1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội

111 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được nghiên cứu với 5 mục tiêu cụ thể: 1 Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT; 2Khái quát tình hình sảnxuất và tiêu thụ RAT trê

Trang 2

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế nước ta, đời sống người dânđược nâng cao và nhu cầu sử dụng rau sạch ngày càng tăng thì rau an toàn (RAT) đã trởthành một vấn đề hết sức cấp thiết Nó là nguồn thực phẩm cần thiết cung cấp cho bữa

ăn hàng ngày của con người, là nguyên liệu chế biến xuất khẩu góp phần tăng sản lượngnông nghiệp, tăng thu nhập và tạo việc làm cho người nông dân Nhằm mở rộng pháttriển sản xuất RAT và giúp đỡ các hộ nông dân trong sản xuất, ổn định đầu ra thì các môhình sản xuất và tiêu thụ RAT đã ra đời ở nhiều nơi, đặc biệt là huyện Gia Lâm

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mô hình sản xuất

và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội”.

Đề tài được nghiên cứu với 5 mục tiêu cụ thể: 1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở

lí luận và thực tiễn về các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT; 2)Khái quát tình hình sảnxuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm; 3) Tìm hiểu hoạt động của các môhình sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm; 4) Phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT, Từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn,

cơ hội và thách thức; 5)Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững các mô hình sảnxuất và tiêu thụ RAT

Phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng trong đề tài là phương pháp phỏngvấn trực tiếp các hộ sản xuất RAT Chúng tôi chọn địa bàn nghiên cứu tại 3 xã VănĐức, Đặng Xá và Đông Dư thuộc huyện Gia Lâm Vì đây là 3 xã truyền thống trồngrau lâu năm và có diện tích trồng RAT được cấp giấy chứng nhận nhiều nhất, mỗi xãphỏng vấn ngẫu nhiên 30 hộ với bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn Ngoài ra, còn có cácphương pháp như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích SWOT…

Qua nghiên cứu về đặc điểm địa bàn huyện Gia Lâm chúng tôi nhận thấy huyệnGia Lâm là một huyện ngoại thành Hà Nội với diện tích trồng RAT rất lớn và ngàycàng gia tăng qua các năm, kéo theo năng suất, sản lượng RAT cũng tăng nhanh và

Trang 3

chủng loại RAT ngày càng đa dạng Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của RAT tại địa bàn huyện.

Sau khi điều tra nghiên cứu, chúng tôi đã biết đến một số mô hình đã được ápdụng trên địa bàn 3 xã thuộc huyện Gia Lâm Đó là mô hình liên kết với người thugom, mô hình liên kết với công ty thu mua RAT (cụ thể ở đây là công ty TNHHHương Cảnh chi nhánh Hà Nội thuộc địa bàn xã Văn Đức – Gia Lâm – Hà Nội), môhình liên kết với Hợp tác xã (HTX), mô hình liên kết nhóm và mô hình sản xuất tự do.Trong đó, mô hình liên kết với người thu gom là mô hình phát triển và được nhiều hộsản xuất áp dụng nhất đạt 41,11% tổng số hộ điều tra, với sản lượng tiêu thụ lớn Môhình liên kết với HTX và liên kết với công ty có rất nhiều thuận lợi và tiềm năng pháttriển nhưng lại ít hộ tham gia hơn, còn mô hình liên kết nhóm và sản xuất tự do thìhoạt động chưa thực sự hiệu quả bằng các mô hình khác Để tìm hiểu nguyên nhân vàphân tích ưu nhược điểm của từng mô hình chúng tôi tiến hành so sánh chi phí sảnxuất và kết quả, hiệu quả sản xuất 1 sào gieo trồng bình quân trên hộ của từng mô hìnhkhi cùng sản xuất 2 loại RAT là cà chua và bắp cải

Các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại 3 xã Văn Đức, Đặng Xá và Đông Dưnói riêng và trên địa bàn huyện Gia Lâm nói chung đều chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố khác nhau như: yếu tố về phía hộ (độ tuổi, trình độ của chủ hộ…), các yếu tố về đặcđiểm sản xuất RAT, yếu tố về giá bán và thị trường tiêu thụ, các yếu tố về kinh tế xãhội (quy mô sản xuất, hệ thống thông tin thị trường, hành lang pháp lý) Tuy nhiên các

mô hình đều có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau tạo nên những cơ hội và tháchthức cho bản thân mỗi mô hình Từ đó chúng tôi so sánh ưu nhược điểm của các môhình để thấy rõ được mô hình nào là tốt nhất, phát triển nhất

Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn sản xuất RAT của địa phương, cũng như căn

cứ vào những kết quả nghiên cứu thu được trong qúa trình điều tra chúng tôi đề xuấtmột số giải pháp cho từng tác nhân trong các mô hình, cho thị trường tiêu thụ sảnphẩm RAT, giải pháp về quy hoạch và phát triển sản xuất, giải pháp về các chính sách.Đồng thời đề ra một số kiến nghị về phía Nhà nước, chính quyền địa phương và hộ sản

Trang 4

xuất nhằm thúc đẩy mở rộng sản xuất RAT cũng như các mô hình liên kết trên địa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC BIỂU ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ x

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xii

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

2.1 Cơ sở lí luận 4

2.1.1 Lí luận về sản xuất và tiêu thụ RAT 4

2.1.2 Lí luận về mô hình 9

2.1.3 Lí luận về RAT được sản xuất theo hướng VietGAP 13

2.2 Cơ sở thực tiễn 15

2.2.1 Một số mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT trên thế giới 15

2.2.2 Một số mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở Việt Nam 18

2.2.3 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở thành phố Hà Nội 23

Trang 5

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn huyện Gia Lâm 36

3.1.4 Một số đặc điểm chung của các xã nghiên cứu 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 39

3.2.3 Phương pháp xử lí thông tin 40

3.2.4 Phương pháp phân tích 40

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41

PHẦN IV : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm 43

4.1.1 Thực trạng sản xuất RAT của huyện Gia Lâm 43

4.1.2 Thực trạng tiêu thụ RAT của huyện Gia Lâm 51

4.2 Thực trạng hoạt động của các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn 3 xã của huyện Gia Lâm 54

4.2.1 Khái quát các hộ điều tra trên địa bàn 3 xã 54

4.2.2 Khái quát các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện 57

4.2.3 Thực trạng hoạt động sản xuất và tiêu thụ RAT của các mô hình 64

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình 76

4.3.1 Các yếu tố liên quan đến hộ 76

4.3.2 Yếu tố về đặc điểm sản xuất RAT 78

4.3.3 Giá bán và thị trường tiêu thụ RAT 79

4.3.4 Các yếu tố về kinh tế - xã hội 79

Trang 6

4.4 Phân tích SWOT – Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách đối với các mô hình sản

xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm 80

4.5 Ưu - nhược điểm các mô hình 82

4.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT 84

4.6.1 Giải pháp cho từng tác nhân trong các mô hình 85

4.6.2 Giải pháp về thị trường và tổ chức tiêu thụ sản phẩm RAT 87

4.6.3 Giải pháp quy hoạch vùng sản xuất và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 88

4.6.4 Giải pháp về cơ chế chính sách đối với việc phát triển mô hình 88

4.7.4 Giải pháp phát triển sản xuất RAT 89

PHẦN V : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

5.1 Kết luận: 90

5.2 Kiến nghị: 91

5.1.1 Đối với Nhà nước 91

5.1.2 Đối với địa phương 92

5.1.3 Đối với hộ nông dân 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Rau sạch xuất khẩu của các nước EU 2001 – 2004 16

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2008 – 2010) 30

Bảng 3.2 : Tình hình dân số và lao động huyện Gia Lâm (2008-2010) 32

Bảng 3.3: Tình hình phát triển kinh tế ở huyện Gia Lâm (2008 – 2010) 34

Bảng 4.1: Diện tích RAT huyện Gia Lâm chia theo đơn vị sản xuất (2008-2010) 44

Bảng 4.2: Diện tích một số loại rau và RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm (2008-2010) 45

Bảng 4.3: Năng suất một số loại RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm 48

(2008-2010) 48

Bảng 4.4: Sản lượng một số loại RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm 49

(2008-2010) 49

huyện Gia Lâm năm 2010 50

Bảng 4.5: Biến động giá một số loại RAT chủ yếu theo mùa vụ 52

trên địa bàn huyện năm 2010 52

Bảng 4.6: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại 3 xã đại diện 55

Bảng 4.7: Tình hình tham gia các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT của các hộ nông dân điều tra 59

Bảng 4.8: Một số chủng loại RAT chính trên địa bàn 3 xã điều tra năm 2011 63

Bảng 4.9: Khối lượng thu mua một số loại RAT BQ/ngày của các mô hình 63

Bảng 4.10: Chi phí sản xuất 1 sào cải bắp bình quân / hộ của các mô hình 66

Bảng 4.11: Kết quả và hiệu quả sản xuất 1 sào cải bắp bình quân / hộ 68

của các mô hình 68

Bảng 4.12: Chi phí sản xuất 1 sào cà chua bình quân / hộ của các mô hình 72

Bảng 4.13: Kết quả và hiệu quả sản xuất 1 sào cà chua bình quân / hộ 74

của các mô hình 74

Bảng 4.14: Phân tích SWOT đối với mô hình liên kết với người thu gom 80

Bảng 4.15: Phân tích SWOT đối với mô hình liên kết với HTX và liên kết với các công ty thu mua và tiêu thụ sản phẩm RAT 81

Bảng 4.16: Ưu điểm và hạn chế của mỗi mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT 82

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Cơ cấu sản lượng một số loại RAT chủ yếu trên địa bàn 50Biểu đồ 4.2: Mức độ tham gia các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT của các hộ điều tra tại 3 xã trên địa bàn huyện Gia Lâm 58Biểu đồ 4.3: Cơ cấu chi phí sản xuất trồng 1 sào bắp cải bình quân / hộ của các mô hình 65Biểu đồ 4.4: Cơ cấu chi phí sản xuất trồng 1 sào cà chua bình quân / hộ của các mô hình 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sản lượng RAT ở đồng bằng sông Hồng 2000 - 2008 19

Hình 2.2: Diện tích trồng RAT tại TP HCM (2005 – 2010) 21

Hình 2.3: Tổ chức của các kênh phân phối RAT tại Hà Nội 24

Hình 2.4: Diện tích trồng RAT được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện 25

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1: Hệ thống kênh tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm 53

Sơ đồ 4.2: Kênh tiêu thụ sản phẩm của mô hình sản xuất tự do 60

Sơ đồ 4.3: Kênh tiêu thụ sản phẩm của mô hình liên kết với người thu gom 61

Trang 11

Thực hành nông nghiệp tốt

HTX DVNN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp

NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

VietGAP Vietnamese Good Agriculture Practices

Trang 12

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau là thực phẩm không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của conngười Rau cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của conngười như vitamin, axit amin, các chất đạm, chất khoáng… là những chất dinh dưỡngquan trọng mà các thực phẩm khác không thể thay thế được

Về mặt kinh tế, rau có vai trò đáng kể, một số loại rau được coi là cây lươngthực và có thể bổ sung vào nguồn lương thực khi cần thiết Bên cạnh đó rau xanh còn

là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao, là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Trong thời kì hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đang trên đà hội nhập vào tổchức thương mại Thế giới WTO, đời sống của người dân đã được nâng cao rõ rệt thìnhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ không chỉ đơn thuần là nhucầu về số lượng mà còn đòi hỏi cả về chất lượng, trong đó có rau Nếu rau không antoàn hoặc không rõ nguồn gốc có thể dẫn đến ngộ độc thực phẩm, gây tâm lý hoangmang và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, thậm chí còn gây ảnh hưởng tới môitrường sống của con người Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rau

an toàn (RAT) Vì vậy, sản xuất và tiêu dùng rau sạch, RAT đã nhận được sự quan tâmcủa người tiêu dùng và trở thành vấn đề mang tính cấp thiết để phục vụ nhu cầu củangười dân đặc biệt là người dân thành phố

RAT đã được trồng ở các huyện ngoại thành Hà Nội từ những năm 1996, đặcbiệt từ sau năm 1999 khi thành phố có chủ trương quy hoạch phát triển vùng sản xuấtRAT cung cấp cho thị trường các quận nội thành thì diện tích trồng rau lại càng tănglên đáng kể hơn Huyện Gia Lâm – Hà Nội là một trong những huyện có nhiều vùngđược cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất RAT hơn so với các huyện khác trênđịa bàn thành phố Hà Nội và được thành phố giao cho chuyên sản xuất RAT phục vụnhu cầu tiêu dùng Việc sản xuất RAT của huyện Gia Lâm được tiến hành tại hầu hếtcác xã có khả năng trồng rau, trong đó, Văn Đức, Đặng Xá và Đông Dư là 3 xã điển

Trang 13

hình, hàng năm đã sản xuất và cung ứng một lượng lớn RAT ra thị trường Tuy nhiên,sản xuất và tiêu thụ RAT vẫn còn gặp nhiều khó khăn như: thời tiết thay đổi thấtthường gây ảnh hưởng đến mùa vụ sản xuất, trình độ nhận thức của nông dân còn hạnchế dẫn đến sản xuất chưa thực sự hiệu quả, đầu ra của sản phẩm còn bấp bênh, ngườitiêu dùng chưa tin tưởng vào các sản phẩm vì bằng mắt thường khó phân biệt đâu làRAT Vì vậy, để khắc phục những khó khăn này, tại các vùng sản xuất RAT đã xuấthiện các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT lànhững mô hình có sự tham gia của người dân sản xuất RAT và các tác nhân, tổ chứckhác nhau như: người thu gom, Hợp tác xã (HTX), các công ty chế biến và tiêu thụRAT….Các tác nhân này tham gia vào mô hình kết hợp với người nông dân đưa sảnphẩm ra thị trường, đến với người tiêu dùng Tuy nhiên, các mô hình này cũng gặpkhông ít khó khăn trong sản xuất RAT và đặc biệt là khâu tiêu thụ.

Vì vậy, để tìm hiểu về những thuận lợi cũng như khó khăn của các mô hình này,đồng thời xác định tính hiệu quả của từng mô hình, từ đó tìm ra các giải pháp phát triểnbền vững, thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ RAT phát triển hơn, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 14

- Tìm hiểu hoạt động của các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bànhuyện Gia Lâm.

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT Từ đórút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

- Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ nông dân trồng RAT trên địa bàn 3 xã Văn Đức, Đông Dư và Đặng Xácủa huyện Gia Lâm – Hà Nội

- Các tác nhân trong các mô hình (doanh nghiệp thu mua, HTX, người thu gom,nhóm hộ chuyên sản xuất, tổ liên kết )

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi về nội dung

Trong phạm vi về nội dung nghiên cứu, chúng tôi tập trung nghiên cứu thựctrạng hoạt động của một số mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT có sự liên kết giữa hộnông dân sản xuất RAT với các tác nhân ở 3 xã trên địa bàn huyện Gia Lâm Phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện các mô hình đó, từ đó đề xuất một

số giải pháp phát triển RAT

1.3.2.2 Phạm vi về không gian

Nghiên cứu được tiến hành tại 3 xã Văn Đức, Đông Dư và Đặng Xá, huyện GiaLâm, Hà Nội

1.3.2.3 Phạm vi về thời gian

- Thời gian thực hiện đề tài: từ 25/01/2011 đến 25/5/2011

- Số liệu đánh giá thực trạng tình hình được thu thập từ năm 2008 - 2010

Trang 15

PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Lí luận về sản xuất và tiêu thụ RAT

2.1.1.1 Các khái niệm

* Khái niệm RAT

Theo Quyết định số 04/2007/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn (Bộ NN & PTNT): “RAT là những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cảcác loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt ) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói

và bảo quản theo quy trình kỹ thuật bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hạidưới mức giới hạn tối đa cho phép theo quy định”

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, tổ chức Nông Lương thế giới FAO thì RATphải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Rau phải đảm bảo chất lượng, phẩm chất, không bị hư hại, dập nát, héo, úa

- Là các sản phẩm không chứa hàm lượng độc tố nitrat (NO3), kim loại nặng, dưlượng thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật gây hại vượt quá ngưỡng cho phép

- Rau không bị sâu bệnh, không có vi sinh vật gây hại cho người

Như vậy, RAT là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh tác trêncác diện tích đất có thành phần hóa – thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất là hàm lượngkim loại nặng, các chất độc hại từ phân bón, các chất bảo vệ thực vật và các chất thảisinh hoạt tồn tại trong đất), được sản xuất theo những quy trình kỹ thuật nhất định (đặcbiệt là quy trình sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và tưới nước) Nhờ vậy rau đảm bảocác tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan Nhà nước đặt ra

Sở dĩ gọi là RAT vì trong quá trình sản xuất rau, người trồng rau vẫn sử dụngphân bón nguồn gốc vô cơ và chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên với liều lượng hạn chếhơn, thời điểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các chất bảo vệ thực vật trong danh mụccho phép

Trang 16

Trong đời sống hàng ngày, RAT thường được gọi là rau sạch Để phân biệt mộtcách chính xác hơn, khái niệm rau sạch được sử dụng để chỉ các loại rau được sản xuấttheo các quy trình canh tác đặc biệt sạch như rau thủy canh, rau hữu cơ Mức độ đảmbảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau sạch cao hơn nhiều so với RAT.Sản lượng rau sạch được sản xuất ở nước ta hiện nay là không đáng kể (phần lớn còngiới hạn trong phạm vi các dự án khoa học sản xuất).

* Khái niệm sản xuất

Trong nông nghiệp, sản xuất là một quá trình sức lao động sử dụng tư liệu laođộng tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm lao động

Trong đó, sức lao động là toàn bộ những năng lực về thể chất và tinh thần tồntại trong cơ thể con người đang sống và được đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất mộtgiá trị sử dụng nào đó

Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tácđộng vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích của con người Ví dụđối với sản xuất rau thì đó là hạt giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)

Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sựtác động của con người lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động theomục đích của mình ví dụ như cày, quốc, xe thồ, bình phun thuốc trừ sâu dùng để sảnxuất rau

Như vậy có thể nói sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tếcủa con người, là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay trao đổi trong thương mại.Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau đây: sản xuất cái gì? sản xuất nhưthế nào? sản xuất cho ai? và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác nguồnlực cần thiết để làm ra sản phẩm? Hay nói một cách đơn giản, sản xuất là quá trình kếthợp các yếu tố đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động để tạo rasản phẩm đầu ra, tạo ra của cải vật chất không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại cần thiếtcho sự tồn tại và phát triển của xã hội

Trang 17

* Khái niệm tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm là quá trình bán sản phẩm trên thị trường Nó là quá trìnhthực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, thông qua tiêu thụ hàng hóa chuyển từhình thái vật chất sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn được hình thành

Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đóng vaitrò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, các cá thể tham gia sảnxuất mà ở đây là các hộ nông dân trồng RAT, các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp(HTX DVNN), các tác nhân trong mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT Đối với một chutrình sản xuất và tiêu thụ RAT thì tiêu thụ càng có vai trò hết sức quan trọng, nó là cơ

sở để thúc đẩy sản xuất phát triển và tạo tiền đề cho việc trồng RAT Nghề trồng rau làmột nghề nông nghiệp truyền thống, người sản xuất rau chủ yếu là những người nôngdân với kinh nghiệm lâu năm, nhưng họ lại chỉ có được cái nhìn trước mắt mà khôngtính đến những lợi ích lâu dài Vì vậy, nếu khâu tiêu thụ được đảm bảo ổn định thìtrước mắt người nông dân sẽ tham gia trồng RAT với tinh thần hăng say và ý thức cao

Quá trình khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ và đến với người tiêu dùng sẽ hìnhthành nên các kênh phân phối Kênh phân phối sản phẩm: là tập hợp những cá nhânhay sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo radòng vận chuyển hàng hóa dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu dùng Tất cả nhữngngười tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viênnằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là những người trung gian thương mại, cácthành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau

Các loại kênh phân phối:

- Kênh tiêu thụ trực tiếp: đây là kênh tiêu thụ sản phẩm bằng cách người sảnxuất trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, không qua trung gian

- Kênh tiêu thụ gián tiếp: là kênh người sản xuất bán sản phẩm của mình chongười tiêu dùng qua một hay một số trung gian như người bán buôn, người bán lẻ haycác đại lý Tùy theo mức độ của 1 hay nhiều trung gian mà ta có các kênh tiêu thụ:kênh cấp 1, kênh cấp 2, kênh cấp 3

Trang 18

2.1.1.2 Vai trò của RAT

Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy lượngprotit và lipit trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng có giá trị lớn vì cung cấp cho

cơ thể nhiều chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính chất kiềm,các vitamin, các chất pectin, axit hữu cơ

Một đặc tính sinh lí quan trọng của rau tươi là chúng có khả năng gây thèm ăn

và ảnh hưởng tới chức phận tiết của các tuyến tiêu hoá Tác dụng này đặc biệt rõ rệt ởcác loại rau có tinh dầu như rau mùi, rau thơm, hành, tỏi Chúng gây tiết dịch vị mạnhhơn cả các loại nước xúp Ăn rau tươi phối hợp với những thức ăn nhiều prô-tít, lipít,gluxít làm tăng rõ rệt sự tiết dịch của dạ dày Cũng vì vậy bữa ăn có rau tươi tạo điều

kiện thuận lợi cho sự tiêu hoá và hấp thu các thành phần dinh dưỡng khác [1]

Rau tươi là nguồn cung cấp vitamin và muối khoáng quan trọng Nhu cầu

về vitamin và muối khoáng của con người được cung cấp qua bữa ăn hằng ngàychủ yếu do rau tươi Hầu hết các loại rau thường dùng của nhân dân ta đều giàuvitamin, nhất là vitamin A và C là những vitamin hầu như không có hoặc chỉ córất ít trong thức ăn động vật

Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc” Điều này khẳng

định vai trò của rau tươi trong dinh dưỡng và bữa ăn hàng ngày Chính vì vậyđiều quan trọng là phải bảo đảm rau sạch, an toàn không có vi khuẩn gây bệnh vàcác hoá chất độc hại gây nguy hiểm Rau sạch và RAT là những loại rau đượcsản xuất theo quy trình kĩ thuật đạt tiêu chuẩn hạn chế đến mức thấp nhất việc sửdụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích nhằm làm giảm tối đa lượngchất độc tồn đọng trong rau Chính vì vậy các nhà trồng rau phải hiểu được tầmquan trọng đặc biệt của sản xuất RAT và tôn trọng tất cả các nguyên tắc nghiêmngặt, từ việc chọn đất trồng rau, tưới bón, đến việc sử dụng thuốc BVTV, thuốckích thích tăng trưởng, thời gian thu hoạch sau khi bón phân hoặc phunthuốc.v.v

Trang 19

2.1.1.3 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ RAT

Sản xuất RAT là một bộ phận của sản xuất rau nói chung, nó mang đầy đủ đặcđiểm của ngành sản xuất rau và có những đặc điểm riêng biệt trong sản xuất và tiêu thụnhư:

- Hầu hết các loại cây trồng hay rau đều trải qua thời kỳ ươm trước khi trồng đạitrà, sự chống chịu bệnh tật, sự phát triển cũng như chất lượng sản phẩm phần nào phụthuộc vào giai đoạn ươm này, do vậy khi sản xuất phải xử lý cây trồng ngay từ đầu

- Rau là loại cây trồng đòi hỏi kỹ thuật cao, đầu tư vật chất cũng như sức laođộng nhiều hơn các loại cây trồng khác

- RAT là loại sản phẩm tươi, xanh, nhiều chất dinh dưỡng, khả năng mắc nhiềuloại sâu bệnh cao Do đó trong quá trình canh tác phải sử dụng nhiều loại thuốc BVTV.Đây là vấn đề có tính hai mặt, sử dụng để bảo vệ, duy trì sản lượng cây trồng nhưng sửdụng không đúng quy cách lại là nguyên nhân gây nhiễm độc sản phẩm

- Đối với các sản phẩm rau sau khi thu hoạch cần được đưa ra thị trường để tiêuthụ ngay vì để lâu sẽ dẫn đến hư hỏng, thối nát Vì vậy, thị trường tiêu thụ RAT khánghiêm ngặt và là nhân tố quyết định cho sự phát triển của ngành, nó đặt ra tiêu chuẩncho những người sản xuất, những sản phẩm đủ tiêu chuẩn quy định mới tồn tại đượctrong thị trường

- Do sản xuất theo tiêu chuẩn cho trước nên sản xuất RAT phải tuân thủ nghiêmngặt về kỹ thuật, đòi hỏi mức độ đầu tư vật chất cao hơn sản xuất rau bình thường,trong khi đó thì năng suất và sản lượng lại thấp hơn Đây là nguyên nhân chính dẫn đếngiá bán các loại rau này thường cao hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại nhưngsản xuất trong điều kiện bình thường Điều này dẫn đến hạn chế sức mua, sức cạnhtranh của nó trên thị trường

- Xu thế phát triển ở nước ta: hiện nay do đời sống ngày càng phát triển nên nhucầu tiêu dùng rau tăng không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng nên thị trường tiêuthụ RAT đang dần phát triển và hoàn thiện

Trang 20

2.1.2 Lí luận về mô hình

2.1.2.1 Khái niệm mô hình

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về mô hình Theo tác giả Hoàng Xuân Thọ(2007) cho rằng: “mô hình theo nghĩa phổ biến là sự mô phỏng dưới một hình thứcdiễn tả thu gọn và cô đọng bằng những ngôn ngữ nào đó có tính ước lệ (tái hiện bắtchước) nhằm đặc trưng cho những thuộc tính bản chất và chung nhất về cấu trúc vàhành động của một khách thể (sự vật, hiện tượng hoặc một quá trình) nào đó trong tổngthể tự nhiên và xã hội”

Theo góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì “Mô hình là vật cùng hình dạngnhưng thu nhỏ lại” Khi tiếp cận sự việc để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏngcấu tạo và hành động của một vật để trình bày và nghiên cứu Khi mô hình hóa đốitượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúpcho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu

Mô hình còn được coi là “hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu” và còn là

“kiểu mẫu” về một “hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế” (Eastonc and Sheeerd A.W, 2001)

Nghiên cứu mô hình thường được mô tả là một quá trình tìm hiểu thực tiễn tíchcực, cần cù và có hệ thống nhằm khám phá, phiên giải và xem xét các sự kiện Sự điềutra tri thức này tạo ra sự hiểu biết tốt hơn về các sự kiện, hành vi hoặc giả thuyết và tạo

ra các ứng dụng thực tế thông qua các định luật và giả thuyết Thuật ngữ nghiên cứucũng được sử dụng để mô tả việc thu thập thông tin về các vấn đề chuyên môn mà nóthường liên quan đến khoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học

2.1.2.2 Tính chất của mô hình

Mô hình có ba tính chất đặc trưng

- Tính tương tự: Mô hình phản ánh các thuộc tính cần nghiên cứu của đối tượngnghiên cứu, do đó kết quả nghiên cứu trên mô hình cũng giống như kết quả nghiên cứutrên nguyên mẫu

Trang 21

- Tính đơn giản: Khi xây dựng mô hình theo một mục đích nghiên cứu nhấtđịnh, mô hình chỉ mang các thuộc tính và quan hệ đặc trưng cơ bản của đối tượngnghiên cứu còn các thuộc tính khác không ảnh hưởng tới quá trình nghiên cứu thì đều

bị lược bỏ

- Tính khái quát: Mô hình thường mang thuộc tính đặc trưng của một lớp cácđối tượng cùng loại, do đó có thể dùng mô hình để nghiên cứu những đối tượng khácthuộc lớp đó

Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp nghiên cứu bằng cách lập ra các

mô hình về sự vật và hiện tượng nghiên cứu để hiểu được sự vật và hiện tượng đó Tùyvào mục tiêu nghiên cứu mà người ta sử dụng phương pháp mô hình hóa để tiếp cậnđối tượng nghiên cứu, nhằm biểu hiện bản chất quá trình vận động của sự vật và cáchiện tượng trong giới tự nhiên, kinh tế - xã hội Đối tượng nghiên cứu rất phức tạp, đểhiểu được bản chất người ta đã sử dụng phương pháp mô hình hóa lược bỏ nhữngthành phần không cơ bản nhằm đơn giản hóa đối tượng nghiên cứu mà không làm mất

đi những đặc trưng cơ bản của đối tượng đó

Có rất nhiều cách thể hiện mô hình như thể hiện bằng sơ đồ, lược đồ; thể hiệnbằng đồ thị; thể hiện bằng toán học; thể hiện bằng bảng tính, một dãy số thông qua sựthể hiện lời nói

2.1.2.3 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT

Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT cũng dựa trên những khái niệm và tính chấtcủa mô hình Vận dụng vào thực tiễn cho thấy mô hình được nhìn từ nhiều góc độ quanđiểm khác nhau Nhà quản lý xem mô hình là hệ thống kế hoạch đánh giá, giámsát Nhà kinh tế chủ yếu quan tâm đến các yếu tố đầu vào – đầu ra Ngoài ra, nhà xãhội cũng có nhiều quan điểm khác nhau về mô hình

Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT được nhìn nhận từ góc độ kinh tế bao gồmcác yếu tố đầu vào như nguồn lực (vật tư, tài chính, kinh tế ), quá trình hoạt động củacác cá nhân trực tiếp và gián tiếp tham gia, sau cùng là đầu ra của sản phẩm

Trang 22

Tham gia vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nói chung và các mô hình sản xuất

và tiêu thụ RAT nói riêng bao gồm các tác nhân sau:

- Người sản xuất: là người trực tiếp tạo ra sản phẩm, sau thu hoạch họ có thể bánsản phẩm cho người thu gom, các cửa hàng, siêu thị hoặc bán trực tiếp cho người tiêudùng

- Người thu gom: là những người chuyên thu mua sản phẩm và giao lại chonhững người bán lẻ, các cửa hàng và bếp ăn Họ cũng có thể là chính những ngườisản xuất và làm thêm chức năng thu gom Những người thu gom có thể gồm nhữngngười thu gom tập thể (HTX), người thu gom cá thể và những người thu gom xuấtkhẩu, thu gom bán tại thị trường nội địa

- Các siêu thị, cửa hàng và quầy RAT

- Các doanh nghiệp thu mua và sơ chế, đóng gói sản phẩm RAT

- Người bán buôn: Họ mua các sản phẩm từ các tỉnh và các vùng lân cận mang

về thành phố sau đó bán lại cho những người bán lẻ tại các chợ, các cửa hàng và siêuthị nếu có nhu cầu

- Người bán lẻ: là những người bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng Họthường có ít vốn, kinh doanh với một lượng nhỏ và giá bán cao hơn giá bán buôn

- Người tiêu dùng: là những người có nhu cầu về một sản phẩm nào đó, nhưngkhông có điều kiện sản xuất, họ thường là những người thu mua để tiêu dùng cá nhân

và cho gia đình họ

2.1.2.4 Liên kết trong mô hình

* Khái niệm về liên kết

Liên kết là hình thức hợp tác, phối hợp hoạt động do các đơn vị tự nguyện tiếnhành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ phápluật Nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra sự ổn định của các hoạt động kinh

tế thông qua quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềmnăng của các đơn vị tham gia liên kết nhằm tạo ra thị trường chung và bảo vệ cho nhau

(Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, 2001).

Trang 23

Trong từ điển Kinh tế học hiện đại David W Pearce (1999) lại cho rằng: “Liênkết kinh tế chỉ tình huống mà khi các khu vực khác nhau của một nền kinh tế, thường

là khu công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả

và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều này thường đi kèmvới sự tăng trưởng bền vững”

Như vậy có thể thấy rằng liên kết kinh tế thực chất là sự hợp tác phát triển củahai hay nhiều bên, không kể quy mô hay loại hình sở hữu với mục tiêu là các bên tìmcách bù đắp khuyết điểm và phối hợp với nhau ăn ý Trong bối cảnh toàn cầu hóa, côngnghiệp hóa và hiện đại hóa như hiện nay thì liên kết kinh tế càng trở thành nhu cầu cấpthiết cho việc phát triển kinh tế xã hội đất nước

* Vai trò của các liên kết trong mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT

Trong các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT liên kết đóng vai trò quan trọng vàkhông thể thiếu Nó giúp các hộ nông dân liên kết với các tác nhân trong mô hình dễdàng và thuận lợi hơn, như liên kết giữa các hộ với nhau, liên kết với HTX, liên kết vớingười thu gom

- Liên kết đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân thamgia mô hình không ngừng phát triển và đạt hiệu quả ngày càng cao

- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân khắc phục được những bất lợi về quy mô.Trong sản xuất RAT liên kết giữa các nhóm hộ sản xuất giúp các hộ tập trung đượcdiện tích đất sản xuất RAT, thuận lợi hơn khi xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ sảnxuất như hệ thống thủy lợi, tưới tiêu, giếng khoan

- Liên kết được tiến hành trên tinh thần tự nguyện tham gia của các bên Bởi vìchỉ khi tự nguyện tham gia thì các chủ thể liên kết mới phát huy hết năng lực nội tạicủa mình để xây dựng mối quan hệ lâu dài và bền chặt

- Các bên tham gia dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của liên kết Do cácnguồn lực được hình thành dựa trên sự đóng góp của các chủ thể tham gia, mặt kháccác liên kết có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của các chủ thể tham gia nên hoạt động quản

lí, điều hành, giám sát và phân phối trong liên kết phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng

Trang 24

- Các mối liên kết nên được pháp lý hóa, đảm bảo đủ độ tin cậy và đúng phápluật nhằm giảm thiểu rủi ro, đồng thời là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của các bêntham gia, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết khi xảy ra tranh chấp.

- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân phản ứng nhanh với các thay đổi của thịtrường và giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh

2.1.3 Lí luận về RAT được sản xuất theo hướng VietGAP

2.1.3.1 GAP là gì?

Theo Quy định số 379/QĐ-BNN–KHCN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ

NN&PTNT thì GAP - Good Agriculture Practices (Thực hành nông nghiệp tốt) là

những nguyên tắc được thiết lập để đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ,thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vikhuẩn, nấm, virut, kí sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàmlượng nirat), đồng thời sản phẩm đảm bảo an toàn từ ngoài đồng cho đến khi sử dụng

Quy trình nông nghiệp an toàn GAP là một quy trình tự nguyện đề ra những tiêuchuẩn nhằm ngăn ngừa những mối nguy có ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng sảnphẩm, môi trường và công nhân sản xuất, cách xử lý rau quả trái cây trước và sau khithu hoạch Quy trình được biên soạn như sau:

(i) An toàn thực phẩm

(ii) Quản lí môi trường

(iii) Sức khỏe, an toàn và phúc lợi người công nhân lao động

(iv) Chất lượng sản phẩm để đảm bảo tất cả các nguy cơ dù tiềm ẩn vẫn được

trình bày một cách rõ ràng minh bạch (Bộ NN&PTNT, Cục Trồng trọt – Ban chỉ đạo chương trình rau hoa quả, 2008).

2.1.3.2 Khái niệm phát triển sản xuất RAT theo hướng VietGAP

VietGAP là chữ viết tắt của Vietnamese Good Agriculture Practices, nghĩa là

“Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt” được áp dụng cho rau quả tươi của Việt Nam, lànhững nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơchế bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức

Trang 25

khỏe người sản xuất và người tiêu dùng (Quy định số 379/QĐ – BNN – KHCN ngày

28 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT).

VietGAP là một quy định mới ban hành, hiện nay chưa có một khái niệm nào cụthể cho sản xuất RAT theo hướng VietGAP Tuy nhiên theo một số quan điểm thì cóthể hiểu phát triển sản xuất RAT theo hướng VietGAP là tăng về quy mô, sản lượng,chất lượng sản phẩm RAT nhằm mục đích tăng cao giá trị sản phẩm, từ đó tăng thunhập cho người nông dân Sự an toàn của sản phẩm rau sản xuất theo quy địnhVietGAP được khẳng định ở việc cho phép truy nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm

2.1.3.3 Đặc điểm, vai trò sản xuất RAT theo hướng VietGAP

Ngoài những đặc điểm về sản xuất và tiêu thụ RAT nói chung như đã trình bày

ở trên thì sản xuất rau theo quy định VietGAP đòi hỏi vốn đầu tư cao như xây dựngkhu vệ sinh, khu sơ chế sản phẩm, chi phí đánh giá kiểm tra chất lượng định kỳ sảnphẩm và các yếu tố đầu vào Trong quá trình sản xuất RAT theo tiêu chuẩn VietGAP,người sản xuất phải tham gia các lớp tập huấn về sản xuất, sơ chế, bảo quản rau saocho đạt những tiêu chuẩn của VietGAP Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất bắt buộcphải dành thời gian cho việc lưu trữ đầy đủ nhật kí sản xuất sản phẩm

Sản xuất RAT theo tiêu chuẩn VietGAP có vai trò quan trọng, góp phần nângcao sức khỏe cộng đồng, nó là cầu nối giữa nông sản Việt Nam với thị trường tiêu thụtrên Thế giới Cụ thể:

- Về phương diện sức khỏe: Do các khâu sản xuất đều được tuân thủ theo đúngtiêu chuẩn đặt ra về mức độ và thời hạn sử dụng thuốc trừ sâu nên độ an toàn của rauđược đảm bảo tuyệt đối

- Về phương diện môi trường: Việc áp dụng nghiêm ngặt quy trình sản xuấtVietGAP sẽ giảm được tối đa các tác nhân gây ô nhiễm môi trường Các biện pháp hóahọc sẽ chuyển mạnh sang sử dụng các loại thuốc vi sinh ít ảnh hưởng đến các loại thiênđịch, con người và vật nuôi, không để lại tồn dư hóa học, chất độc hại trong đất Từ đógóp phần cải tạo môi trường sinh thái một cách cân bằng theo hướng có lợi cho con

người (Nguyễn Quốc Vọng, 2007).

Trang 26

- Về phương diện kinh tế - xã hội: Nhờ áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, giá trịcủa các vùng sản xuất tăng hơn trước, nông hộ giảm được chi phí đầu tư vật tư nôngnghiệp, sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường, đặc biệt là có giá trị xuất khẩucao Rau có chất lượng sẽ được người tiêu dùng sử dụng nhiều hơn, tăng kích thích trở lạicho sản xuất RAT phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân.

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Một số mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT trên thế giới

Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), trong thời kỳ 2001

-2010, nhu cầu tiêu thụ rau quả trong đó có RAT của thế giới tăng nhanh vì tốc độ tăngdân số thế giới tăng đến 1,5%/năm, tốc độ phát triển kinh tế thế giới tăng 3 - 4%/năm,tốc độ phát triển thương mại tăng 6 - 7%/năm, nhu cầu tiêu thụ rau quả tăng 3,6%/năm

[2] Chính vì vậy trong những năm gần đây diện tích và sản lượng rau, quả của các

nước trên thế giới không ngừng tăng lên Theo Tổ chức Nông Lương thế giới FAO, tốc

độ tăng diện tích rau, quả bình quân hàng năm của thế giới là 2,5% Điều này cho thấycây rau đang có vị trí quan trọng trong hàng nông sản, đặc biệt là RAT Để có được sựphát triển nhanh chóng như trên đã có sự đóng góp lớn của các mô hình sản xuất vàtiêu thụ, giúp ổn định đầu vào cũng như đầu ra cho người sản xuất và người tiêu dùng

* EU – Liên minh các nước Châu Âu

Liên minh châu Âu (EU) bao gồm 27 quốc gia với 485 triệu dân, là khu vực vănminh sớm phát triển vào bậc nhất toàn cầu, vì thế cũng là khu vực có khối lượng giaodịch thương mại khổng lồ, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu và 46% tổng kimngạch xuất khẩu của thế giới Hơn thế nữa, do mặt bằng sinh hoạt xã hội cao, hệ thốngpháp lý hoàn chỉnh, khá ổn định nên EU đòi hỏi rất khắt khe về các tiêu chuẩn trongnhiều lĩnh vực, nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó có RAT

Hầu hết các nước EU là những nước trồng nhiều rau quả Tuy nhiên, điều kiệnkhí hậu ở Châu Âu đã gây cản trở rất nhiều đến việc trồng trọt của họ Mô hình trồngRAT trong nhà kính được các nước EU áp dụng khá nhiều nhưng chỉ phần nào bù đắpđược lượng thiếu hụt Ngoài ra, việc sản xuất rau quả của EU còn bị hạn chế bởi tính

Trang 27

mùa vụ và điều đó đã tạo cơ hội cho các nhà cung ứng ở các nước khác tham gia vàothị trường này vào thời điểm trái mùa.

Theo Euromonitor (2004), tổng mức tiêu thụ rau ở thị trường EU đạt khoảng 29triệu tấn/năm, trong đó tiêu thụ khoai tây chiếm trên 50% tổng lượng rau tiêu thụ và càchua chiếm 10% Italia và Đức là thị trường tiêu thụ và xuất khẩu rau sạch lớn nhất EUvới lượng tiêu thụ khoảng 5,6 triệu tấn, tiếp theo là Anh và Hà Lan (theo bảng 2.1)

Bảng 2.1: Rau sạch xuất khẩu của các nước EU 2001 – 2004

đó cung cấp sản phẩm trở lại cho khách hàng của mình

Tại Châu Âu, mô hình liên kết trực tiếp giữa nhà sản xuất - nhà xuất khẩu vàmạng lưới bán lẻ rộng khắp đã phần nào thu hẹp dần vai trò của nhà nhập khẩu Tuynhiên các nhà nhập khẩu vẫn có vai trò quan trọng trong mô hình bởi vì họ có một vaitrò không thể thiếu trong việc thu gom sản phẩm và tạo nguồn cung cấp ổn định cho

Trang 28

các khâu tiếp theo Các khách hàng cũng đang ngày càng gia tăng mối liên kết với các nhàcung cấp có khả năng đảm bảo lượng hàng ổn định theo chu kỳ một tuần hay một tháng.

Các hình thức chủ yếu của mạng lưới bán lẻ rau quả bao gồm: các cửa hàngchuyên bán rau quả, siêu thị hay cửa hàng bán tự động, chợ ngoài trời, nhà sản xuất,nông dân Các kênh buôn bán truyền thống như chợ, cửa hàng rau quả vẫn có một vaitrò quan trọng tại hầu hết các thị trường kinh doanh rau quả

* Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một trong những nước sản xuất rau quả trong đó có RAT lớn nhấttrên thế giới Năm 2003 sản lượng rau quả của Hoa Kỳ ước tính đạt được 54,97 triệu tấn,với tổng doanh thu khoảng 23 tỷ USD, rau xanh, RAT là 20,97 triệu tấn và 9 tỷ USD

Hiện nay Hoa Kỳ có 6 kênh tiêu thụ rau quả chính từ cả nguồn hoa quả nội địa

và hoa quả nhập khẩu Một đặc điểm của thị trường rau hoa quả Hoa Kỳ là khác vớinhiều nước, ngay cả những nước phát triển như các nước thành viên EU và Nhật Bản,các chợ rau quả ở Hoa Kỳ không đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh doanhbán lẻ rau quả Mô hình liên kết với hệ thống dịch vụ ăn uống chiếm tới 50% tổngdoanh thu bán lẻ rau quả, mô hình liên kết với hệ thống siêu thị chiếm khoảng 49% vàdoanh thu bán lẻ tại các chợ ngoài trời và tiêu thụ trực tiếp tại nông trang chỉ chiếm 1%tổng doanh thu bán lẻ rau quả trên thị trường Hoa Kỳ Nếu như trước đây, các siêu thị

là nhà cung cấp rau quả chủ yếu thì nay quan hệ trực tiếp giữa các nhà bán buôn và hệthống dịch vụ ăn uống đã trở thành phương thức phân phối chủ yếu

* Thái Lan

Là một đất nước trồng rau nhiệt đới và ôn đới nên chủng loại rau cũng như RATcủa Thái Lan rất phong phú Hiện nay có khoảng trên 100 lại rau được trồng ở TháiLan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến Mức tiêu dùng rau bình quân tại TháiLan là 53kg/người/năm với các kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:

- Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - Nhóm nông dân tự thành lập - Ngườibán buôn - Người chế biến - (Người xuất khẩu - Người bán buôn - Người bán lẻ) -Người tiêu dùng

Trang 29

Loại kênh thứ hai: Người sản xuất Người thu gom trên địa bàn trồng rau Thị trường bán buôn trung tâm - Người bán buôn - Người bán lẻ - Người tiêu dùng.Khoảng hơn 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến các siêu thị và khuynhhướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ RAT ở Thái Lan Ngoài ra trên thị trườnggiao dịch bằng hợp đồng thì Cục Nội thương trực thuộc Bộ thương mại thiết lập thịtrường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữa người nông dân hoặc tổ chứcnông nghiệp với những người mua hàng Hiện nay có một số nông sản có khả năng kíkết hợp đồng được khi sản xuất ra một số sản phẩm như cà chua, gừng, ngũ cốc non,măng tây, măng tre, chôm chôm

-2.2.2 Một số mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở Việt Nam

Là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nên rau của nước ta rất

đa dạng về chủng loại (khoảng 70 loại chủ yếu), đặc biệt là RAT, trong đó tập trungchủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, ngoài ra còn phát triển

ở vùng Đông Nam Bộ, Đà Lạt Lý do RAT được trồng trên hai khu vực Đồng bằngsông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng rất thuận lợi là do cây rau sinh trưởng vàphát triển phù hợp với khí hậu hai vùng này, ngoài ra còn kết hợp với lợi thế đầu ra chosản phẩm là thị trường Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh - là hai thành phố (TP) tiêuthụ rau lớn nhất cả nước

Theo Viện Thiết kế và Quy hoạch nông nghiệp, sản xuất rau ở Việt Nam có xuhướng tăng cả về diện tích và sản lượng, bởi vị trí cây rau trong đời sống xã hội ngàycàng được coi trọng Để có được kết quả như vậy, Nhà nước cùng với chính quyền địaphương trên cả nước đã không ngừng tuyên truyền, tập huấn, đưa các quy trình sảnxuất RAT và các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT đến với nhiều hộ nông dân trên cả nướcnhằm thúc đẩy phát triển bền vững sản xuất và tiêu thụ RAT

2.2.2.1 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở vùng đồng bằng sông Hồng

Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), năm 2008, tổng diện tích rau của cảnước là 722 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 159 tạ/ha với sản lượng hơn 16,4 triệu

Trang 30

tấn (Hình 2.1) Sáu tháng đầu năm 2009, cả nước sản xuất gần 500 nghìn ha rau, đậucác loại, trong đó miền bắc là 240 nghìn ha Đạt được những kết quả này là do các cấp,các ngành từ TƯ và địa phương đã có nhiều đề án, dự án, chính sách phát triển cácvùng RAT Các kỹ thuật mới như làm bầu dưa, bí, ớt, trồng rau trên nền đất ướt, che

phủ ni-lông, sử dụng chế phẩm sinh học, trồng rau trái vụ được phổ biến [3]

0 2 4 6 8 10 12 14 16 18

Theo Cục trưởng Cục Trồng trọt, ông Nguyễn Trí Ngọc, để phát triển và mởrộng các vùng RAT về lâu dài thì cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các văn bản phápluật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về RAT, trong đó có vấn đề về ngưỡng antoàn, đặc biệt đối với kim loại nặng, vi sinh vật trong đất, nước Đối với các địa

Trang 31

phương cần chủ động hình thành các mô hình liên kết ổn định giữa doanh nghiệp chếbiến, tiêu thụ hoặc xuất khẩu rau với các HTX, nông dân vùng sản xuất Phát triểnmạng lưới tiêu thụ RAT qua siêu thị, đại lý, cửa hàng bán lẻ Tăng cường kiểm traviệc sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, thuốc kích thích, thuốc tăng trưởng,phân bón để kịp thời ngăn chặn việc sử dụng phân tươi, nước ô nhiễm chăm sóc rau

2.2.2.2 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một vùng rộng lớn và bằng phẳng, có3,96 triệu ha đất canh tác với gần 18 triệu dân cư (khoảng 22% dân số của cả nước).Trong những năm gần đây cùng với sự đa dạng hóa về hệ thống đất canh tác đang diễn

ra trên cả nước, người nông dân trồng lúa ở ĐBSCL cũng đang dần chuyển đổi thế độccanh cây lúa sang trồng một số cây rau màu ngắn ngày, tập trung chủ yếu ở một số TPcủa ĐBSCL như Cần Thơ, An Giang, Mỹ Tho…

Theo Trần Thị Ba (2008), tổng diện tích RAT ở ĐBSCL là 8.439 ha (chiếm3,6% diện tích trồng rau ĐBSCL), trong đó rau ăn lá 4.451 ha (cải bẹ xanh, tần ô, raudền, xà lách, rau má, mồng tơi, cải thảo, rau muống, cải bắp, cải bông và các loại raugia vị), rau ăn trái 3.835 ha (dưa leo, khổ qua, đậu đũa, dưa hấu, cà chua, đậu bắp, bíxanh, bí đỏ…) và ăn củ 131 ha (củ cải, khoai môn, khoai ngọt, sắn, gừng…) Năng suấtbình quân là 23,05 tấn/ha và sản lượng là 206.991 tấn Dự kiến đến 2011 đạt 49.426 ha,sản lượng 1.117.709 tấn, cao gấp 5,5 lần so với năm 2007, tập trung chủ yếu ở AnGiang, Tiền Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ…

ĐBSCL không chỉ cung cấp RAT cho các tỉnh trong khu vực mà còn xuất đi TP

Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, Campuchia và Trung Quốc Trong các mô hình sản xuất vàtiêu thụ RAT ở ĐBSCL thì mô hình liên kết với người thu gom phát huy được nhiềuđiểm mạnh, vì mô hình này có đặc điểm tiện lợi cho loại hình buôn của người nông dânhơn là bán lẻ Bên cạnh đó thì mô hình liên kết với doanh nghiệp cũng đang phát triểnrất tốt, các doanh nghiệp tư nhân chế biến RAT ở ĐBSCL kinh doanh khá hiệu qủa với

sự gia tăng lượng hàng RAT xuất khẩu và hỗ trợ người dân trong sản xuất, đặc biệt là ở

TP An Giang Một số hộ nông dân khác thì tham gia vào mô hình liên kết với HTX

Trang 32

trồng RAT tại địa phương Đây là mô hình hỗ trợ người dân về mặt sản xuất khá nhiều,tuy nhiên HTX chưa phát huy được hết vai trò của mình khi quy hoạch và phân bổ cụthể cho các hộ nông dân trồng rau nên mô hình này hoạt động chưa thu hiệu quả cao.Dưới đây là hai thị trường tiêu thụ RAT lớn nhất vùng ĐBSCL:

* Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở TP Hồ Chí Minh

Hàng năm, lượng tiêu thụ RAT của TP Hồ Chí Minh (TP.HCM) khoảng trên

400 ngàn tấn và có khoảng 1.200 tấn rau lưu thông trên thị trường thành phố mỗi ngày,trong đó 20% được sản xuất từ khu vực ngoại thành và 80% còn lại từ các tỉnh khácnhư Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang,Long An, Vĩnh Long…Tuy tình hình tiêu thụ còn nhiều hạn chế nhưng diện tích RAT

vẫn không ngừng gia tăng (thể hiện qua hình 2.2) [4].

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500

Hình 2.2: Diện tích trồng RAT tại TP HCM (2005 – 2010)

[4]

So với các sản phẩm rau, quả khác, chuỗi cung ứng RAT của TP HCM tươngđối chặt chẽ Các đối tượng giữa các khâu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó

mô hình liên kết với thương lái - HTX là chủ lực

RAT được hình thành từ các hộ trồng rau (hay gọi là Tổ RAT) Trong mô hìnhcác HTX này chủ yếu được thiết lập cho mục đích trồng trọt rau theo qui trình đảm bảo

an toàn Nhưng một số HTX ngoài việc trồng trọt còn xúc tiến việc tiêu thụ, thu gom,

Trang 33

tập hợp sản phẩm của nông dân để cung cấp cho các cửa hàng, các siêu thị, trung tâmbán sỉ hiện đại để hình thành nên mô hình mẫu trong việc cung cấp RAT tại các TP

Ngoài ra mô hình liên kết với một số công ty rau quả cũng rất phát triển bởi cáccông ty này thường có chuỗi cửa hàng chuyên cung cấp RAT cho các Nhà hàng, kháchsạn Phần còn lại (HTX và các công ty không thu mua hết) nông dân tự mang bán tạicác chợ lẻ cho người tiêu dùng nhưng giá của RAT lúc này không cao nữa Như vậy,

cả người nông dân, siêu thị, các cửa hàng hiện nay đều có chức năng như những ngườibán lẻ thực thụ Tuy nhiên về qui mô cũng như về hình thức bao bì đóng gói, quy cáchhàng hoá có những sự khác biệt nên giá cả cũng khác nhau rất nhiều

Riêng về các công ty chế biến, do hiện nay trên thành phố việc chế biến RATchưa được đẩy mạnh nên những công ty chế biến thường chỉ sản xuất ở qui mô nhỏ vớinguồn rau chủ yếu từ Đà Lạt Vì phải tuân thủ theo qui trình của nước được nhập khẩunên phần lớn họ tự trồng tại các nông trại hoặc hợp tác với người nông dân một cáchchặt chẽ

* Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở TP Cần Thơ

Tại TP Cần Thơ, nông dân trồng RAT trên diện tích nhỏ lẻ manh mún không tậptrung, từ 200 – 500m2/nông hộ chiếm phần lớn, tỷ lệ nông dân có nhiều kinh nghiệmtrong canh tác RAT còn thấp chủ yếu tập trung ở nhóm có từ 1 – 5 năm kinh nghiệm,chứng tỏ RAT mới được nông dân thành phố quan tâm sản xuất trong những năm gầnđây

Hiện nay, trên địa bàn thành phố đã có 03 siêu thị được xây dựng với mức tiêuthụ RAT rất lớn, trong khi nguồn hàng tại chỗ không đủ cung cấp cho nên hầu hết cácmặt hàng rau được lấy về từ Đà Lạt Bên cạnh đó tại các bếp ăn tập thể của các nhàmáy, xí nghiệp, trường học cũng cần một lượng RAT rất lớn để cung cấp thườngxuyên Vì thế tại thành phố đã hình thành nhiều mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT mớirất phát triển Thành phố đang tiếp tục mở rộng đầu tư xây dựng vùng sản xuất rau đạitrà chuyển dần theo hướng công nghệ cao có hệ thống nhà lưới, hệ thống tưới tiêu, sửdụng đất sạch, giống lai năng suất cao… có thể sản xuất rau quanh năm mà không phải

Trang 34

lệ thuộc nhiều vào mùa vụ nhằm có lượng rau cung cấp cho thành phố liên tục Đây là

hướng sản xuất mang tính khả thi cao có khả năng thực hiện tại địa bàn thành phố [5].

Đồng thời việc ra đời của những HTX chuyên sản xuất rau cũng đã hình thànhnên mô hình liên kết người nông dân với HTX Dựa vào khả năng sản xuất cũng như

cơ sở pháp lý HTX có thể tự chủ động liên hệ với các kênh tiêu thụ rau trong địa bànthành phố cũng như tự chủ động trong việc điều phối sản xuất, kiểm tra chất lượng sảnphẩm để đảm bảo đủ lượng sản phẩm đạt yêu cầu cung cấp cho những đơn đặt hàngliên tục của nhà tiêu thụ

2.2.3 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT ở thành phố Hà Nội

TP Hà Nội là một trong những thị trường tiêu thụ RAT rất phát triển có nhu cầucao về RAT Trên địa bàn TP có rất nhiều vùng sản xuất RAT tập trung đã sản xuất rasản lượng RAT lớn như: Văn Đức – Gia Lâm, Thụy Hương – Chương Mỹ, Vân Nội –Đông Anh Nhưng hiện nay, sản lượng rau sản xuất trên địa bàn TP vào khoảng570.000 tấn, mới đáp ứng được 60% nhu cầu rau xanh trên thị trường, 40% còn lại làrau từ các tỉnh, thành khác đưa về Điều này cho thấy việc tổ chức tiêu thụ RAT tại TP

Hà Nội còn gặp rất nhiều khó khăn như: mở cửa hàng tiêu thụ RAT rất khó, giá thànhthuê cửa hàng quá cao, lãi suất RAT lại thấp Nhiều siêu thị có quầy RAT nhưng sảnlượng tiêu thụ rất thấp, lợi nhuận không nhiều, nên các siêu thị không quan tâm nhiềuđến lĩnh vực này

Vì vậy, trong năm 2011 Sở NN&PTNT Hà Nội sẽ phối hợp với các địa phươngnâng diện tích sản xuất RAT lên 3.255 ha, phân bố ở 86 vùng thuộc 71 xã trọng điểmchuyên trồng RAT trên địa bàn TP Để thực hiện tốt nhiệm vụ TP giao, Sở NN&PTNT

Hà Nội đang tích cực phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp phát triển và quản lýsản xuất, tiêu thụ RAT trên địa bàn, hình thành nên các mô hình liên sản xuất và tiêuthụ RAT (mô hình liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp, HTX…) đảm bảođầu ra cho sản phẩm, giúp người dân yên tâm sản xuất Theo đó các vùng RAT sẽ đượcgiám sát theo quy trình và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất RAT Năm

2008 Chi cục BVTV đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất RAT cho nhiều đơn

Trang 35

vị trên địa bàn TP, trong đó huyện Gia Lâm là huyện có nhiều vùng được cấp giấychứng nhận nhất, thể hiện qua biểu đồ 2.3 Ngoài ra còn xây dựng các kênh phân phối

để tạo vùng nguyên liệu cung cấp nguồn RAT cho hệ thống cửa hàng tiêu thụ cũng làmột vấn đề quan trọng (Hình 2.3)

Hình 2.3: Tổ chức của các kênh phân phối RAT tại Hà Nội

(Nguồn: Paule moustier và Đào Thế Anh, 2009)

Nông dân

cá thể

Nông dân là thành viên của HTX

Nông dân theo hợp đồng

Người thu gom Nông dân là người thu

gom của HTX

Các công ty phân phối

Siêu thị,Cửa hàng bán lẻ,Quầy bán lẻ RAT,Trường họcBếp ăn…

Người bán buôn

Người bán lẻ tại

các chợ

Người tiêu dùng

Trang 36

Hình 2.5: Diện tích trồng RAT được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện

sản xuất RAT tại TP Hà Nội 2008

(Nguồn: Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội, 2008)

2.2.3.1 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại Vân Nội – Đông Anh

Vân Nội là một trong những xã sản xuất theo mô hình RAT khá sớm ở khu vựcphía Bắc Vân Nội hiện có 12 HTX sản xuất và tiêu thụ RAT, với quy mô khoảng 8-15

xã viên/1 HTX, cùng nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh Trong bối cảnh việc triểnkhai nghị quyết của chính phủ về khuyến khích giao dịch nông sản thông qua hợp đồngđang gặp nhiều khó khăn, HTX sản xuất và tiêu thụ rau Vân Nội (Đông Anh) đã vàđang chủ động liên kết nông dân sản xuất, có thị trường tiêu thụ ổn định RAT, đây là

mô hình thành công được nhân rộng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay

HTX Vân Nội là một trong những HTX phát triển khá tốt trên địa bàn xã VânNội, Đông Anh Ban quản trị HTX, chịu trách nhiệm tìm kiếm thị trường và đầu ra chosản phẩm, chỉ đạo và định hướng sản xuất cho xã viên

Các hộ xã viên sản xuất theo sự hướng dẫn, kiểm tra của HTX từ giống, phânbón, thuốc trừ sâu, thu hoạch… Đảm bảo chất lượng RAT đạt tiêu chuẩn an toàn và cónguồn gốc rõ ràng Ở Vân Nội không có tình trạng HTX ép giá xã viên và khi giá lêncao không có tình trạng xã viên không bán rau cho HTX Để được sự đồng thuận caonhư vậy, ngoài việc đảm bảo giá thu mua sản phẩm cho xã viên cao hơn thị trường

Trang 37

hoặc tối thiểu bằng giá thị trường, các HTX ở trong xã còn liên kết giữa với nhau.Quan hệ giữa xã viên và HTX không chỉ liên kết đơn thuần về mặt kinh tế bằng hợpđồng, mà còn có sự trao đổi thường xuyên về thông tin sản xuất, tiêu thụ, thị trường.Các quyết định quan trọng xã viên đều được tham gia dựa trên nguyên tắc biểu quyết,lấy ý kiến đa số Đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo nên sự thànhcông cho những mô hình liên kết với HTX.

2.2.3.2 Mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại quận Long Biên

Mới đây, quận Long Biên phối hợp với Chi cục BVTV Hà Nội, công ty sản xuất

và dịch vụ nông sản an toàn Hà An đã xây dựng thành công mô hình sản xuất và tiêuthụ RAT khép kín từ sản xuất – sơ chế đến bao gói và tiêu thụ sản phẩm Hiện nay môhình sản xuất và tiêu thụ RAT quản lý tập trung này đã cung cấp hàng chục loại rauthông thường và cao cấp như bắp cải, súp lơ, đậu, dưa chuột, rau bí, cải xanh, cải ngọt,đậu cove Pháp mang thương hiệu RAT Hà An thông qua bán trực tiếp cho người tiêudùng tại 2 cửa hàng trên địa bàn thành phố

Trên diện tích 5 ha đất bãi ven sông Đuống thuộc địa bàn phường Giang Biên,công ty Hà An đã trồng hơn 40 loại rau thông thường và cao cấp theo quy trình thựchành nông nghiệp tốt (GAP), dưới sự giám sát kĩ thuật của cán bộ Chi cục BVTV HàNội Đặc biệt một số loại rau như đậu đũa, cà chua, dưa chuột đã được nhà sản xuấtchấp nhận giảm năng suất từ 10 đến 60% để đảm bảo an toàn chất lượng

Qua quá trình tìm hiểu về các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT điển hình trênThế giới, trong nước và ở TP Hà Nội ta có thể thấy RAT có vai trò rất quan trọng đốivới sức khỏe, môi trường và cuộc sống của cộng đồng, nhưng để tiêu thụ RAT mộtcách tốt nhất giúp người dân yên tâm sản xuất, người tiêu dùng tin tưởng vào sản phẩmthì rất cần đến các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ Các tác nhân trong mô hình sẽ

là nhân tố quan trọng đưa sản phẩm RAT ra thị trường, tạo niềm tin cho người tiêudùng, từ đó thúc đẩy sản xuất RAT thực sự phát triển mạnh mẽ

Trang 38

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Hà Nội vàđược giới hạn bởi: - Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh

- Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên

- Phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai – Hà Nội

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đông Anh – Hà Nội

Huyện Gia Lâm là trung tâm của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – HảiPhòng – Quảng Ninh, là nơi có nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua: đườngthủy có sông Hồng, sông Đuống; đường sắt có tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng;đường hàng không có sân bay Gia Lâm; đường quốc lộ có Quốc lộ 5, Quốc lộ 1 để nốivới các tỉnh khác Sắp tới đây khi hai tuyến giao thông quan trọng là tuyến đường caotốc Hà Nội – Hải Phòng và tuyến đường Hà Nội – Hưng Yên chạy qua huyện đượchoàn thành và đưa vào sử dụng thì Gia Lâm càng thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế

và giao lưu thương mại Gia Lâm có thế mạnh đặc biệt trong phát triển công nghiệp,xuất nhập khẩu, đây có thể được coi là lợi thế so sánh to lớn của huyện Gia Lâm.Ngoài ra, do là một huyện ngoại thành của thủ đô nên việc sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm nông nghiệp nói chung và RAT chất lượng cao nói riêng của Gia Lâm đã có rấtnhiều thuận lợi, tuy vậy cũng không tránh khỏi những khó khăn và thách thức chung

3.1.1.2 Điều kiện địa hình

Huyện Gia Lâm thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình thấpdần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và theo hướng dòngchảy của sông Hồng Vùng đồng bằng có địa hình bằng phẳng, được bồi đắp phù sadày, bề mặt dày của phù sa trung bình là 90 – 120 cm Từ đó, huyện có rất nhiều thuận

Trang 39

lợi cho phát triển nông nghiệp, cũng như xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng vàkhu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

3.1.1.3 Điều kiện khí hậu

Huyện Gia Lâm mang đầy đủ các nét đặc trưng của khí hậu, thời tiết vùng đồngbằng châu thổ sông Hồng với đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa

- Nhiệt độ trung bình trong năm 23,50C, tổng nhiệt hàng năm từ 8.500 –8.7000C Hai tháng nóng nhất trong năm là tháng 6 và 7 với nhiệt độ trung bình 300C,vào mùa đông thì nhiệt độ trung bình là 170C Độ ẩm trung bình là 82%

- Lượng mưa trung bình hàng năm 1400 – 1600 mm Mưa tập trung vào mùanóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8 Mùa đôngthường ít mưa hơn, thời tiết dịu mát hơn mùa hanh khô, nhưng vào cuối mùa khôthường xảy ra hiện tượng thiếu nước, còn vào mùa mưa thì lại có gió to, bão lũ gây ảnhhưởng đến sản xuất nông nghiệp

- Huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Hồng, sông Đuống:lưu lượng nước trung bình hàng năm khoảng 2.700 m3/s, mực nước mùa lũ thường cao

9 – 12m Song về mùa khô thì mực nước lại rất thấp làm ảnh hưởng đến việc lấy nướcvào đồng phục vụ cho việc tưới tiêu

- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió mùaĐông Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gâynên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởng của gió bão kèm theo mưa lớn gây thiệthại cho sản xuất và đời sống Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,thường gây ra lạnh và khô ở những tháng đầu mùa lạnh, lạnh và ẩm ướt vào tháng 2 và

3 do có mưa phùn, song ít gây thiệt hại cho sản xuất hơn

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai

Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuấtnông nghiệp Vai trò của đất ngày càng trở nên quan trọng đối với những địa phươngvẫn mang nặng nền sản xuất nông nghiệp như huyện Gia Lâm Vì vậy mà việc phân bố

Trang 40

và sử dụng đất đai của huyện có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế - xãhội Tình hình sử dụng đất đai của huyện được thể hiện qua bảng 3.1 Qua bảng 3.1 ta

Trong diện tích đất nông nghiệp thì phần lớn vẫn là đất trồng lúa chiếm 67,18%,sau đó là đất lâm nghiệp – nuôi trồng thủy sản chiếm 16,57%, vào năm 2008 Nhưng

cả hai lại đều đang bị thu hẹp dần qua các năm, đến năm 2010, đất trồng lúa còn 3706

ha, đất lâm nghiệp – nuôi trồng thủy sản còn 784 ha Bên cạnh đó thì diện tích trồngrau và RAT trên địa bàn huyện đang ngày càng phát triển và tăng nhanh với số lượnglớn, năm 2008 diện tích rau và RAT là 600 ha và 373 ha chiếm 10,02% và 6,23% diệntích đất nông nghiệp, năm 2009 tăng lên 710 ha và 420 ha và đến năm 2010 thì tăng lênđến 769 ha và 540 ha chiếm 13,26% và 9,31%, bình quân tăng 13,21%/năm và20,32%/năm

Ngày đăng: 18/03/2017, 18:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Báo Phụ nữ Việt Nam (2010). “Vai trò đặc biệt của rau tươi”. Có thể download tại <http://www.xinhxinh.com.vn/Thucphamchuabenh/32806/vai-tro-dac-biet-cua-rau-tuoi>, ngày truy cập 20/03/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò đặc biệt của rau tươi
Tác giả: Báo Phụ nữ Việt Nam
Năm: 2010
[2] FAO (2010). “Nhu cầu tiêu thụ rau, quả Thế giới”. Có thể download tại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiêu thụ rau, quả Thế giới
Tác giả: FAO
Năm: 2010
[3] Báo mới (2008). “Vùng RAT ở đồng bằng sông Hồng”. Có thể download tại < http://www.baomoi.com/vung-rau-an-toan-o-dong-bang-songHong/45/307646>,ngày truy cập 04/04/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng RAT ở đồng bằng sông Hồng
Nhà XB: Báo mới
Năm: 2008
[4] Báo Điện tử (2010). “Chuỗi cung ứng và các giải pháp cho rau an toàn”. Có thể download tại < http://www.vietmarine.net/forum/logistics-giao-nhan-van-tai/7660-chuoi-cung-ung-và-cac-giai-phap-cho-rau-an-toan>, ngày truy cập 01/04/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Điện tử (2010). “Chuỗi cung ứng và các giải pháp cho rau an toàn
Tác giả: Báo Điện tử
Năm: 2010
[5] Bạn nhà nông (2008). “Hiện trạng sản xuất rau an toàn và giải pháp trong thời gian tới”. Có thể download tại < http://www.bannhanong.net>, ngày truy cập 19/02/2011.II - Tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng sản xuất rau an toàn và giải pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bạn nhà nông
Năm: 2008
<http://www.FAO.org/prods/gap/gapindex_en.htm>, ngày truy cập 29/03/2011 Khác
1. Họ và tên chủ hộ:……………………………………………Tuổi:…………...Giới tính:…………Trình độ: Đại học Cao đẳng Trung cấp Khác 2. Thôn:……………..Xã:…………………….Huyện: Gia Lâm Khác
3. Tình hình lao động, đất đai của hộChỉ tiêu ĐVT Số lượng1. Tổng số nhân khẩu của hộ Người2. Lao động LĐ- Số lao động nông nghiệp trong gia đình - Số lao động đi thuêLĐ 3. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp sào Trong đó: - Trồng lúa- Trồng rau - Trồng RATsào Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Diện tích trồng RAT tại TP HCM (2005 – 2010) - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Hình 2.2 Diện tích trồng RAT tại TP HCM (2005 – 2010) (Trang 32)
Hình 2.3: Tổ chức của các kênh phân phối RAT tại Hà Nội - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Hình 2.3 Tổ chức của các kênh phân phối RAT tại Hà Nội (Trang 35)
Hình 2.5: Diện tích trồng RAT được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Hình 2.5 Diện tích trồng RAT được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện (Trang 36)
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2008 – 2010) - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2008 – 2010) (Trang 41)
Bảng 3.2 : Tình hình dân số và lao động huyện Gia Lâm (2008-2010) - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Gia Lâm (2008-2010) (Trang 43)
Bảng 3.3: Tình hình phát triển kinh tế ở huyện Gia Lâm (2008 – 2010) - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế ở huyện Gia Lâm (2008 – 2010) (Trang 45)
Bảng 4.1: Diện tích RAT huyện Gia Lâm chia theo đơn vị sản xuất (2008-2010) - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.1 Diện tích RAT huyện Gia Lâm chia theo đơn vị sản xuất (2008-2010) (Trang 55)
Bảng 4.2: Diện tích một số loại rau và RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm (2008-2010) - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.2 Diện tích một số loại rau và RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm (2008-2010) (Trang 56)
Bảng 4.4: Sản lượng một số loại RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.4 Sản lượng một số loại RAT chủ yếu trên địa bàn huyện Gia Lâm (Trang 60)
Sơ đồ 4.1: Hệ thống kênh tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Sơ đồ 4.1 Hệ thống kênh tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm (Trang 64)
Bảng 4.6: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại 3 xã đại diện - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.6 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại 3 xã đại diện (Trang 66)
Sơ đồ 4.3: Kênh tiêu thụ sản phẩm của mô hình liên kết với người thu gom - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Sơ đồ 4.3 Kênh tiêu thụ sản phẩm của mô hình liên kết với người thu gom (Trang 72)
Bảng 4.12: Chi phí sản xuất 1 sào cà chua bình quân / hộ của các mô hình - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.12 Chi phí sản xuất 1 sào cà chua bình quân / hộ của các mô hình (Trang 83)
Bảng 4.14: Phân tích SWOT đối với mô hình liên kết với người thu gom - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.14 Phân tích SWOT đối với mô hình liên kết với người thu gom (Trang 91)
Bảng 4.16 : Ưu điểm và hạn chế của mỗi mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT - Nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.16 Ưu điểm và hạn chế của mỗi mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT (Trang 93)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w