Mặc dùkhông có định nghĩa chính thống và trực tiếp về SHTT, ta có thể định nghĩaquyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả laođộng sáng tạo hay uy tín
Trang 1MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Nội dung 3
Chương 1: Giới thiệu về Sở hữu trí tuệ 3
1.1 Khái niệm về Sở hữu trí tuệ 3
1.2 Phân loại Sở hữu trí tuệ 4
1.2.1 Quyền tác giả 5
1.2.2 Quyền Sở hữu Công nghiệp 5
1.2.3 Quyền đối với giống cây trồng 6
1.3 Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới và tại Việt Nam 6
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới 6
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 8
Chương 2: Quyền tác giả 15
2.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả 15
2.1.1 Khái niệm 15
2.1.2 Đặc điểm quyền tác giả 15
2.2 Đối tượng, chủ thể, nội dung quyền tác giả 16
2.2.1 Đối tượng quyền tác giả 16
2.2.2 Chủ thể quyền tác giả 19
Trang 22.2.3 Nội dung quyền tác giả 21
2.2.4 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả 24
2.2.5 Thừa kế quyền tác giả 25
2.3 Hành vi xâm phạm quyền tác giả và ngoại lệ 25
2.3.1 Hành vi xâm phạm 25
2.3.2 Các hành vi sử dụng không được coi là xâm phạm 28
2.4 Quyền liên quan 30
2.5 Quyền tác giả trong môi trường Internet 31
Chương 3: Quyền tác giả trong hoạt động thông tin thư viện 36
3.1 Tác phẩm thuộc phạm vi sử dụng công cộng 38
3.2 Tác phẩm thuộc phạm vi sử dụng bình đẳng 39
3.3 Thư viện và một số đặc quyền của Quyền tác giả 43
3.4 Quyền tác giả với việc thiết kế trang web Thư viện 48
Chương 4: Việc thực thi Quyền tác giả hiện nay và một số nhận xét, đánh giá 50
Kết luận 60 Tài liệu tham khảo
LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin và các phương tiện lưu trữ cũng như truyền tải, con người ngày càng có điều kiện thuận lợi để tiếp cận đến thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng Đây là tiền đề quan trọng thúc đẩy sự phát
Trang 3triển kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi quốc gia Nhưng sự phát triển này cũnglàm nảy sinh một số tranh chấp về sở hữu trí tuệ mà các quốc gia cũng đang hếtsức quan tâm Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang trở thànhvấn đề gắn với rất nhiều hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động thông tin –thư viện Đặc biệt trong kỷ nguyên số và sự phát triển của các hình thức thư việnhiện đại, vấn đề sở hữu trí tuệ lại càng cần được quan tâm hơn bao giờ hết
Nhận thấy đây là một đề tài còn tương đối mới mẻ và chưa được nghiên
cứu một cách đầy đủ nên em đã chọn đề tài: “Nghiên cứu về Quyền tác giả
trong hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình
về Luật SHTT trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận tập trung tìm hiểu về các khía cạnh cơ bản của Quyền tác giảtheo một số hệ thống luật trên thế giới và tại Việt Nam như: đối tượng, chủ thể,nội dung và các hành vi xâm phạm Quyền tác giả; bám sát vào các quy định tạiLuật SHTT của Việt Nam năm 2005, có sửa đổi bổ sung
Phương pháp nghiên cứu:
Trang 4Trong quá trình thực hiện Khóa luận này, em đã sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin
Bố cục của Khóa luận:
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm cácchương như sau:
Chương 1: Giới thiệu về Sở hữu trí tuệ.
Chương 2: Quyền tác giả.
Chương 3: Quyền tác giả trong hoạt động Thông tin – Thư viện.
Chương 4: Việc thực thi Quyền tác giả hiện nay và một số nhận xét, đánh giá.
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ1.1 Khái niệm về Sở hữu trí tuệ:
Trang 5Xét về góc độ lịch sử, SHTT không phải là khái niệm mới và tĩnh Mặc dùkhông có định nghĩa chính thống và trực tiếp về SHTT, ta có thể định nghĩaquyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả laođộng sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy địnhbảo hộ.
Quyền SHTT so với quyền sở hữu đối với các tài sản hữu hình khác cónhững yếu tố khác biệt cơ bản:
Thứ nhất, sự khác biệt về chủ thể Chủ thể quyền sở hữu tài sản là các cánhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước và các chủ thể khác có quyền
sở hữu tài sản mà phần lớn không phụ thuộc vào việc tài sản đó có đăng kýquyền sở hữu hay không Chủ thể của quyền SHTT là những người trực tiếpsáng tạo ra tác phẩm, công trình và được thừa nhận là tác giả, đối với chủ sở hữucác đối tượng sở hữu công nghiệp là người được cấp văn bằng bảo hộ Như vậy,chủ sở hữu các đối tượng thuộc quyền SHTT không thể là bất kì ai mà phải làngười thỏa mãn các quy định của hệ thống pháp luật về SHTT
Thứ hai, sự khác biệt về khách thể Khách thể của quyền sở hữu tài sản làvật chất hữu hình và các quyền tài sản luôn luôn xác định được bằng số lượngvật chất cụ thể Nhưng khách thể của quyền SHTT là những sản phẩm vô hình,chúng chỉ được vật chất hóa khi con người áp dụng vào sản xuất, kinh doanh,làm dịch vụ Tuy nhiên, sản phẩm trí tuệ cũng là một dạng của tài sản và cũngthuộc phạm vi quy định tại Điều 172 Bộ Luật Dân sự Theo tính chất và đặcđiểm của các sản phẩm trí tuệ thì các sản phẩm trí tuệ được pháp luật bảo hộthuộc về tài sản vì chúng thuộc về các quyền tài sản của chủ văn bằng bảo hộ
Thứ ba, sự khác biệt về thời hạn Đối với quyền sở hữu tài sản ngoài cácđối tượng SHTT, pháp luật bảo hộ vô thời hạn và chỉ khi có các căn cứ làm chấmdứt quyền sở hữu tài sản thì quyền sở hữu của một chủ thể đối với tài sản mới
Trang 6chấm dứt Trong các giao dịch chuyển giao vật và quyền sở hữu đối với vật thìquyền sở hữu tài sản lại được xác lập ở một chủ thể được chuyển giao, trừ trườnghợp tài sản là vật bị tiêu hủy Đối với quyền SHTT, pháp luật chỉ bảo hộ trongmột thời hạn nhất định mà không bảo hộ quyền đó vĩnh viễn
Thứ tư, nội dung quyền SHTT và quyền sở hữu các tài sản khác cũng baogồm ba quyền năng gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.Tuy nhiên, chủ sở hữu tài sản là vật chất thì khi thực hiện các quyền năng trênkhông giống như chủ văn bằng bảo hộ thực hiện các quyền năng của mình đốivới các sản phẩm trí tuệ Các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản không thuộcđối tượng SHTT cũng có sự khác biệt so với căn cứ xác lập quyền sở hữu đối vớicác sản phẩm thuộc quyền SHTT
Ngoài ra, một yếu tố khác biệt rất đặc thù giữa quyền sở hữu tài sản vàquyền SHTT là tài sản thuộc SHTT là tài sản vô hình Do vậy, nguy cơ bị xâmphạm là rất lớn và việc xác định thiệt hại cũng rất phức tạp Quyền SHTT luôn bị
đe dọa xâm phạm, có nguy cơ bị xâm phạm rất lớn và thường tập trung vào mặthàng thương mại của các sản phẩm SHTT Những hành vi xâm phạm đến quyềnSHTT thường diễn ra, đặc biệt đối với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng côngnghiệp, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học
1.2 Phân loại Sở hữu trí tuệ:
Ở các nước, khái niệm bản quyền (copyright) hay sáng chế (patent) xuấthiện từ thế kỷ 17 và thế kỷ 18 Danh từ “Sở hữu trí tuệ” xuất hiện lần đầu tiênvào năm 1952 bởi giáo sư A Bogsch, Giám đốc Văn phòng Quốc tế về Quản lýSáng chế (BIRPI) đưa ra Luật Việt Nam cũng như luật của các nước khác trênthế giới không có định nghĩa trực tiếp về SHTT, mà chỉ có định nghĩa gián tiếpthông qua phân loại SHTT thành Quyền tác giả, Quyền Sở hữu Công nghiệp vàQuyền đối với giống cây trồng
Trang 71.2.1 Quyền tác giả:
Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ
sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật Quyềntác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền Đối với quyền tác giả, chủ sởhữu quyền tác giả được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm Mọi hành visao chép, trích dịch, công bố phổ biến nhằm mục đích kinh doanh mà không có
sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả.Sao băng đĩa lậu, sao chép phần mềm vi tính, in lậu sách giáo khoa bán ra thịtrường, v.v cũng là hành vi xâm phạm quyền tác giả Trong một số trường hợp,pháp luật cho phép chúng ta sao chép, trích đoạn một phần của tác phẩm Nhữngtrường hợp này được gọi là sử dụng hạn chế
1.2.2 Quyền Sở hữu Công nghiệp:
Quyền Sở hữu Công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháphữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọixuất xứ hàng hóa), tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi cạnhtranh không lành mạnh và các quyền Sở hữu Công nghiệp khác do pháp luật quyđịnh Quyền Sở hữu Công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đíchkinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu côngnghiệp
Luật về Sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tínkinh doanh Sở hữu Công nghiệp không phải là một loại sở hữu có liên quan đếntài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình.Điều mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách thể) trong quan hệ pháp luật dân sự
về sở hữu công nghiệp không phải là kiểu dáng một chiếc xe hay một dấu hiệugắn trên hàng hóa, mà là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay
Trang 8nhãn hiệu, là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữuđối tượng đó.
1.2.3 Quyền đối với giống cây trồng
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giốngcây trồng mới do mình chọn tạo, phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền
sở hữu Điều mà pháp luật hướng tới bảo vệ đối với giống cây trồng chính là tínhmới, tính ổn định, đồng nhất và khả năng phân biệt với các giống cây trồng khác.Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định của Bằng bảo
hộ giống cây trồng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng kýquy định tại Luật SHTT
Trên đây là 3 thành phần của SHTT Nội dung của Khóa luận này sẽ tậptrung nghiên cứu về Quyền tác giả Những tìm hiểu chi tiết hơn về nội dung này
sẽ được đề cập ở những phần sau của Khóa luận
1.3 Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới.
Hệ thống pháp luật về SHTT của các nước trên thế giới được hình thànhvào các thời điểm khác nhau Ở một số nước, pháp luật về SHTT được hìnhthành rất sớm Ở một số nước khác, nó lại được hình thành muộn hơn nhưngnhìn chung pháp luật về quyền SHTT dù của nước này hay nước khác thì đềuphải thường xuyên được bổ sung để ngày một hoàn thiện hơn Hiệu lực pháp luậtcủa các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực SHTT từng bước được nâng cao nhằmthỏa mãn yêu cầu xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia trong mọi lĩnh vựccủa đời sống kinh tế - xã hội Bên cạnh pháp luật riêng biệt của mỗi quốc gia quy
Trang 9định về quyền SHTT còn có hệ thống các điều ước quốc tế về lĩnh vực SHTTđược hình thành Đó là những quy định ngoại lệ đối với những quyền được côngnhận lẫn nhau trong các hiệp định giữa các nước về quyền SHTT.
Vai trò của Nhà nước trong việc bảo hộ Quyền tác giả nói riêng, và QuyềnSHTT nói chung là rất quan trọng Thông qua việc bảo hộ quyền SHTT, Nhànước khuyến khích mọi người không ngừng lao động sáng tạo, và tạo điều kiện
để họ được hưởng thành quả lao động sáng tạo của mình Nhờ có sự phong phú
đa dạng về tác phẩm hay các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà nền văn hóa,khoa học, nghệ thuật của một quốc gia mới phát triển Các quốc gia bảo vệquyền SHTT mạnh mẽ nhất (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu) là các quốc gia có nềnvăn hóa, khoa học, nghệ thuật phát triển mạnh nhất
Quyền tác giả trên thế giới phát sinh cùng với sự phát triển của công nghệ
in ấn Trước khi công nghệ in ấn ra đời, các quyển sách thường được chép tay
Vì thế, khả năng người khác sao chép tác phẩm gốc không nhiều Khi công nghệ
in ấn ra đời, một quyển sách có thể được nhân thành nhiều bản Tác giả khôngthể kiểm soát, quản lý được bao nhiêu người đang đọc quyển sách của mình, vàtrong số đó bao nhiêu người đã bỏ tiền ra mua sách do mình in, còn lại bao nhiêungười đã mua sách từ những nhà in lậu Chính vì vậy mà các tác giả và các nhà
in đã kiến nghị Nhà nước của mình bảo hộ quyền được in ấn và quản lý việc xuấtbản, in ấn
Nước đầu tiên ban hành luật về Quyền tác giả là Anh, nơi khởi đầu cuộccách mạng công nghiệp (theo luật của Nữ Hoàng Anne năm 1709) Sau đó đếnHoa Kỳ (1790), Pháp (1791), v.v Như vậy, quyền tác giả phát sinh tại nhữngnước theo hệ thống luật Anh-Mỹ trước, rồi mới đến các nước theo hệ thống luậtlục địa Mối quan tâm ban đầu của quyền tác giả là việc nhân bản, sao chép cáctác phẩm Chính vì thế mà ở các nước theo luật Anh-Mỹ, luật về quyền tác giả
Trang 10được gọi là luật về sao chép (copyright, hay bản quyền) Tại các nước theo luậtlục địa, luật về quyền tác giả từ khi hình thành đã nhắm đến các giá trị nhân thâncủa tác giả, chính vì thế mà ở các nước này đã sử dụng danh từ “quyền tác giả”(theo tiếng Pháp là droit d’auteur).
Kể từ khi luật về quyền tác giả ra đời, các loại hình tác phẩm được bảo hộdưới dạng quyền tác giả ngày một tăng, cùng với sự phát triển của các phươngtiện lưu trữ, truyền thông Ban đầu là các tác phẩm viết, tác phẩm sân khấu, rồiđến tác phẩm điện ảnh, video, chương trình máy tính và gần đây là các phươngtiện truyền thông đa phương diện (multimedia) và Internet Điều đó có nghĩa làcác loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả sẽ còn tiếp tục đượcgia tăng trong tương lai
Luật về Sở hữu Công nghiệp lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới năm 1640tại Anh (Đạo luật Elizabeth I về sáng chế) Nhãn hiệu hàng hóa đầu tiên trên thếgiới cũng được cấp tại Anh Các luật này chủ yếu nhằm vào việc bảo hộ việckhai thác các lợi ích kinh tế của thành quả sáng tạo mang lại Các công ty nắmbằng độc quyền sáng chế mau chóng trở thành các đại công ty, là cơ hội pháttriển mau chóng của những người đi tiên phong và luôn năng động, sáng tạo
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt
Nam
Có thể nói, quá trình phát triển các quy định về quyền SHTT tại Việt Namđược chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn trước khi ra đời Bộ Luật Dân sự 1995: Xuất phát điểm của
Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do trải qua nhiều cuộc chiếntranh Vì vậy, luật về SHTT của chúng ta ra đời muộn hơn ở những nước khác.Mãi đến năm 1957, miền Nam mới ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958,Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ban hành “Thể lệ về thương phẩm
Trang 11và thương hiệu” Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao Năm
1976, Việt Nam đã tham gia Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) Ngày 14tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HĐBT banhành “Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hóa” Đây là văn bản đầu tiên chính thức nhắcđến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp
Tuy vậy, luật về SHTT chỉ thực sự phát huy tác dụng kể từ sau Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI Phương hướng của Đại hội Đảng đề ra đã được thểchế hóa tại Điều 60 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Namnăm 1992: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sángchế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học,nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác Nhà nước bảo hộ quyền tácgiả, quyền sở hữu công nghiệp”
Ngày 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa IX đã thông qua BộLuật Dân sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chính thức thiết lậpchế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệtại Việt Nam
Luật về quyền tác giả Việt Nam được xây dựng từ những năm 1970 và kếtquả đầu tiên là Nghị định 84/CP về quyền tác giả, ra đời năm 1989 Sau đó, với
sự giúp đỡ của WIPO, chúng ta đã soạn thảo và ban hành Pháp lệnh bảo hộquyền tác giả năm 1994, trong đó các điều luật đã được điều chỉnh sao cho phùhợp với các tiêu chuẩn của Công ước Berne, mặc dù Việt Nam vẫn chưa phải làthành viên của Công ước (cho đến tháng 10 năm 2004) Những điểm giống nhaugiữa luật Việt Nam về quyền tác giả và nội dung của Công ước Berne bao gồm:khái niệm tác giả, nội dung quyền tác giả (quyền nhân thân và quyền tài sản),thời hạn bảo hộ quyền tác giả, tiêu chuẩn bảo hộ một tác phẩm dưới dạng quyềntác giả
Trang 12Giai đoạn từ khi Bộ Luật Dân sự 1995 ra đời đến khi ban hành Bộ Luật Dân sự 2005: Tuy ra đời sau các nước khác trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp, pháp luật Việt Nam đã có những bước đi đáng khâm phục, nổi bậtnhất là việc ban hành Bộ Luật Dân sự 1995 và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tháng 5 năm 2005, Bộ Luật Dân sự 1995 được sửa đổi bổ sung cơ bản(gọi tắt là Bộ Luật Dân sự 2005) Và Bộ Luật Dân sự 2005 chính thức thay thế
Bộ Luật Dân sự 1995 từ ngày 01/01/2006, vì thế các văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ Luật Dân sự 1995 chỉ còn phát huy tác dụng tạm thời trước khi được các vănbản hướng dẫn Luật SHTT 2005 thay thế Trong Bộ Luật Dân sự 2005, các quyđịnh về SHTT đã được đơn giản và thu hẹp nhiều Chúng chỉ còn đóng vai tròhướng dẫn chung, cho thấy quyền SHTT về bản chất là một quyền dân sự, cónhững phương pháp điều chỉnh như phương pháp điều chỉnh của luật dân sự,song cũng có những tính chất riêng
Giai đoạn từ khi ra đời Luật SHTT năm 2005: Tại kỳ họp Quốc hội
Khóa X, Kỳ họp thứ 10, vào ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT –Luật số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội ban hành với số phiếu gần như tuyệtđối (368/370), có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 Như vậy, Luật SHTT đã trở thànhmột ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Luật SHTT đãtiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luậtViệt Nam về quyền SHTT, đã được thẩm định trong thực tiễn Lợi ích của cácchủ thể sáng tạo, khai thác sử dụng và công chúng hưởng thụ đã được điều chỉnhkhá hài hòa Các quy phạm pháp luật đã tương thích với hầu hết các điều ướcquốc tế có liên quan, các hiệp định song phương đảm bảo thuận lợi cho việc hộinhập vào cộng đồng quốc tế Lợi ích quốc gia thể hiện tại các điều luật đã đượcBan soạn thảo, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội quan tâm trong
Trang 13suốt quá trình chuẩn bị, soạn thảo, và thông qua Luật SHTT Như vậy, đây là lầnđầu tiên Việt Nam có một đạo luật riêng về SHTT được ban hành ở cấp cao nhất.
Trên đây là quá trình hình thành và phát triển Luật SHTT trên thế giới vàtại Việt Nam Song song với sự phát triển luật pháp tại mỗi quốc gia là các điềuước quốc tế Một số các điều ước quốc tế phổ biến như:
- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
- Công ước Quyền tác giả toàn cầu
- Công ước Geneve về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc saochép không được phép bản ghi âm của họ
- Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối các tín hiệu mangchương trình truyền qua vệ tinh
- Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm,
tổ chức phát sóng
- Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyềnSHTT
- Hiệp ước WCT của WIPO về bản quyền
- Hiệp ước WPPT của WIPO về trình diễn và ghi âm
Sau đây là ví dụ về một số quốc gia trên thế giới tham gia các điều ướcquốc tế:
Khu vực /
Quốc gia
Công ước Berne
Công ước Quyền tác giả toàn cầu
Công ước Rome
Công ước bảo
hộ bản ghi âm
Thỏa thuận WTO
WCT WPPT
Trang 15số điều ước liên quan đến bảo hộ quyền tác giả như: Công ước Berne về bảo hộcác tác phẩm văn học, nghệ thuật; Hiệp định TRIPs về những khía cạnh liênquan tới quyền sở hữu trí tuệ; Hiệp ước WIPO về quyền tác giả và về biểu diễn,ghi âm Việt Nam cũng đã ký một số hiệp định song phương với một số quốcgia về bản quyền và các vấn đề liên quan tới quyền tác giả như: Hiệp định ViệtNam - Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả; Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ
về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trang 16CHƯƠNG 2: QUYỀN TÁC GIẢ2.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả
2.1.1 Khái niệm
Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữuquyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bấthợp pháp Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền
Về khái niệm pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định vàbảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giảđối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học
Từ khái niệm quyền tác giả, các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luậtdân sự quyền tác giả được thể hiện rõ Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự này
là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Khách thể hay đối tượng của quan hệpháp luật dân sự này là các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật Nội dung
Trang 17của quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các quyền nhân thân và quyềntài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Quyền tác giả đã khuyến khích nhiều nhà văn, nghệ sỹ, nhà khoa học sángtạo Nói như vậy không có nghĩa là phải là một nhà văn danh tiếng, một nhạc sỹnổi tiếng hay một đạo diễn chuyên nghiệp mới có quyền tác giả Quyền tác giảxuất hiện không phụ thuộc vào nội dung hay chất lượng tác phẩm
2.1.2 Đặc điểm quyền tác giả
Quyền tác giả có hai đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội
dung sáng tạo Mặt khác, nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nộidung của ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ Quyền tác giả bảo
hộ tác phẩm, còn tác phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhấtđịnh Quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới mộthình thức nhất định Nói cách khác, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật dân sự vềquyền tác giả là các hành vi pháp lý Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước sẽkhông xem xét nội dung tác phẩm, và việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ cógiá trị chứng cứ mà không có giá trị pháp lý như đăng ký bảo hộ quyền sở hữucông nghiệp
Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao
chép, bắt chước tác phẩm khác Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩmphải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giảsáng tạo ra Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ phải do chính sức laođộng trí óc của tác giả tạo ra
2.2 Đối tượng, chủ thể và nội dung quyền tác giả
2.2.1 Đối tượng quyền tác giả
Trang 182.2.1.1 Tác phẩm trong nước hay do người Việt Nam sáng tạo
Quyền tác giả là quyền SHTT có đối tượng điều chỉnh rộng lớn nhất Điều
14 Luật SHTT liệt kê các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:
- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác
phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác
- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác
Trang 19- Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công
trình khoa học
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
- Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định nếu không gây
tổn hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tácphẩm phái sinh
- Những tác phẩm được bảo hộ này phải do tác giả trực tiếp sáng
tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩmcủa người khác
Trong các hình thức thể hiện tác phẩm được nhắc đến ở Điều 14 LuậtSHTT, có một khái niệm dễ hình dung nhưng khó định nghĩa và khó xác địnhphạm vi bảo hộ, đó là chương trình máy tính Tuy không có định nghĩa trực tiếpnhưng khái niệm này đã được nhắc đến ở Điều 6 Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả.Theo đó, chương trình máy tính là một hoặc một nhóm chương trình được biểuhiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó và các tệp dữliệu có liên quan, chỉ dẫn cho máy tính hoặc hệ thống tin học biết phải làm gì đểthực hiện nhiệm vụ được đề ra; có thể được cài đặt bên trong máy tính hoặc dướihình thức văn bản, đĩa mềm, CD-ROM
Danh sách các tác phẩm được nêu trong Điều 14 Luật SHTT không cốđịnh, và số loại hình tác phẩm sẽ ngày một tăng với sự ra đời của các phươngtiện lưu trữ và truyền tải thông tin hiện đại, ví dụ như cơ sở dữ liệu (database),truyền thông đa phương tiện (multimedia), hay xa lộ thông tin (internet) Cácloại hình này được tập trung thành ba nhóm: các tác phẩm văn học, khoa học,nghệ thuật Tuy vậy, cũng có trường hợp một tác phẩm vừa là một tác phẩm
Trang 20khoa học, vừa là một tác phẩm nghệ thuật Cách phân loại này tương tự với cáchphân loại tác phẩm ở các nước theo hệ thống luật lục địa (continental law) Ở cácnước theo hệ thống luật Anh – Mỹ, người ta phân chia tác phẩm thành 3 loại sau:các tác phẩm viết (written works), tác phẩm âm thanh (sound recordings) và tácphẩm hình ảnh (motion pictures).
Cách phân loại nói trên không làm ảnh hưởng đến tiêu chuẩn bảo hộ củatác phẩm Các tác phẩm được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thểhiện và chất lượng tác phẩm Tuy nhiên, không phải bất cứ hình thức thể hiệnnào cũng được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả Để được bảo hộ, một tác phẩmphải được chấp nhận về mặt nội dung, được thể hiện dưới một hình thức nhấtđịnh và có tính nguyên gốc
Sự sáng tạo của một tác giả không nhất thiết phải độc lập với sự sáng tạocủa tác giả khác Các tác phẩm dẫn xuất từ những tác phẩm khác cũng được bảo
hộ dưới dạng quyền tác giả, ví dụ như tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyểnthể, tuyển tập, biên soạn, sưu tầm
Theo Bộ Luật Dân sự 1995, một số tác phẩm được bảo hộ theo quy chếriêng, đó là: tin tức thời sự thuần túy đưa tin, tác phẩm văn học nghệ thuật dângian, văn bản pháp luật và bản dịch của những văn bản đó Theo Luật SHTT,trong các tác phẩm trên, chỉ có tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là đượcbảo hộ theo quy chế riêng (Điều 23 Luật SHTT) Các tin tức thời sự thuần túyđưa tin hoặc văn bản pháp luật đều không được bảo hộ (Điều 15 Luật SHTT)
2.2.1.2 Tác phẩm do người nước ngoài sáng tạo
Hiện tại, Việt Nam đã gia nhập Công ước Berne nên các tác phẩm nướcnước ngoài (là thành viên của Công ước Berne) sẽ được bảo hộ tại Việt Namtheo quy định của Nghị định số 60/CP ngày 06/06/1997 của Chính phủ hướngdẫn thi hành các quy định của Bộ Luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước
Trang 21ngoài Ngoài ra, theo Điều 12 của Nghị định 60, Nhà nước CHXHCN Việt Namcòn bảo hộ các tác phẩm của người nước ngoài lần đầu tiên được hình thành,công bố, phổ biến tại Việt Nam, với điều kiện là chúng phải thỏa mãn các điềukiện về nội dung (không phải là tác phẩm phản động, văn hóa đồi trụy,…).
Đối với các tác phẩm được hình thành tại một nước có Hiệp định tươngtrợ về bảo hộ bản quyền (như Hoa Kỳ), hay do công dân các nước đó sáng tạo,thì tác phẩm này cũng được bảo hộ tại Việt Nam như các tác phẩm Việt Nam
2.2.2 Chủ thể của quyền tác giả
Các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả baogồm tác giả (đồng tác giả) và chủ sở hữu quyền tác giả
2.2.2.1 Tác giả
Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hay một phần tác phẩm(Khoản 1 Điều 13 Luật SHTT) “Sáng tạo” trong quan hệ pháp luật dân sự vềquyền tác giả được coi là việc “sử dụng sức lao động và khả năng suy xét” để tạo
ra tác phẩm
Điểm mấu chốt để xác định quyền tác giả là tác phẩm phải mang tínhnguyên gốc Các khái niệm “nguyên gốc” và “trực tiếp sáng tạo” có liên quanđến nhau Khi tác giả sáng tạo một tác phẩm thì đương nhiên tác phẩm đượcsáng tạo đó phải mang tính nguyên gốc, trừ khi tác giả sao chép từ một tác phẩmkhác Bên cạnh đó, luật Việt Nam cũng công nhận người dịch, phóng tác, cảibiên, chuyển thể, sưu tầm, tuyển chọn từ những tác phẩm khác cũng là tác giả.Như vậy, một người chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi mà người đótrực tiếp sáng tạo Để đánh giá một tác phẩm có phải là nguyên gốc hay khôngcần phải xem có phần nào của tác phẩm đã được sáng tạo Trong tác phẩm dịch,việc thể hiện, cách đặt câu của dịch giả là một sự sáng tạo mang tính nguyên gốc
Trang 22Trong tác phẩm tuyển chọn, cách sắp xếp các tác phẩm khác nhau vào một tổngthể mang tính logic là một sáng tạo mang tính nguyên gốc.
Bên cạnh khái niệm tác giả còn có khái niệm đồng tác giả Đó là nhữngngười cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm Có 2 loại đồng tác giả Loại thứ nhất
là những người cùng sáng tạo ra một tác phẩm thống nhất mà phần sáng tác củamỗi người không thể tách ra để sử dụng riêng Trong trường hợp này, vị trí củacác đồng tác giả gần giống như vị trí của những chủ sở hữu chung hợp nhất Loạithứ hai là những người cùng sáng tác ra một tác phẩm thống nhất mà phần sángtác của mỗi người có thể tách ra để sử dụng riêng Vị trí của các đồng tác giả lúcnày sẽ giống như vị trí của những sở hữu chung theo phần
2.2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là người độc quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm.Trong đa số các trường hợp, tác giả sẽ đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả.Tuy nhiên, nếu tác phẩm được hình thành do có các tổ chức, cá nhân thuê, giaonhiệm vụ cho tác giả thì các tổ chức, cá nhân này sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả.Ngoài ra, người được chuyển giao quyền tác giả, hay người thừa kế của tác giảđồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả cũng là chủ sở hữu quyền tác giả
Tóm lại, nhiều trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyềntác giả và ngược lại Việc phân biệt giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả làquan trọng Vì chủ sở hữu quyền tác giả mới chính là người có quyền sử dụng,định đoạt tác phẩm Xét về khía cạnh kinh tế thì chủ sở hữu quyền tác giả đóngvai trò quan trọng hơn tác giả Vì khi sử dụng hay trình diễn tác phẩm, các chủthể khác phải xin phép hay trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả
2.2.3 Nội dung quyền tác giả
Trang 23Nội dung quyền tác giả bao gồm các quyền của các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật dân sự này, cụ thể là của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Đócũng là trọng tâm của sự ra đời luật bảo hộ quyền tác giả Như vậy, quyền tác giảkhông chỉ đơn thuần là quyền của tác giả mà còn là quyền của chủ sở hữu quyềntác giả Hiện nay, quyền tác giả được tập trung lại thành hai mảng lớn: quyềnnhân thân (Điều 19 Luật SHTT) và quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT)
2.2.3.1 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản vàquyền nhân thân gắn với tài sản
Các quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền vớicác giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển giao, bao gồm ba quyền:quyền được đặt tên tác phẩm, đứng tên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của nộidung tác phẩm Vì là quyền nhân thân không được chuyển giao nên nó chỉ đượcdành cho tác giả (cho dù đồng thời hay không đồng thời là chủ sở hữu quyền tácgiả) Các quyền này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và danh dự của tác giả, tồntại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sửdụng, định đoạt tác phẩm đã được chuyển giao Các quyền nhân thân không gắnvới tài sản được bảo hộ vô thời hạn, khác với các quyền khác được bảo hộ cóthời hạn
Mặc dù quyền nhân thân không gắn với tài sản cũng là quyền quan trọng,nhưng quyền quan trọng nhất trong tất cả các nội dung của quyền tác giả là cácquyền nhân thân gắn với tài sản Đó là quyền cho hay không cho người khác sửdụng tác phẩm Chính từ này làm phát sinh bản chất độc quyền của tác giả.Quyền này là quyền nhân thân có thể chuyển giao, gắn với các quyền tài sảntrong chế định quyền tác giả Vì thế, nó chỉ dành cho chủ sở hữu quyền tác giả
và tác giả nếu như tác giả cũng đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả
Trang 24Việc quy định bảo hộ quyền nhân thân không gắn với tài sản trong luật vềquyền tác giả chỉ có ở các nước theo hệ thống luật lục địa, không có ở các nướctheo hệ thống luật chung, một phần vì họ coi các quyền này là điều hiển nhiên.Đối với quyền nhân thân gắn với tài sản, khái niệm này cũng chỉ tồn tại ở cácnước theo hệ thống luật xã hội chủ nghĩa trước đây (Nga, Ba Lan,…), không tồntại ở các nước theo hệ thống luật lục địa khác như Pháp, Đức Tại các nước này,các quyền cho hay không cho người khác sử dụng tác phẩm được coi là mộtquyền tài sản (quyền định đoạt với tác phẩm của mình).
2.2.3.2 Quyền tài sản
Theo luật Việt Nam, quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng và quyền đượchưởng thù lao giải thưởng Thông thường, chủ sở hữu quyền tác giả được hưởngquyền sử dụng, còn tác giả được hưởng thù lao, giải thưởng
Quyền sử dụng bao gồm quyền công bố, phổ biến, trình diễn, sao chép, cảibiên, chuyển thể, ghi âm, ghi hình, phát thanh truyền hình, cho thuê tác phẩm.Quyền sử dụng này gắn liền với quyền nhân thân gắn với tài sản (cho/không cho
sử dụng tác phẩm) Vì thế, mọi hành vi sử dụng tác phẩm (sao chép, dịch,chuyển thể,…) mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là xâm phạm quyềntác giả, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác
Các hành vi sử dụng tác phẩm quan trọng nhất bao gồm:
- Sao chép và phân phối, bán tác phẩm: hành vi sao chép có thể bao
gồm sao chép toàn bộ tác phẩm, hay một phần quan trọng của tácphẩm Sao chép khác với trích dẫn Trích dẫn là việc sử dụng mộtphần tác phẩm (không đáng kể) của người khác để nêu bật ý củatác giả Việc trích dẫn phải không đơn thuần vì mục đích kinhdoanh, không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng bình thường tácphẩm và phải nêu nguồn gốc tác phẩm Các hành vi sử dụng
Trang 25không phải là trích dẫn đều có thể bị coi là sao chép và phải được
sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả
- Công bố, phổ biến, phát thanh, truyền hình: quyền này còn được
gọi là quyền “truyền thông đến công chúng” (communication tothe public) bao gồm các hành vi trình diễn, phân phối tác phẩmđến một số lượng đáng kể người sử dụng Việc đưa một tác phẩmlên Internet ngày nay cũng được coi là truyền thông đến côngchúng
- Dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, tuyển tập, chú giải (còn gọi
là làm tác phẩm phái sinh) Khi một người muốn dịch, cải biên,chuyển thể một tác phẩm, họ phải xin phép chủ sở hữu quyền tácgiả gốc Ngoài ra, khi một nhà xuất bản muốn phát hành một tácphẩm viết, nhà xuất bản cũng phải xin chấp thuận của chủ sở hữuquyền tác giả Mọi hành vi sử dụng tác phẩm mà không được sựđồng ý từ trước của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là xâmphạm quyền tác giả (trừ các trường hợp sử dụng hạn chế do phápluật quy định) Tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thểđược coi là những tác phẩm riêng, khác với tác phẩm gốc
2.2.4 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được hình thành cho đến hết 50năm kể từ khi tác giả qua đời, trừ trường hợp pháp luật quy định khác Trongthời hạn bảo hộ, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền cấm các chủ thể khác sửdụng tác phẩm của mình vào mục đích kinh doanh, đồng thời yêu cầu người sửdụng trả thù lao quyền tác giả Hết thời hạn này, tác phẩm trở thành tài sản côngcộng và bất kì ai cũng có thể sử dụng tác phẩm đó để kinh doanh mà không cầnphải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả
Trang 26Các trường hợp pháp luật quy định khác như đã nói ở trên bao gồm:
- Các quyền nhân thân không gắn với tài sản của tác giả được bảo
hộ vô thời hạn
- Đối với đồng tác giả, tác phẩm được bảo hộ cho đến hết 50 năm
kể từ khi đồng tác giả sau cùng qua đời Nếu tác phẩm không rõtác giả hay khuyết danh thì Nhà nước được hưởng quyền tác giả.Nếu trong vòng 50 năm kể từ ngày được công bố đầu tiên mà pháthiện được tác giả thì tác giả được hưởng quyền từ khi được pháthiện cho đến hết thời hạn hưởng quyền theo quy định của phápluật
- Hiện nay, thời hạn bảo hộ đã được sửa đổi thành 75 năm đối với
loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứngdụng, tác phẩm khuyết danh; bản ghi âm, ghi hình, chương trìnhphát sóng, để cân bằng lợi ích giữa các loại hình, phù hợp với xuthế chung trên thế giới, vì tuổi thọ bình quân của con người đãđược nâng lên (người Việt Nam có tuổi thọ bình quân là 73 tuổi)
2.2.5 Thừa kế quyền tác giả
Vấn đề thừa kế được quy định ở Điều 40 Luật SHTT Trên nguyên tắc,mọi thứ chuyển giao được đều có thể được thừa kế Mọi quyền tài sản cũng đềuđược thừa kế vì chúng nằm trong khái niệm di sản Thừa kế quyền tác giả về bảnchất và nội dung cũng không khác gì so với các quyền thừa kế thông thường.Ngoài ra, có hai vấn đề cần lưu ý là: việc thừa kế quyền tác giả không kéo dàimãi mãi mà chỉ kéo dài trong thời hạn bảo hộ Thứ hai là nếu không có ngườithừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hay không được quyền hưởng di sảnthì quyền tác giả thuộc về Nhà nước
Trang 272.3 Hành vi xâm phạm quyền tác giả và ngoại lệ
2.3.1 Hành vi xâm phạm
Xâm phạm là các hành vi sử dụng tác phẩm hay cuộc biểu diễn nhằm mụcđích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền tác giả, trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác Các hành vi này còn gọi là hành vi ăn cắp bảnquyền hay sao chép lậu (piracy) Các hành vi xâm phạm theo Điều 28 LuậtSHTT được liệt kê như sau:
- Xâm phạm quyền nhân thân không gắn với tài sản: chiếm đoạt
quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,mạo danh tác giả, sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dướibất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự hay uy tín củatác giả
- Xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản: công bố, phân phối
tác phẩm mà không được phép của tác giả; công bố, phân phối tácphẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó
- Xâm phạm quyền tài sản: trừ trường hợp pháp luật cho phép, hành
vi xâm phạm là hành vi sao chép tác phẩm, làm tác phẩm pháisinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giảtác phẩm gốc; xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sởhữu quyền tác giả; làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bịgiả mạo; sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữuquyền tác giả; xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm
mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; không trả tiềnnhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của phápluật; cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và
Trang 28Như vậy, không những hành vi sao chép, bán tác phẩm sao chép lậu bị coi
là xâm phạm, mà hành vi mua những sản phẩm đó, dù để sử dụng hay để bán,tặng, cho cũng bị coi là xâm phạm quyền tác giả
