1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)

109 980 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÔ THỊ THANH NGA

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI VÕ QUẢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÔ THỊ THANH NGA

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI VÕ QUẢNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn nghiên cứu khoa học: T.S MAI THỊ NHUNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài: “Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học

của TS Mai Thị Nhung Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong luận văn này

là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Lô Thị Thanh Nga

Trang 4

Cuối cùng tôi xin chân trọng cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Lô Thị Thanh Nga

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp mới của luận văn: 8

8 Cấu trúc của luận văn 9

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1 NHÀ VĂN VÕ QUẢNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10

1.1 Vài nét về tác giả Võ Quảng 10

1.1.1 Con người và sự nghiệp sáng tác thơ, văn 10

1.1.2 Nhà văn Võ Quảng trong quá trình phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam 13

1.2 Những vấn đề lý luận 17

1.2.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 17

1.2.2 Khái niệm thế giới nhân vật 19

1.2.3 Khái niệm không gian nghệ thuật 22

1.2.4 Khái niệm thời gian nghệ thuật 25

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VÕ QUẢNG 30

Trang 6

2.1 Đặc điểm thế giới nhân vật 30

2.1.1 Nhân vật hồn nhiên, giàu nghĩa tình, nhân hậu 30

2.1.2 Nhân vật gắn bó thiết tha với quê hương đất nước, với cách mạng 38

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 46

2.2.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và hành động 46

2.2.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 56

2.2.3 Đặt nhân vật vào những sự kiện 59

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI VÕ QUẢNG 66

3.1 Không gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng 66

3.1.1 Không gian thiên nhiên 66

3.1.2 Không gian xã hội 72

3.2 Thời gian nghệ thuật trong văn xuôi võ quảng 80

3.2.1 Thời gian sự kiện 81

3.2.2 Thời gian sinh hoạt 85

3.2.3 Thời gian tâm lý 89

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thiếu nhi chính là những mầm xanh của đất nước Vì vậy, đây là đối

tượng cần được chăm sóc, yêu thương và bảo vệ Văn ho ̣c viết về thiếu nhi, hay viết cho thiếu nhi là một mảng văn học quan tro ̣ng giúp cho các em có sự hình thành và phát triển nhân cách và các nhà văn đã hết sức chú ý đến đối tượng này Văn học thiếu nhi đươ ̣c đánh giá là mô ̣t bộ phận văn học quan trọng, tuy nhiên các nhà văn cũng rất khó khăn khi viết để chạm được đến trái tim các em khiến các em thích thú và ghi nhớ

Bằng tình cảm yêu thương và với nhu cầu sống lại một tuổi thơ hồn nhiên trong sáng mà ai cũng từng trải qua, sáng tác viết cho thiếu nhi đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào của nhiều tác giả Có những tác phẩm viết cho

thiếu nhi được các em nhỏ yêu thích như: Dế mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài, Cha và con của nhà văn Hồ Phương, Cái tết của mèo con của nhà văn Nguyễn Thi,…Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, Bí mật giữa tôi và thằn lằn đen của Lý Lan, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn

Nhật Ánh,…Xác định nguồn cảm hứng và đề tài thiếu nhi chính là tiền đề để các nhà văn phát triển các sáng tác viết về thiếu nhi của mình

1.2 Cùng viết về đề tài thiếu nhi nhưng mỗi nhà văn lại có những cách

thể hiện khác nhau với màu sắc, truyền tải thông điệp khác nhau mang đậm phong cách riêng Có thể nhắc tới Nguyên Hồng với lối văn truyền cảm, thiết

tha, yêu thương cảm thông với số phận con người qua những tác phẩm: Giọt máu, Mợ Du, Những giọt sữa, Con chó vàng ; Ma Văn Kháng với những trang viết có khám phá mới về tâm lí trẻ em như: Ông Pồn và chú hổ con, Khu vườn tuổi thơ, Kiểm - chú bé - con người, Ông nội cổ giả và quê mùa, Bà ngồi ở góc nhà ; Tô Hoài thể hiện phong cách đặc sắc qua lối viết giàu tính tạo hình đem lại nhiều bài học bổ ích cho các em như truyện Dế mèn phiêu lưu kí Bên cạnh

Trang 8

đó, không thể không nhắc đến một trong những tên tuổi đã dành trọn vẹn sự nghiệp văn chương của mình cho thiếu nhi là nhà văn Võ Quảng Gần 50 năm viết cho thiếu nhi ở cả hai thể loại thơ và văn, ông đều rất thành công, đều thể

hiện được tình yêu thương sâu sắc với các em thiếu nhi Ông đã từng nói: “Thơ

có nhiệm vụ phải ghi sâu vào tâm hồn các em tất cả bức tranh đậm đà của đất nước, từ những sự kiện to lớn nhất, cho đến những việc nhỏ nhất, bóng dáng một cánh cò bay, hình ảnh sóng lúa rợp rờn, cây đa, bến nước, tất cả vẻ đẹp của núi sông, đó là lớp phù sa mỡ màng, trên đó mọc lên xanh tươi tình yêu Tổ quốc” [15] Có thể thấy những trang viết của Võ Quảng luôn tươi mới , sống

động Ông được biết đến với những tuyển tập viết cho thiếu nhi đặc sắc như:

Nắng sớm (thơ, 1965), Anh Đom đóm (thơ, 1970), Quê nội (truyện, 1973), Tảng sáng (truyện, 1978),…, trong bài “Nhà văn, nhà thơ trọn đời dành cho văn học thiếu nhi - Võ Quảng” đã đúc kết rằng: “Một quyển sách gọi là hay, gọi là tốt cho thiếu nhi phải đồng thời với thiếu nhi, người lớn cũng thấy tốt, thấy hay” [15]

1.3 Với tình yêu quê hương, yêu con người và bằng vốn sống, sự hiểu

biết của mình, nhà văn Võ Quảng đã tập trung tâm huyết viết để hướng tới các

em thiếu nhi qua những vần thơ ngộ nghĩnh hay những câu chuyện đồng thoại hồn nhiên lý thú Lâu nay đã có nhiều người nghiên cứu thơ văn Võ Quảng, nên luận văn khai thác mảng văn xuôi Võ Quảng với những tập truyện được

nhiều người yêu thích: Quê nội, Tảng sáng và Truyện đồng thoại, để thêm phần

làm rõ hơn về sáng tác của tác giả Nhìn từ góc độ thi pháp học, chúng tôi chọn

đề tài luận văn: “Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng” Mong rằng đề

tài có thể góp thêm tiếng nói khẳng định những thành công của tác giả về văn xuôi viết cho thiếu nhi Bên cạnh đó luận văn có thể là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu và học tập thơ văn Võ Quảng nói riêng, văn học Việt Nam nói chung trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

Trang 9

Với thời gian dài cầm bút dành nguồn cảm hứng sáng tác cho thiếu nhi, nhà văn Võ Quảng được nhiều độc giả yêu mến, bạn bè đồng nghiệp cùng giới phê bình nghiên cứu quan tâm Từ lòng yêu mến, kính trọng nhà văn, những tác phẩm đã khơi nguồn hứng thú sáng tạo cho nhiều nhà nghiên cứu thể hiện qua những bài phê bình, các công trình khoa học

Trong cuốn Bàn về văn học thiếu nhi của nhà xuất bản Kim Đồng, ở phần II: Tác phẩm về Võ Quảng đã có rất nhiều nhận định của các nhà nghiên

cứu, phê bình dành cho tác giả và tác phẩm, có thể nhắc đến như:

Với Đoàn Giỏi trong “Tác phẩm và con người Võ Quảng” khi tiếp xúc với truyện của Võ Quảng thời gian tuổi thơ như được sống lại: “Đọc truyện anh Võ Quảng viết cho các em, tôi có cảm tưởng như mình trẻ lại - lùi về những ngày thơ ấu - với tất cả rung động bồn chồn… ở mọi niềm vui cũng như nỗi buồn của số phận từng nhân vật từ người lớn cho đến trẻ thơ”.[33, tr.112]

Nhà văn Vũ Tú Nam thể hiện sự ấn tượng với Võ Quảng qua bài viết

“Tài năng miêu tả của Võ Quảng”: “Tấm lòng Võ Quảng nặng tình nghĩa với cái “Quê nội” ấy, với con sông quê hương ấy, đã giúp anh miêu tả thiên nhiên và con người không phải chỉ bằng chữ nghĩa, mà bằng cả trái tim, bằng kỉ niệm bồi hồi và nỗi nhớ.”; “Văn miêu tả của anh gọn, động, rất gần với thơ’’ [33, tr.121] Đúng là tài năng miêu tả của Võ Quảng đã chạm tới

trái tim người đọc, khiến những trang văn của ông chạm vào bao kỷ niệm tuổi thơ của mỗi người

Giáo sư Phong Lê có bài viết “Vào thế giới thu nhỏ trong Quê nội và Tảng sáng của Võ Quảng”, ông nhận ra “Một giọng điệu trầm buồn, và đôi khi như có gì hiu hắt nữa, cứ bám riết, và hằn in lên nửa cuộc đời của số không ít nhân vật trong truyện, nơi phía bên kia bóng tối chế độ cũ, mà bản lề là Cách mạng tháng Tám 1945 Và từ đó mà toả rộng ra và loang dần ra một niềm vui,

Trang 10

một bâng khuâng, và đôi khi như rạo rực của một cuộc đổi đời đã diễn ra từ mùa thu nâm ấy”[33, tr.169]

Trên các báo tạp chí, các nhà nghiên cứu phê bình cũng đã đăng một số bài viết đáng chú ý:

Thanh Quế trong bài “Nhà văn Võ Quảng - Ông già nhân hậu viết cho thiếu nhi” đã nhận định rất thấm thía về cả tác phẩm thơ và văn Võ Quảng:

“Thơ Võ Quảng mang đến cho các em những rung cảm tinh tế, nhe ̣ nhàng trước khung cảnh quen thuộc mà các em đang sống Qua thế giới thắm tươi và sinh động của cỏ cây hoa lá, những con vật bé nhỏ, Võ Quảng dạy cho các em cách quan sát va ̀ khám phá những cái rất độc đáo, rất riêng biê ̣t trong sinh hoa ̣t hàng ngày, từ đó làm nảy sinh lòng tin yêu cuộc sống cho lứa tuổi thơ.”

“Ở văn xuôi, truyện của Võ Quảng viết cho nhiều lứa tuổi Với lứa tuổi nhi

đồng, ông viết truyện đồng thoại như "Cái mai”,"Bài học tốt”, "Những chiếc áo ấm” Nhưng có lẽ phần phong phú nhất cũng là tâm huyết nhất là những

truyện ông viết cho lứa tuổi thiế u niên Co ́ lẽ lứa tuổi sắp bước vào đời này có nhiều ước mơ, hoa ̀ i bão, tác giả muốn trang bi ̣ cho các em hành trang đầy đủ hơn, muốn tâm sự với các em nhiều hơn.”[37]

Thu Hà theo báo điện tử Đà Nẵng trong bài “Nhà văn Võ Quảng: Trọn đời dành cho văn học thiếu nhi” cũng có ấn tượng sâu sắc với tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Võ Quảng là “Quê nội” qua nhân vật Cục và Cù Lao: “Dường như trong hình ảnh của Cục và Cù Lao, người đọc như tìm được tất cả những

gì sống động, hồn nhiên nhất của tuổi thơ Mỗi người có một tuổi thơ khác nhau, nhưng chắc hẳn ai cũng có ít nhiều cái ngộ nghĩnh, cái tinh nghịch, cái khôn ranh vụng dại một thời ấy nhưng đều có chung một mong muốn là làm được nhiều việc tốt, muốn được khẳng định về nhân cách, muốn nhanh chóng trở thành người lớn, được giao những việc quan trọng Ở Cục và Cù Lao, Võ

Trang 11

Quảng đã phát hiện ra một cái gì thật nghiêm trang nhưng cũng thật điển hình cho cả một thế hệ trẻ thơ, trong cái vẻ riêng ngộ nghĩnh không lặp lại.”[14]

Nhà phê bình Nguyên An trong bài “Nhà văn Võ Quảng - Người bạn lớn của tuổi thơ” có một vài cảm nhận khi được tiếp xúc với tác phẩm văn thơ của Võ Quảng về thời kì đó: “Giữa những năm 1980 ấy cuộc sống thật khó khăn, có nhà, có nơi gần như mòn mỏi và bế tắc bởi sinh kế mỗi ngày và hướng đi cho mai sau, thế mà đọc văn thơ Võ Quảng ta đã quên đi thực tại khó khăn đó Quên đi, và thấy tin mến, mà tự nhóm lên trong mình một nguồn sống.” [1]

Trong quyển“Nguyễn Tuân bàn về nghệ thuật” của Nguyễn Đăng Mạnh, tác giả đã nhận định truyện thiếu nhi của Võ Quảng: “Riêng về phần tôi, ngoài

truyện Tảng sáng tôi lại thích truyện Quê nội và cuốn Những chiếc áo ấm nó

chỉ có 4 truyện ngắn nhưng có một truyện Những câu chuyện mà tôi cho là quý, quý vì nó có vấn đề Nhưng đây là vui, vui vì nó đúng, nó tốt, nó lành mạnh và tươi đẹp, đẹp như thơ, mặc dù nó chỉ là một cái truyện ngắn văn xuôi Càng chứng tỏ rằng không phải có vần và dài dài trường ca thì mới là thơ”

[31, tr.674]

Tác giả Bùi Văn Tiếng với “Đôi điều về đồng thoại Võ Quảng” đã nói rằng: “Sẽ là thiệt thòi biết mấy cho văn chương nước nhà, trước hết cho trẻ em Việt Nam nếu như ngày ấy Võ Quảng của chúng ta vẫn tiếp tục tham gia chính

sự tham dự chính trường mà không trở thành một người chuyên sáng tác văn học và nhất là chuyên sáng tác văn học cho thiếu nhi Và cũng sẽ thiệt thòi biết mấy cho văn chương nước nhà, trước hết cho trẻ em Việt Nam nếu như trong những gì Võ Quảng viết cho thiếu nhi mà không có những đồng thoại thấm

đẫm chất dân gian như Bài học tốt, Sự tích những cái vằn, Mắt Giếc đỏ hoe, Cười, Thêm sức chiến đấu” [43]

Trang 12

Như vậy, các nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất với quan điểm về những sáng tác của nhà văn Võ Quảng, những sáng tác ấy đã phần nào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ với những bài học cuộc sống tốt đẹp để hướng tới một tương lai tin yêu vào cuộc sống của các em Đồng thời khi đến với những sáng tác của Võ Quảng, người đọc như được sống lại với những kỉ niệm nằm trong

kí ức tuổi thơ của mỗi người

Bên cạnh những nghiên cứu, nhận xét của các nhà phê bình thì cũng có nhiều luận văn nghiên cứu về con người và tác phẩm của nhà văn Võ Quảng:

Năm 2009, tác giả Ma Thị Như Hoa trong luận văn “Đặc sắc nghệ thuật thơ viết cho thiếu nhi của Võ Quảng” đã nghiên cứu những nét đặc sắc nghệ

thuật trong thơ Võ Quảng Từ những nét đặc sắc đó luận văn chỉ ra những điểm sâu sắc về nội dung thơ, qua đó đánh giá những bài học giáo dục mà thơ Võ Quảng đã mang lại cho trẻ thơ

Năm 2009, tác giả Huỳnh Thị Ngọc Hân trong luận văn “Tìm hiểu sáng tác cho thiếu nhi của Võ Quảng”, tìm hiểu sáng tác thơ văn của Võ Quảng để

thâý rõ nhà văn Võ Quảng rất quan tâm đến văn học thiếu nhi cũng như vấn đề giáo dục các em

Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung trong luận văn “Thế giới tuổi thơ trong sáng tác của Võ Quảng” tập trung phát hiện những đặc điểm nổi bật của thế

giới tuổi thơ trong sáng tác của Võ Quảng, trong đó có dành một mục nhỏ đề cập

tới Không - thời gian xuất hiện thế giới nhân vật tuổi thơ

Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Phượng trong luận văn “Thơ Võ Quảng trong chương trình tiểu học” nghiên cứu những đóng góp quan trọng trong

những tác phẩm thơ của Võ Quảng được dạy ở trong chương trình tiểu học,

trong đó tác giả đã dành một mục nhỏ đề cập đến Thời gian và không gian nghệ thuật gắn bó với tuổi thơ

Trang 13

Năm 2011, tác giả Phạm Thị Minh Phúc trong luận văn “Thế giới trẻ thơ trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Quảng” đã nêu lên một số đặc điểm và

nghệ thuật thể hiện thế giới trẻ thơ trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn

biệt Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi

Võ Quảng” để tìm hiểu sâu hơn về sáng tác của ông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả những vấn đề thi pháp trong văn xuôi của Võ Quảng mà chủ yếu tập trung vào thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thế giới nghệ thuật có nhiều vấn đề, luận văn chỉ tập trung vào thế giới nhân vật và không gian, thời gian nghệ thuật

Sáng tác của Võ Quảng gồm nhiều thể loại, nhiều tác phẩm, luận văn chỉ

tập trung vào văn xuôi với những tác phẩm tiêu biểu: Quê nội, Tảng sáng và

truyện đồng thoại

4 Mục đích nghiên cứu

Trang 14

Luận văn đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật trong văn xuôi của nhà văn Võ Quảng; Từ đó khẳng định

rõ nét hơn những đặc sắc trong những tác phẩm dành cho thiếu nhi của ông, khẳng định những đóng góp Võ Quảng dành cho nền văn học nước nhà

Đề tài lựa chọn một số phương diện nghệ thuật đặc sắc trong văn xuôi

Võ Quảng để thấy rõ hiệu quả của thi pháp học đối với việc tiếp cận văn bản tác phẩm văn học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tác giả, những vấn đề lý luận

có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng qua các phương diện nghệ thuật: thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật

- So sánh với một số tác giả tiêu biểu để làm nổi bật vấn đề

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nội dung nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, khảo sát: Đọc tuyển tập văn xuôi của tác giả, khảo sát nội dung, chất liệu để sắp xếp phân loại chúng vào từng nhóm hiện tượng cần nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Dựa vào kết quả khảo sát thống kê, chúng tôi tiến hành đi vào sâu phân tích để thấy rõ đặc điểm trong văn xuôi Võ Quảng

- Phương pháp so sánh đối chiếu: so sánh đối chiếu để thấy được những cái mới, cái độc đáo trong sáng tác Võ Quảng

- Phương pháp hệ thống: Triển khai vấn đề trong tính hệ thống, lô gic

7 Đóng góp mới của luận văn:

Trang 15

- Luận văn tiếp tục nghiên cứu về sáng tác của Võ Quảng, đi sâu nghiên

cứu các tác phẩm văn xuôi viết cho thiếu nhi, khẳng định đống góp của Võ Quảng với văn học thiếu nhi trong nền văn học Việt Nam hiện đại

- Luận văn cung cấp một tài liệu tham khảo thiết thực đối với việc nghiên cứu văn xuôi Võ Quảng và việc giảng dạy, học tập văn học thiếu nhi trong nhà trường

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Nhà văn Võ Quảng và những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài Chương 2: Thế giới nhân vật trong văn xuôi Võ Quảng

Chương 3: Không gian, thời gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 NHÀ VĂN VÕ QUẢNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Vài nét về tác giả Võ Quảng

1.1.1 Con người và sự nghiệp sáng tác thơ, văn

Nhà văn Võ Quảng sinh ngày 01 tháng 03 năm 1920 Ông sinh ra và lớn lên tại xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Vùng đất xứ Quảng có thiên nhiên khá khắc nghiệt nhưng cũng đa dạng phong phú về tự nhiên và vùng đất ấy chính là nơi nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên, lòng yêu thương con người sâu nặng của nhà vănVõ Quảng Quê Đại Hòa của nhà văn

có dòng sông Thu Bồn hiền hòa hàng năm bồi đắp phù sa thành bờ bãi, và người dân trồng mía, bắp kín mít dọc bờ sông Dòng sông ấy cũng chính là nơi tuổi thơ ông trôi qua với bao trải nghiệm non nớt trong sáng cùng bạn bè đồng trang lứa Bên cạnh đó còn có những bãi dâu bạt ngàn với nghề tằm tơ của quê hương đã đem đến cho ông những kinh nghiệm như một người nuôi tơ tằm thực thụ Dòng sông quê hương ấy còn là nơi giao lưu buôn bán, giao thông bến thuyền tấp nập giữa miền núi và đồng bằng điều đó tạo sự tiếp cận giao lưu văn hóa giữa các vùng Vùng quê ấy cũng sản sinh ra những câu hát hò khoan, hò đạp nước, hò bài chòi, hò giã gạo,… hay những món ăn mang đậm chất xứ Quảng Một vùng quê với sự phong phú đa dạng của thiên nhiên cây cỏ và tài sản văn hóa đậm chất xứ Quảng đã gieo vào lòng nhà văn một tình yêu sâu sắc đối với quê hương từ tuổi ấu thơ

Nhà văn Võ Quảng sinh ra trong gia đình nông dân, cha ông là một nhà nho, cha ông hay ngâm vịnh, ngâm thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, thơ Ly Tao của Khuất Nguyên là những nhà thơ lớn của Trung Quốc Võ Quảng đã được kế

Trang 17

thừa lòng say mê yêu thích văn thơ từ cha, là nền tảng cho sự nghiệp văn chương của ông

Năm 16 tuổi ông vào học ở trường Quốc học Huế Ở đây ông được tiếp xúc với những sách báo tiến bộ và trong ông cũng như một số học sinh trường Quốc học đã được thổi một luồng tư tưởng mới - tư tưởng cách mạng Năm 1935, ông tham gia hoạt động cách mạng và năm 1936 tham gia tổ chức Thanh niên Dân chủ

ở Huế; năm 1939 làm tổ trưởng tổ Thanh niên Phản đế và hoạt động ở Huế; tháng

9 năm 1941, bị chính quyền Pháp bắt do những hoạt động cách mạng chống lại chính quyền thực dân và giam ở nhà lao Thừa Phủ Có thể thấy rằng thời gian ở Huế đối với ông là thời gian của sự tiếp cận đổi mới trong tư tưởng một lòng hướng tới cách mạng Sau đó ông bị đưa đi quản thúc vô thời hạn ở quê nhà Trong thời gian này ông đã đọc sách triết học, văn học và càng đọc niềm say mê văn học trong ông càng lớn dần Thời gian này ông cũng có làm thơ tuy nhiên các bài thơ đó chưa được đánh giá cao, nhưng nó là tiền đề cho sự nghiệp sáng tác của ông sau này

Nhà văn Võ Quảng giữ nhiều chức vụ sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm ủy viên Tư pháp thành phố Đà Nẵng Khi Pháp tái chiếm Nam

Bộ, ông giữ chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến thành phố

Đà Nẵng Từ năm 1947 - 1954, ông được cử làm phó Chánh án tòa án quân

sự miền Nam Việt Nam, sau đó là Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân liên khu V Trong suốt những năm đó, Võ Quảng đã thể hiện được năng lực của mình trên lĩnh vực hành chính và pháp luật, ông cũng có sáng tác một số tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi tuy nhiên do công việc bận rộn của chính quyền đoàn thể cách mạng nên ông cũng chưa thể chuyên tâm tập trung cho sáng tác văn học

Trang 18

Sau 1954, Võ Quảng tập kết ra Bắc, ông được điều về công tác ở chức vụ

Ủy viên Ban nhi đồng Trung ương, phụ trách văn học cho thiếu nhi Được sự động viên từ bạn bè khi biết ông từng viết thơ và say mê văn học nên Võ Quảng đã hướng đến con đường viết văn Từ đây ông đã chuyển từ công việc chính trị sang tập trung hoạt động văn học, sáng tác những tác phẩm về đề tài thiếu nhi ở cả thơ và văn xuôi Đây chính là bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của ông Từ khi đó Võ Quảng chỉ chuyên tâm vào sáng tác thơ văn với nguồn cảm hứng viết về thiếu nhi Nhà văn Võ Quảng đã bỏ nhiều tâm huyết góp phần xây dựng nền văn học thiếu nhi dưới chế độ mới Ông là một trong những người tham gia sáng lập và từng giữ chức Giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng vào năm

1957, có nhiều tài năng đã được phát hiện và có sự gặp gỡ hợp tác của các nhà văn, các chuyên gia đều có chung niềm đam mê đối với đề tài văn học thiếu nhi Sáng tác của nhà văn Võ Quảng có đóng góp cho nền giáo dục nước nhà khi một số sáng tác được xuất hiện trong văn học nhà trường Một thời gian sau

đó, ông được cử làm Giám đốc Xưởng phim hoạt hình Việt Nam, ở đây nhà văn đã không chỉ dừng lại ở việc viết văn mà đã vươn tới nghệ thuật tạo hình cho trẻ em Năm 1965, ông được kết nạp làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Năm 1968, ông về công tác tại Bộ Văn hóa, năm 1971, về Hội Nhà văn Việt Nam, được phân công làm chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi Hội Nhà văn Việt Nam và giữ chức vụ này đến khi về hưu Là một nhà văn tâm huyết với nghề của mình theo đuổi, trong tác phẩm của mình, ông luôn chú trọng tới việc giáo dục đạo đức, bồi dưỡng tình cảm trẻ thơ, hướng các em tới những giá trị làm người tốt đẹp nhất để các em có thể trở thành một công dân tốt cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội

Võ Quảng đã trở thành một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, ông dành cả

sự nghiệp văn chương của mình chủ yếu về đề tài thiếu nhi, viết cho thiếu nhi

Trang 19

Ông cũng là người đầu tiên dịch tác phẩm Don Quixote sang tiếng Việt dưới bút danh Hoàng Huy năm 1959 Năm 2007, ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật Nhà văn qua đời ngày 15 tháng 06 năm 2007 tại Hà Nội

1.1.2 Nhà văn Võ Quảng trong quá trình phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam

Văn học thiếu nhi Việt Nam được hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là trong bối cảnh miền Bắc bắt tay vào xây dựng cuộc sống hòa bình, đồng thời tiếp sức cho miền Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất nước nhà Trong hoàn cảnh lịch sử đó văn học thiếu nhi Việt Nam đã phát triển qua nhiều thể loại truyện, thơ, kí, kịch, tranh,… nhân vật chính là thiếu nhi nên các sáng tác đều mang tính giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho các em Về đội ngũ sáng tác không chỉ có những người lớn, những cây viết có tên tuổi mà tác giả viết cho thiếu nhi được phát triển ở nhiều lứa tuổi từ các em nhỏ cho đến các nhà văn chuyên nghiệp

Trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, lực lượng viết cho các em thiếu nhi mới chỉ có một số nhà văn chuyên nghiệp và sách cho thiếu nhi cũng chưa nhiều, có thể kể đến một số tên tuổi như: Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng,…Từ sau 1954, ở miền Bắc đội ngũ viết cho thiếu nhi đã có sự phát triển và nhà văn Võ Quảng cũng đứng trong hàng ngũ này cùng với những tên tuổi như: Đoàn Giỏi, Phạm Hổ, Vũ Tú Nam, Lê Minh, Hà Ân,… Với một lực lượng sáng tác đông đảo như vậy, văn học viết cho thiếu nhi đã thực sự được chú ý, phát triển và trở thành một dòng văn học chuyên biệt

Văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển vào khoảng năm 1960 với đủ đề tài và thể loại Khi đó nhà văn Võ Quảng cũng có những tác phẩm nổi tiếng

Trang 20

như Cái thăng và Thấy cái hoa nở Sau 1970, khi đã trải qua nhiều lần điều

chỉnh uốn nắn các tiêu chí viết văn sao cho phù hợp với thực tiễn, văn học thiếu nhi đã dần ổn định hơn với nhiều tác phẩm được xuất bản đã khẳng định được

bước phát triển của nền văn học thiếu nhi, có thể kể đến: Tập Măng tre và truyện Quê nội của Võ Quảng, Chú bò tìm bạn của Phạm Hổ, Trận chung kết của Khánh Hòa, Những tia nắng đầu tiên của Lê Phương Liên,… Các tác phẩm

văn học thiếu nhi khi đó thường đề cập đến truyền thống yêu nước đánh đuổi giặc ngoại xâm trong những hoàn cảnh sự kiện lịch sử gay go ác liệt, các nhân vật thiếu nhi được đề cập tới rất hồn nhiên trong sáng cũng sôi nổi tham gia vào nhiều hoạt động trong từng bối cảnh của xã hội, các em thích phiêu lưu, thích khám phá đều được các tác giả thể hiện một cách sinh động, hấp dẫn cuốn hút các thế hệ độc giả, đặc biệt là các em thiếu nhi

Hướng tới con đường phát triển nền văn học thiếu nhi, văn học thiếu nhi những năm 1975 - 1985 đã cố gắng tìm tòi sáng tạo, tuy nhiên vẫn chưa thoát khỏi cách tiếp cận cũ, nhà văn Võ Quảng đã tiếp nối mạch cảm xúc của tác

phẩm Quê nội và cho ra đời tác phẩm Tảng sáng Cũng với hướng tiếp cận đó

có thể kể tới: Hoa cỏ đắng của Nguyễn Thị Như, Ngôi nhà trống của Quang

Huy,… Có thể thấy được trẻ em khi sống trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, hòa vào nhiệm vụ chung của đất nước dân tộc, bên cạnh cuộc sống của lứa tuổi thiếu nhi thì các em cũng như trưởng thành hơn khi cùng tham gia

vào các công việc chung phục vụ cho đất nước Ở truyện Tảng sáng của nhà

văn Võ Quảng ta có thể thấy được sự vui vẻ lạc quan, mưu trí dũng cảm của các em trong các sự kiện xảy ra từ cuộc sống hàng ngày

Đến nay, trên chặng đường đổi mới của văn học nói chung và của văn học thiếu nhi nói riêng cũng có nhiều sự thay đổi trong cách viết, đổi mới về

đề tài, các sáng tác cho thiếu nhi có nhiều sự tiếp cận mới về cuộc sống của

Trang 21

trẻ em, đội ngũ viết cho các em cũng ngày một đông đảo với những màu sắc riêng biệt đặc sắc Các nhà văn viết cho các em với một tình cảm trân trọng,

đi sâu vào đời sống xã hội cũng như tâm lí trẻ em Cũng thông qua đó, các tác giả gửi gắm những giá trị đạo đức, những bài học cuộc sống nhằm nuôi dưỡng những tâm hồn trong sáng đang ngày một phát triển, hướng tới những giá trị tốt đẹp của cuộc sống

Nhà văn Võ Quảng, với tài năng và cuộc đời sáng tạo của mình, đã có nhiều đóng góp trong quá trình phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam và đạt được thành công ở cả hai thể loại thơ và văn xuôi Ông quan niệm viết cho thiếu nhi không nằm ngoài mục đích để giáo dục các em Nhà văn Võ Quảng

nói rằng: “giáo dục các em cần thông qua nghệ thuật, một sáng tác chân chính cho thiếu nhi luôn phải mang tính chất nghệ thuật” [40, tr.462] vì thế trong

sáng tác của mình, ông đều thể hiện những triết lý sống, kinh nghiệm sống rất

tự nhiên mà bổ ích Ở cả văn và thơ đều toát lên một tình yêu thiên nhiên với cây cỏ, chim muông; một tình yêu quê hương sâu nặng, là nơi của biết bao kỉ niệm tuổi thơ với những người thân yêu cùng sống, là khởi nguồn cho sự trưởng thành của một đời người

Với gần 50 năm, ông đã sống và viết hết mình với mảng đề tài thiếu nhi, ông cũng giúp đỡ và hợp tác với những nhà văn khác tạo nên một đội ngũ tác giả viết cho thiếu nhi Đó là những đóng góp hết sức to lớn trong sự phát triển của nền văn học thiếu nhi nước nhà Võ Quảng đã có nhiều tác phẩm viết cho thiếu nhi và được thiếu nhi yêu thích với gần 20 tập truyện và thơ, cùng kịch bản phim

Với cảm hứng dồi dào, phong phú, Võ Quảng đã sáng tác 6 tập thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh Đom đóm (1970),

Măng tre (1972), Quả đỏ (1980) Ở trong thơ của Võ Quảng, ta có thể nhận thấy

Trang 22

một không gian thiên nhiên đầy cuốn hút, trong thơ có nhiều hình ảnh cỏ cây, muông thú Với những chất liệu đó, ông đã tạo nên trong thơ những nội dung phong phú, sử dụng nghệ thuật đặc sắc và không thể thiếu tính giáo dục trên từng trang thơ Đến với thơ ông, độc giả có thể cảm nhận bằng nhiều giác quan bởi sự phong phú về màu sắc, hình khối, đường nét Những điều ông đề cập đến đều gần gũi, bình dị, thân thuộc và dễ nhận biết, dễ nắm bắt đối với trẻ em Thông qua đó, các em có thể khám phá và học được nhiều điều về cuộc sống

Đối với những tác phẩm văn xuôi, nhà văn thành công ở mảng đề tài truyện về quê hương cách mạng và truyện đồng thoại Trong đó truyện và tiểu thuyết về đề tài quê hương cách mạng là thể loại để lại nhiều dấu ấn trong sự nghiệp của nhà văn Võ Quảng, ở thể loại này tác giả thể hiện cuộc sống sôi nổi đầy ước mơ hoài bão của lứa tuổi thiếu niên rất sinh động gần gũi qua các tác phẩm như: Cái Thăng (1961); Chỗ cây đa làng (1964); Quê nội (1974); Tảng

sáng (1976); Kinh tuyến, vĩ tuyến (1995) Từng tác phẩm ra đời cũng chính là

những bước phát triển triển trong cách viết, cách tiếp cận cuộc sống, sự thể hiện các đề tài trong sự nghiệp văn chương của nhà văn Võ Quảng đặc biệt là hướng đến thiếu nhi vùng Nam Trung Bộ, đánh dấu những bước tiến thành công trong sự nghiệp văn chương của mình Trong những sáng tác ấy để lại dấu

ấn sâu sắc, vang dội hơn cả đó là Quê nội và Tảng sáng, đây là hai tác phẩm

viết xoay quanh cuộc sống của nhân vật Cục và Cù Lao trên quê hương Hòa Phước, qua nhân vật ta cũng có thể thấy ở đó có hình ảnh của nhà văn Võ Quảng được sinh ra và lớn lên ở Hòa Phước, ông đã sống và cùng tham gia những sự kiện xảy ra ở quê hương mình trong những năm tháng đất nước cùng chung nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước khi đó

Bên cạnh truyện và tiểu thuyết với đề tài quê hương cách mạng thì truyện đồng thoại cũng có những tác phẩm tiêu biểu đến với bạn đọc tập hợp trong ba

tập truyện: Cái Mai (1967); Những chiếc áo ấm (1970); Bài học tốt (1975)

Trang 23

Truyện được thể hiện thông qua những con vật gần gũi thân quen với các em,

từ đó gửi gắm những bài học về cuộc sống, những bài học mang giá trị đạo đức giúp các em có cơ hội khám phá cuộc sống xung quanh mình, khám phá chính tâm tư tình cảm yêu ghét của bản thân mình

bình văn học thiếu nhi, dịch và biên soạn viết bằng tiếng Pháp, ta có thể thấy ông đã góp phần tham gia vào công cuộc xây dựng trong sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu nhi Việt Nam Nhà văn Võ Quảng đã giành cả sự nghiệp của mình để viết về mảng đề tài cho thiếu nhi và ông đã tạo dựng được một sự nghiệp văn chương phong phú, nhiều giá trị

1.2 Những vấn đề lý luận

1.2.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật

Khái niệm thế giới nghệ thuật ra đời từ yêu cầu mong muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng bao quát, đầy đủ từ những năm 70 của thế kỉ XX Thế giới nghệ thuật dược tiếp cận ở những cấp độ khác nhau; có nhiều nhận định, nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu và phê bình văn học làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng và tác giả văn học

Trên thế giới cũng đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề thế giới

nghệ thuật như “Thế giới nghệ thuật của M.gorki”, “Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp”,… Và ở Việt Nam cũng có rất nhiều nhận định được đưa ra về vấn

đề thế giới nghệ thuật

Năm 1985, Nguyễn Nghĩa Trọng trong luận án “Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại” đã nhận định: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất

cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá

Trang 24

trị thẩm mĩ …” Ta có thể thấy rằng nhận định này cũng đã nêu khá khái quát

về thế giới nghệ thuật và nhận thấy đây là một khái niệm rộng được triển khai ở nhiều góc độ với nhiều cấp độ

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã nêu quan điểm thế giới nghệ thuật: “Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật Thế giới nghệ thuật có thời gian không gian riêng, có quy luật tâm lí thang bậc giá trị riêng trong việc phản ánh thế giới (…)” [13, tr.201-202] Quan điểm được đưa ra ở đây cho ta

một cái nhìn rõ nét hơn về thế giới nghệ thuật để có hướng khai thác tìm hiểu các sáng tác và phong cách từng nhà văn

Cuốn “Lí luận văn học” (tập 2, do Trần Đình Sử chủ biên) còn khẳng định: “Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng, sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ

có trong tác phẩm và trong tưởng tượng nghệ thuật…Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mĩ, thế giới tinh thần của con người” [42, tr.78]

Thế giới nghệ thuật là một thế giới không đồng nhất vơi thế giới tự nhiên hay xã hội Thế giới ấy được tạo nên từ cảm xúc sáng tạo của người nghệ sĩ, từ cách nhìn, cách lí giải riêng của chủ thể sáng tạo và mỗi tác giả đều có thế giới nghệ thuật của riêng mình, thể hiện được sự độc đáo trong phong cách của riêng mình

Thế giới nghệ thuật là cả một quá trình trăn trở lao động sáng tạo của người nghệ sĩ từ sự trải nghiệm, từ cái nhìn từ nhiều góc độ, từ sự hiểu biết của bản thân mà lí giải, cắt nghĩa các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống như con người, thời gian, không gian,… và chuyển tải vào trong tác phẩm nghệ thuật, hình thành một thế giới riêng của tác giả sáng tạo ra

Trang 25

Qua một số nhận định về thế giới nghệ thuật đã nêu ở trên, ta có thể thấy thế giới nghệ thuật là một khái niệm rất rộng, thế giới nghệ thuật ấy bao gồm các yếu tố như chủ đề, đề tài, hệ thống nhân vật, ngôn ngữ, hành động,… Qua thế giới nghệ thuật ấy tác giả đã đem đến các giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học, chuyển tải thành các hình tượng nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật, từ đó cũng có thấy được thái độ của nhà văn trong cuộc sống Những nhận định đưa

ra có giá trị lí luận cao giúp cho việc nghiên cứu có những hướng đi cụ thể trong việc tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học và có thể tìm hiểu ở đây là thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng Nhà văn Võ Quảng là một nhà văn

đã giành phần lớn sự nghiệp văn chương của mình để viết về đề tài thiếu nhi Ông có cách truyền tải nội dung tác phẩm của mình theo một cách rất riêng

và đạt được thành công qua từng tác phẩm Thế giới nghệ thuật mà Võ Quảng tạo nên trong tác phẩm của mình hiện lên một cách sinh động, gần gũi, hấp dẫn lôi cuốn bạn đọc ở nhiều lứa tuổi và đây cũng chính là một trong những sáng tạo góp phần làm nên thành công trong sự nghiệp văn chương của mình

1.2.2 Khái niệm thế giới nhân vật

Các tác phẩm văn học đều hướng tới đối tượng chung là con người, đặt con người ở vị trí trung tâm Trong tác phẩm văn học có thể diễn ra nhiều sự kiện, nhiều vấn đề xung quanh cuộc sống, tất cả đều hiện lên phong phú đa dạng nhưng tập trung nhất vẫn là để làm nổi bật nhân vật văn học trong tác phẩm Và cái đọng lại sâu sắc trong mỗi bạn đọc cũng chính là những gì diễn ra đối với nhân vật được nói đến trong tác phẩm

Theo Từ điển tiếng Việt nhân vật được hiểu: “là đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học” [34, tr.881]

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những định nghĩa rõ nét

hơn về nhân vật Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê

Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có đưa ra khái niệm về nhân vật văn

Trang 26

học: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, Chị Dậu, Anh Pha) cũng

có thể không có tên riêng Khái niệm văn học có khi được sử dụng như một ẩn

dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào

đó trong tác phẩm (…) Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người trong cuốc sống.” [13, tr.235]

Nhân vật được nhắc đến trong tác phẩm văn học có thể là lấy hình tượng

từ con người có thật, có tên tuổi, địa chỉ, số phận,…Nhân vật cũng có thể là sự

hư cấu tưởng tượng của nhà văn như thần linh, ma quỷ,… hoặc nhân vật là những sự vật, hiện tượng như con đường, trái tim, bờ, biển, sóng, trăng,… Nhân vật văn học được xuất hiện đa dạng và phong phú qua sự sáng tạo của nhà văn

Cuốn “Lí luận văn học do” Trần Đình Sử chủ biên có một nhận định khái quát về nhân vật văn học: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng đê chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ.” [42,

tr.73] Nhân vật văn học chính là sản phẩm tư duy sáng tạo của nhà văn, về hình tượng nghệ thuật của con người, thông qua đó để thể hiện một tư tưởng cụ thể

mà nhà văn muốn truyền tải thông qua nghệ thuật ngôn từ

Có thể thấy nhân vật văn học là một khái niệm rất rộng, khái niệm ấy bao gồm nhiều yếu tố, nhiều cấp độ của cuộc sống nên nhân vật văn học không chỉ

có duy nhất một kiểu mà ở trong tác phẩm văn học có chứa đựng cả một thế giới nhân vật rộng lớn phong phú, đa dạng biến hóa theo từng sự sáng tạo của mỗi nhà văn

Trong thế giới nhân vật có thể chứa đựng nhiều yếu tố sáng tạo nghệ thuật, nó tồn tại trong chỉnh thể nghệ thuật với những sự liên quan ràng buộc

Trang 27

chặt chẽ lẫn nhau Thông qua thế giới nhân vật, ta có thể thấy được phong cách sáng tạo nghệ thuật của tác giả

Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật do nhà văn sáng tạo

ra, trong đó, thế giới nhân vật được coi là quan trọng và giữ vị trí trung tâm của

tác phẩm “Có bao nhiêu nhà văn sẽ có bấy nhiêu thế giới nhân vật riêng biệt”

[29, tr.700]

Thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học được xây dựng bởi hệ thống nhân vật được khắc họa ở nhiều góc độ và có chức năng khác nhau, qua đó ta

có thể nắm bắt được những vấn đề mà nhà văn đặt ra

Luận văn “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Qúy Ly và Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh” của Lê Thị Thúy Hậu đã định nghĩa về thế giới nhân vật: “Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể Mỗi thế giới nhân vật được quy định bởi cách tổ chức, sắp xếp theo ý đồ nghệ thuật,

sự sáng tạo của nhà văn làm sao cho các nhân vật trong tác phẩm liên kết, tác động lẫn nhau, soi sáng nhau để cùng phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng tác giả và những điều nhà văn muốn nói cùng bạn đọc.” [19, tr.25] Định nghĩa trên

đã cho thấy: thế giới nhân vật là một tổ chức nghệ thuật thống nhất, được tạo nên bởi các nhân vật có mối liên quan chặt chẽ với nhau nhằm làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm Thế giới nhân vật đem đến cho độc giả một cái nhìn từ hình tượng các nhân vật và rút ra được ý nghĩa của tác phẩm theo cách cảm nhận riêng của từng thế hệ độc giả

Thế giới nhân vật trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Công Hoan được tổ chức thành hai tuyến nhân vật rõ rệt: thứ nhất là những kiếp người nghèo khổ bị ức hiếp, thứ hai là lớp nhân vật quan lại, địa chủ, cường hào, ác

bá, tư sản mới lên Ông xây dựng tuyến nhân vật như vậy để lên án chế độ xã hội lúc bấy giờ, lên án bọn giàu có ức hiếp những con người nghèo khổ

Trang 28

Thế giới nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp chứa đựng những mâu thuẫn và nghịch lý, nhân vật đa dạng và sinh động như chính cuộc sống phức tạp, không bó hẹp theo khuôn mẫu nào

Thế giới nhân vật được thể hiện phong phú, đa dạng, độc đáo theo sự sáng tạo, phong cách riêng của mỗi nhà văn Cách thức tổ chức thế giới nhân vật cũng có tác động mạnh mẽ trong việc thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả Có thể tìm hiểu thế giới nhân vật ở hai phương diện hình thức và nội dung để có cái nhìn khách quan nhất về vấn đề được đưa ra Việc nghiên cứu phương thức xây dựng thế giới nhân vật của từng nhà văn nhằm phát hiện giá trị nội dung và

tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Đó là tư tưởng có tính tổng hợp cao rút ra từ toàn bộ tác phẩm của nhà văn, là một tư tưởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn đó

Nó tạo ra sự nghiệp ấy, cho thế giới nghệ thuật thống nhất, tính hệ thống, tính chỉnh thể

Trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn xây dựng một thế giới nhân vật riêng theo phong cách viết của bản thân Với sự sáng tạo của mình, nhà văn Võ Quảng cùng những cảm hứng viết về đề tài thiếu nhi cũng đã xây dựng thế giới nhân vật trong sáng tác rất phong phú và đặc sắc phù hợp với nội dung và ý nghĩa mà ông muốn truyền tải tới bạn đọc, khơi gợi niềm say mê hứng thú trên từng trang viết cuốn theo vào cuộc sống sinh động của các nhân vật được ông xây dựng nên

1.2.3 Khái niệm không gian nghệ thuật

Khi ta nói đến không gian thì thường nghĩ ngay đến không gian địa lý nói

chung, trong Từ điển tiếng Việt có nói rằng không gian là “khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người” [34, tr.147] có thể hiểu những gì tồn tại cơ

bản của vật chất trong một giới hạn nào đó xung quanh con người là không gian Tuy nhiên, không gian nghệ thuật lại là một phạm trù khác hẳn, nó thuộc về

“phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật” [41, tr 42]

Trang 29

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử chỉ rõ: “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, do đó không thể quy nó về không gian địa lý hay không gian vật lý, vật chất” [41, tr.87] Không gian nghệ thuật trong một văn

bản văn học không đơn giản là xác định nơi chốn hay tái hiện những khung cảnh hiện thực mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt để thể hiện tâm

trạng của nhân vật hay bộc lộ quan điểm của thi sĩ về thế giới Trong Dẫn luận thi pháp học có nhận định: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Cũng như mọi vật trong thế giới tồn tại trong không gian ba chiều: cao, rộng, xa và chiều thời gian, không có hình tượng nghệ thuật nào là không có không gian, không có nhân vật nào không có nền cảnh nào đó” [41,

tr.86], có thể thấy không gian nghệ thuật rất cần thiết trong thế giới nghệ thuật

và không thể đồng nhất không gian nghệ thuật với không gian địa lí bởi đó là

một “mô hình”, là sản phẩm từ sự sáng tạo của người nghệ sĩ thông qua đó để

thể hiện quan niệm về con người, về cuộc sống

Không gian trong tác phẩm văn học có sự phân biệt hẳn so với không gian khách quan Không gian này chứa đựng một giá trị tình cảm, do thế nó được tổ chức theo quan niệm riêng của tác giả, hoàn toàn không giống với trật

tự của không gian bên ngoài

Các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật.” [13, tr.162] Một yếu tố tồn tại trong sự vật

khách quan thì chưa thể hiểu đó là không gian nghệ thuật mà các yếu tố sự vật tồn tại đó cần có sự liên kết chặt chẽ trong một chỉnh thể với các yếu tố

Trang 30

nghệ thuật khác mang yếu tố thẩm mỹ đáp ứng được yêu cầu thể hiện ý tưởng của tác giả , bởi không gian nghệ thuật không chỉ là sự phản ánh lại thế giới mà còn thể hiện tình cảm của con người, tư tưởng chủ đề tac phẩm Bởi vậy, không gian nghệ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật

Trong Vài nét về thi pháp học hiện đại của Đào Thái Sơn có nêu nhận định: “Không gian nghệ thuật không phải là không gian vật chất mà chủ yếu là không gian của tinh thần, không gian của tâm tưởng, cảm xúc, ước vọng, hồi tưởng và nó cũng có nhiều lớp như không gian vũ trụ, không gian xã hội, không gian địa lý, không gian con người (không gian cư ngụ và không gian tâm tưởng ).” [38] Nhận định này nhấn mạnh không gian nghệ thuật chủ yếu xuất

phát từ cảm nhận của người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm, không gian đó có chứa đựng đầy đủ những yếu tố không gian khác và ta các thể loại văn học đều

sử dụng đến không gian nghệ thuật để thể hiện ý đồ nghệ thuật, đem lại sự phong phú đa dạng và cá tính sáng tạo của từng tác giả trong từng không gian nghệ thuật được tạo nên

Các nhà nghiên cứu còn đưa ra sự phân loại đối với không gian nghệ thuật thông qua các tiêu chí:

Trong Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử đã phân loại như sau: Dựa

vào vị trí, giới hạn của sự vật, không gian được chia thành: không gian điểm, không gian tuyến, không gian mặt phẳng (không gian khối); Dựa vào sự biến đổi của sự vật hiện tượng không gian được chia thành: không gian bên trong (phi thời gian, không biến đổi, trừ khi thảm họa làm nó hủy diệt), không gian bên ngoài (đổi thay, vô thường, ngẫu nhiên) Ngoài ra còn có không gian hành động

và phi hành động Sự phân chia này cho thấy không gian nghệ thuật như được cấu tạo bởi một mô hình nghệ thuật chứa đựng nhiều yếu tố không gian kết hợp nên và được thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm

Trang 31

Trong Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, PGS Huỳnh Như Phương có

sự phân chia không gian nghệ thuật thành các loại: không gian thiên nhiên hay không gian sinh hoạt; không gian nghệ thuật có thể là không gian mở hay không gian kép; không gian nghệ thuật có thể là không gian linh hoạt, cũng có thể là không gian tĩnh bất động

Trong Những vấn đề thi pháp của truyện, Nguyễn Thái Hòa đã chia

thành các loại không gian: không gian bối cảnh, không gian sự kiện, không gian tâm lý, không gian kể chuyện, không gian đối thoại Trong đó, không gian bối cảnh là không gian rộng lớn nhất của câu chuyện được diễn ra

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí phân loại không gian nghệ thuật một cách khái quát nhất, qua sự phân loại đó ta có thể thấy được rõ hướng đi và đi sâu hơn trong nghiên cứu không gian nghệ thuật trong sáng tác văn học

Như vậy, không gian nghệ thuật là không gian tồn tại trong thế giới nghệ thuật, là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống Không gian nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm, góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn

Từ những khái niệm lý luận và sự phân loại không gian nghệ thuật của các nhà nghiên cứu, ta có thể đi sâu tìm hiểu không gian nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn Võ Quảng, một trong những yếu tố góp phần đem lại sự thành công trong sáng tạo nghệ thuật của ông

1.2.4 Khái niệm thời gian nghệ thuật

Thời gian là một phạm trù cơ bản của cuộc sống, là một khái niệm diễn

tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng Thời gian còn là một thuộc tính của sự vận động, thế giới tự nhiên và con người đều

tồn tại trong quá trình vận động của thời gian, như trong cuốn Từ điển tiếng Việt có định nghĩa về thời gian: “Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật

Trang 32

chất (cùng với không gian) trong đó vật chất vận động, phát triển liên tục không ngừng” [34, tr.1186] Sự vận động của các sự vật hiện tượng góp phần

quan trọng để ta có thể nhận biết được thời gian, tuy nhiên thời gian vốn là cái trừu tượng mà ta chỉ có thể cảm nhận được chứ không thể nhìn thấy được Nhưng ở trong văn chương nghệ thuật thì tất cả cần phải được thể hiện, hiện hữu, do đó xuất hiện một loại thời gian gọi là thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù của hình thức nghệ thuật thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không giống với thời gian khách quan, ngay cả khi tác phẩm được kể với thời gian một chiều, vì quy trình vận hành của nó không trùng với thời gian tự nhiên

Trong Thi pháp học ở Việt Nam, thời gian nghệ thuật được định nghĩa:

“Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [8, tr.219] Cũng như không gian nghệ thuật, thời gian

nghệ thuật cũng được thể hiện trong tính chỉnh thể Khi ta miêu tả, trần thuật diễn biến nội dung tác phẩm, việc trần thuật đó cũng được đặt trong thời gian trần thuật giúp độc giả có thể hình dung cụ thể nội dung đó diễn ra như thế nào Việc trần thuật trong thời gian trần thuật đem lại hiệu quả cao khi thể hiện được

ý đồ mà tác giả muốn truyền tải

Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm nghệ thuật không đồng nhất với thời gian vật chất Trong tác phẩm có thể nói đến cuộc đời của một con người, có thể là cuộc đời của nhiều con người, thậm chí còn có thể nói đến cuộc đời của nhiều thế hệ, bên cạnh đó không thể thiếu những đoạn hồi tưởng trong tác phẩm Vì vậy, sự dịch chuyển thời gian từ hiện tại về quá khứ hay tương lai cũng được sử dụng trong quá trình trần thuật, các sự kiện diễn biến như sống động linh hoạt trong các khung thời gian mà tác giả đề cập tới đó là điều khác

Trang 33

biệt so với thế giới vật chất Bởi vậy “thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta

có thể thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian và hiện tại quá khứ và tương lai” [41, tr.61] Thời gian nghệ thuật có thể là thời gian được diễn ra

theo trình tự nhưng cũng có thể thời gian được thể hiện có sự đảo ngược, hoặc trộn lẫm đan xen chứ không nhất nhất phải theo một khuôn mẫu hay phải đúng

với thời gian vật chất diễn ra Trong Vài nét về thi pháp học hiện đại, Đào Thái Sơn nhận định: “Thời gian nghệ thuật chính là một hình tượng thời gian được sáng tạo nên trong tác phẩm nghệ thuật Nó chính là một phương tiện để phản ánh đời sống và nó được rong ruổi ngược xuôi, đảo chiều một cách tự do, không hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian vật lý Nó luôn đóng vai trò là hình thức tồn tại, hình thức triển khai hành động, cảm thụ trong tác phẩm nghệ thuật.” [38] Tất cả thời gian nghệ thuật được thể hiện trong tác phẩm đều được

lựa chọn theo ý đồ nghệ thuật của tác giả để đem lại giá trị nghệ thuật cao cho tác phẩm, khẳng định năng lực sáng tạo của tác giả

Thời gian nghệ thuật - một phạm trù quan trọng trong sáng tạo nghệ

thuật được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đều đi đến quan niệm“thời gian nghệ thuật là những mã khóa vô cùng quan trọng Đây là nơi cất chứa những

ẩn ý nghệ thuật mà soi rọi được nó, ta có thể làm sáng rõ những khúc mắc, giải

mã được những vẻ đẹp sâu xa của tác phẩm” [32, tr.8] Thông qua thời gian

nghệ thuật, người đọc có thể khám phá được nhiều yếu tố nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, góp phần cho cách hiểu đa chiều về những sự việc được đề cập tới, giúp cho tác phẩm được tiếp cận với cái nhìn khái quát hơn, khách quan hơn

Đặc điểm của thời gian nghệ thuật, luôn mang tính cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh, quan niệm nhân văn, do đó nó mang tính chủ quan Tính chất chủ quan giúp ta phát hiện được thực tại đối với con người Thời gian nghệ thuật phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm, kể cả tư tưởng của con người trong tác

Trang 34

phẩm nhằm làm cho người đọc cảm nhận được các sắc thái mà thời gian đem lại như: nhanh, chậm, sốt ruột, thư thái, hồi hộp,… Thời gian nghệ thuật còn sáng tạo trên từng yếu tố, người đọc không thể tự cảm nhận nhanh, chậm theo tùy ý mà được dẫn dắt theo từng chi tiết thời gian trong tác phẩm đem lại Thời gian trong văn học cũng được thể hiện theo cảm nhận của từng nhân vật khác nhau tùy theo hoàn cảnh mà họ sống và thông qua đó cũng thể hiện được quan niệm nghệ thuật của tác giả từ chính nhân vật mà họ sáng tạo

Trong nghệ thuật, cách thức sử dụng thời gian nghệ thuật cũng được thể hiện rất đa dạng độc đáo và các nhà nghiên cứu đã đưa ra sự phân loại về thời gian nghệ thuật được sử dụng trong sáng tạo nghệ thuật:

Nhà nghiên cứu văn học Nga M.Bakhtin trong bài viết Tiểu thuyết giáo dục và ý nghĩa của nó trong lịch sử chủ nghĩa hiện thực đã phân loại thời gian

nghệ thuật có: Thời gian phiêu lưu, thời gian cổ tích, thời gian tiểu sử và thời gian lịch sử

Trần Đình Sử quan niệm trong tác phẩm văn học có: Thời gian trần thuật

- là thời gian theo dòng vận động tuyến tính một chiều của văn bản ngôn từ, là thời gian của người kể, có mở đầu và kết thúc, có tốc độ và nhịp kể, luôn mang thời hiện tại (thời hiện tại của người nói); Thời gian được trần thuật - là thời gian của sự kiện được nói tới gồm thời gian sự kiện, thời gian nhân vật, thời gian thiên nhiên, thời gian sinh hoạt, thời gian phong tục, thời gian sinh hoạt lịch sử

Như vậy thời gian nghệ thuật là một phạm trù của thi pháp học, là một thuộc tính cần thiết của thế giới nghệ thuật Thời gian nghệ thuật khác với thời gian khách quan, thời gian có thể xuôi chiều hay đảo ngược hoàn toàn không phụ thuộc vào thời gian vật lý Thông qua thời gian nghệ thuật, tác giả thể hiện được diễn biến trần thuật của nội dung tác phẩm, làm nổi bật tâm lý nhân vật và qua đó thể hiện được sự cảm thụ về thời gian của người nghệ sĩ một cách tinh

Trang 35

tế, thể hiện được quan điểm nghệ thuật và tạo dấu ấn phong cách riêng trong sáng tạo nghệ thuật

Tiểu kết chương 1

Võ Quảng sinh ra trong hoàn cảnh đất nước đấu tranh giữ nước và dựng nước Ông luôn sống và làm việc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Với lòng say mê văn chương, ông đã chuyển từ sự nghiệp chính trị đến với sự nghiệp văn chương và giành phần lớn sự nghiệp để viết cho thiếu nhi là lứa tuổi luôn được mọi người quan tâm yêu mến và cũng là vùng trời kỉ niệm của mỗi con người khi lớn lên Ông đã giành tâm huyết và tình yêu thương đối với tuổi thơ để gửi gắm cho thiếu nhi những giá trị đạo đức, những vẻ đẹp gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em, mong muốn nuôi dưỡng tâm hồn non nớt trong sáng luôn hướng đến những điều tốt đẹp Cùng với phương châm đó, nhà văn đã hoạt động rất tích cực trong các hoạt động văn học trên con đường hình thành và phát triển văn học thiếu nhi, cũng như truyền tải những câu chuyện thiếu nhi một cách sinh động qua kênh hình trong sản xuất phim hoạt hình cho các em nhỏ và để lại nhiều tác phẩm có giá trị

Các vấn đề lý luận đã nêu ở trên để mở ra hướng nghiên cứu về tác giả tác phẩm một cách khoa học, giúp người nghiên cứu xem xét tìm hiểu đúng đắn, đưa ra được những vấn đề nổi bật và trọng tâm nhất góp phần phát hiện về những thành công mà nhà văn đã đạt được để tạo nên phong cách riêng của tác giả và tạo được dấu ấn của tác phẩm trong lòng bạn đọc Chúng tôi nhận thấy các yếu tố: thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật trong sáng tác

Võ Quảng có những đặc sắc riêng, tạo nên con đường tìm hiểu thế giới nghệ

thuật cho phong cách viết của ông

Trang 36

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VÕ QUẢNG

2.1 Đặc điểm thế giới nhân vật

2.1.1 Nhân vật hồn nhiên, giàu nghĩa tình, nhân hậu

Như ta đã biết, con người và cuộc đời của nhà văn cũng có sự tác động rất mạnh mẽ đến những sáng tác mà nhà văn sáng tạo nên Nhà văn Võ Quảng là một con người lớn lên trong tình yêu của làng xóm, bè bạn, được nuôi dưỡng niềm say mê văn chương từ người cha Những điều đó đã kết tinh nên một tâm hồn trong sáng giàu nghĩa tình nhân hậu với con người, với cuộc sống xung

quanh ông Nhà văn Đoàn Giỏi trong “Tác phẩm và con người Võ Quảng” nói rằng: “Điều anh Võ Quảng luôn luôn nói yêu thương trong tác phẩm là xuất phát

từ tấm lòng nhân ái của anh.” [33, tr.112] Đó cũng là nền tảng tạo nên nguồn

cảm hứng trong ông khi xây dựng nhân vật để thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình, vậy không quá khó để ta nhận ra nhân vật trong tác phẩm của ông là những con người giàu nghĩa tình nhân hậu

Nhắc đến nhà văn Võ Quảng với tác phẩm dành cho thiếu nhi, ta không

thể không nhắc tới tác phẩm Quê nội của ông Các nhân vật được ông đề cập

tới trong tác phẩm là những người nông dân bình thường, những con người từ già tới trẻ sống trong các gia đình nhỏ như: bà Kiến, ông Hai Dĩ, ông Hoạt, thầy Lê Tảo, chú Năm Mùi, chú Hai Quân, anh Bốn Linh, chị Ba, Cục, Cù Lao,… Đó là hình ảnh của những con người bình dị, thân quen Hình ảnh của con người lao động ấy rất mộc mạc mang đậm chất con người của xứ Quảng Với góc nhìn riêng của mình, nhà văn Võ Quảng đã phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn của mỗi con người Mỗi nhân vật trong tác phẩm có một hoàn cảnh sống riêng, có những vất vả, nhọc nhằn, lo toan riêng, có câu chuyện riêng về cuộc đời mình: chú Hai Quân vì bị áp bức bởi bọn quan lại mà phải bỏ làng ra đi lang bạt nơi xứ người; có người lại bị lưu manh hóa đào tường khoét vách như

Trang 37

ông Nguyên; có người dùng sự mê tín dị đoan dùng thần thánh mê hoặc người khác để kiếm tiền như ông Bảy Hóa, hay ông Hai Dĩ bán thịt chó vì thành kiến của dân làng về việc không nên ăn thịt chó vì họ cho rằng ăn thịt chó là bị ô uế không thể đầu thai, không nên giết thịt chó nên ông bị dân làng cô lập hắt hủi

xa lánh; có một bà Kiến suốt đời đói khổ nghèo xơ xác cô đơn … Họ là những người lao động bình thường, bị áp bức, bóc lột,bị lừa bịp bởi bọn bán nước và

lũ thực dân nhưng bên trong họ vẫn là bản chất lương thiện Khi được giác ngộ cách mạng, họ sống và làm việc hết mình, cống hiến từ tinh thần đến của cải vật chất, tất cả đều một lòng vì sự nghiệp chung của đất nước dân tộc Hoàn cảnh cuộc sống tạo nên tính cách và số phận mỗi con người, tuy nhiên họ vẫn mang tâm hồn trong trắng, mộc mạc, giản dị và giàu tình nghĩa với những người thân, người làng xóm sống xung quanh mình, thậm chí cả những người

từ xa đến cần sự giúp đỡ Nhà văn đã phát hiện và chỉ ra được những đức tính tốt của người nông dân, họ có sự thay đổi lớn về nhận thức nhất là khi được

cách mạng soi đường Đoàn Giỏi trong Bàn về văn học thiếu nhi có nói về nhân vật trong tác phẩm của Võ Quảng rằng: “Một số nhân vật cùng khổ bị đọa đày

đã được sống lại và vươn lên, nảy nở làm được nhiều việc to lớn cho xã hội Trong hoạn họa khốn cùng họ vẫn biết thương lo cho nhau, vẫn nhớ nghĩ đến nhau… nhân vật phấn đấu vươn lên, trong tác phẩm anh là một bài ca, ngợi hát về con người” [33, tr.113]

Bằng tấm lòng nhân hậu của mình, nhà văn xây dựng những nhân vật mang những hoàn cảnh khác nhau và nêu lên những nét đẹp đáng quý của họ bằng cái nhìn chân thực và cảm động về tâm lí, tính cách của người nông dân ở các lứa tuổi và đặc biệt là lứa tuổi thiếu nhi

Nói đến nhân vật hồn nhiên giàu nghĩa tình nhân hậu không thể không nói đến hai nhân vật thiếu nhi tiêu biểu của truyện đó là Cục và Cù Lao Cục và

Cù Lao là hai cậu bé còn nhỏ tuổi vẫn mải mê với những trò chơi đánh trận, bơi

Trang 38

lội trên sông, vẫn giận dỗi khi người khác không hiểu mình, hay tò mò những công việc của người lớn,…nhưng đó đều là những chú bé có tấm lòng nhân hậu, chúng yêu những con người bình dị sống xung quanh mình, yêu cuộc sống

và cảnh sắc quê hương Hòa Phước Chúng yêu quý anh Bốn Linh, chú Năm Mùi, thầy Lê Hảo,… Bên cạnh đó, tuy còn nhỏ tuổi nhưng Cục và Cù Lao cũng

