Những phương pháp và hoạt động khuyến nông chủ yếu của huyện Yên Thế đối với sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 68 2.3.8.. Những mục tiêu chủ yếu về hoạt động khuyến nông
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÂN THỊ HƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHUYẾN NÔNG CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA
TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60-31-10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đỗ Thị Bắc
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn chỉnh luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Thân Thị Hường
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đỗ Thị Bắc đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện, Trạm Khuyến nông, phòng Nông nghiệp&PTNT, phòng Thống kê huyện Yên Thế, cán bộ và nhân dân các xã Bố Hạ, Phồn Xương và Tiến Thắng huyện Yên Thế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Thân Thị Hường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRONG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA VÀ PHƯƠNG
1.1 Cơ sở lý luận về khuyến nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 4
1.1.2 Vai trò, mục tiêu và chức năng của khuyến nông đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 7 1.1.3 Nguyên tắc hoạt động và phương pháp khuyến nông 11
1.1.5 Lập kế hoạch và đánh giá các chương trình khuyến nông 13 1.1.6 Khuyến nông với một số lĩnh vực hoạt động chủ yếu 14
Trang 51.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 18 1.2.1 Vai trò, đặc điểm và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 18 1.2.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế 19 1.2.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản
1.2.4 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 25
1.3.2 Phương pháp thu thập thông tin số liệu 36
Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRONG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ
2.1 Tác động của môi trường vi mô và vĩ mô đến hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 41
2.1.3 Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội chủ yếu đã đạt được giai doạn
2.2 Nhu cầu của nông dân về khuyến nông trong sản xuất và nâng
2.2.1 Đánh giá chung của nông dân về khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 56 2.2.2 Nhu cầu tập huấn khuyến nông trong sản xuất và nâng cao
2.3 Thực trạng hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn huyện 59 2.3.1.Quá trình hình thành tổ chức khuyến nông huyện Yên Thế 59 2.3.2 Thực trạng các hoạt động khuyến nông trong những năm qua 60 2.3.3 Chất lượng đội ngũ CBKN huyện Yên Thế 61
Trang 62.3.4 Về cơ chế chính sách đối với công tác khuyến nông 64 2.3.5 Các chủ trương, chính sách cho hoạt động khuyến nông
2.3.6 Một số kết quả hoạt động khuyến nông trong những năm qua 66 2.3.7 Những phương pháp và hoạt động khuyến nông chủ yếu của
huyện Yên Thế đối với sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 68 2.3.8 Tình hình hoạt động khuyến nông và sản xuất lúa của huyện
2.3.9 Đánh giá hoạt động khuyến nông và hiệu quả kinh tế các
mô hình đưa giống lúa mới vào sản xuất của huyện Yên Thế 75 2.3.10 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa bằng một số
phương pháp mới do Trạm khuyến nông huyện triển khai năm 2009 82 2.3.11 Khuyến nông với việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm lúa gạo
2.4 Hoạt động khuyến nông trong việc nâng cao hiệu quả xã hội và
2.5 Đánh giá chung về hoạt động khuyến nông đối với sản xuất
và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện 88
2.5.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông và
Chương III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHUYẾN NÔNG CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH
Trang 7cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 3.2.2 Những định hướng chủ yếu về hoạt động khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 93 3.2.3 Những mục tiêu chủ yếu về hoạt động khuyến nông nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 94 3.3 Những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 95 3.3.1 Đổi mới công tác tổ chức khuyến nông 95 3.3.2 Thực hiện hoạt động khuyến nông một cách có nguyên tắc 100 3.3.3 Đổi mới nội dung hoạt động công tác khuyến nông, chú
trọng hoạt động khuyến nông sản xuất lúa 103 3.3.4 Phương pháp khuyến nông trong sản xuất lúa 106 3.3.5 Làm tốt công tác truyền thông khuyến nông sản xuất lúa 112 3.3.6 Lập kế hoạch và đánh giá các chương trình khuyến nông sản xuất lúa 113 3.3.7 Khuyến nông với phát triển nông nghiệp, nông thôn 115 3.3.8 Khuyến nông với việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm lúa 117
3.3.10 Khuyến nông với bảo vệ môi trường sinh thái 120
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1: Năng suất lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 34 Bảng 1.2: Sản lƣợng lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 35 Bảng 1.3: Tổng hợp số hộ điều tra ở các xã nghiên cứu 37 Bảng 2.1: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Yên Thế giai
Bảng 2.8: Cơ cấu giống, thời vụ gieo cấy lúa vụ xuân năm 2008- 2009 72 Bảng 2.9: Cơ cấu giống, thời vụ gieo cấy lúa vụ mùa năm 2009 73 Bảng 2.10: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của huyện Yên Thế
Bảng 2.11: Kết quả đƣa các giống lúa mới vào mô hình trồng thử nghiệm ở huyện Yên Thế vụ xuân năm 2009 77 Bảng 2.12: So sánh chi phí sản xuất 1ha của một số giống lúa trồng
mô hình với giống lúa đại trà (KD18) năm 2009 79 Bảng 2.13: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha của một số 80
Trang 10giống lúa trồng mô hình với giống lúa đại trà (Khang dân) năm 2009 Bảng 2.14: Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha của một số giống lúa trồng mô hình với giống lúa đại trà (Khang dân) của nhóm hộ điều
Bảng 2.15: So sánh chi phí sản xuất 1ha lúa theo phương pháp mới với phương pháp cấy truyền thống năm 2009 83 Bảng 2.16: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha lúa theo phương pháp mới so với cấy truyền thống năm 2009 84 Bảng 2.17: Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha lúa theo phương pháp mới so với cấy truyền thống của nhóm hộ điều tra năm 2009 85 Bảng 3.1: Dự kiến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện
Bảng 3.2: Định mức kỹ thuật đối với lúa ĐB5, ĐB6 98 Bảng 3.3: Định mức kỹ thuật đối với lúa N46 98 Bảng 3.4: Dự kiến các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế giai đoạn 2010 - 2012 104