Thông thường, muốn chứng minh một hành vi sử dụng một tác phẩm làhành vi xâm phạm quyền tác giả, nguyên đơn phải chứng minh ít nhất được bavấn đề:
- Quyền sở hữu đối với tác phẩm của mình – thời điểm hình thành
và hình thức thể hiện
- Tác phẩm của bị đơn ra đời sau tác phẩm của nguyên đơn, song
lại giống toàn bộ hoặc phần lớn các yếu tố cơ bản trong tác phẩmcủa nguyên đơn
- Bị đơn biết cụ thể về tác phẩm của nguyên đơn, kể cả hình thức
thể hiện và nội dung
Sau khi chứng minh được ba vấn đề trên, nghĩa vụ chứng minh rằng hành
vi của mình không xâm phạm quyền tác giả của chủ thể khác được chuyển sangcho bị đơn Bị đơn có thể tự bảo vệ bằng những luận điểm sau đây:
- Có sự khác biệt cơ bản giữa hai tác phẩm
- Hành vi sao chép của mình chỉ tập trung vào nội dung chứ không
phải là hình thức của tác phẩm của nguyên đơn
- Hành vi sao chép của mình thuộc vào trường hợp không phải xin
phép nguyên đơn
Trong các hành vi xâm phạm quyền tài sản, Luật SHTT đã bổ sung nhữnghành vi xâm phạm trong môi trường kỹ thuật số, bao gồm:
Trang 29- Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt
tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phươngtiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tácgiả
- Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật do chủ
sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả; cố ý xóa,thay đổi thông tin quản lý quyền (digital rights management – ví
dụ các mã số để máy đọc có thể đọc đĩa quang học) dưới hìnhthức điện tử có trong tác phẩm
- Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán
hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm
vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thựchiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình
Trong số các hành vi xâm phạm, sao chép lậu là hành vi phổ biến vànghiêm trọng nhất Quyền quan trọng nhất trong các quyền tác giả hay quyềnliên quan là quyền cho hay không cho người khác sử dụng tác phẩm, cuộc biểudiễn của mình Nó thể hiện bản chất độc quyền của quyền tác giả và quyền liênquan Các hành vi xâm phạm phổ biến nhất bao gồm: sao chép giản đơn , làm giả(nhái) và làm lậu (chuyển thể mà không xin phép) Ngoài ra, sự phát triển hếtsức nhanh chóng của các mạng truyền thông, đặc biệt là Internet, đã làm cho việcsao chép tác phẩm qua mạng trở nên hết sức dễ dàng
Các công cụ sao chép ngày càng nhiều, tốc độ ngày càng nhanh và giáthành ngày càng giảm làm vấn đề xâm phạm quyền tác giả ngày càng trầm trọng.Xét về khía cạnh nhân thân, những người sao chép, ăn cắp thành quả lao độngsáng tạo của người khác đã xúc phạm đến uy tín của cá nhân và cả của tổ chức.Xét về khía cạnh kinh tế, những người sao chép tác phẩm của người khác để
Trang 30kinh doanh không phải nộp thuế và trả thù lao cũng như phí license hay quảngcáo Vì vậy, họ đã được lợi bất chính từ thành quả lao động của người khác Cáchành vi này xâm hại lợi ích của chủ thể quyền, những người trung gian (pháthành tác phẩm), người tiêu dùng (vì mua phải sản phẩm kém chất lượng) và Nhànước (vị bị thất thu thuế).
2.3.2 Các hành vi sử dụng không bị coi là xâm phạm
Hành vi sử dụng với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả không bị coi
là xâm phạm quyền tác giả Ngoài ra, việc sử dụng tác phẩm nước ngoài mànước đó không có thỏa thuận, trực tiếp hay gián tiếp, về bảo hộ quyền tác giả vớiViệt Nam cũng không bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả, vì Việt Namchưa tham gia Công ước Berne (cho tới tháng 10 năm 2004) Trên nguyên tắc,chủ sở hữu quyền tác giả được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam chống lại hành vixâm phạm tại Việt Nam Đối với hành vi xâm phạm tại nước khác thì được xửtheo luật của nước khác, trừ trường hợp giữa hai nước có thỏa thuận khác Ngườinước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam đối với tác phẩm lần đầu tiên được công
bố, phổ biến hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức nhất định tại mộtnước là thành viên của Công ước Berne Điều này không khó khăn vì hiện nay,tất cả các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đều là thànhviên Công ước Berne
Một giới hạn quan trọng của quyền tác giả là các hành vi sử dụng hạn chế(fair use) – trước đây được quy định tại Điều 760 và 761 Bộ Luật dân sự 1995(không áp dụng cho tác phẩm tạo hình và phần mềm máy tính) Theo quy địnhcủa Điều 760 Bộ Luật Dân sự 1995, mọi người đều được sử dụng một tác phẩm
mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả nếu:
- Tác phẩm đó đã được công bố, phổ biến và không bị cấm sao
chép
Trang 31- Việc sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh.
- Việc sử dụng không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường
của chủ sở hữu quyền tác giả
- Người sử dụng nhắc đến tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm
Các quy định này thực chất là tuân thủ theo các quy định tại Điều 13 Thỏaước TRIPS và Điều 9 Khoản 2 Công ước Berne
Hiện nay, mọi hành vi sử dụng tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình hayphần mềm máy tính mà không xin phép đều bị coi là hành vi xâm phạm Điềuđáng nói là tình trạng xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm lại là nghiêmtrọng nhất (trên 90% phần mềm sử dụng không trả tiền bản quyền)
Ngoài ra, các quyền của tổ chức phát sóng được sử dụng cuộc biểu diễn đãđược công bố, phổ biến mà không phải xin phép song phải trả thù lao cho chủthể quyền liên quan (trong trường hợp sử dụng nhằm mục đích kinh doanh) cũngđược coi là giới hạn của quyền tác giả
2.4 Quyền liên quan
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT, quyền liên quan đến quyền tác giả(quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hóa
Quyền liên quan là một quyền liên quan mật thiết đến quyền tác giả TheoĐiều 19 và 20 Luật SHTT, tác giả là chủ sở hữu quyền tác giả có quyền trìnhdiễn tác phẩm Song, phần lớn nhiệm vụ này được giao cho các nghệ sỹ biểudiễn Nếu tác phẩm chỉ được truyền đạt đến công chúng thông qua trình diễn, thìhiệu quả của nó sẽ bị hạn chế Vì thế, vai trò của các nhà sản xuất bản ghi âm,ghi hình cũng không kém phần quan trọng