đã biết thương cảm xót xa sâu sắc cho số phận của những người nghèo khổ,

chúng thương bà Hiến sống cô đơn nghèo khổ và đã tự suy ghĩ được rằng “Tôi

và thằng Cù Lao thấy rõ bà Hiến vần chúng tôi đến chơi để bà kể chuyện Phấn Điệp Vì vậy chúng tôi thường đến chơi nhà bà.” [44, tr.108-109] Ông Hai Dĩ

thịt chó bị mọi người xa lánh vì thành kiến mê tín nhưng Cù Lao và Cục đã

“chạy lại bên ông Hai Dĩ” giải thoát khỏi sự “giam hãm trong cô độc” của

ông… Cục và Cù Lao là những đứa trẻ nhân hậu, biết yêu thương quý trọng những người xung quanh, là một đức tính tốt được hình thành từ tuổi thơ và đó chính là đức tính điển hình cho nhiều thế hệ thiếu nhi học tập

Lòng yêu thương, giàu nghĩa tình nhân hậu của nhân vật trong truyện còn có thể bắt gặp ở nhiều chi tiết trải dài xuyên suốt tác phẩm Trong những trang đầu của tác phẩm, khi giới thiệu về chú Hai Quân lúc chú bị thằng xã Cống bắt trói đánh đập bà con chòm xóm không vì thế mà tránh xa cho khỏi

liên lụy đến bản thân mình mà “Bà con cõng chú Hai về nhà, tìm ngải cứu dầm với rượu đắp vào những chỗ toạc máu” [44, tr.66] Đó là hành động rất thân

tình mà người trong làng xóm dành cho nhau, được tác giả miêu tả rất tự nhiên

và sống động, mộc mạc mà gần gũi thân thương Chú Hai do bị áp bức bởi lũ quan lại nên đã bỏ làng ra đi, sau nhiều năm trở về thì họ hàng thân thích cùng

bà con chòm xóm đều vui mừng chào đón chú và con trai trở về Cậu bé Cù Lao lần đầu tiên được trở về quê hương của cha nhưng những người thân hay khách khứa đến chúc mừng cũng không xem cậu là người xa lạ mà ngược lại

họ đối với cậu rất thân tình: “Ông Bảy Hóa thò đũa gắp một cục chả giò to

Trang 39

tướng Chợt ông thả gọn cục chả vào bát thằng Cù Lao Ông Tư Trai Càng tỏ

ra cương quyết, ông bưng cả bát chân giò lấy đũa bới tìm miếng to nhất, chấm nước mắm cần thận, bỏ vào bát của thằng Cù Lao Đến lượt thầy Lê Hảo cũng gắp bỏ cho nó nửa cái bánh giò Dượng Hương Thư dành cho nó cả một đĩa xôi ngọt.” [44, tr.92-93] Chỉ với một cử chỉ nho nhỏ như vậy, nhà văn Võ

Quảng đã khắc họa cho chúng ta thấy được phần nào tình cảm mà mọi người dành cho những con người xa quê nay đã trở về làng như thế nào Có như vậy,

dù xa cách bao nhiêu năm, khi trở về vẫn cảm nhận được vòng tay ấm áp của quê hương, tất cả đều thân thuộc như chưa từng xa cách Đây có lẽ cũng là cảm xúc của nhà văn Võ Quảng mỗi khi trở về quê hương sau mỗi chuyến đi xa, được trở về với những chan chứa yêu thương, bình dị của gia đình, quê hương, làng xóm Người đọc như đắm chìm vào không khí tình nghĩa của những nhân vật trong tác phẩm tạo nên, đối với ông con người dường như phải có trái tim luôn gắn với quê hương đất nước, luôn tràn ngập tình yêu thương con người Tình cảm giàu nhân nghĩa ấy không chỉ là tình thương mến với nhau mà tình cảm đó còn được thể hiện bằng hành động Người dân làng Hòa Phước còn bắt tay vào giúp đỡ những công việc của gia đình người khác đó là khi anh Bốn Linh bận công tác đã nhờ chú Năm Mùi đến giúp khi tằm lớn nhưng khi tằm đã chín

Trang 40

- Trước cách mạng, người ta la làng để cứu mạng Nay cách mạng thành công chú Năm la làng để chia vui tằm lớn Vậy tằm đâu? Khiêng mau ra đây

Bà con mỗi người một tay, việc trời cũng xong hết! ”[44, tr.169-171]

Chỉ với một lời như lời “kêu cứu” của chú Năm Mùi, bà con làng xóm

chưa biết là việc gì xảy ra nhưng tất cả không ai bảo ai đều tức tốc “chạy xuống” “chạy lên” đến nơi có tiếng gọi một cách cấp bách kịp thời Khi đến

nơi biết đó không phải là việc gì nguy hiểm, mọi người không hề tức giận mà đều thở phào nhẹ nhõm và lập tức giúp đỡ công việc thu hoạch tằm của gia đình anh Bốn Linh Tác giả đã dành cả một chương để miêu tả việc bà con làng xóm đến giúp đỡ nhà anh Bốn Linh thu hoạch tằm Điều này đã nhấn mạnh thêm rằng nhà văn rất tâm đắc với tình cảm giàu nghĩa tình của làng xóm là truyền thống rất được xem trọng từ xưa đến nay Không phải tự nhiên mà cha

ông ta đã để lại câu tục ngữ “Bán anh em xa mua láng giềng gần” Tình làng

nghĩa xóm còn thể hiện sự đoàn kết, đùm bọc, chia sẻ với nhau, không chỉ trong quan hệ gia đình họ hàng mà còn là sự gắn kết giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự thành công của sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc mà nhà văn

đề cập tới trong tác phẩm Qua đó nhà văn cũng đã đem đến cho độc giả giá trị đáng quý về tình người

Những người ở cùng làng với nhau thì tình cảm thân quen gần gũi giúp

đỡ nhau trong cuộc sống như vậy có lẽ là cũng dễ hiểu Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, tình cảm yêu thương đùm bọc giúp đỡ người khác cũng được nhà văn

đề cập tới rất sâu sắc Người dân Hòa Phước nhiệt tình giúp đỡ che chở khi có

người từ nơi khác đến sơ tán được thể hiện ở truyện Tảng sáng, như gia đình

nhà bà đốc Thụ và gia đình nhà ông Biện Thành phải đi sơ tán, họ trở thành những người không có nơi ăn chốn ở và những con người Hòa Phước đã dang

Ngày đăng: 18/03/2017, 20:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An (2011), Nhà văn Võ Quảng - Người bạn lớn của tuổi thơ, http://vannghequandoi.com.vn/, ngày 08/07/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Võ Quảng - Người bạn lớn của tuổi thơ
Tác giả: Nguyên An
Năm: 2011
2. Nam Cao (2009), Chí Phèo, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chí Phèo
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
3. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã Hội
Năm: 2004
4. Nguyễn Du (2012), Truyện Kiều, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2012
5. Nguyễn Thị Thùy Dung (2011), Thế giới tuổi thơ trong sáng tác Võ Quảng, Luận văn thạc sỹ, ĐH Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới tuổi thơ trong sáng tác Võ Quảng
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dung
Năm: 2011
7. Nguyễn Thị Duyên (2011), Truyện đồng thoại của Võ Quảng, http://ngduyen78.violet.vn/, ngày 16/01/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện đồng thoại của Võ Quảng
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2011
8. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Hà Minh Đức (1992), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
10. Đ.X.Likhachop (1989), "Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học", Tạp chí văn học, (số 3), tr.60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học
Tác giả: Đ.X.Likhachop
Năm: 1989
11. Đoàn Giỏi (2015), Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất rừng phương Nam
Tác giả: Đoàn Giỏi
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2015
12. G.Gnette (2011), “Biên giới của tự sự”, Những vấn đề lí luận văn học phương Tây hiện đại - Tự sự học kinh điển, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên giới của tự sự”, "Những vấn đề lí luận văn học phương Tây hiện đại - Tự sự học kinh điển
Tác giả: G.Gnette
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2011
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐH Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia
Năm: 2007
14. Thu Hà (2014), Nhà văn Võ Quảng: Trọn đời dành cho văn học thiếu nhi, http://www.nxbkimdong.com.vn/, ngày 05/08/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Võ Quảng: Trọn đời dành cho văn học thiếu nhi
Tác giả: Thu Hà
Nhà XB: nxbkimdong.com.vn/
Năm: 2014
15. Trần Thị Hà (2013), Tác phẩm “Quê nội” của nhà văn Võ Quảng, http://www.ntthnue.edu.vn/, ngày 11/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm “Quê nội” của nhà văn Võ Quảng
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 2013
16. Nguyễn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1998), Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Lê Thị Hằng (2012), Đặc sắc nghệ thuật viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần, Luận văn thạc sỹ, ĐH Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc nghệ thuật viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần
Tác giả: Lê Thị Hằng
Năm: 2012
18. Huỳnh Thị Ngọc Hân (2009), Tìm hiểu sáng tác cho thiếu nhi của Võ Quảng, Luận văn tốt nghiệp đại học, ĐH Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sáng tác cho thiếu nhi của Võ Quảng
Tác giả: Huỳnh Thị Ngọc Hân
Năm: 2009
19. Lê Thị Thúy Hậu (2009), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Qúy Ly và Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Luận văn thạc sỹ, ĐH Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Qúy Ly và Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh
Tác giả: Lê Thị Thúy Hậu
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Thu Hiền (2013), Truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài, ĐH Sư phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2013
6. Lê Tiến Dũng (2015), Nhà văn Tô Hoài, hạt ngọc của văn học, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/, ngày 11/05/2015 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm