A. MỞ ĐẦU Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (Khoá VI) đã nêu rõ: Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học và công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN, coi những người làm khoa học và công nghệ là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (Khoá VII) trong phần về chủ trương phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ quan điểm: Khoa học, công nghệ là nền tảng của CNH HĐH. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII vừa qua Đảng lại nhấn mạnh: Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý trí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng KHCN. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra: Con đường CNH HĐH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển GD và ĐT, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH HĐH. Để tìm hiểu thêm về quan điểm đó nên tôi đã chọn nghiên cứu “Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và việc áp dụng nó vào công cuộc CNHHĐH ở Việt Nam liên hệ với sự định hướng phát triển của TP. Hồ Chí Minh” làm đề tài tiểu luận môn học của mình. Vì hạm chế về thời gian và trình độ hiểu biết nên tiểu luận chắc chắn còn nhiều sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô và bạn học. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quantâm hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnhvực khoa học và công nghệ Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (Khoá VI) đã nêurõ: "Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học vàcông nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình
và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN, coi những người làmkhoa học và công nghệ là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhànước và nhân dân ta" Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (Khoá VII)trong phần về chủ trương phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000
đã nêu rõ quan điểm: "Khoa học, công nghệ là nền tảng của CNH - HĐH Kếthợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại tranh thủ đi nhanh vàohiện đại ở những khâu quyết định" Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VIIIvừa qua Đảng lại nhấn mạnh: "Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý tríquật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà rakhỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng KHCN" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng đã chỉ ra: "Con đường CNH - HĐH ở nước ta cần và có thể rútngắn thời gian vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt phát huynhững lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệtiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứngdụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựumới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huynguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển
GD và ĐT, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệpCNH - HĐH"
Để tìm hiểu thêm về quan điểm đó nên tôi đã chọn nghiên cứu “Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và việc áp dụng nó vào công cuộc CNH-HĐH ở Việt Nam liên hệ với sự định hướng phát triển của TP Hồ Chí Minh” làm đề tài tiểu luận môn học của mình Vì hạm chế về thời gian
và trình độ hiểu biết nên tiểu luận chắc chắn còn nhiều sai sót, rất mong nhậnđược sự góp ý của thầy, cô và bạn học Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 2B NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ.
1 Vị trí, vai trò của khoa học công nghệ.
Khoa học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ra đời vào thời kỳchế độ chiếm hữu nô lệ, khi xã hội đã có sự phân công lao động thành laođộng trí óc và lao động chân tay Có thể nói khoa học là kết quả tất yếu củaphân công lao động xã hội, khoa học xuất hiện khi hình thức lao động trí óc
đã hình thành và tách biệt hẳn với hình thức lao động chân tay
Khoa học về một phương diện nào đó, có thể hiểu là một tập hợp nhữnghiểu biết về tự nhiên, xã hội, tư duy và quy luật khách quan của sự phát triểncủa chúng trên cơ sở thực tiễn xã hội
Công nghệ, hiểu một cách chung nhất là một tập hợp những tri thứchướng vào cải tạo tự nhiên, phục vụ nhu cầu của con người Các công nghệsản xuất là một tập hợp các phương pháp, quy tắc, kỹ năng và kỹ xảo được sửdụng trong quá trình tác động vào đối tượng lao động để tạo ra một dạng sảnphẩm nào đó Sự tác động đó thường phải thông qua các phương tiện vật chấtnhư: máy móc, công cụ, v.v
Xem xét vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh
tế, xã hội, văn hoá nói chung và phát triển kinh tế nói riêng, các nhà khoa họccho rằng, khoa học và công nghệ vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế, xãhội, văn hoá, vừa là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi tích cực
về mặt xã hội và nâng cao giá trị văn hoá của dân tộc, của vùng và thế giới
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng kiến những bướcngoặt cách mạng của khoa học và công nghệ Sau mỗi bước ngoặt đó, nhữngbiến đổi trong tri thức khoa học, trong cách thức sản xuất kéo theo những biếnđộng to lớn trong đời sống chính trị – xã hội, làm thay đổi mạnh mẽ trong cáclĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội dẫn đến sự thay đổi về chất của xã hội cũ,hình thành nền văn minh mới với những đặc trưng hoàn toàn khác Đặc biệt,
Trang 3cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động đến tất cả cáclĩnh vực khoa học, đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho bộmặt thế giới đổi thay kỳ diệu
2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của khoa
học và công nghệ.
Là một Đảng vô sản, mác-xít, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thànhlập đến nay, đều lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chi Minh làmkim chỉ nam cho mọi cương lĩnh hành động của mình Đảng luôn quán triệtnhững tư tưởng của các nhà kinh điển mác-xít, của Hồ Chí Minh trong mọilĩnh vực, thẩm nhuần trong những chủ trương, chính sách thực tiễn phù hợpvới điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể Trong lĩnh vựckhoa học và công nghệ cũng vậy, cơ sở lý luận để hình thành quan điểm củaĐảng chính là những tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về khoa học vàcông nghệ
C Mác nói: “Khoa học là động lực của sự phát triển xã hội, khoa học
đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn công nghệ được đổi mới hết sức nhanh chóng”(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”(2) Trình độ dântrí, tiềm lực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và
vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại trên thế giới đang phát triển hết sức mạnh mẽ, tác độngsâu sắc đến sự phát triển của tất cả các nước, đến mọi lĩnh vực của xã hội loàingười Khoa học và công nghệ càng có vai trò quan trọng đối với các nướcchậm phát triển trong việc xây dựng nền tảng vật chất cho chế độ mới
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm đến giáo dục và đào tạo, khoahọc và công nghệ Đảng đã ra một loạt nghị quyết, trong đó xác định vị trí,vai trò, phương hướng và nhiệm vụ của khoa học và công nghệ
Trang 4Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: khoa học và công nghệ là nềntảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chỉ ra thực chất của công nghiệp hoá là thực hiện một cuộc cách mạng kỹ thuật nhằm chuyểnnền kinh tế từ tình trạng năng suất thấp, hiệu quả thấp sang nền kinh tế cónăng suất cao, hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp, sử dụng khoa học
và công nghệ Để công nghiệp hoá phải đổi mới công nghệ trong tất cả cáclĩnh vực, phát triển những ngành mới, nhất là những ngành công nghệ cao, tạo
sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh các ngành có giátrị gia tăng cao Để làm được điều đó, không thể không dựa vào khoa học vàcông nghệ Khoa học, công nghệ có phát triển mạnh thì mới có thể đẩy nhanh
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Cùng với quá trình nhận thức của Đảng về vai trò của khoa học và côngnghệ, các chủ trương, đường lối của Đảng vạch ra ngày càng đúng đắn hơn,hoàn thiện hơn Có thể nói, với sự ra đời của Nghị quyết hai Ban Chấp hànhTrung ương khoá VIII, vai trò, vị trí của khoa học, công nghệ được ĐảngCộng sản Việt Nam nhìn nhận và trình bày theo một hệ thống chỉnh thể cácquan điểm hết sức rõ ràng:
- Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sáchhàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội, là điều kiện cần thiết để giữvững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ Đảng
và Nhà nước có chính sách đầu tư khuyến khích, hỗ trợ phát triển khoa học vàcông nghệ
- Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt độngcủa tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và củng cố quốc phòng – an ninh
Khoa học và công nghệ gắn với giáo dục và đào tạo, khoa học tự nhiên
và kỹ thuật gắn với khoa học xã hội và nhân văn
Trang 5- Phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàndân Phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng, của các tập thể khoahọc và công nghệ, của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chứcchính trị – xã hội và của mỗi công dân trong hoạt động khoa học, công nghệ.
- Phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với tiếpthu thành tựu khoa học, công nghệ thế giới
- Phát triển khoa học, công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môitrường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững
3 Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.
Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ được Đảng Cộng sản ViệtNam xác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoáVIII) và được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh:
“Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước”(1)
Để đạt mục tiêu đó, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học vàcông nghệ trong thời gian tới cần tập trung vào các vấn đề sau:
Một là, Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển
khoa học và công nghệ gắn với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước:
Phát triển khoa học và công nghệ phải đáp ứng yêu cầu nâng cao mặtbằng dân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học và công nghệtrong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Khoa học và công nghệ phải bảođảm luộn cứ khoa học cho việc xây dựng các chủ trương, đường lối phát triểnđất nước; lựa chọn, tiếp thu và làm chủ các công nghệ từ bên ngoài kết hợpvới cải tiến công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ trên tất cảcác lĩnh vực sản xuất đảm bảo năng suất, chất lượng và hiệu quả đạt trình độcông nghệ trung bình trong khu vực ở những ngành sản xuất và dịch vụ chủyếu
Trang 6Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên cơ sở xây dựng đội ngũtri thức đông về số lượng, mạnh về chất lượng; tăng cường cơ sở vật chất kỹthuật cho khoa học và công nghệ, tập trung xây dựng một số ngành khoa học
và công nghệ tiên tiến trên các lĩnh vực công nghệ trọng điểm
Hai là, Đảng lãnh đạo đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động
khoa học và công nghệ bằng việc:
Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhànước về khoa học và công nghệ từ trung ương đến cấp huyện, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ, tăng cường công tácthanh tra, kiểm tra hoạt động
Đổi mới cơ chế đầu tư cho khoa học và công nghệ theo hướng lấy hiệuquả kinh tế – xã hội làm mục tiêu và kiểm tra chặt chẽ nguồn kinh phí đầu tưcủa Nhà nước cho khoa học và công nghệ
Ban hành và từng bước hoàn thiện luật khoa học và công nghệ trên tinhthần Nhà nước quản lý thống nhất các hoạt động khoa học và công nghệ,đồng thời có sự phân cấp quản lý và phát huy tính chủ động của các cơ quankhoa học và công nghệ
Củng cố và tăng cường hoạt động của các hội khoa học và công nghệ,khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài khu vực nhànước Tăng cường hoạt động của các hội khoa học trong việc phổ biến, triểnkhai và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng caovai trò chính trị – xã hội của các tổ chức đó và tạo điều kiện thuận lợi cho các
tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động có hiệu quả cao
Ba là, Đảng lãnh đạo việc đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên
truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ, trong đó cần tập trung:
Đẩy mạnh các dịch vụ tư vấn, thông tin khoa học và công nghệ về lãnhđạo, quản lý, nghiên cứu khoa học; đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp,đặc biệt là công nghệ thông tin
Trang 7Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin và khoahọc và công nghệ nước ngoài.
Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, ứng dụng các tiến bộ kỹthuật vào sản xuất và đời sống
Bốn là, Đảng lãnh đạo tạo lập thị trường và đổi mới chính sách khoa
học và công nghệ
Tạo lập thị trường và đổi mới chính sách khoa học và công nghệ sẽ tạođộng lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ Vìvậy, sự lãnh đạo của Đảng cần tập trung các nội dung sau:
+ Sử dụng các công cụ thích hợp trên cơ sở pháp luật để cho các doanhnghiệp có điều kiện ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh,trong đó đặc biệt ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước và các lĩnh vực yêucầu ứng dụng công nghệ cao
+ Tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu, triển khai khoa học vàcông nghệ hoạt động một cách nhanh nhạy, đáp ứng được yêu cầu thị trường;bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho họ và tạo điều kiện cho các sản phẩm trí tuệđược lưu thông trên thị trường như là một thứ hàng hoá đặc biệt
+ Có chính sách thoả đáng cho cán bộ khoa học và công nghệ cả về vậtchất và tinh thần, điều kiện và môi trường làm việc, cập nhật thông tin; biểudương và tôn vinh những người có đóng góp lớn, những chuyên gia hàng đầu;tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và côngnghệ cả về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và trình độ trí tuệ; khuyếnkhích và tạo điều kiện cho trí thức Việt kiều về nước tham gia hoạt động khoahọc và công nghệ; xây dựng và đảm bảo quy chế dân chủ trong hoạt độngkhoa học và công nghệ; mở rộng hợp tác quốc tế và tăng đầu tư cho khoa học
và công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau
4 Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.
Một là, Đảng đề ra các chủ trương, đường lối, chiến lược về khoa học
và công nghệ gắn với điều kiện thực tiễn của đất nước và xu hướng phát triển
Trang 8của thời đại Cấp uỷ đảng ở địa phương, các ngành đề ra những chủ trươngcông tác cụ thể về hoạt động của lĩnh vực này Trên cơ sở những quan điểm,những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về khoa học và công nghệ, cáccấp chính quyền và đoàn thể chính trị – xã hội cụ thể hoá thành pháp luật,thành các quy chế, quy định để tổ chức thực hiện trong thực tiễn phù hợp vớichức năng, nhiệm vụ, với từng giai đoạn lịch sử, với từng địa phương, đơn vị
cụ thể
Hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhànước về khoa học và công nghệ thật sự trong sạch, vững mạnh để các tổchức này có đủ khả năng và uy tín chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quảcác chủ trương, đường lối của Đảng về khoa học và công nghệ Xây dựng
cơ chế quản lý hợp lý trên tinh thần từng bước xoá bỏ sự hành chính hoátrong khoa học và công nghệ và tạo môi trường thuận lợi để phát huy caonhất tính chủ động sáng tạo trong lĩnh vực này Các cơ quan quản lý điềutiết, kiểm tra, giám sát sự đầu tư của Nhà nước vào lĩnh vực này một cáchchặt chẽ, hợp lý, có hiệu quả
Ba là, Đảng kiểm tra việc quán triệt và thực hiện các quan điểm,nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạtđộng trong các cơ quan khoa học và công nghệ; đồng thời kiểm tra qua các tổchức quần chúng, sự giám sát của nhân dân trên lĩnh vực đó Các tổ chứcđảng phải tăng cường củng cố tổ chức để thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạotrong các cơ quan khoa học và công nghệ; tích cực phát triển đảng viên tronglĩnh vực hoạt động này Mỗi đảng viên của Đảng phải thật sự có năng lực trítuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tiên phong gương mẫu, thực sự
có uy tín trong tập thể, được quần chúng tin tưởng
Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra các quan điểm về cán bộ, côngtác cán bộ và chính sách cán bộ Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý nhà nước
và các tổ chức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ lập chương trình, kếhoạch xây dựng đội ngũ cán bộ theo yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức mình
Trang 9Đảng không can thiệp trực tiếp vào công việc của các cơ quan đó, nhưngĐảng cử những cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức tốt nắm giữcác cương vị lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong các cơ quan đó, trên cơ sở uytín cán bộ và bầu cử dân chủ.
Nói cách khác, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học vàcông nghệ là bằng đường lối, chính sách; bằng vai trò tiên phong gương mẫucủa các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan đó; băng công tác tưtưởng, công tác tổ chức và cán bộ; bằng phát huy tinh thần trách nhiệm, tínhchủ động, sáng tạo trong hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực khoa học
và công nghệ; bằng vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân
Trang 10CHƯƠNG II VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1 Sự phát triển của khoa học và công nghệ trong thời gian qua.
Qua hơn 20 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm trở lại đây, Đảng vàNhà nước Việt Nam đã đặc biệt chú trọng đẩy mạnh hoạt động khoa học vàphát triển công nghệ của đất nước, trên thực tế, hoạt động này đã đạt đượcnhiều kết quả đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật, trên2.250.000 người có trình độ đại học và cao đẳng, trên 18.000 thạc sỹ và16.000 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, trong đó có 610 tiến sỹ khoa học Bìnhquân có 193 cán bộ khoa học công nghệ trên 10.000 dân
Theo báo cáo phát triển con người năm 2004 của UNDP, ở Việt Namđang có khoảng 50.000 người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ Trong số này có hơn 37.000 người (72% cótrình độ đại học trở lên) làm việc trong các tổ chức nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ của Nhà nước, với 68,9% làm việc theo chế độ biên chế
và 31,1% làm việc theo chế độ hợp đồng
Các kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của Việt Namđược thể hiện rõ ràng nhất thông qua số lượng các công trình khoa học đượccông bố và số lượng các đăng ký sáng chế hằng năm ở Việt Nam
Có thể nhận thấy trong 10 năm gần đây, số lượng bài báo đăng trên cáctạp chí khoa học và công nghệ trong nước đã tăng hơn gấp 3 lần Tuy nhiên,
số công trình, bài báo khoa học của Việt Nam công bố ở nước ngoài mới đạtkhoảng 300 bài/ năm Trong giai đoạn 1998 – 2002, tỷ lệ số bài báo khoa họccủa Việt Nam trên tổng só của thế giới chỉ đạt 0,02% Trong lúc đó ở HànQuốc và Đài Loan: 0,77%; Xin-ga-po: 0.25%; Thái Lan: 0,11%; Ma-lai-xi-a:0,08%; Phi-líp-pin: 0,05%; In-đô-nê-xi-a: 0,04%
Trang 11Số lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích chủ yếu là do cácdoanh nghiệp đầu tư nước ngoài đăng ký thông qua nhập khẩu công nghệ Sốlượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt Nam mới đạtkhoảng 10% trong một số năm gần đây Số đăng ký sáng chế quốc tế của ViệtNam trong 5 năm (2001 – 2005) chỉ có 11 đơn, trong khi đó của một số nướctrong khu vực và trên thế giới là: Ma-lai-xi-a: 147; Phi-líp-pin: 85; Thái Lan:39; In-đô-nê-xi-a: 36; Hàn Quốc: 15.000; Nhật Bản: 87.620; Mỹ: 206.710.Những con số trên cho thấy trình độ khoa học và công nghệ của Việt Namvẫn còn một khoảng cách lớn so với ngay cả các nước trong khu vực.
Năm 2006, tổng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và côngnghệ đã tăng lên gần 5.890 tỉ đồng, đạt 2% chi ngân sách nhà nước Nguồnđầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm đến 60% tổng đầu tư của xã hội cho khoahọc và công nghệ, trong đó 2/3 dành cho sự nghiệp khoa học và 1/3 dành choxây dựng cơ bản Ở các nước, số đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học vàcông nghệ chiếm trên 60%, còn đầu tư của nhà nước chỉ chiếm 30%
Tình hình phát triển công nghệ ở Việt Nam có thể đánh giá thông quagiá trị nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghệ trong thời gian gần đây.Trong 5 năm giai đoạn 2001 – 2005, Việt Nam đã nhập khẩu 35.997 triệuUSD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, chiếm khoảng 30% tổng kimngạch nhập khẩu Năm 2006, con số này là 9.597 triệu USD, chiếm 21,8%tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam
Đến nay, Việt Nam sử dụng công nghệ trung bình là phổ biến, tỷ lệnhôm ngành công nghệ cao của Việt Nam hiện nay mới đạt khoảng 20% Tốc
độ đổi mới công nghệ của cả nước đạt khoảng 10% Trong công nghiệp, tỷ lệdoanh nghiệp tự động hoá chiếm khoảng 1,9%, bán tự động là 19,6%, cơ khíhoá 26,6%, bán cơ khí hoá 35,7%, thủ công 16,2%
Trên đây là một số kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệcủa Việt Nam trong thời gian qua