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất đai của huyện Yên Thế năm 2009 47 Biểu đồ 2.2: Nhu cầu về khuyến nông trong nâng cao hiệu quả kinh
tế sản xuất lúa của nông dân trong Huyện 57 Biểu đồ 2.3: Nhu cầu nội dung tập huấn KN của ND trong Huyện 58
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 01: Vai trò của công tác khuyến nông 8
Sơ đồ 02: Vai trò của khuyến nông trong phát triển nông nghiệp 9
Sơ đồ 04 : Truyền thông khuyến nông là hoạt động thông tin hai chiều 13
Sơ đồ 05: Khuyến nông trong kinh tế thị trường Việt Nam 16
Sơ đồ 06: Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam 29
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 2.1: phiếu điều tra tình hình sản xuất lúa của các nông hộ
Phụ lục 2.2: Quy trình kỹ thuật xạ lúa theo hàng bằng giàn kéo tay 143
Phụ lục 2.3: Quy trình kỹ thuật làm mạ khay 147
Phụ lục 2.4: Bản đồ địa giới hành chính huyện yên thế 151 Phụ lục 2.5: Một số hình ảnh hoạt động khuyến nông trong sản xuất
lúa của trạm khuyến nông huyện Yên Thế 152
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp có lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp là chủ yếu Phát triển nông nghiệp nông thôn là một phạm trù rộng lớn và quan trọng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Đặc biệt, đối với cây lúa là loại cây trồng giữ vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố Cây lúa là cây lương thực chủ yếu nên việc phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đã trở thành mục tiêu của quốc gia
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong điều kiện kinh tế thị trường thực tế cho thấy người nông dân Việt Nam đang thiếu những thông tin cần thiết, họ cần được đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo Vì vậy tháng 3/1993 Chính phủ ban hành nghị định 13/CP kèm theo thông tư liên tịch số 02/LN/TT ngày 02/8/1993 hướng dẫn thi hành Nghị định và các nghị định về công tác khuyến nông - Hệ thống tổ chức khuyến nông ra đời có nhiệm vụ giúp nông dân giải quyết những nhu cầu cần thiết [3]
Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp trong đó sản xuất lúa là chính Do vậy, phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt sản xuất lúa là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện Tuy nhiên, sản xuất lúa hàng hoá còn ít, hiệu quả kinh tế thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn
Trong những năm qua đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu thực hiện trên địa bàn với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ở địa phương Tuy nhiên chưa có công trình, đề tài nghiên cứu
Trang 13những giải pháp khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Trong khi đó, việc xem xét đánh giá thực trạng công tác khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế là việc làm cần thiết và thiết thực, từ
đó có thể định hướng và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy thế mạnh và hạn chế những mặt yếu trong sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài: "Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang" góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng khuyến nông về sản xuất lúa của huyện Yên Thế, đề xuất những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây lúa của huyện, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Đề ra định hướng và những giải pháp khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện Yên Thế trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của người dân nông thôn, các hộ và cộng đồng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
* Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian và nội dung nghiên cứu
+ Không gian: Tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang + Thời gian: Số liệu từ năm 2007-2009
+ Nội dung: Thực trạng hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tuy vậy, hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa là vấn đề rất rộng nên luận văn tập trung nghiên cứu đối với một
số hoạt động chính và mô hình sản xuất lúa của huyện Yên Thế
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực,
là tài liệu giúp nông dân, xã, huyện và tỉnh đánh giá sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, để đưa
ra được các giải pháp khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, để sản xuất lúa đạt hiệu quả cao, có cơ sở khoa học
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và phương pháp nghiên cứu
Chương II : Thực trạng hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Chương III: Phương hướng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Trang 15Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRONG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH
TẾ SẢN XUẤT LÚA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về khuyến nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
1.1.1 Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ nhiều mục đích rộng rãi, do đó có nhiều quan niệm và định nghĩa về khuyến nông, nhưng từ những sự hiểu biết khác nhau đó, chúng ta cũng có thể thống nhất được những điểm chung của khuyến nông
Theo định nghĩa chữ Hán, "khuyến" có nghĩa là khuyên người ta cố gắng hết sức trong công việc, còn "khuyến nông" nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp
Thuật ngữ "Extension" có nguồn gốc ở Anh, sau đó được mở rộng tới các Hội giáo dục khác ở Anh và các nước khác "Extension" với nghĩa ban đầu là "triển khai" hay "mở rộng", khi ghép với từ "Agriculture" thành
"Agricultural Extension" thì dịch là "khuyến nông" [13]
“Khuyến nông là phương pháp động, nhận thông tin có lợi tới người dân
và giúp họ thu được những kiến thức, kỹ năng và những quan điểm cần thiết nhằm sử dụng một cách có hiệu quả thông tin hoặc kỹ thuật này”
(B.E.Swanson và J.B.Claar)
“Khuyến nông , khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng
đắn” (A.W.Va den Ban và H.S Hawkins - khuyến nông, 1988)
“Khuyến nông, khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hoà nhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng
vượt qua các trở ngại gặp phải” (D.Sim và H.A.Hilmi -FAO Rorestry Paper
80, 1987, FAO Rome)
Trang 16“Khuyến nông, khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định giải quyết vấn đề chính của
họ”(Malla - A Manual for training Field Worrkers, 1989)
“Khuyến nông, khuyến lâm là một quá trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông khuyến lâm thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên
khác các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo” (Falconer, Forestry, A Review of Key Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987, O.D.I., London)
