sàn trở lên khô khan, cứng nhắc, ngược lại lại

vô cùng lãng mạn, thơ mộng, nên thơ bởi sự góp mặt của những bông hoa "tứ thì"

Nhà sàn vốn là một trong những nét đặc trưng cho văn hóa của dân tộc Tày Có lẽ mỗi chúng ta dù không phải là người Tày, không sinh ra và lớn lên trên mảnh đất của dân tộc Tày nhưng với sự phát triển của công nghệ thông tin chúng ta cũng được biết rằng nhà sàn của dân tộc Tày được làm từ gỗ Nhưng chúng ta chỉ biết có thế chứ không thể hình dung ra, không thể biết rằng người Tày đã mất bao nhiêu công sức, truyền vào đó biết bao nhiêu tâm huyết, tình cảm và nhà sàn có ý nghĩa như thế nào đối với tâm hồn mỗi người Tày Bằng ngôn ngữ thơ của mình, Ma Trường Nguyên đã giới thiệu rất tỉ mỉ chất liệu cũng như công đoạn để làm ra một ngôi nhà sàn Nhà sàn của gia đình ông được dựng lên bởi chính bàn tay cần mẫn, khéo léo của cha ông, nó chứa đựng biết bao nhiêu tâm huyết, tình cảm của cha:

Tiện cây bố chặt làm nhà Làm lọ hoa gốc nghẹ già cho con Đục cây bố chạm trăng tròn

Có thêm ngọn lửa chập chờn chiều sương Nét cong xinh xẻo cánh buồm

Thuyền ra khơi giữa biển rừng xanh lơ Đêm con nằm đẹp giấc mơ

(Con về quê núi)

Việc làm nhà không hề giản đơn, không phải cứ chặt cây xuống, dựng lên

là thành một cái nhà được mà nó cần có sự khéo léo của người làm Muốn cho căn nhà thật đẹp thì bố của nhà thơ đã phải tỉ mẩn đục đẽo, khắc chạm những hình, những ảnh lên thân gỗ, hơn nữa lại còn phải thật sinh động, tinh tế: nào là trăng tròn, ngọn lửa chập chờn chiều sương; nét cong, xinh xắn của cánh buồm, con thuyền ra khơi giữa một biển rừng màu xanh lơ Tất cả đều gợi lên một không gian lãng mạn, đẹp đẽ, thơ mộng và tràn đầy sức sống Dường như con

Trang 40

mắt của nhà thơ đã rất chăm chú dõi theo từng động tác, từng cử chỉ chạm, khắc của người cha thì mới có được sự miêu tả tỉ mỉ, rõ ràng đến như vậy Căn nhà ấy với những vật dụng được làm từ chính đôi bàn tay thân yêu của người cha đã trở thành nơi thanh bình, đầm ấm nuôi dưỡng tuổi thơ của Ma Trường Nguyên Không chỉ đề cập đến chất liệu mà Ma Trường Nguyên còn nhắc đến một đặc điểm mang tính đặc trưng của nhà sàn đó là nhà sàn thường được xây dựng cao hơn so với mặt đất khá nhiều:

Vùng cao núi bọc mây trời Núi trùm khăn bạc ngủ ngồi lim dim Râm ran tiếp nối lời chim

Chông chênh nhà gác nép chìm đêm trăng

(Vùng Cao)

Cũng giống như núi ở vùng cao, nhà ở đây cũng được xây dựng ở rất cao

Vì được xây dựng trên cao, trên những ngọn núi, mép núi cho nên những ngôi

nhà luôn có tư thế chông chênh "Chông chênh" là từ láy tượng hình, Ma

Trường Nguyên đã rất tinh tế khi đi miêu tả tư thế, dáng vẻ của những ngôi nhà

sàn chỉ bằng một từ "chông chênh" Theo từ điển tiếng Việt, "chông chênh" là

từ dùng để chỉ cho tư thế không vững chãi, không ổn định vì không có chỗ dựa

vững chắc Theo như chúng tôi nghĩ: từ láy "chông chênh" trong câu thơ

"chông chênh nhà gác nép chìm đêm trăng" của Ma Trường Nguyên có hai

nghĩa: một là gợi sự không vững chắc của ngôi nhà khi được xây trên những sườn núi cao, thứ hai là gợi độ cao của ngôi nhà (tức là khoảng cách giữa mặt đất lên đến sàn nhà dài, cao cho nên tạo ra cảm giác chông chênh, ngất ngưởng)

Vì sàn nhà được xây dựng cách mặt đất khá cao (nhằm vừa tận dụng khoảng cách đó để làm chuồng chăn nuôi gia súc và cũng là để tránh sự xâm nhập của thú dữ) cho nên muốn từ dưới đất lên nhà hay từ trên nhà xuống dưới đất cần phải có thang:

Sáng ra người bước xuống thang Bước từ mây trắng xuống sàn sương nâng Bàn chân giẫm đạp mù giăng

(Vùng cao)

Ngày đăng: 18/03/2017, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtốt (1964), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtốt
Nhà XB: Nxb Văn hóa nghệ thuật
Năm: 1964
2. Đào Duy Anh (2011), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2011
3. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1975, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
4. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
6. Nguyễn Duy Bắc (1998), Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945-1975), Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945-1975)
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
7. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
8. Nông Quốc Chấn (1996), "Nghĩ về bản sắc dân tộc trong thơ", Tạp chí Văn học, tháng 6/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về bản sắc dân tộc trong thơ
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Năm: 1996
9. Nông Quốc Chấn (2007), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Hoàng Minh Châu (1990), Bàn về thơ, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1990
13. Xuân Diệu (1994), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
14. Nguyễn Đặng Duy (2004), Văn hóa Việt Nam - đỉnh cao Đại Việt, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam - đỉnh cao Đại Việt
Tác giả: Nguyễn Đặng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2004
15. Phan Cự Đệ (1997), Văn học đổi mới và giao lưu Văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và giao lưu Văn hóa
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
17. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
18. Hà Minh Đức (2004), Văn chương, tài năng và phong cách , Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương, tài năng và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
19. Hà Minh Đức (chủ biên) (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
20. Francis Xavier (2010), Hạt giống tâm hồn, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạt giống tâm hồn
Tác giả: Francis Xavier
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
21. G.N.Pôxpêlôp (1988), Dẫn luận nghiên cứu văn học (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Trọng Nghĩa dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N.Pôxpêlôp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm