Hình 1.2 Top 10 tạp chí truy cập mở nổi tiếng trên thế giới 12Hình 1.3 Website Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ của Trường Đạihọc Quốc gia Đài Loan Hình 2.2 Trụ sở chính Trung tâm Thông ti
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học : QH - 2009 – X
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học : QH - 2009 - X
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS PHẠM TIẾN TOÀN
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ động viên rất nhiều của thầy cô và bạn bè Với tấm lòng tri ân sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Phạm Tiến Toàn người đã rất tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo để giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin cảm ơn Phó Giám đốc Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Thạc sĩ Cao Minh Kiểm đã cung cấp cho em những tài liệu, thông tin khoa học để em có thể hoàn thành khóa luận này
Đồng thời, cũng xin cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội; đặc biệt là các cán bộ thư viện tại Trung tâm TTTV Đại học QGHN đã chỉ bảo
và tạo điều kiện giúp đỡ em để em có những tư liệu quý báu để hoàn thành khóa luận tốt nhất.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người đã luôn ở bên động viên tôi vượt qua những giai đoạn khó khăn để có thể hoàn thành khóa luận
và có kết quả như ngày hôm nay.
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với thời gian ngắn, mặc
dù đã rất cố gắng song chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế về trình độ kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các cán bộ thư viện, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu
và những người quan tâm tới đề tài này để làm cơ sở cho tác giả có thể hoàn thiện, giúp đề tài mang tính thực tiễn cao hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiền
Trang 46 KHXH&NV Khoa học Xã hội và Nhân văn
2 Từ viết tắt tiếng Anh
Hình 1.1 Minh họa khả năng hiển thị tài liệu của nhà xuất bản
truy cập mở BioMed Central
9
Trang 5Hình 1.2 Top 10 tạp chí truy cập mở nổi tiếng trên thế giới 12Hình 1.3 Website Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ của Trường Đại
học Quốc gia Đài Loan
Hình 2.2 Trụ sở chính Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học
Quốc gia Hà Nội
27
Hình 3.1 Mục tiêu của Kho lưu trữ truy cập mở Viện Công nghệ
Machachusset
47
Hình 3.2 Hướng dẫn về cách thức gửi bài lên Kho lưu trữ truy cập
mở của trường Đại học Cornell
50
Hình 3.3 Dịch vụ tìm kiếm tài liệu trong Kho lưu trữ truy cập mở
của trường Đại học Cambridge
51
Hình 3.4 Dịch vụ hỗ trợ thông tin của Kho lưu trữ truy cập mở
trường Đại học Cambridge
Biểu đồ 1.1 Hoạt động gửi bài viết lên Kho lưu trữ truy cập mở
nội bộ của Trường Đại học Quốc gia Đài Loan quacác năm
16
Biểu đồ 1.2 Thống kê của OpenDOAR về số lượng các loại
Kho lưu trữ truy cập mở
21
Biểu đồ 1.3 Thống kê số lượng bài báo truy cập mở được xuất
bản bởi các nhóm xuất bản qua các năm 2000,
23
Trang 62005, 2011 Biểu đồ 3.1 Thống kê của OpenDOAR về tỉ lệ sử dụng hai phần
mềm Dspace và Eprints của các kho lưu trữ thành viên tham gia trong OpenDOAR
56
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Tình hình nghiên cứu 2
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
Trang 78 Bố cục 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ 5
1.1 Tổng quan về Truy cập mở 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến Truy cập mở 6
1.1.3 Lợi ích 8
1.1.4 Các mô hình truy cập mở 11
1.2 Khái quát về mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ 13
1.2.1 Khái niệm, lợi ích, các dạng tài liệu trong Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ 13 1.2.2 Vấn đề bản quyền và cấp phép 16
1.2.3 Tình hình phát triển của Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ 19
1.3 Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ là sự lựa chọn của nhiều cơ quan, tổ chức nghiên cứu hay có chức năng nghiên cứu trên thế giới 21
1.4 Xây dựng Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại các trường đại học 23
1.4.1 Thư viện đại học là nơi trực tiếp triển khai ứng dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ cho trường đại học 23
1.4.2 Điều kiện cần thiết cho việc xây dựng Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại thư viện các trường đại học 24
CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 26
2.1 Khái quát chung về Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 26
2.1.1 Khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội 26
2.1.2 Khái quát về Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội .27
Trang 82.2 Sự cần thiết của việc áp dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại
Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 28
2.2.1 Tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội .28
2.2.2 Vai trò của Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội trong việc thỏa mãn nhu cầu thông tin học thuật 31
2.2.3 Hạn chế trong việc tiếp cận đến các kết quả nghiên cứu của chính cán bộ và sinh viên trong Đại học Quốc gia 32
2.3 Những lợi ích khi ứng dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 35
2.4 Điều kiện thuận lợi tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội cho việc triển khai ứng dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ 37
2.4.1 Công nghệ 37
2.4.2 Vấn đề bản quyền 38
2.4.3 Đội ngũ cán bộ 40
2.4.4 Tài chính 40
2.5 Cơ hội và thách thức 41
2.5.1 Cơ hội 41
2.5.2 Thách thức 43
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 46
3.1 Xác định mục tiêu, quy mô 46
3.2 Lựa chọn các dịch vụ 48
3.3 Lựa chọn công nghệ 53
3.4 Vấn đề chi phí và kêu gọi đầu tư 56
3.5 Giải quyết vấn đề bản quyền 57
3.6 Xây dựng chính sách về nội dung, bản quyền, truy cập, gửi bài, phân phối 61
3.7 Đội ngũ cán bộ 63
Trang 93.8 Quảng bá và đào tạo 64
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời của Internet đã mở ra một kỉ nguyên mới cho việc tiếp cận đếnthông tin toàn cầu của nhân loại và đã có những ảnh hưởng tích cực trong lĩnhvực TTTV Nguồn tài liệu số đã trở nên phổ biến tại các thư viện bởi những lợiích mà nó mang lại Tuy nhiên, trong môi trường số đó, khả năng tiếp cận đến tàiliệu bị hạn chế do những rào cản về mặt bản quyền tác phẩm và tài chính TCMxuất hiện như một dạng thức của truy cập, cho phép tất cả mọi người đều có thểtruy cập miễn phí, không giới hạn, không rào cản đến tài liệu Kho lưu trữ TCMnội bộ - một trong những mô hình của TCM, là nơi chứa đựng các kết quả nghiêncứu trong phạm vi của một tổ chức, cơ quan nghiên cứu hay có chức năng nghiên
Trang 10cứu, với mục đích chia sẻ, phổ biến thông tin học thuật, đặc biệt là thông tinnghiên cứu đến các thành viên trong tổ chức
Bên cạnh vai trò là cơ quan giáo dục, đào tạo hàng đầu, ĐHQGHN còn làmột trong những trụ cột lớn của đất nước trong sự nghiệp NCKH Nhu cầu củangười nghiên cứu và việc phổ biến các TTKH của Trung tâm TTTV, ĐHQGHN
là vấn đề luôn được coi trọng Trong các nguồn thông tin học thuật thì những tàiliệu xám, hay công trình nghiên cứu đã được xuất bản trên các tạp chí khoa họccủa cán bộ và sinh viên trong ĐHQGHN được coi là nguồn cung cấp các TTKHhàng đầu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của NDT tại Trung tâm TTTV Tuynhiên, hiện tại, khả năng tiếp cận của họ đến những tài liệu này còn nhiều hạnchế do vấn đề bản quyền Để việc phổ biến các nguồn thông tin này trở nên sâurộng hơn và không còn rào cản truy cập, thiết nghĩ, Trung tâm nên cải thiện cáchthức truyền thông học thuật của các tài liệu này bằng việc triển khai áp dụng môhình Kho lưu trữ TCM nội bộ
Mặc dù, ở Việt Nam, TCM còn là vấn đề mới và ít được đề cập đến trongcác tài liệu chuyên ngành TT - TV cũng như việc ứng dụng mô hình Kho lưu trữTCM nội bộ vào thực tiễn chưa nhiều Tuy nhiên, với những lợi ích và tính khảthi mà mô hình này mang lại, tôi xin mạnh dạn đề xuất việc ứng dụng mô hìnhKho lưu trữ TCM nội bộ cho Trung tâm TTTV, ĐHQGHN Vì thế, tôi đã lựa
chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình kho lưu trữ truy cập
mở nội bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Thông qua đề tài này, tôi muốn tìm hiểu sâu sắc những vấn đề lý luận và thựctiễn về Kho lưu trữ TCM nộ bộ để có cái nhìn tích cực về những lợi ích mà nómang lại trong sự nghiệp truyền thông học thuật Từ đó, tiến hành nghiên cứunhững điều kiện thích hợp để triển khai ứng dụng tại Trung tâm và đưa ra cácgiải pháp thực thi mô hình này trong điều kiện, hoàn cảnh của cơ quan
2 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về Kho lưu trữ TCM nội bộ;
- Nghiên cứu các điều kiện phù hợp cho việc triển khai;
Trang 11- Đưa ra các giải pháp để tiến hành ứng dụng mô hình Kho lưu trữ TCMnội bộ tại Trung tâm TTTV, ĐHQGHN trong hoạt động phổ biến các thông tinkhoa học để cải thiện khả năng tiếp cận tài liệu của NDT.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về Kho lưu trữTCM nội bộ;
- Nghiên cứu các điều kiện đảm bảo cho việc ứng dụng Kho lưu trữ TCMnội bộ tại Trung tâm TTTV, ĐHQGHN;
- Đề xuất các giải pháp trong quá trình thực hiện ứng dụng
4 Tình hình nghiên cứu
Kho lưu trữ TCM nội bộ nói riêng và TCM nói chung đã và đang đượcbàn luận sôi nổi trên thế giới Tại Việt Nam, những bài viết hay công trìnhnghiên cứu về TCM, mô hình Kho lưu trữ TCM nội bộ và sự ứng dụng của nó
vào thực tiễn tại Việt Nam còn hạn chế Bài giảng “Thế nào là truy cập mở” do
Thư viện Quốc gia Việt Nam biên soạn, được đăng tải tại địachỉ:http://nlv.gov.vn/view-document-details/bai-3-the-nao-la-truy-cap-mo.html,chỉ dừng lại ở việc giới thiệu cho mọi người biết về TCM nói chung Bài viết của
Ths Lê Thị Hoa với tiêu đề “Hệ thống “Tạp chí khoa học Việt Nam trực tuyến”:
Sự hình thành và hướng phát triển” được đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu,
xuất bản số 1/2013 Tuy nhiên, bài viết chưa nghiên cứu những vấn đề lí luận vàthực tiễn cơ bản của TCM một cách có hệ thống mà được biên soạn chỉ nhằmtổng kết, đánh giá tình hình hoạt động, đưa ra định hướng phát triển cho tạp chíTCM – một mô hình của TCM đã được và đang được ứng dụng tại một cơ quan
cụ thể
Tại Việt Nam, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách
có hệ thống về kho lưu trữ TCM nội bộ cũng như sự ứng dụng của nó vào thựctiễn Kho lưu trữ TCM nội bộ mang lại rất nhiều lợi ích và có giá trị thực tiễn caokhi được ứng dụng tại các tổ chức, cơ quan, đặc biệt là các tổ chức nghiên cứu,
có chức năng nghiên cứu Với mong muốn giúp mọi người có cái nhìn sâu sắc,
Trang 12toàn diện hơn về kho lưu trữ TCM nội bộ cũng như thể hiện được những đónggóp của riêng mình đối với cơ quan TTTV tại Việt Nam và rộng hơn là vớingành mà tôi đang theo học thông qua việc nghiên cứu ứng dụng kho lưu trữTCM nội bộ tại một cơ quan thư viện cụ thể Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng mô hình kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội” là phù hợp với tính mới trong
NCKH
5 Đối tượng nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về kho lưu trữ TCM nội bộ;
- Ứng dụng mô hình kho lưu trữ TCM nội bộ tại Trung tâm TTTV,ĐHQGHN
6 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu việc ứng dụng kho lưu trữ TCM nội bộtrong phạm vi Trung tâm TTTV, ĐHQGHN
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tài liệu và thực tiễn từ năm 1990 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành niên luận, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu sau:
- Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở những quan điểm của Chủ nghĩa Mác– Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng và Nhà nước về côngtác thông tin – thư viện
- Phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan; Quan sát;Phỏng vấn
8 Bố cục
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn, lời cam kết, danh mục từ viếttắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung Khóa luận được chia thành 3chương:
Chương 1: Tổng quan về Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
Chương 2: Khả năng ứng dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội
bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Giải pháp ứng dụng mô hình Kho lưu trữ Truy cập mở nội
bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ
1.1 Tổng quan về Truy cập mở
1.1.1 Khái niệm
Theo Sáng kiến truy cập mở Budapest1[10], TCM có nhiều cấp độ vànhiều loại truy cập rộng hơn và dễ dàng hơn tới thông tin tri thức Có nghĩa, nó
1 Sáng kiến truy cập mở Budapest được hình thành trong một cuộc họp được tổ chức tại Budapest vào năm
2002, dựa trên sự tập hợp các sáng kiến khác nhau về truy cập mở.
Trang 14cho phép chúng ta có thể đọc, tải, sao chép, phân phối, in ấn, tìm kiếm hoặc liênkết toàn văn, thu thập dữ liệu làm chỉ mục, hoặc sử dụng chúng vào những mụcđích hợp pháp khác mà không cần quan tâm đến vấn đề tài chính, pháp luật hoặccác rào cản về kĩ thuật.
Tuyến bố Bethesda2 [11] cũng thể hiện quan điểm đồng tình với sáng kiếnBudapest, nhưng được giải thích rõ ràng, cụ thể hơn khi nói về khái niệm truycập mở “Truy cập mở, nơi mà các tác giả và người nắm giữ bản quyền cấp phépcho tất cả mọi người sử dụng miễn phí, không thu hồi, trên toàn thế giới, quyềntruy cập vĩnh viễn, và một giấy phép để sao chép, sử dụng, phân phối, truyền tải
và trưng bày tác phẩm một cách công khai và tạo, phân phối các tác phẩm pháisinh, trong bất cứ môi trường số cho bất cứ mục đích có trách nhiệm nào, phảighi nhận sự đóng góp thích hợp của tác giả cũng như quyền tạo một số lượng nhỏcác bản sao cho sự sử dụng cá nhân của họ”
Peter Suber là người có nhiều thành công trong việc nghiên cứu về TCMcũng cho rằng: Truy cập mở (OA) ở đây là sự truy cập tài liệu dưới dạng số, trựctuyến, miễn phí và tự do về hầu hết các rào cản bản quyền và việc cấp phép [12]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể thấy sự khác biệt cơ bản giữaTCM và phi TCM đó là sự miễn phí trong truy cập và không bị hạn chế mức độtruy cập Tóm lại, nói đến TCM là người ta nhắc ngay đến khả năng truy cập đếncác tài liệu trong môi trường số mà không có bất cứ hàng rào nào về tài chính,mức độ cho phép và bản quyền cho những mục đích khác nhau có trách nhiệm.Đôi khi, ở một mức độ nào đó của truy cập, chúng ta phải thừa nhận quyền tácgiả và phải trích dẫn tài liệu theo quy định
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến Truy cập mở
Kể từ những năm 1960, có một sự gia tăng nhanh chóng số lượng các ấnphẩm, trong đó bao gồm cả các ấn phẩm định kì Cùng với sự gia tăng đó, giá cả
2 Tuyên bố Bethesda về Xuất bản truy cập mở là kết quả của Hội nghị về xuất bản truy cập mở được tổ chức tại trụ sở của Viện Y học Howard Hughes tại Chevy Chase, Maryland, năm 2003 Nội dung của Tuyên bố
đề cập đến khái niệm xuất bản phẩm truy cập mở, cùng các tuyên bố về sự hỗ trợ của các cơ quan tài trợ, thư viện, nhà xuất bản, cộng đồng khoa học đối với việc xuất bản truy cập mở.
Trang 15của chúng cũng tăng theo một cách chóng mặt Chỉ trong khoảng thời gian từ năm1963-1990, giá trung bình của các ấn phẩm định kì hàng năm tăng đến 11,3%[1].Nguyên nhân chủ yếu là do nền kinh tế thế giới bước vào khủng hoảng, đồng tiềnmất giá, lạm phát tăng cao; cùng với đó là sự độc quyền, tập trung vào lợi nhuậncủa một số nhà xuất bản thương mại lớn trên thị trường xuất bản tạp chí khoa họcnhư Elsevier, Pergamon, và Springer Cuối cùng các thư viện đang là những ngườiphải gánh chịu những hậu quả nặng nề khi mà giá tạp chí tăng hơn nhiều so vớimức tăng ngân sách thư viện Ở Bắc Mỹ, giá tạp chí chuyên ngành tăng 9%/năm,trong khi mức tăng ngân sách của thư viện nghiên cứu chỉ có 7,9%/năm Kết quả
là, nhiều thư viện đã phải ngừng việc mua một số tạp chí chuyên ngành trong nước
và quốc tế
Vào cuối thế kỉ 20, các nhà xuất bản danh tiếng với danh sách tạp chí khálớn của mình, đã xây dựng chương trình được gọi là Big Deal [9,30] Theo đó, cácthư viện sẽ mua quyền truy cập đến các tạp chí nằm trong danh sách đó trongkhoảng thời gian hai, ba, hoặc năm năm Mặc dù được hưởng khuyến mãi từ góidịch vụ này, nhưng các thư viện phải trả cũng phải trả nhiều tiền hơn so với việcmua quyền sử dụng theo từng tạp chí riêng lẻ Từ đây, các thư viện thực sự khôngthể tiếp tục cố gắng thêm được nữa Cùng với sự xuất hiện của các báo, tạp chíđiện tử, các thư viện đã hạn chế việc đăng kí mua tạp chí in ấn và duy trì hai loạitạp chí in ấn song song với tạp chí điện tử, để giảm bớt chi phí Tuy nhiên, việc sửdụng tạp chí điện tử cũng chưa hẳn là một giải pháp hữu hiệu khi mà các thư việnvẫn phải trả thêm một khoản phí cho việc sử dụng Điều này xảy ra như một sựbáo hiệu phương thức truyền thông khoa học truyền thống, lệ thuộc vào các nhàxuất bản thương mại đang bị đe doạ nghiêm trọng
Cùng với Internet, mọi người có thể truy cập đến các tài liệu khoa học điện
tử trên toàn cầu, nhưng lại bị hạn chế khả năng tiếp cận đến chúng bởi các hàngrào về tài chính và bản quyền bởi các nhà xuất bản thương mại Đối với các nướcđang phát triển, khả năng này còn bị hạn chế hơn rất nhiều Việc truy cập đến cáctạp chí đăng kí của các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển trở thành mộttrong những vấn đề cấp bách nhất đối với họ Có lẽ rất nhiều các nhà nghiên cứu,
Trang 16đặc biệt là tại các nước đang và kém phát triển không có cơ hội để tiếp cận đến cácthông tin khoa học thông qua việc đăng kí sử dụng các tạp chí quốc tế để phục vụcho chuyên ngành nghiên cứu của mình Vấn đề về khả năng truy cập đang là ràocản lớn đối với tất cả những ai muốn tiếp cận đến nguồn tài nguyên học thuật.
Sự xuất hiện của TCM còn xuất phát từ phía những người nộp thuế Nhànước chính là người tài trợ cho nghiên cứu Số tiền đó được trích một phần từ sốtiền mà Nhà nước thu được từ nhân dân thông qua thuế Như vậy, tại sao cộngđồng lại phải mất thêm tiền để mua quyền truy cập đến chúng Thậm chí, ngay cảbản thân tác giả của những thành quả sáng tạo đó cũng phải trả phí nếu như saunày họ muốn truy cập lại đến chính kết quả nghiên cứu của mình Như vây, ngườiđược hưởng lợi nhiều nhất, có lẽ, không ai khác mà chính là các nhà xuất bản Môhình xuất bản truyền thống đang trở nên lạc hậu và không thể đáp ứng được nhucầu phát triển trong nhiệm vụ truyền thông khoa học
Tất cả những yếu tố kể trên mà quan trọng hơn cả là vấn đề gánh nặng chiphí, cùng với sự xuất hiện của Internet từ giữa thập niên 1980 như một điều kiệncần đã góp phần thúc đẩy TCM ra đời
Phong trào truy cập mở chính thức bắt đầu từ năm 1990, được đánh dấu bởi
sự ra đời của số báo đầu tiên được xuất bản dưới dạng truy cập mở của một số tạpchí:
The Public-Access Computer Systems Review:được thành lập năm
1989, số báo truy cập mở đầu tiên xuất bản vào 3/1/1990
Bryn Mawr Classical Review, Postmodern Culture, Psycoloquy:được thành lập vào năm 1990
Đến năm 1991, Paul Ginsparg là người đầu tiên bắt đầu xây dựng một lưutrữ khoa học trực tuyến miễn phí đầu tiên dành cho các nhà vật lí học, đó làarXiv.org Nó cho phép các nhà vật lí học lưu trữ các bản thảo bài báo của mình,
để chia sẻ ý tưởng trước khi chúng được xuất bản Ba năm sau đó, giáo sư khoahọc Steven Harnad đã đề nghị các nhà nghiên cứu tiến hành tự lưu trữ vào một kho
Trang 17lưu trữ truy cập công khai, miễn phí dựa trên Internet Chính đề xuất này củaHarnad đã dẫn đến hàng loạt cuộc tranh luận và hệ quả là sự xuất hiện của phongtrào TCM
Truy cập mở (Open Access) ra đời như một trào lưu trên thế giới và đếnngày nay vẫn còn là một chủ đề được nhiều người người quan tâm, đặc biệt lànhững người làm việc trong các lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu khoa học, thư viện,xuất bản và nhiều tổ chức xã hội khác
1.1.3 Lợi ích
TCM mang lại lợi ích cho nhiều người trong cộng đồng học thuật nói chung
và trong lĩnh vực thông tin – thư viện nói riêng Người sử dụng ở mọi nơi có thểtruy cập tự do ở nhiều cấp độ khác nhau và miễn phí đến các nguồn tài nguyênđiện tử trên toàn thế giới như: tạp chí, sách điện tử, cơ sở dữ liệu Các tài liệu TCMluôn luôn sẵn có và trực tuyến nhờ mạng toàn cầu, cộng đồng có thể tiếp cận màkhông bị hạn chế về phạm vi không gian và thời gian Người dùng không chỉ dừnglại ở việc tìm kiếm, xem, đọc tài liệu dưới cả hai dạng thư mục và toàn văn mà còn
có thể tác động sâu hơn đến tác phẩm như sao chép, in ấn, chỉnh sửa, tạo tác phẩmphái sinh, trưng bày, chia sẻ, thậm chí là phân phối tác phẩm Tất cả đều được tiếpcận tự do và miễn phí và không giới hạn
TCM đảm bảo khả năng tiếp cận công bằng và lâu dài trong cộng đồng Tất
cả mọi người đều được truy cập đến kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ
mà không phân biệt giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển, trình độ khoa họccao hay thấp Rào cản giữa các quốc gia đã bị loại bỏ Tất cả các tài liệu đó đãđược lưu trữ vĩnh viễn trong một kho lưu trữ cụ thể và chúng ta được phép truyxuất chúng vào bất cứ thời điểm nào Đó quả thực là một bước cách tân chưa từngthấy trong việc truy cập đến tài liệu, đặc biệt là các tài liệu khoa học
Giảng viên, sinh viên sẽ tìm thấy những bài giảng, tài liệu tham khảo đểphục vụ cho việc dạy và học Tác giả của những tác phẩm TCM có thể dễ dàngchia sẻ cho cả thế giới được biết đến những thành tựu nghiên cứu của mình Đốivới các tạp chí và các nhà xuất bản, TCM sẽ giúp bài báo được hiển thị rõ ràng hơn
Trang 18thông qua việc lập chỉ mục, tóm tắt Nhờ đó, độc giả dễ dàng tìm kiếm, truy xuất
và nhanh chóng nắm bắt nội dung của tài liệu
Hình 1.1: Minh họa khả năng hiển thị tài liệu
của nhà xuất bản truy cập mở BioMed Central
Ngoài ra, TCM còn giúp nâng cao hiệu quả từ sự đầu tư của các cơ quan, tổchức tài trợ cho nghiên cứu đó khi mà tác động nghiên cứu tăng lên Các nhà khoahọc, nhà nghiên cứu ngay lập tức có thể truy cập đến tất cả các tài liệu hay kết quảnghiên cứu mà họ cần về những vấn đề mà họ đang quan tâm, để phục vụ hiệu quảnhất cho công việc nghiên cứu Đối với khoa học, TCM thực sự là một công cụ hỗtrợ hữu hiệu thúc đẩy quá trình nghiên cứu, và tiến bộ khoa học Khi nghiên cứuliên ngành là một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay, truy cập mở đã giúpnhững nhà nghiên cứu dễ dàng định vị được tài liệu trong một ngành khoa học bất
kì liên quan đến vấn đề mình đang nghiên cứu Dường như rào cản giữa các lĩnhvực đã được loại bỏ trong TCM Thông qua quá trình phản biện, những vấn đềđúng đắn trong khoa học sẽ được khẳng định và phát huy; những vấn đề còn thiếuxót sẽ tiếp tục được cải thiện và xây dựng Quan trọng hơn hết, TCM nâng cao khảnăng tác động của các bài báo nghiên cứu Tất cả các hành vi xem, đọc, tải, tái sửdụng để tạo sản phẩm phái sinh, trích dẫn, áp dụng những kết quả nghiên cứu đóvào thực tiễn góp phần cải tạo thế giới được gọi chung là khả năng tác động Khikhả năng hiển thị được nâng cao, mọi người tiếp cận đến nó dễ dàng thì khả năngtác động sẽ càng cao Đây là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá chấtlượng và năng suất của nghiên cứu Trong tất cả các yếu tố tác động, thì tác độngtrích dẫn đáng chú ý hơn cả Khi tiếp cận đến các tài liệu TCM đến một mức độ
Trang 19nào đó, người dùng phải trích dẫn thông tin về tài liệu gốc Khi đó, chúng ta sẽ có
cơ hội để nâng cao khả năng tiếp cận đến những bài viết có chất lượng khoa học
mà chúng ta chưa từng biết đến Trong báo cáo của Harnad và Brody vào năm
2004 đã cho thấy rằng, các bài báo về toán học và vật lí học đã được xuất bản vàđược cung cấp khả năng TCM bởi việc tự lưu trữ từ phía tác giả trong kho lưu trữarXiv.org có tần số trích dẫn cao gấp 2-3 lần so với các bài báo không được cungcấp khả năng TCM [15] TCM góp phần quan trọng đối với sự tiến bộ của khoahọc nói riêng và sự phát triển của nhân loại nói chung
Đặc biệt, các cơ quan TTTV cũng được hưởng lợi rất lớn từ TCM Khi cácnhà xuất bản tạp chí học thuật áp dụng mô hình TCM, việc tiếp cận đến nội dungtrong tạp chí sẽ là miễn phí và tự do Thư viện sẽ thoát khỏi cơn khủng hoảng vềgiá cả tạp chí khi không còn phải duy trì mua tạp chí khoa học với giá cả đắt đỏtheo định kì để phục vụ cho nhu cầu bạn đọc đọc Không dừng lại ở đó, TCM còngiúp cho thư viện có thể nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của NDT Thư việnchính là bộ phận có chức năng chính trong việc phổ biến các thông tin học thuậtđến với NDT của bất cứ một trường đại học, cơ quan hay tổ chức nghiên cứu, cóchức năng nghiên cứu nào Nếu các thư viện áp dụng mô hình TCM thông quaviệc xây dựng Kho lưu trữ TCM nội bộ Khi đó, TCM sẽ trở thành công cụ hữuhiệu để giúp thư viện tập hợp, lưu trữ, bảo quản dài hạn và phổ biến sâu rộng, miễnphí đến tất cả NDT của mình Tầm quan trọng của thư viện sẽ được đề cao hơnnữa trong nhiệm vụ truyền thông học thuật trong phạm vi của cơ quan, khi mà môhình TCM được ứng dụng tại đây
1.1.4 Các mô hình truy cập mở
Căn cứ trên cơ sở giá trị, cách thức và phương tiện phân phối, cung cấp,
có ba mô hình TCM chủ yếu, đó là: Truy cập mở hoàn toàn (Full Open Access),Truy cập mở trì hoãn (Delayed Open Access) và Truy cập mở thông qua việc tựlưu trữ (Open Access via self-archiving)
Trang 20 Truy cập mở hoàn toàn (Full Open Access)
TCM hoàn toàn còn được gọi là con đường truy cập mở vàng (Gold OA)hay Tạp chí TCM, cho phép người sử dụng truy cập mở đến nội dung của mộttạp chí mà không mất bất cứ chi phí nào Những bài báo đều được cấp phép bởitác giả thông qua các giấy phép và người sử dụng phải tuân thủ theo những quyđịnh được ghi trên giấy phép Hiện nay, tạp chí TCM được phát triển thành haibiến thể, đó là:
* Truy cập mở toàn bộ đến nội dung của tạp chí ngay lập tức sau khi xuất bản;
* Truy cập mở ngay lập tức sau khi xuất bản, nhưng chỉ đến một phần của nộidung tạp chí; thường được gọi là mô hình TCM lai hay TCM lựa chọn, và đượcthực hiện thông qua các tạp chí thương mại thông thường
TCM hoàn toàn hoạt động dựa trên việc thu phí và không thu phía Đốivới tạp chí truy cập mở có thu phí, họ sẽ tiến hành thu phí tác giả hoặc cơ quantài trợ của tác giả để chi trả chi phí xuất bản Đối với tác giả đến từ những nước
có nền kinh tế kém phát triển, tạp chí truy cập mở còn không thu phí hay chỉ thuphí phần nào
Tạp chí TCM không thu phí tác giả bởi họ nhận được sự trợ cấp trực tiếphay gián tiếp từ cơ quan chính phủ hoặc các tổ chức như: trường đại học, bệnhviện, bảo tàng, trung tâm nghiên cứu, và nhiều tổ chức khác Một số trường đạihọc đã duy trì quỹ để trả phí xuất bản thay cho các nhà nghiên cứu của họ Ngoài
ra, nhiều tạp chí còn thu được lợi nhuận từ các ấn phẩm phi truy cập mở, quảngcáo, dịch vụ phụ trợ
Trang 21Hình 1.2: Top 10 tạp chí truy cập mở nổi tiếng trên thế giới[1]
Truy cập mở trì hoãn (Delayed Open Access)
Truy cập mở trì hoãn (Delayed Open Access) là một mô hình TCM, trong
đó, các tạp chí thương mại cho phép truy cập miễn phí đến nội dung tạp chí,nhưng không phải là ngay lập tức sau khi xuất bản mà sau một thời gian trì hoãnhoặc cấm vận nhất định Có thể thấy, các tạp chí này cũng quan tâm đến lợi íchcủa truy cập mở, nhưng lại không sẵn sàng từ bỏ hoàn toàn lợi nhuận mà họ sẽthu được từ mô hình xuất bản truyền thống Vì vậy, đối với họ, đây chính là sựlựa chọn tốt nhất để họ vừa tiếp tục duy trì nguồn thu nhập mà vẫn thực hiện truycập mở nhiều nội dung đến đông đảo bạn đọc
Truy cập mở qua tự lưu trữ (Open Access via self-archiving)
Bên cạnh các tạp chí TCM, chúng ta vẫn còn mô thức khác là các kho lưutrữ TCM hay còn gọi là con đường truy cập mở xanh (Green OA) Những bàiviết hay tài liệu được tác giả tự lưu trữ vào một Kho lưu trữ nào đó, và làm chocác tài liệu chứa trong đó khả năng TCM
TCM qua tự lưu trữ có thể được chia thành:
* Kho lưu trữ nội bộ (Institutional repositories);
* Kho lưu trữ chuyên ngành (Disciplinary repositories);
* Kho lưu trữ tích hợp (Aggregating repositories);
* Kho lưu trữ chính phủ (Governmental repositories)
1.2 Khái quát về mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
1.2.1 Khái niệm, lợi ích, các dạng tài liệu trong Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
Như đã trình bày ở trên, Kho lưu trữ TCM nội bộ là một dạng thức trong
mô hình TCM thông qua tự lưu trữ (Open Access via self-archiving) Kho lưu trữ
nội bộ (Institutional Respository) là “một bộ các dịch vụ lưu trữ, và làm cho cáctài liệu chứa đựng các kết quả nghiên cứu tồn tại dưới dạng số, luôn sẵn có bởimột tổ chức”[47] Như vậy, Kho lưu trữ nội bộ được hiểu đơn giản chính là BST
số các kết quả nghiên cứu được tạo ra trong phạm vi một tổ chức, cơ quan, đặc
Trang 22biệt là cơ quan nghiên cứu hay có chức năng nghiên cứu, ví dụ như viện nghiêncứu, trường đại học
Kho lưu trữ nội bộ thường được thiết lập bởi các mục tiêu chính đó là:cung cấp khả năng TCM đến các kết quả nghiên cứu của tổ chức; nâng cao khảnăng phổ biến các kết quả này trên phạm vi toàn cầu; thu thập và lưu trữ tài liệutại một vị trí độc lập; lưu trữ và bảo quản các tài liệu khác của cơ quan, bao gồm
cả những tài liệu không công bố, tài liệu xám hay các hồ sơ, dữ liệu của đơn vị
Những tài liệu trong Kho lưu trữ nội bộ này được chính tác giả của nóđồng ý gửi vào Kho và tiến hành lưu trữ nó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Cónghĩa, tác giả có thể tự mình lưu trữ hoặc gián tiếp thông qua các cán bộ của Kholưu trữ nội bộ Tác giả không đơn thuần lưu trữ chúng vào các Kho lưu trữ nội bộ
mà còn cung cấp cho người dùng khả năng TCM đến tài liệu Tính từ TCM ở đâyđược hiểu đơn giản là tự do, miễn phí, không rào cản và ngay lập tức Như vậy,Kho lưu trữ TCM nội bộ chính là nơi thu thập, bảo quản, và phổ biến ngay lậptức các tài liệu số dưới dạng toàn văn của một cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các tổchức nghiên cứu và có chức năng nghiên cứu một cách miễn phí, không giới hạn,không rào cản
Theo Alma Swan, Kho lưu trữ TCM nội bộ sẽ mang lại những lợi ích sauđây cho cơ quan:[46]
Cung cấp khả năng TCM các kết quả nghiên cứu của tổ chức tớiđông đảo người dùng trong phạm vi rộng lớn;
Tối đa hoá khả năng hiển thị và tác động của nghiên cứu;
Sưu tập và quản lí các kết quả nghiên cứu trong môi trường số;
Quản lí và đánh giá hoạt động đào tạo và nghiên cứu của tổ chức;
Khuyến khích và nâng cao khả năng tiếp cận liên ngành trong nghiêncứu;
Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và chia sẻ các nguồn họcliệu;
Trang 23 Trợ giúp người học bởi việc cung cấp khả năng truy cập đến các luận
án, luận văn, cũng như các nguồn tài liệu xám khác
BST số của Kho lưu trữ này chủ yếu bao gồm tài liệu chứa đựng kết quảnghiên cứu được tạo ra trong phạm vi của tổ chức như: bài báo khoa học, luận
án, luận văn, báo cáo kĩ thuật, bài thuyết trình Những kết quả nghiên cứu này cóthể đã qua bình duyệt hoặc chưa qua bình duyệt, trước khi xuất bản hoặc sau khixuất bản Lưu trữ tài liệu ở dạng nào tùy thuộc hoàn toàn vào chính sách của cơquan đó Vì vậy, tác giả nên tìm hiểu chính sách lưu trữ này của các Kho lưu trữTCM nội bộ trước khi tiến hành lưu trữ tác phẩm của mình
Ngoài ra, Kho lưu trữ TCM nội bộ còn lưu trữ nhiều dạng tài liệu khácnhư: các nguồn học liệu: tập bài giảng, tài liệu tham khảo, các tập dữ liệu, âmthanh, hình ảnh, mô hình, bản đồ, báo cáo kĩ thuật; BST số đặc biệt của thư viện;các tài liệu trong hoạt động thông thường của tổ chức như văn bản hành chính,
dữ liệu, các hồ sơ của tổ chức Thậm chí, nhiều Kho lưu trữ TCM nội bộ còntiến hành lưu trữ cả tài liệu là sách hay các chương, mục của sách Chúng đượctruy cập, hiển thị trong môi trường số một cách tự do và miễn phí đối với tất cảmọi người trên khắp thế giới và vẫn có thể được phản biện trực tiếp bởi cộngđồng người sử dụng
Kho lưu trữ TCM nội bộ của Trường Đại học Quốc gia Đài Loan có qui mô lớn nhất trong số các Kho lưu trữ TCM nội bộ được thống kê bởi ROAR, với
336 510 biểu ghi tài liệu Kho lưu trữ TCM nội bộ Trường Đại học Quốc gia Đài Loan là nơi lưu trữ, bảo quản và phân phối theo phương thức truy cập
mở các bài báo đã từng xuất bản trên tạp chí, tài liệu tham khảo, luận án, luận văn, tài liệu phục vụ cho việc dạy và đào tạo, báo cáo kĩ thuật, bài diễn văn, các phiên bản tài liệu trước và sau khi bình duyệt, và bất cứ đối tượng
số nào khác
Trang 24Hình 1.3: Website Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
của Trường Đại học Quốc gia Đài Loan [48]
Trang 25Biểu đồ 1.1: Thống kê hoạt động gửi bài viết lên Kho lưu trữ truy
cập mở nội bộ của Trường Đại học Quốc gia Đài Loan qua các năm [48]
1.2.2 Vấn đề bản quyền và cấp phép
Kho lưu trữ TCM nội bộ chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta có sự chophép của người nắm giữ bản quyền đối với các tác phẩm của họ và mạng toàncầu Cơ sở luật pháp của nó chính là sự cho phép mang tính tự nguyện từ phíangười nắm giữ bản quyền Trong TCM, người nắm giữ bản quyền không cầnchuyển nhượng bản quyền tác phẩm cho bất cứ ai, hay tổ chức nào mà bản quyềntác phẩm vẫn luôn luôn thuộc về tác giả Khi tác giả mong muốn gửi bài viết, tàiliệu của mình lên Kho lưu trữ TCM để chia sẻ nó cho người dùng thông quaphương thức TCM, thì họ sẽ phải cấp phép sử dụng tài liệu cho người dùng thôngqua một giấy phép nhất định
Mặc dù, bản chất đều là cấp phép sử dụng tác phẩm, tuy nhiên, việc cấpphép trong các mô hình TCM nói chung và Kho lưu trữ TCM nội bộ nói riênglinh hoạt hơn nhiều so với việc chuyển nhượng bản quyền tác phẩm cho nhà xuấtbản thương mại trong phương thức xuất bản truyền thống Với các mô hình TCMnói chung và Kho lưu trữ TCM nội bộ nói riêng, tác giả có quyền lựa chọn chophép một số quyền chứ không bắt buộc phải tất cả Tác giả có thể cho phépngười dùng tất cả các quyền như: tìm kiếm, đọc, tải, sao chép, in ấn, chia sẻ,phân phối, tạo tác phẩm phái sinh, thậm chí là chỉnh sửa tác phẩm hoặc họ cũng
có thể chỉ cho phép một vài quyền trong số đó
Đối với những công trình nghiên cứu khoa học chưa từng được xuất bản,tác giả có thể tự quyết định lưu trữ chúng trong bất kì kho lưu trữ TCM nội bộnào mà không cần xin phép bất cứ ai, vì bản quyền tác phẩm vẫn hoàn toàn thuộc
về tác giả Tuy nhiên, đối với những bài viết đã từng được xuất bản thì tác giảcần phải xem xét lại chính sách của nhà xuất bản đó về việc có cho phép tác giảthực hiện quyền lưu trữ bài viết dưới dạng TCM hay không? Tác giả có thể vàowebsite của SHEPRA/ROMEO để tìm hiểu rõ hơn chính sách của các nhà xuấtbản liên quan đến việc tự lưu trữ:
Trang 26&mode=simple
Tuy vậy, hầu hết các tạp chí thương mại truyền thống đều cho phép tác giả
tự lưu trữ bài viết ở dạng TCM sau khi xuất bản Trong bài viết của EnriqueCanessa và Marco Zennaro mang tên “Science Dissemination using OpenAccess” viết về một nghiên cứu đã chỉ ra 70% các nhà xuất bản phi TCM chophép tác giả tự lưu trữ bài viết sau khi xuất bản dưới dạng TCM [17,10]
Sau khi vấn đề bản quyền và cho phép thực hiện các quyền đã xác định rõràng, tác giả sẽ tiến hành cấp phép sử dụng cho người dùng đối với tác phẩm củamình Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập vào năm
2001 bởi Lawreance Lessig, Hal Abelson và Eric Eldred, với sự hỗ trợ của Trungtâm cho các tên miền công cộng, trụ sở tại Mountain View, Califolia, Mỹ Tổchức hoạt động với mục đích làm cho việc chia sẻ trở nên hợp pháp nhằm mởrộng hơn nữa mở rộng phạm vi của các công trình sáng tạo và luôn luôn sẵn cócho sự tiếp cận của cộng đồng Bộ giấy phép bản quyền đầu tiên được phát hànhvào tháng 12 năm 2002 và được gọi là Giấy phép cộng đồng sáng tạo (CreativeCommons Liscense) Giấy phép này thay thế cho sự cam kết của người nắm giữbản quyền: đồng ý cho phép cộng động một số quyền nào đó đối với tác phẩmcủa mình Mỗi giấy phép CC đều bao gồm bốn yếu tố:
Quyền hạn (Attribution - BY): Cho phép phân phát, làm lại, sửa
và dựa vào tác phẩm của bạn kể cả với mục đích thương mại, miễn
là họ công nhận bạn là người tạo ra bản gốc
Phi thương mại (Noncommercial - NC): Cho phép làm lại, sửa,
và dựa vào tác phẩm của bạn không phải với mục đích thương mại
và dù tác phẩm mới của họ vẫn phải công nhận bạn và không phải
là sản phẩm thương mại, họ không phải cấp phép cho các tác phẩmbắt nguồn từ tác phẩm của bạn theo cùng các điều khoản
Không tác phẩm phái sinh (No Derivative Works - ND): Cho
phép tái phân phát với mục đích thương mại hoặc phi thương mại,
Trang 27miễn là nó không bị thay đổi và giữ toàn vẹn, với sự đồng ý củabạn
Chia sẻ tương tự (Share-alike - SA): Cho phép làm lại, sửa và
dựa vào tác phẩm của bạn kể cả với mục đích thương mại, miễn là
họ công nhận bạn và cấp phép cho các sáng tạo mới của họ theocác điều khoản tương tự
Những yếu tố này được kết hợp với nhau để tạo nên 6 loại giấy phépchính của Creative Commons sau đây: [18]
Loại giấy phép đầu tiên chỉ mang yếu tố “Quyềnhạn” và được kí hiệu là CC – BY
Loại giấy phép thứ hai là sự kết hợp yếu tố “Quyềnhạn” và “Chia sẻ tương tự”, kí hiệu là CC BY – SA
Loại tiếp theo là sự kết hợp giữa yếu tố “Quyềnhạn” và “Phi tác phẩm phái sinh”, kí hiệu là CC BY – ND
Loại giấy phép này được kết hợp giữa yếu tố
“Quyền hạn” và “Phi thương mại”, viết tắt là CC BY – NC
Giấy phép tiếp theo bao gồm ba yếu tố “Quyềnhạn” – “Phi thương mại” – “Chia sẻ tương tự”, viết tắt là CC-NC-SA
Giấy phép cuối cùng cũng được kết hợp bởi ba yếu
tố, đó là “Quyền hạn: - “Phi thương mại” – “Phi tác phẩm phái sinh”,được viết tắt là CC-BY-NC-ND Đây là loại giấy phép có nhiều tínhchất hạn chế nhất trong sáu loại giấy phép này
Mỗi loại giấy phép đều được giải thích rõ ràng từng điều khoản, kèm theobiểu tượng thích hợp giúp mọi người có thể nắm bắt chính xác nội dung một cách
Trang 28dễ dàng nhất Giấy phép cộng đồng sáng tạo là một trong số ít giấy phép bảnquyền công cộng cho phép phân phối những tác phẩm đã đăng kí bản quyền và rấtlinh hoạt vì tác giả có thể lựa chọn chỉ cho mọi người một số quyền nào đó màkhông phải là tất cả các quyền Trong năm 2008, ước tính có đến 130 triệu tácphẩm trên thế giới được cấp phép bởi Giấy phép cộng đồng sáng tạo Tính đếntháng 7 năm 2011, giấy phép cộng đồng sáng tạo đã được chuyển đến hơn 50 khuvực pháp lý khác nhau trên toàn thế giới
1.2.3 Tình hình phát triển của Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
Hiện nay, trên thế giới, hàng ngàn Kho lưu trữ TCM đã xuất hiện, bao gồmKho lưu trữ TCM lĩnh vực, nội bộ, tích hợp và chính phủ Tuy nhiên, Kho lưu trữTCM nội bộ là mô hình luôn chiếm tỉ lệ cao nhất trong tất cả các loại Kho lưu trữTCM Để tìm hiểu về tình hình phát triển, trạng thái hoạt động của các kho lưu trữTCM nội bộ trên thế giới, chúng ta có thể vào website của Registry of OpenAccess Repositories - ROAR tại địa chỉ http://roar.eprints.org/ Tính đến ngày10/3/2013, trên thế giới có khoảng 2203 Kho lưu trữ TCM nội bộ trong tổng số
3377 Kho lưu trữ TCM đã đăng kí vào ROAR
Hình 1.4: Thống kê của ROAR về số lượng Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
Trang 29đã tham gia vào ROAR, tính đến ngày 10/3/2013[20].
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể vào Danh mục các kho lưu trữ truy cập mở
“Directory of Open Access Repositories” – OpenDOAR tại địa chỉ
http://www.opendoar.org/ Theo OpenDOAR, Kho lưu trữ TCM nội bộ chiếm tới82,9% trong tổng số 2263 Kho lưu trữ TCM trên toàn thế giới
Biểu đồ 1.2: Thống kê của OpenDOAR về số lượng các loại Kho lưu trữ truy cập
mở [21]
Trang 301.3 Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ là sự lựa chọn của nhiều cơ quan, tổ chức nghiên cứu hay có chức năng nghiên cứu trên thế giới
Khả năng ứng dụng của TCM là khá rộng lớn Nó có thể được ứng dụngbởi các cá nhân các nhà khoa học, nhóm nhà nghiên cứu; cho đến các nhà xuấtbản cơ quan, các tổ chức phi thương mại; các trường đại học, viện nghiên cứu;các hiệp hội, tổ chức xã hội khác; thậm chí là các tổ chức thương mại Những cơquan, tổ chức này phân bố tại các vị trí địa lí khác nhau trên thế giới và hoạt động
ở những lĩnh vực riêng biệt Đặc biệt, tại các nước đang phát triển, khi mà nguồnkinh phí hoạt động còn hạn chế thì TCM trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết đối với
họ trong việc tiếp cận tài liệu Trong số các cơ quan, tổ chức ứng dụng TCM như
đã kể trên thì trường đại học là một trong những đối tượng đã và đang ứng dụngmạnh mẽ mô hình TCM, trong đó có mô hình Kho lưu trữ TCM nội bộ Trườngđại học không chỉ có chức năng giáo dục mà còn có nhiệm vụ hướng dẫn và lànơi các bạn sinh viên học tập cách thức nghiên cứu khoa học Đây là hai nhiệm
vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau trong môi trường giáo dục đại học Họctập, giáo dục dựa trên nghiên cứu để không ngừng đổi mới, và nghiên cứu để họctập Trong môi trường giáo dục, đào tạo và nghiên cứu đó, chắc chắn nhu cầu củangười nghiên cứu, người dạy và người học về các thông tin học thuật là vô cùnglớn Bởi vì đó là nguyên liệu đầu vào thiết yếu của tri thức để phục vụ cho quátrình học hỏi và thúc đẩy sự sáng tạo, nghiên cứu, tìm tòi của người nghiên cứu,người dạy và người học trong trường đại học Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn màcác trường đại học đã xây dựng Kho lưu trữ TCM nội bộ để lưu trữ; bảo quản vàphổ biến tất cả những kết quả sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học củacác nhà nghiên cứu, các giảng viên và sinh viên; cung cấp một nguồn học liệudạng số sẵn có, dồi dào, phong phú và lâu dài nhằm đẩy mạnh công tác dạy, học,
và nghiên cứu trong trường Mỗi một trường đại học nên tự xây dựng cho mìnhmột Kho lưu trữ TCM nội bộ
Theo thống kê của một nghiên cứu gần đây[22], riêng trong năm 2011, cóđến 80.000 bài báo TCM, chiếm khoảng 24,6% tổng số bài báo TCM được xuấtbản trong được tạo ra bởi các trường đại học, bộ phận, phòng ban thuộc trường đại
Trang 31học và viện nghiên cứu Các cơ quan, viện nghiên cứu học thuật hay các tổ chức cóchức năng nghiên cứu, điển hình là các trường đại học, cao đẳng thường là nơi cónhu cầu về các thông tin học thuật rất cao để phục vụ cho nghiên cứu Để tối đahóa khả năng truyền thông thông tin này, sự lựa chọn lí tưởng cho các trường đạihọc chính là việc thiết lập Kho lưu trữ TCM nội bộ của mô hình TCM tự lưu trữ
Biểu đồ 1.3: Thống kê số lượng bài báo truy cập mở
được xuất bản bởi các nhóm xuất bản qua các năm 2000, 2005, 2011 [22]
Trang 32Khi các trường đại học ứng dụng mô hình Kho lưu trữ TCM nội bộ vớimục đích tăng cường khả năng truyền bá, đáp ứng nhu cầu thông tin học thuậtcho nhà nghiên cứu, người dạy và người học trong trường, thì thư viện sẽ chính
là nơi giúp Nhà trường trực tiếp triển khai xây dựng
1.4 Xây dựng Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại các trường đại học
1.4.1 Thư viện đại học là nơi trực tiếp triển khai ứng dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ cho trường đại học.
Đối với mỗi trường đại học, thư viện chính là đơn vị đóng vai trò chủ chốttrong việc đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin đến đông đảo NDT, trong
đó quan trọng hơn cả là các thông tin học thuật NDT luôn có những cách thứckhác nhau để có thể tiếp cận đến những thông tin mà họ cần Tuy nhiên, vai tròquan trọng bậc nhất của thư viện trong việc phổ biến, cung cấp, đáp ứng nhu cầuthông tin học thuật cho NDT là không thể thay thế Nơi đây chứa đựng hàng ngànsách, báo – tạp chí; và các tài nguyên nội sinh do chính cán bộ và sinh viên trongtrường tạo ra Đó là nguồn học liệu, nguồn cung cấp TTKH dồi dào cho NDT.Truyền thông học thuật, đáp ứng nhu cầu tin chính là nhiệm vụ sống còn của bất
cứ cơ quan thư viện đại học nào Họ luôn luôn tìm tòi, sáng tạo nên những sảnphẩm và dịch vụ phong phú, đa dạng, thậm chí là đổi mới công nghệ, bắt kịp vớinhững xu hướng mới để không ngừng nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thôngtin cho NDT Chính vì thế, khi các trường đại học có chủ trương triển khai ứngdụng Kho lưu trữ TCM nội bộ, thì thư viện sẽ chính là nơi trực tiếp xây dựng môhình đó Nó không chỉ là trách nhiệm của thư viện mà còn là công cụ để thư việnđại học đưa các nguồn tài nguyên học thuật đến gần hơn với NDT
1.4.2 Điều kiện cần thiết cho việc xây dựng Kho lưu trữ truy cập mở nội
bộ tại thư viện các trường đại học
Việc xây dựng kho lưu trữ TCM nội bộ không phải quá khó nếu như chúng
ta đảm bảo được một số điều kiện cần thiết về mặt công nghệ, kinh phí, nhân viên,
và trước hết là sự cho phép từ phía người nắm giữ bản quyền
Trang 33Tác giả đồng ý cho phép người dùng truy cập đến tài liệu của mình, sử dụngchúng ở những cấp độ khác nhau vẫn chưa đủ để hợp thức hoá mà tác giả còn phảicam kết sự đồng ý đó của mình thông qua các loại giấy phép TCM Chúng ta cầnquan tâm khi xây dựng kho lưu trữ TCM nội bộ hay bất cứ mô hình nào khác củaTCM, đó là người nắm giữ bản quyền có cho phép TCM đến tài liệu của họ haykhông Đây được coi là điều kiện quan trọng nhất để thực thi và đảm bảo tính hợppháp của TCM.
Mô hình TCM này được áp dụng đối với các tài liệu trong môi trường số,chính vì vậy, chúng ta cần quan tâm đến vấn đề kĩ thuật và công nghệ Việc thiếtlập Kho lưu trữ TCM nội bộ sẽ trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, chúng ta có nhữngchuyên gia kĩ thuật thích hợp Họ sẽ chính là người lựa chọn máy tính, phần mềm,đường truyền phù hợp, tương thích với những yêu cầu, mong muốn của tổ chứctrong việc cung cấp khả năng TCM tác phẩm đến người dùng của họ Thôngthường, các mô hình TCM thường hoạt động dựa trên các phần mềm mã nguồn
mở Nó là một loại phần mềm, nhưng có mã nguồn tự do được cung cấp bởi ngườitạo lập phần mềm đó kèm theo một giấy phép nguồn mở để cung cấp cho mọingười những quyền mà thông thường vẫn bị cấm bởi bản quyền như: sử dụng,chỉnh sửa, tái phân phối Người sử dụng không chỉ được dùng mà còn được phépsửa đổi, cải tiến, phát triển nó tùy thuộc vào nhu cầu của mình Có rất nhiều phầnmềm mã nguồn mở được dùng để thiết lập một kho lưu trữ mở như: Archimede,ARNO, CDSware, Dspace, Eprints, Fedora, i-Tor, MyCoRe, OPLIS Tuy nhiên,Dspace và ePrints là những phần mềm được sử dụng phổ biến hơn cả
Điều kiện tiếp theo đó là nguồn kinh phí hoạt động Trong một báo cáo bởiWellcome Trust [24] đã kết luận rằng: “Truy cập mở không chỉ là một mô hình cótính khả thi, hiệu quả và bền vững để phổ biến các kết quả nghiên cứu chất lượngcao, đã qua bình duyệt, mà còn là một hệ thống có thể tiết kiệm được nhiều khoảng30% so với chi phí xuất bản thông thường” Tuy nhiên, chi phí xuất bản được giảmthiểu nhưng không có nghĩa được loại bỏ hoàn toàn Chúng ta cần có kinh phí đểchi trả chủ yếu cho việc thuê nhân viên như: nhân viên kĩ thuật, người xử lí bài
Trang 34viết, đăng bài, quản lí hệ thống, đào tạo tác giả, người dùng, quảng bá và nhiều chiphí phát sinh khác
Điều kiện cuối cùng nhưng lại đóng vai trò quan trọng không kém, đó làyếu tố con người Để xây dựng thành công Kho lưu trữ TCM nội bộ, chúng takhông thể nào thiếu sự đóng góp của đội ngũ nhân viên có trình độ cao và nhiềukinh nghiệm Điều đặc biệt, đó là đội ngũ nhân viên có thể được bao gồm từ rấtnhiều người với những cương vị và chức danh khác nhau Chúng ta không chỉ cónhân viên là các chuyên gia kĩ thuật để cài đặt, duy trì và nâng cấp Kho lưu trữTCM nội bộ, nhân viên quản lí quá trình gửi bài, xử lí bài viết, đăng bài, lưu trữ vàbảo quản dài hạn mà chúng ta rất có thể sẽ phải cần đến các nhà lãnh đạo của chínhtrường đại học, thư viện trường đại học, và đặc biệt là các chuyên gia, nhà khoahọc, nhà nghiên cứu đầu ngành của các lĩnh vực khoa học hiện đang được đào tạotrong trường Họ là những người không chỉ có trình độ chuyên môn cao, nhiềukinh nghiệm mà còn phải thực sự hiểu về TCM, các lợi ích, mô hình Kho lưu trữTCM nội bộ và cách thức hoạt động của chúng
CHƯƠNG 2:
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG
MÔ HÌNH KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Khái quát chung về Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia
Hà Nội
2.1.1 Khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 35Với tiền thân là Trường Đại học Đông Dương, ngày 10/12/1993, TrườngĐại học Quốc gia Việt Nam được thành lập dưới sự hợp nhất của ba trường đạihọc lớn ở Hà Nội: Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại
ngữ Hà nội, theo Nghị định 97/CP của
Chính phủ ĐHQGHN xác định sứ mệnh
trong hoạt động của mình, đó là không chỉ
đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho
đất nước mà còn tích cực trong sáng tạo,
nghiên cứu khoa học và là đơn vị đầu tầu
trong đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Hình 2.1:
Nhà điều hành Đại học Quốc gia Hà Nội
Ban lãnh đạo của ĐHQGHN bao gồm có một Giám đốc: PGS.TS PhùngXuân Nhạ; hai Phó Giám đốc: GS.TS Nguyễn Hữu Đức, PGS TS Nguyễn KimSơn Hiện nay, ĐHQGHN có tổng số sáu đơn vị trường Đại học thành viên, đólà: Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Ngoại Ngữ, Trường Đại học Khoahọc Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Công nghệ, Đạihọc Giáo dục và bẩy Khoa trực thuộc: Khoa Quản trị Kinh doanh, Khoa Quốc tế,Khoa Y dược, Khoa Luật, Khoa Sau Đại học, Khoa Y Dược
2.1.2 Khái quát về Trung tâm Thông tin - Thư viện,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm TTTV, ĐHQGHN được thành lập theo quyết định số 66/TCCBngày 14 tháng 2 năm 1997 của Giám đốc
ĐHQGHN trên cơ sở hợp nhất các thư viện
của các trường đại học thuộc ĐHQGHN
Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp trực
thuộc ĐHQGHN, có tư cách pháp nhân, có
con dấu và tài khoản riêng Trung tâm có
chức năng thông tin và thư viện phục vụ các
Trang 36công tác: Đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và quản lí củaĐHQGHN Trung tâm có nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, xử lí, thông báo và cungcấp tin, tư liệu về khoa học, giáo dục, ngoại ngữ và công nghệ phục vụ cán bộ và
Trung tâm TTTV, ĐHQGHN bao gồm các phòng ban: Phòng hànhchính, Phòng tài vụ, Phòng Thiết bị bảo hành, Phòng bổ sung – Traođổi, Phòng Phân loại – Biên mục, Phòng Máy tính và mạng, PhòngThông tin – Nghiệp vụ và các Phòng Phục vụ bạn đọc: Phòng PVBĐChung, Phòng PVBĐ Ngoại ngữ, Phòng PVBĐ – KHXH&NV –KHTN, Phòng PVBĐ Mễ Trì, và Phòng Phát triển tài nguyên số
Trung tâm có các cơ sở như:
Trụ sở chính: 144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội
Trường Đại học Ngoại Ngữ: 1 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên: 334 Nguyễn Trãi, ThanhXuân, Hà Nội
Trường Đại học KHXH & NV: 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, HàNội
Kí túc xá Mễ trì: 182 đường Lương Thế Vinh, Thanh Xuân, HàNội
Khoa Hoá Trường Đại học Tự nhiên: 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội
Đội ngũ cán bộ gồm 130 người, trong đó có: 1 Tiến sĩ, 9 Thạc sĩ,
83 Cử nhân, 37 Cao đẳng và Trung cấp
Trang 372.2 Sự cần thiết của việc áp dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
2.2.1 Tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhìn từ góc độ nghiên cứu khoa học, ĐHQGHN là trung tâm đại họcnghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực có chất lượng và là một trong bốn trụ cột hàngđầu về nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, đó là: Viện Khoa học công nghệ ViệtNam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, ĐHQGHN và Đại học Quốc gia TP HồChí Minh Đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ có mối quan hệ mậtthiết với nhau; đào tạo dựa trên nghiên cứu và nghiên cứu nâng cao chất lượngcủa đào tạo Đối tượng tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm một
số lượng đông đảo, bao gồm: các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh,học viên cao học, và sinh viên đại học Hiện nay, ĐHQGHN có 3361 cán bộ, baogồm: 21 Tiến sĩ khoa học; 754 Tiến sĩ; 1,189 Thạc sĩ; 1,031 cán bộ trình độ Đạihọc; 313 Giáo sư; 44 Phó Giáo sư Trong đó, có tới 1675 cán bộ giảng dạy, 142cán bộ nghiên cứu chính thức Về sinh viên, có tổng cộng 23 626 sinh viên thuộc
hệ Đào tạo Đại học Chính quy và không chính quy; 10,334 sinh viên sau Đạihọc, gồm có: 9 186 sinh viên được đào tạo lên cấp bậc Thạc sỹ, và 1148 Tiến sĩ
Ngoài ra, ĐHQGHN còn thành lập được năm Viện nghiên cứu lớn, đó là:Viện Công nghệ - Thông tin, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Viện Visinh vật và Công nghệ sinh học, Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục (Theo Quychế Tổ chức và hoạt động) và Viện Tin học Pháp ngữ Cùng với đó là các Trungtâm đào tạo và nghiên cứu như: Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh,Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận, Trung tâm nano và năng lượng,Trung tâm phát triển hệ thống, Trung tâm Công nghệ đào tạo và Hệ thống việclàm, Trung tâm Nghiên cứu đô thị, Trung tâm Giáo dục thể chất và thể thao,Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môitrường, Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ, Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu biếnđổi toàn cầu Các Trường Đại học thành viên, Khoa trực thuộc, Viện và cácTrung tâm chính là đội ngũ nghiên cứu khoa học tiềm năng của ĐHQGHN Nhờ
sự tham gia tích cực trong các hoạt động NCKH của các nhà nghiên cứu, hiện
Trang 38nay, 43 Nhóm/trường phái nghiên cứu đã được thành lập Trong đó, có 34 nhómnghiên cứu được đánh giá mạnh, giai đoạn 2006 – 2010 Từ năm 2006 đến 2010,ĐHQGHN đã nhận được 43 đề tài cấp Nhà nước Trong năm 2011 – 2012,ĐHQGHN tổ chức được tổng cộng 147 Hội thảo (Quốc tế, Quốc gia, các cấp),Hội nghị, tọa đàm khoa học Số bài báo khoa học tăng nhanh qua các năm Ngoài
ra, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Công nghệ, Đại họcKinh tế, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Viện Vi sinh vật và Côngnghệ Sinh học còn tiến hành liên kết, hợp tác với các cơ quan: bộ, ban ngành, địaphương, doanh nghiệp để thực hiện thêm các đề tài NCKH, dự án, hội thảo, hộinghị trong nhiều lĩnh vực
Các lĩnh vực NCKH, công nghệ của ĐHQGHN rất rộng và đa dạng, từnhững vấn đề của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, luật, kinh tế đếnnhững nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao
Để tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ, ĐHQGHN đã đầu tư xây dựng được 60 phòng thí nghiệm tại một sốTrường thành viên, Viện, và Trung tâm như: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
có số lượng phòng thí nghiệm lớn nhất: 41 phòng, Trường Đại học Công nghệ: 9phòng, Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học: 3 phòng, Viện Công nghệ Thôngtin: 1 phòng, Trường Đại học Ngoại Ngữ: 3 phòng, Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn: 1 phòng, Trường Đại học Giáo dục: 1 phòng, Trung tâm Thôngtin – Thư viện: 1 phòng
Quỹ phát triển Khoa học Công nghệ (KHCN) - ĐHQGHN được thành lậpvào ngày 23 tháng 6 năm 2008 nhằm tài trợ, hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nghiêncứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển tiềm lực khoa học côngnghệ và nâng cao vị thế của ĐHQGHN, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xãhội của đất nước
Với những nỗ lực của người nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu khoa họccủa Trường luôn được xã hội đánh giá cao và đạt được nhiều thành quả đáng ghinhận Nhiều công trình KHCN được tặng những giải thưởng lớn, trong đó có 15Giải thưởng Hồ Chí Minh, 11 Giải thưởng Nhà nước Một số nhà khoa học của
Trang 39ĐHQGHN đã nhận giải thưởng quốc tế, như Giải thưởng Kovalevskaia; Nobel2007; COSMOS 2008; Hành tinh Xanh 2003 (Blue Planet Prize 2003) Chỉ tínhriêng trong năm học 2011 – 2012, Trường đã gặt hái được rất nhiều thành côngnổi bật về hoạt động NCKH như:
* 196 bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế;
* 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN;
* 3 Giải thưởng Nhà nước về KHCN;
* 5 Giải thưởng cấp Bộ/Đại học QGHN về KHCN;
* 4 Trung tâm nghiên cứu suất sắc;
* Thành lập được 43 nhóm/trường phái nghiên cứu;
* 9 Đề tài cấp Nhà nước;
* 151 Học viên cao học được đào tạo qua các đề tài/dự án KHCN;
* 44 Tiến sĩ được đào tại qua các đề tài/ dự án KHCN;
Và đã thu được 14,200 triệu đồng nhờ hoạt động chuyển giao KHCN Tất
cả những thành tựu thu được trong năm 2011 – 2012 vừa qua, hầu hết đều vượtchỉ tiêu đã đề ra
Hoạt động NCKH, triển khai ứng dụng của ĐHQGHN gặt hái được nhiềuthành tựu như vậy, ngoài do niềm say mê, sự nỗ lực, cố gắng không ngừng đốivới sự tiến bộ của khoa học, chúng ta không thể bỏ qua sự đóng góp của các Hộiđồng Ngành và Liên ngành nằm trong hệ thống Hội đồng Khoa học và Đào tạoĐHQGHN Họ chính là những người đề ra những phương hướng phát triển, vàcác giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động KHCN, thuộc các ngành và liênngành
2.2.2 Vai trò của Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội trong việc thỏa mãn nhu cầu thông tin học thuật
Trung tâm TTTV, ĐHQGHN là nơi lưu trữ một số lượng lớn các tài liệu ởnhiều lĩnh vực khoa học và dạng thức khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu tin của
Trang 40NDT một cách tốt nhất Hiện nay, Trung tâm đang lưu giữ một số lượng lớn nguồntài nguyên học thuật đa dạng về lĩnh vực, phong phú về loại hình tài liệu như:
Kho Tài liệu / CSDL do Trung tâm xây dựng, gồm có:
Tổng số lượng sách: 700.000 cuốn (132.864 tên) Trong đó:
- Sách giáo trình gồm: 1.303 tên với 188.313 bản;
- Sách tham khảo gồm: 131.561 tên với 511.600 bản;
Thác bản văn bia: 2.000;
Báo, tạp chí: 2.145 tên;
Nguồn tài liệu nội sinh:
- Luận án - Luận văn: trên 7.200;
- Đề tài nghiên cứu khoa học: gần 1.000;
- CSDL bài trích tạp chí: 8.000 biểu ghi;
- CSDL các công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ Đại học QGHN(Kỷ niệm 100 năm Đại học QGHN, bao gồm 16.000 biểu ghi thư mục)
Đặc biệt, để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho NDT khi truy cập đến các nguồn tin nội sinh này, Trung tâm Thông tin - Thư viện đã tích cực tiếnhành số hóa và đăng tải các tài liệu đó của Đại học QGHN do Trung tâm quản lýtrên Website của Trung tâm và trang Tài Nguyên số của Đại học QGHN Tính đếnthời điểm hiện tại, con số đã lên tới trên 30.000 file pdf và file doc, bao gồm Luận
án tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ, Kỷ yếu hội nghị - hội thảo, Đề tài nghiên cứu khoahọc và một phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, NDT còn có thể truy cập vào CSDL điện tử trực tuyến vàphi trực tuyến, bao gồm sách và tạp chí điện tử được mua từ nướcngoài, trong đó có nhiều nhà xuất bản nổi tiếng như: Springer vàElsevier, để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu của mình
Trên đây thực sự là những nguồn học liệu quý báu để phục vụ cho côngtác đào tạo, NCKH, triển khai ứng dụng của cán bộ và sinh viên ĐHQGHN