F.-“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành”
(Thomas, G.Floes)
Qua rất nhiều định nghĩa khác nhau, chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu khuyến nông theo hai nghĩa:
- Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để chỉ tất cả những
hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn
- Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo dục không
chính thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ Khuyến nông là
sử dụng các cơ quan nông lâm ngư, các trung tâm khoa học nông lâm ngư để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn
Trang 17Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có thể định nghĩa về khuyến nông như sau: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn
đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn
Khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân Khuyến nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo… cho nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt; đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân [18]
* Triết lý của Khuyến nông
Triết lý của khuyến nông về phát triển nông thôn đã được đề cập đến tại nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế và trên nhiều ấn phẩm
Theo các tác giả Thomas, G.Floers, Pedro, B.Bueno, Lapastora, và Tổ chức hợp tác quốc tế vì phát triển và đoàn kết (CIDSE) đã đưa ra triết lý là: + Khuyến nông dựa trên quan điểm cho rằng nông dân là những người thông minh, có năng lực, mong muốn nhận được thông tin và kiến thức mới
để phát triển sản xuất nhằm đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho gia đình, cho cá nhân và cho cộng đồng của mình
+ Người nông dân đã sống qua nhiều đời tại địa phương họ, trong môi trường sinh thái và môi trường xã hội của cộng đồng mình, họ có sự hiểu biết khá rõ về những yếu tố môi trường xã hội như phong tục, tập quán, kinh nghiệm làm ăn ở địa phương Do đó nếu biết khơi dậy tiềm năng bằng nhiều yếu tố chủ quan và khách quan thì ước vọng của người nông dân và cộng đồng nông thôn đều có thể trở thành hiện thực Người nông dân vốn sống gần thiên nhiên và sống bằng sức lao động của chính mình nên họ có nhiều đức tính quý là sống chân thành, cởi mở, cần cù siêng năng trong lao động, nhiều người lại rất thông minh, ham học hỏi, cầu tiến bộ
+ Người nông dân cũng như các thành phần khác trong xã hội, đều có một sự mong muốn là đời sống vật chất và tinh thần ngày một được cải thiện
Trang 18Điều yếu kém, hạn chế của người nông dân là thiếu thông tin, thiếu kiến thức
kỹ thuật và cũng có thể do cơ chế tổ chức, cơ chế chính sách chưa phù hợp
Do vậy nếu khuyến nông cung cấp đầy đủ thông tin, hướng dẫn kỹ thuật, tạo
ra cơ chế thông thoáng phù hợp, người nông dân hoàn toàn có khả năng giải quyết các vấn đề của chính họ một cách thành công
+ Người cán bộ khuyến nông (CBKN) được nhận trách nhiệm đưa thông tin, đưa các tiến bộ kỹ thuật đến nông dân Nghiên cứu tháo gỡ những vướng mắc của người dân ở nông thôn, động viên khuyến khích họ, cộng đồng họ, tự nguyện, tự chủ trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn trong cộng đồng + Cơ sở triết lý nói trên dẫn đến những mục tiêu mà khuyến nông cần đạt được, những nguyên tắc khuyến nông phải tôn trọng, những phương pháp khuyến nông được áp dụng và đạo đức, tư cách của CBKN khi làm việc với nông dân
1.1.2 Vai trò, mục tiêu và chức năng của khuyến nông đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
* Vai trò:
- Khuyến nông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông thôn Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông nghiệp nông thôn có vai trò to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhưng ở nhiều vùng nông thôn mức sống và trình độ dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình
độ sản xuất còn lạc hậu Đây là những thách thức rất lớn trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Khuyến nông được coi là một trong những con đường góp phần giải quyết những thách thức đó
Ngày nay công tác khuyến nông trở nên không thể thiếu được ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương và đối với từng hộ nông dân Mọi quốc gia đều cần
sự cung ứng đầy đủ lương thực thực phẩm cho toàn dân nước đó, nếu tiêu chuẩn sống nói chung là phải trên mức đủ để tồn tại, thì sản xuất nông nghiệp phải cung cấp đủ thức ăn không chỉ cho nông dân và gia đình họ, mà còn cho những người làm trong ngành nghề khác như y tế, giáo dục, vận tải, công nghiệp, quốc phòng… Chỉ có như thế những người này mới quay trở lại đóng
Trang 19góp cho sự phát triển của những vùng nông thôn và giúp cho sự sản sinh và duy trì một tiến trình chung của sự phát triển kinh tế - xã hội Thiếu một nền sản xuất nông nghiệp tăng trưởng vững chắc thì toàn bộ những cố gắng phát triển xã hội
và kinh tế sẽ bị hạn chế nghiêm trọng Vì vậy công tác khuyến nông cần phải được tăng cường củng cố và phát triển, trong mối quan hệ này khuyến nông thực
sự là phương cách hữu hiệu để thực hiện phát triển nông thôn
Sơ đồ 01: Vai trò của công tác khuyến nông
(Ghi chú: Các mũi tên chỉ sự tác động của các cơ quan, hoạt động ảnh hưởng đến phát triển nông thôn, nhưng cũng có hướng mũi tên ngược lại do tác động của hoạt động phát triển nông thôn tới các tổ chức và hoạt động đó)
- Vai trò của khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông nghiệp
Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thường là kết quả của các cơ quan nghiên cứu khoa học như viện, trường, trạm… Những tiến bộ
Giao thông
Khuyến nông
Chính sách
Nghiên cứu, công nghệ
Thị trường
Tín dụng Tài chính
Giáo dục
Phát triển nông nghiệp nông thôn
Trang 20này cần được nông dân chọn lựa, áp dụng vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động Trên thực tế giữa nghiên cứu và áp dụng có một khâu trung gian để chuyển tải hoặc cải tiến cho phù hợp để nông dân áp dụng được
Ngược lại những kinh nghiệm của nông dân, những đòi hỏi cũng như nhận xét đánh giá về kỹ thuật mới của nông dân cũng cần được phản hồi đến các nhà khoa học để họ giải quyết cho sát thực tế Trong những trường hợp này, vai trò của khuyến nông khuyến lâm chính là chiếc cầu nối giữa khoa học với nông dân
Sơ đồ 02: Vai trò của khuyến nông trong phát triển nông nghiệp
- Vai trò của khuyến nông đối với Nhà nước Khuyến nông là một trong những tổ chức giúp Nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp
Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến các cơ quan Nhà nước, trên cơ sở đó Nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp
* Mục tiêu
Mục tiêu của khuyến nông là làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông không chỉ nhằm những mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn
Trang 21Muốn đạt được những mục tiêu đó, người CBKN phải thảo luận với nông dân, giúp họ có cách nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn đề trong cuộc sống để họ tự giải quyết biện pháp vượt qua những khó khăn [13] Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ban hành ngày 26/4/2005 của Chính phủ
về khuyến nông - khuyến ngư đã chỉ rõ 3 mục tiêu của khuyến nông, khuyến ngư như sau:
+ Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức,
kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất
+ Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
+ Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông, khuyến ngư
* Chức năng của khuyến nông:
Chức năng cơ bản của khuyến nông không những là truyền bá thông tin
và huấn luyện nông dân mà còn biến những thông tin, kiến thức được truyền
bá, những kỹ năng đã đào tạo thành những kết quả cụ thể trong sản xuất và đời sống
Thực tiễn hoạt động củaa ngành nông nghiệp trong những năm đổi mới vừa qua, tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động khuyến nông trên toàn quốc có một số nội dung hoạt động của công tác khuyến nông Việt Nam trong giai đoạn mới như sau:
1 Phổ biến tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến về trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, chế biến, bảo quản nông lâm thuỷ sản và những kinh nghiệm điển hình sản xuất giỏi, chuyển đổi cơ cấu kinh tế
2 Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất, dịch vụ, kinh doanh; thông tin về thị trường, giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 223 Dịch vụ giống, vật tư kỹ thuật để xây dựng mô hình [12]
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động và phương pháp khuyến nông
- Khuyến nông cùng làm với dân, không làm thay cho dân
- Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm
- Khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều Khuyến nông là một nhịp cầu vừa chuyển giao kiến thức KHKT của các
cơ quan nghiên cứu đến cho nông dân, vừa tiếp nhận thông tin của nông dân chuyển đến các cơ quan nghiên cứu
Sơ đồ 03: Khuyến nông là nhịp cầu nối
- Khuyến nông không áp đặt, không mệnh lệnh
- Khuyến nông hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác
- Khuyến nông làm việc với các đối tượng khác nhau
1.1.3.2 Phương pháp khuyến nông
Khuyến nông là một hình thức giáo dục ngoài học đường, đối tượng chính là nông dân lao động, là những người có tuổi, là thanh niên nam nữ
Cơ quan nghiên cứu
Khuyến
Trang 23nông thôn Phương pháp khuyến nông là cách làm về khuyến nông để đạt được những mục tiêu đã đặt ra Có nhiều phương pháp khuyến nông, phương pháp nào cũng có mặt tích cực và mặt hạn chế của nó Cho nên việc sử dụng phương pháp nào cần có sự suy xét, đánh giá
- Các loại hình phương pháp khuyến nông + Phương pháp khuyến nông chung
+ Phương pháp khuyến nông chuyên ngành
+ Phương pháp khuyến nông đào tạo và tham quan
+ Phương pháp khuyến nông có nông dân tham gia (PRA)
+ Phương pháp khuyến nông lập dự án
+ Phương pháp khuyến nông phát triển hệ thống nông nghiệp
+ Phương pháp khuyến nông cùng chịu phí tổn
+ Phương pháp khuyến nông tổ chức giáo dục
- Phương pháp cá nhân
- Phương pháp khuyến nông theo nhóm
- Hội họp
- Trình diễn
- Hội thảo đầu bờ
- Phương pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân
1.1.4 Truyền thông khuyến nông
Khuyến nông có nhiệm vụ chủ yếu là chuyển giao TBKT và công nghệ mới… trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp đến đại đa số nông dân giúp họ nâng cao trình độ canh tác, nâng cao đời sống Đây là cách nhanh nhất rút ngắn khoảng cách về tri thức, là cách tốt nhất để chớp lấy thời cơ phát triển nhanh hơn, chống tụt hậu trong sản xuất nông nghiệp so với các nước tiên tiến
Để có được nguồn thông tin, CBKN rất cần nhanh chóng tiếp cận với các phương tiện thông tin hiện đại, đa dạng, còn nông dân Việt Nam rất cần từ
Trang 24người CBKN những kiến thức đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng Để làm tốt việc chuyển giao TBKT, CBKN cần nắm được những nguyên tắc cơ bản của truyền thông và những phương pháp truyền thông
Sơ đồ 04 : Truyền thông khuyến nông là hoạt động thông tin hai chiều
Để đáp ứng nhu cầu của luồng thông tin nông nghiệp ở địa phương, đáp ứng nhu cầu người nhận và thực hiện được mục đích truyền thông, truyền thông trong khuyến nông là hoạt động hai chiều: chiều lên và chiều xuống
1.1.5 Lập kế hoạch và đánh giá các chương trình khuyến nông
- Chương trình khuyến nông muốn thực hiện có hiệu quả tốt đều phải có
kế hoạch chu đáo Không thể có một hoạt động riêng lẻ, mọi trình diễn, tham
Chiều xuống
NGƯỜI DÂN - CỘNG ĐỒNG - NÔNG THÔN
Chiều lên
CÁC CƠ QUAN KHUYẾN NÔNG
Nội dung:
- Các chủ trương, chính sách khuyến nông và phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp
- Các phương thức sản xuất, các chương trình khuyến nông mới
- Kỹ thuật sản xuất nông, lâm nghiệp
- Các khuyến cáo của Nhà nước
Nội dung:
- Những phương thức sản xuất truyền thống
- Những kinh nghiệm sản xuất, các kết quả
từ mô hình, từ thử nghiệm (thông qua đánh giá)
- Những nhu cầu, nguyện vọng và kiến nghị
Trang 25quan, hội họp, chiếu phim… đều là cấu thành của một chương trình khuyến nông toàn diện để CBKN và nông dân hướng tới các mục tiêu phát triển Có hai hình thức lập kế hoạch:
+ Lập kế hoạch từ dưới lên: Nông dân cùng với CBKN xây dựng những
kế hoạch phát triển nông nghiệp trên cơ sở những nhu cầu và những tiềm năng ở địa phương, sau đó, yêu cầu cấp trên hỗ trợ thực hiện
+ Lập kế hoạch từ trên xuống: Trong trường hợp này, CBKN chỉ cần thực hiện những kế hoạch khuyến nông do cấp trên đưa xuống Có thể anh ta
sẽ phải hoàn thành một số chỉ tiêu cho trước
Chương trình khuyến nông chỉ có thể thành công nếu biết kết hợp cảu hai hình thức lập kế hoạch nói trên Và sự tham gia của người dân trong khi lập kế hoạch là một phần rất quan trọng trong tiến trình giáo dục của khuyến nông
- Đánh giá các hoạt động khuyến nông là quá trình xem xét, phân tích hoạt động khuyến nông với sự tham gia của CBKN và nông dân Đánh giá để khẳng định thành công hay thất bại của hoạt động khuyến nông đó theo mục tiêu và kế hoạch ban đầu Mục đích đánh giá tiến độ thực hiện và kết quả các hoạt động; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các nội dung hoạt động, điều chỉnh các hoạt động tiếp theo; đề xuất cho các hoạt động khuyến nông
mở rộng Việc đánh giá các chương trình khuyến nông là rất cần thiết nhằm giúp CBKN xác định xem các mục tiêu đề ra có đạt được hay không, và các nguyên nhân gây ra không đạt mục tiêu trong khi thực hiện chương trình Kết quả của việc đánh giá và phân tích cập nhật tình hình sẽ tạo cơ sở cho khuyến nông xây dựng được những chương trình tốt hơn cho thời gian tiếp theo
1.1.6 Khuyến nông với một số lĩnh vực hoạt động chủ yếu
* Khuyến nông và kinh tế thị trường, khuyến nông với CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn
Trang 26Ở nước ta hiện nay việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một tất yếu khách quan phù hợp với đòi hỏi phát triển của nền kinh tế Cũng như mọi hoạt động khác của nền kinh tế, công tác khuyến nông cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế này
Năm 2007, nước ta trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO Nông dân nước ta đã, đang và sẽ đi chợ toàn cầu, tri thức hoá Nông nghiệp sẽ hiện đại hoá, công nghiệp hoá ngang tầm khu vực Nông thôn Việt Nam mới, văn minh sẽ được hình thành Người nông dân sản xuất
ra cho hai thị trường: trong nước và xuất khẩu ví dụ như năm 2005 chúng ta sản xuất ra 36 triệu tấn thóc thì tiêu dùng trong nước hết 25 triệu tấn, còn xuất khẩu hơn 10 triệu tấn; GDP khoảng 60 tỷ USD thì tiêu dùng trong nước gần
40 tỷ, còn xuất khẩu trên 20 tỷ Trong các ngành hàng sản xuất có một số ngành hàng tăng trưởng nhờ tiêu dùng trong nước tăng lên nhưng đồng thời nền sản xuất của nước ta cũng hướng về xuất khẩu, đã là nền sản xuất hàng hoá Như vậy tiêu dùng trong nước cũng quan trọng ngang với xuất khẩu, trên
80 triệu dân nước ta ưa chuộng hàng hoá thì lợi ích cũng như xuất khẩu, đó là
sự phát triển bền vững Hoạt động khuyến nông nhằm thúc đẩy phát triển
“tam nông” Trước đây trọng tâm là khuyến nông kỹ thuật (technic) thì hiện nay cần chuyển sang khuyến nông công nghệ (technology), khuyến nông kinh
tế (đánh giá hiệu quả), khuyến nông xã hội (tổ chức sản xuất), khuyến nông thị trường (định hướng XHCN Việt Nam) [15]
Giúp cho nông hộ biết cách phân tích, xác định nhu cầu thị trường về nông sản hàng hoá để lựa chọn phương hướng sản xuất kinh doanh; biết lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; biết lựa chọn TBKT và công nghệ phù hợp; biết cách tổ chức quản lý, sử dụng lao động và các nguồn lực… Biết
Trang 27phát huy lợi thế so sánh, nội lực và tranh thủ các nguồn hộ trợ thông qua các chương trình, dự án, biết cách tổ chức sản xuất, liên kết giữa các nhóm hộ Khuyến nông cần phải hướng dẫn nông dân, giúp họ có những hiểu biết nhất định về thị trường: Biết sản xuất hàng hoá, sản xuất cây, con gì để có thể bán được nhiều và nhanh? Sản xuất như thế nào để có lãi nhiều? Cách tiếp cận thị trường, có khi người dân sẽ gặp phải những khó khăn như sản xuất được nhiều sản phẩm nhưng không tiêu thụ được hoặc năng suất cây trồng, vật nuôi cao, chi phí cao vì vậy sản xuất không có lãi
Sơ đồ 05: Khuyến nông trong kinh tế thị trường Việt Nam
* Khuyến nông với việc đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng hoá
Khuyến nông thực hiện thông tin tuyên truyền về đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ; cung cấp thông tin thị trường, giá cả, pháp luật thương mại, quảng bá thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, vận chuyển, sự phát triển của thị trường nông sản… từ đó
Thị trường Đào tạo Chính sách
Ngân hàng, tín dụng Khuyến nông (xã hội hoá) Doanh nghiệp
Sản xuất (hộ nông dân) KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Nghiên cứu KH,CN
Trang 28định hướng giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn sản xuất với chế biến và thị trường Nông sản hàng hoá được tiêu thụ dễ dàng hơn
* Tín dụng khuyến nông
Trong hoạt động tín dụng người cho vay vốn (là ngân hàng) và khuyến nông cùng giúp nông dân phát triển sản xuất, vốn vay được bảo toàn và phát triển, đời sống của người dân càng no đủ Khuyến nông là người gần gũi nông dân, biết rõ tâm tư nguyện vọng của người nông dân, có thể giúp đỡ họ về kỹ thuật và có các kiến thức về thị trường nên có thể tư vấn cho người dân nên sử dụng vốn vay như thế nào cho có lợi nhất và hiệu quả nhất Những kiến thức về thị trường do khuyến nông mang lại giúp nông dân tiến hành sản xuất gắn với thị trường, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ dễ hơn, mang lại hiệu quả cao hơn
* Khuyến nông với bảo vệ môi trường sinh thái
Đối tượng của công tác khuyến nông là người nông dân, phát triển nông nghiệp và góp phần phát triển nông thôn Để bảo vệ môi trường thì mô hình nông nghiệp phải mang tính bền vững, mà đặc trưng của nó là quy mô phải hợp lý, thâm canh đa dạng về chủng loại cây trồng vật nuôi, đang dạng hoá về chế độ canh tác, các tài nguyên năng lượng và sinh học được bảo toàn, tái tạo,
tự điều chỉnh và tự tái sinh Đây là mô hình rất phù hợp với công tác khuyến nông vì quy mô sản xuất của mỗi hộ gia đình nông dân ở Việt Nam thường là nhỏ và có điều kiện để quản lý hệ thống sản xuất ở đây theo đúng những yêu cầu của nông nghiệp bền vững nếu được hướng dẫn đầy đủ Mặt khác, công tác khuyến nông còn đặc biệt quan tâm giáo dục người nông dân biết cách phát triển kinh tế hộ gia đình mình theo đúng các phương pháp khoa học sinh thái nhân văn, giúp bảo vệ môi trường
* Đào tạo cán bộ khuyến nông
CBKN là người làm trực tiếp, thường xuyên với nông dân trong công tác phát triển nông thôn nên người CBKN cần phải có kiến thức và kỹ năng thực
Trang 29hành về nông nghiệp như quản lý, trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ lợi CBKN là người tuyên truyền, khuyến cáo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật tới nông dân, những cách làm ăn mới CBKN là người có thể tư vấn cho nông dân nên sản xuất gì và như thế nào để đạt hiệu quả CBKN là người đem kiến thức đến cho dân và giúp họ sử dụng kiến thức đó Do vậy người CBKN cần được đào tạo, được trang bị đầy đủ các thông tin và kiến thức kỹ thuật để giúp đỡ nông dân Tuy nhiên, khi làm khuyến nông, người CBKN phải dựa vào đường lối, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp phát triển nông thôn [13]
1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
1.2.1 Vai trò, đặc điểm và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
- Vai trò
Cây lúa là cây trồng chính ở Việt Nam Vị trí quan trọng của cây lúa trong đời sống con người luôn được khẳng định qua nhiều thời đại Lúa gạo đáp ứng yêu cầu trực tiếp của con người Lúa gạo là lương thực chính cho hơn một nửa
số dân trên thế giới, chủ yếu các nước ở vùng nhiệt đới và một phần á nhiệt đới, châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới, lúa mì chiếm 30,5%, lúa gạo 26,5%, ngô 24%, còn lại là những loại ngũ cốc khác Ngoài ra, lúa gạo còn được dùng làm thức ăn cho gia súc, là nguyên liệu cho công nghiệp và là nguyên liệu để xuất khẩu Các sản phẩm phụ của thóc gạo như rơm rạ, trấu, cám đều được phục vụ lợi ích của con người
- Đặc điểm
Cây lúa được trồng ở nhiều nơi, từ 400
vĩ Nam đến 300 vĩ Bắc Ở nước
ta, cây lúa phát triển tốt ở những vùng nhiệt đới ẩm điển hình, vùng nhiệt đới
ẩm không điển hình và cả vùng nhiệt đới núi cao nếu điều kiện đất và nước cho phép Ở vùng nhiệt đới ẩm điển hình có tổng nhiệt khoảng 90000C không
Trang 30chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông-Bắc (từ đèo Cà trở vào) thì quanh năm có nước là gieo cấy được Từ khi có giống lúa ngắn ngày, ở vùng này, nông dân thường làm 3 vụ ăn chắc: Đông xuân, Hè thu, mùa; ở vùng nhiệt đới không điển hình, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc có nơi có cả gió Lào khô nóng, những nơi không chủ động được nước, nông dân tập trung làm hai vụ ăn chắc, cấy lúa trung ngày để có năng suất cao và ổn định [8]
- Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
Lúa gạo là lương thực không thể thiếu được cho hơn một nửa số dân trên thế giới Lúa gạo tham gia xuất khẩu, làm tăng thu nhập quốc dân Lúa gạo luôn là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh truyền thống của Việt Nam
1.2.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế
a Quan điểm về hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc: tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành
và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động” [10] hay
là hiệu quả C.Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” và sự tăng lên của sức sản xuất hay mức lao động, chúng
ta hiểu nói chung là sự thay đổi bằng cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một hàng hoá sao cho
số lượng lao động ít hơn mà lại có được một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn [9]
- Hiệu quả theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, David
Begg lại cho rằng “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng một hàng hoá khác Một nền kinh
tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” ông còn khẳng
Trang 31định hiệu quả là không lãng phí [2] Quan điểm này vẫn chưa thật sự đầy đủ
và chúng ta khó xác định được hiệu quả
- Một số nhà kinh tế khác, đại diện là Prokto cho rằng “Hiệu quả của nền sản xuất xã hội là tăng năng suất lao động” [12] Quan điểm này đồng
nhất hiệu quả nền sản xuất xã hội với các biểu hiện cụ thể của nó
- Các nhà kinh tế người Đức lại nói “Hiệu quả kinh tế là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả hữu ích đạt được” [11] Quan điểm này xuất
phát từ việc quan tâm giải quyết mâu thuẫn giữa giới hạn khả năng sản xuất
và nh cầu ngày càng tăng của con người, do vậy họ quan tâm đến mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được trên giác độ xã hội cũng như doanh nghiệp Quan điểm này chỉ đi sâu vào bản chất chứ không phải là khái niệm
về hiệu quả, đồng thời chưa nói rõ cách ước lượng hiệu quả
- Quan điểm khác lại khẳng định “Hiệu quả kinh tế đạt được biểu hiện là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất được và chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả đó” [16] Mối quan hệ so sánh này được xem xét cả về
hai mặt số tương đối và số tuyệt đối Khi phân tích quan điểm này ta nhận thấy rằng:
+ Hiệu quả trước hết được đo bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Ở khía cạnh này, mới chỉ
rõ quy mô của hiệu quả chứ chưa phản ánh đầy đủ và đúng mức hiệu quả, bởi
vì mục tiêu của các đơn vị kinh tế là tối đa lợi nhuận trong điều kiện bị giới hạn các nguồn lực chứ không phải là đạt được kết quả sản xuất ở bất kỳ mức chi phí nào
+ Hiệu quả kinh tế được xác định bởi sự so sánh tương đối (phép chia) giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Cách đánh giá này đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả các nguồn lực sản xuất, từ đó có thể so sánh hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau Tuy vậy, chưa thể hiện được quy mô sản xuất nói chung
Trang 32- Theo ý kiến nhận xét của các nhà kinh tế khác: Những quan điểm về hiệu quả kinh tế nêu trên chỉ mới nhìn nhận ở những góc độ và khía cạnh trực tiếp, nó chưa toàn diện Khi đánh giá hiệu quả kinh tế phải đặt trên tổng thể kinh tế - xã hội tức là phải quan tâm đến những mục tiêu phát triển xã hội như nâng cao mức sống, cải thiệu điều kiện học tập, làm việc Quan điểm này là toàn diện bởi vì nó đã thể hiện được mối quan hệ giữa kinh tế vĩ mô và vi mô, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới
- Ở nước ta, coi hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần là thu được lợi nhuận tối đa mà còn phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và đáp ứng được đường lối chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Chính
vì vậy, Đảng ta khẳng định rõ “Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển” [4]
Vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế và là đặc trưng của mọi hình thái kinh tế xã hội
Do đó, để có một quan điểm hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế, chúng tôi xuất
phát từ luận điểm kinh tế học của C.Mác “Quy luật tiết kiệm thời gian trong khi
sử dụng các nguồn lực xã hội” [10] và những luận điểm của lý thuyết hệ thống
cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan
hệ vật chất hình thành giữa con người và con người trong quá trình sản xuất
b Một số loại hiệu quả cơ bản
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà động thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống KT-XH của con người Những kết quả đó là: cải thiện điều kiện sống và làm việc, cải tạo môi trường, môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân, tức là đạt được hiệu quả xã hội [11]
Mặt khác, xét trên phạm vi cá biệt, một hoạt động kinh tế hay một tiến
bộ kỹ thuật có thể mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị nhưng xét trên phạm vi xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung
Trang 33Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả cần phân loại và làm rõ mối liên hệ giữa chúng để có nhận xét chính xác
Nếu căn cứ vào nội dung khác ta phân hiệu quả ra thành hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
- Hiệu quả kinh tế là khâu trung gian của tất cả các loại hiệu quả và có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác
- Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả hữu ích về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã hội của hoạt động sản xuất Các loại hiệu quả có liên quan chặt chẽ với hiệu quả kinh tế và biểu hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người
- Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do hoạt động sản xuất gây ra như xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật việc xác định hiệu quả môi trường là tương đối khó
Trong 3 loại hiệu quả trên thì hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định và nó được đánh giá đầy đủ khi kết hợp với hiệu quả xã hội và môi trường [6]
c Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được tính toán dựa vào bản chất của hiệu quả Đó là quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra hay giữa chi phí và kết quả thu từ chi phí đó
H = Q/ C Trong đó: H: Là hiệu quả
Q: Là lượng kết quả thu được C: Là lượng chi phí sản xuất
Từ đó chúng ta có thể xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau của hiệu quả như:
+ Hiệu số (Q-C) Max là trị số tuyệt đối của hiệu quả + Hiệu số (Q-C)/C Max là trị số tương đối của hiệu quả
Trang 34+ Hiệu số C/Q Min, biểu thị tỷ trọng chi phí cần thiết để có được một đơn vị kết quả, hay còn gọi là suất tiêu hao, suất chi phí và được sử dụng rộng rãi trong thực tế
1.2.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
* Các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên:
Lúa sinh trưởng mạnh hay yếu, tốt hay xấu, nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Thời gian sinh trưởng thay đổi theo mùa vụ, thời vụ, địa lý nơi gieo cấy Yếu tố chi phối lớn nhất là ánh sáng và nhiệt độ
- Nhiệt độ là yếu tố quan trọng đối với sự sống của cây lúa Nhiệt độ làm lúa sinh trưởng nhanh hay chậm, phát dục tốt hay xấu Lúa sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ 25-280C Nếu nhiệt độ thấp hơn 170C sinh trưởng của lúa chậm lại, nếu thấp hơn 130C thì lúa ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ thấp kéo dài nhiều ngày lúa có thể chết Nếu nhiệt độ cao, trong phạm vi từ 28-350C thì lúa sinh trưởng nhanh, nảy mầm nhanh nhưng chất lượng kém Khi nhiệt độ cao hơn 350C vào lúc phân bào giảm nhiễm hoặc kéo dài hơn 1 giờ vào lúc nở hoa thì làm tỉ lệ lép của lúa cao lên Mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ cao hay nhiệt độ thấp, mạnh hay yếu là tuỳ thuộc vào giống lúa và giai đoạn sinh trưởng phát triển của lúa
- Ánh sáng là động lực để cây lúa quang hợp, ánh sáng ảnh hưởng đến cây lúa có hai mặt: Cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp và số giờ chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa, kết quả của lúa sớm hay muộn
- Lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình từ 6-7mm/ngày trong mùa mưa, 8-9mm/ngày trong mùa khô, lượng nước thẩm thấu trong ruộng khoảng 0,5-0,6mm/ngày thì 1 tháng cây lúa cần khoảng 200mm và một vụ lúa 5 tháng cần lượng mưa khoảng 1000mm Ở những vùng có lượng mưa trên 1000mm trong 5-6 tháng thì đều trồng được lúa
- Đất đai: Muốn lúa có năng suất cao, đất cần đáp ứng một số yêu cầu sau: + Các loại đất có địa hình bằng, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét + Hàm lượng dinh dưỡng N, P, K tổng số khá
Trang 35+ Độ mặn <0,5% tổng số muối tan (TSMT)
* Nhóm biện pháp kĩ thuật canh tác
Biện pháp kĩ thuật canh tác là sự tác động của con người vào cây trồng như chọn giống, kĩ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…
+ Giống lúa: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả kinh tế của cây lúa Mỗi giống có năng suất nhất định và cho năng suất cao khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của chúng Tuy nhiên mỗi giống chỉ phù hợp với từng loại đất cụ thể, từng miền khí hậu nhất định cho nên việc lựa chọn giống phù hợp và cho năng suất cao đối với từng địa phương là hết sức quan trọng
và cần thiết
+ Kĩ thuật chăm sóc: Đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình sản xuất nếu muốn đạt năng suất cao Trong quá trình chăm sóc phải cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng có như vậy mới đem lại năng suất như mong muốn
+ Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất lúa Ở cây lúa tình hình sâu bệnh rất phức tạp, với từng giống lúa thường xuyên xuất hiện những loại sâu bệnh khác nhau Trong quá trình sản xuất cần quan tâm tới đồng ruộng để phát hiện kịp thời các loại bệnh Từ
đó có biện pháp tiêu diệt ngay khi chúng mới xuất hiện Phòng chống sâu bệnh kịp thời, hữu hiệu sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và đem lại năng suất và chất lượng lúa tốt hơn
* Nhóm các nhân tố kinh tế - tổ chức
Các nhân tố của nhóm này gồm nhiều vấn đề có thể chia ra như sau: + Trình độ năng lực của chủ thể sản xuất kinh doanh: Có tác dụng quyết định trực tiếp tổ chức và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Năng lực của các chủ thể kinh tế sản xuất kinh doanh thể hiện qua:
Trình độ khoa học kĩ thuật và tổ chức quản lí của các chủ thể:
Khả năng ứng xử trước những thay đổi của điều kiện kinh tế thị trường
và môi trường sản xuất kinh doanh
Khả năng và trình độ trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật của các chủ hộ
Trang 36+ Quy mô sản xuất: Các nông hộ khác nhau có diện tích đất canh tác khác nhau Diện tích càng lớn thì mọi công việc như tổ chức, chăm sóc, thu hoạch, chi phí, cũng được tiết kiệm hơn Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế
+ Thị trường: Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất lúa Trên thực tế do bản chất của người nông dân vốn rất thực dụng do đó nếu
vụ trước được mùa thì lập tức vụ sau người nông dân sẽ đầu tư vào sản xuất nhiều hơn Vì vậy vấn đề đặt ra là khi có sản lượng cao cần mở rộng thị trường tiêu thụ làm sao cho sản xuất ổn định và phát triển để người sản xuất đảm bảo chi phí cho quá trình sản xuất
* Nhóm nhân tố xã hội
Để thấy được sự ảnh hưởng của nhóm nhân tố này đến năng suất lúa chúng ta nghiên cứu các nhóm nhân tố sau:
- Thói quen tiêu dùng: Đó là sự hình thành tập quán của người tiêu dùng,
nó phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia, mỗi vùng cũng như trình độ dân trí của mỗi vùng, quốc gia đó
- Thu nhập: Nói lên sức mua của người tiêu dùng, nếu thu nhập thấp sức mua của người tiêu dùng giảm và ngược lại
Tóm lại các nhóm nhân tố có liên quan mật thiết và tác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau và cùng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và hiệu quả sản xuất Do vậy đánh giá đúng sự tác động của nó đến hiệu quả sản xuất lúa là rất cần thiết để có những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa
1.2.4 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.4.1 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
ở một số nước Châu Á
Ấn Độ: Chương trình thiết lập 100 trung tâm khuyến nông khuyến lâm
và một văn phòng khuyến nông khuyến lâm trung ương, 10 trung tâm khuyến nông khuyến lâm vùng nhằm cải thiện sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu
và chuyển giao công nghệ về sản xuất lúa
Trang 37Nepal: Các chương trình khuyến nông về sản xuất và nâng cao hiệu quả
sản xuất lúa được tổ chức để cung cấp cho người dân sự hiểu biết các chính sách mới về khuyến nông trong nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, các luật lệ, các lợi ích có liên quan đến quản lý các nguồn tài nguyên của họ Nhà nước đào tạo cán bộ khuyến nông cấp huyện và cộng đồng Nhà nước phát triển khuyến nông trong nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thông qua các chương trình truyền thanh đại chúng, báo, tạp chí
Thái Lan: Thái Lan có ba tổ chức hoạt động có liên quan đến khuyến
nông khuyến lâm là cục lâm nghiệp hoàng gia, hội nông dân và hội phát triển cộng đồng
Tại Thái Lan nhiều cách tiếp cận để thực hiện hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đã đuợc áp dụng như: Tiếp cận theo chuyên môn hóa hàng hóa, tiếp cận theo kiểu đào tạo và tham quan, tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận theo các dự án, tiếp cận theo kiểu chia sẻ chi phí, theo kinh nghiệm phát triển các vùng bảo tồn và phát triển lâm nghiệp cộng đồng thì hình thức tiếp cận có sự tham gia của người dân là có hiệu quả hơn cả [6]
Philippin: Hệ thống khuyến nông được thành lập năm 1976 Nhà nước
xây dựng các chính sách, lập kế hoạch, xây dựng các chương trình khuyến nông trong sản xuất lúa và các dự án phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Mạng lưới khuyến nông chủ yếu do các trường đại học, các viện nghiên cứu, các tổ chức tình nguyện và tổ chức phi chính phủ thực hiện
Indonesia: Hệ thống khuyến nông được xây dựng từ trung ương đến cấp
cơ sở Các trung tâm khuyến nông được hình thành ở các cấp cộng đồng Mỗi trung tâm phụ trách 2 - 3 xã Cả nước có khoảng 7000 cán bộ khuyến nông khuyến lâm Mỗi trung tâm có một cán bộ giám sát Cán bộ khuyến nông trong sản xuất lúa được đào tạo tại các trường cao đẳng, cán bộ giám sát được đào tạo tại các trường Đại học Nông nghiệp [5]
1.2.4.2 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
ở Việt Nam
Trang 38Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển nhanh, đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu,
tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ, chúng ta đã vươn lên để dần dần trở thành một nước có nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và
có tỷ suất hàng hoá ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới Nước ta đã trở thành một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gạo,
cà phê, điều, tiêu, thuỷ hải sản trên thị trường quốc tế
Đồng hành cùng người nông dân để chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trên con đường hướng tới phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững là những cán bộ, nhân viên, tình nguyện viên hệ thống Khuyến nông - Khuyến ngư Việt Nam Trải qua gần 10 năm, kể từ ngày 02/3/1993, khi Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông - khuyến ngư, hệ thống khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam đã được hình thành, củng cố và ngày càng phát triển một cách toàn diện Khuyến nông khuyến ngư đã tích cực chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật, canh tác cho nông dân, chuyển tải kịp thời mọi chủ trương, đường lối, chính sách phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp của Đảng và Nhà nước… Khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam thực
sự đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tuy vậy, sau 12 năm thực hiện Nghị định 13/CP, công tác khuyến nông
đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và xu hướng hội nhập kinh
tế quốc tế Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Thuỷ sản đã trình Chính phủ để sửa đổi, bổ sung một số nội dung hoạt động khuyến nông, thay thế cho Nghị định 13/CP Ngày 26/4/2005, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông, khuyến ngư
Trang 39Nghị định 56/2005/NĐ-CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông, khuyến ngư (nhất là tổ chức khuyến nông cơ sở), mục tiêu, nguyên tắc, chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông); mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông khuyến ngư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông - khuyến ngư
Nhìn chung, hiện trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế cạnh tranh, chưa chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Với đất nước phần lớn dân số sống ở nông thôn thì cần phải có quyết tâm và giải pháp mạnh hơn, đồng bộ hơn để thúc đẩy ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong xu thế hội nhập sau khi Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Việc chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ cao ngày càng trở nên cấp thiết và cần
có cơ chế đổi mới về chính sách, tổ chức, quản lý để người nông dân Việt Nam được trang bị đầy đủ hơn kiến thức khoa học kỹ thuật và kỹ năng tay nghề hiện đại, phù hợp với đòi hỏi mới của thị trường Bên cạnh đó, việc tập hợp được nhiều lực lượng làm công tác khuyến nông theo xu hướng xã hội hoá là vấn đề rất cần được quan tâm Trong chương trình hành động của Chính Phủ nhằm thực hiện Nghị Quyết 26- NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ban hành ngày 05/8/2008) đã nêu rõ các giải pháp về "Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn"
a Tổ chức khuyến nông - khuyến ngư trung ương
Cục Khuyến nông Khuyến lâm ra đời vào năm 1993 vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về trồng trọt, chăn nuôi vừa triển khai các hoạt động khuyến nông Trong quá trình hoạt động, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thấy được sự bất cập khi trên cùng một đơn vị vừa tiến hành song song nhiệm vụ quản lý
Trang 40Nhà nước và dịch vụ công (khuyến nông) Chính vì vậy, ngày 18/7/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 86/CP cho phép tách Cục Khuyến nông Khuyến lâm thành 2 đơn vị trực thuộc Bộ là Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Sơ đồ 06: Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ
NN và PTNT với một số chức năng nhiệm vụ chính: Hoạch định chính sách và kế hoạch khuyến nông; hướng dẫn về tổ chức và phương pháp
Câu lạc bộ khuyến nông
Làng khuyến nông
Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trung tâm Khuyến nông tỉnh
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trạm Khuyến nông huyện Cấp huyện
Khuyến nông xã/thôn Cấp xã