1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những đóng góp của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

21 8,7K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 69,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Việt nam quốc sử khảo 1908, ông nêu lên 5 điều khiếm khuyếttrong dân trí nước ta: hay nghi kỵ lẫn nhau, coi trọng những điều xa hoa vô íchnhư trong việc hôn nhân, cúng bái, v.v ...

Trang 1

B Trong hoàn cảnh đất nước bi đát như thế Phan Bội Châu Và Phan ChâuTrinh là 2 sĩ phu, 2 bậc đại hào kiệt đi hàng đầu trong vận động giành lại độc lậpdân tộc đã có những đóng góp không hề nhỏ đối với đất nước.

I.2 Tiểu sử

A Phan Bội Châu

Sinh ngày 26/12/1867 tại làng Đan Nhiễm xã Nam Hòa huyện Nam Đàntỉnh Nghệ An Ông mất ngày 29/10/1940 Tên thật là Phan Văn San, tự là HàiThu

Cha là Phan Văn Phổ- một nhà nho chân chính rất trọng chữ thánh cần Mẹ

là Nguyễn Thị Nhàn- một nữ sĩ được tiếng là người đức hạnh

Ông nổi tiếng thông minh từ bé,thưở thiếu thời đã sớm có lòng yêu nước

B Phan Châu Trinh

- Sinh ngày 9/9/1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì,tỉnh Quảng Nam Ông mất ngày 24/3/1926

- Cha là Phan Văn Bình- một viên quan phụ trách việc quân lương Mẹ là

Lê Thị Trung- con gái nhà vọng tộc thông thạo chữ hán

- Ông là một nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị

Đóng góp

Trang 2

1 Phan Bội Châu

Thức tỉnh hồn nước và lí tưởng mới của Phan Bội Châu

• Thơ văn của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến người đọc không chỉ do âmđiệu mà còn khơi dậy nỗi nhục mất nước và kích động những cảm xúc sâu xađến tự tình dân tộc

• Do ảnh hưởng của thơ văn Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đãcắt cụt bím tóc,vất hết sách vở văn chương cử tử cùng cái mộng công danh, lìa

bỏ làng mạc, nhà cửa vợ con, rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu,nguy hiểm, khổ sở, để qua Xiêm, qua Tàu, qua Nhật để học hỏi và trù tính việcđánh Tây

• Ông đã nêu lên mẫu người lý tưởng trong xã hội, đó là người yêu nước,

có lòng căm thù giặc, dám xả thân vì đất nước

• Ví dụ : các nhân vật anh hùng trong tác phẩm "Trùng quang tâm sử“

Ý thức được “ Quốc gia quốc dân”

• Ông ý thức sâu sắc về tình trạng thiếu đồng thuận giữa người Việt vớinhau Trong Việt nam quốc sử khảo (1908), ông nêu lên 5 điều khiếm khuyếttrong dân trí nước ta: hay nghi kỵ lẫn nhau, coi trọng những điều xa hoa vô ích(như trong việc hôn nhân, cúng bái, v.v ), biết lợi mình chứ không biết hợpquần, tiếc của riêng mà không nghĩ đến lợi chung, biết thân mình mà không nghĩđến việc nước Ý thức "quốc gia quốc dân" trong tư tưởng cũng như hành độngcủa ông phải nói là một sự đề kháng đối với chính sách "chia để trị" của chínhquyền đô hộ, khác hẳng với đầu óc địa phương hẹp hòi thường thấy ngay ở cácnhân vật tai to mặt lớn trong nước lúc bấy giờ

Ông cho rằng một trong những nguyên nhân giúp Pháp chiếm được đấtnước ta và đặt được ách đô hộ lên đất nước ta một cách vững vàng là do nhândân ta "Xung khắc bất hòa“

Từ đó ông đã đi đến khẳng định sức mạnh của đoàn kết Và ông cũng đãđưa ra một chủ trương đoàn kết rộng rãi, không phân biệt giai cấp, đẳng cấp, tôngiáo, thể hiện một niềm tin vững chắc vào sức mạnh của đoàn kết

Trang 3

Phổ biến tên gọi “ Việt Nam

• Quốc hiệu "Việt Nam" nguyên đã có từ đầu thời vua Gia Long, nhưngtrên thực tế không mấy khi được sử dụng Bước sang thế kỷ XX, trong khingười nước ngoài đều dùng tên "An Nam" để chỉ nước ta, Phan Bội Châu làngười đầu tiên đã phổ biến cái tên Việt Nam ngay từ khi mới sang Nhật Bản.Bằng cớ là Phan đã dùng tên Việt Nam trong các trước tác viết trong thời kỳĐông Du: Việt Nam vong quốc sử (1905), Tân Việt Nam (1906), Việt Namthảm trạng (1907), Việt Nam quốc sử khảo (1908)

Góp phần quan trọng vào việc thành lập các đảng hội

• Trong vòng 5 năm sau khi đỗ giải nguyên ông bôn ba khắp nước ViệtNam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,Trần Quý Cáp, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Ngô đức Kế để cùng họ chống lạiPháp Năm 1904 ông cùng 20 đồng chí họp tại Qảng Nam để thành lập hội DuyTân

• Năm 1905 ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản đểgặp gỡ các nhà cách mạng Nhật Bản và Trung Quốc và cầu viện trợ tài chínhcho phong trào mà ông thành lập

• Năm 1906 ông đưa Kì Ngoại Hầu Cường Để và một số học sinh ngườiViệt khác sang Nhật Bản

• Năm 1912 nức nòng vì thành quả của cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911

ở Trung Quốc của Tôn Trung Sơn ông đã cùng 1 số nhà cách mạng Việt Namlưu vong tại Quảng Châu thành lập 1 tổ chức cách mạng thay thế cho hội DuyTân Tôn chỉ của tổ chức mới với tên gọi “ Việt nam quang phục hội” là đánhđuổi người Pháp ra khỏi đất nước, khôi phục chủ quyền Việt Nam và thành lậpViệt Nam cộng hòa dân quốc

Kho tàng văn học giá trị

Ngoài sự nghiệp cách mạng ông còn viết rất nhiều sách báo và đã được phổbiến sâu rộng trong nhân dân

• Việt nam quốc sử khảo

Trang 4

• Ngục Trung Thư

• Việt Nam vong quốc sử

• Hải ngoại huyết thư

• Sào nam văn tập…

2 Phan Châu Trinh

3 Chủ trương tư tưởng dân chủ

- Phan Châu Trinh là nhà sĩ phu đầu tiên hô hào dân quyền ở nước ta Ông chống bạo động, dấy phong trào duy tân "chấn dân khí, khai dân trí, hậudân sinh" và chủ trương "tự lực khai hóa" vì ông thấy dân trí nước ta còn quáthấp Theo ông, trong tình trạng như vậy thì dầu có giành được độc lập "cũngkhông phải là điều hạnh phúc cho dân"

- Nội dung cơ bản tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh là nâng caodân quyền, xây dựng thể chế chính trị và hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo chodân quyền

- Ông đã vạch ra những hủ bại của hệ thống quan lại, đưa ra những yêucầu cải cách hệ thống quan lại và những quan hệ chính trị lúc đương thời

- Ông đã làm sáng tỏ vấn đề dân quyền về mặt lí thuyết và ra sức cổ vũtuyên truyền thực hiện dân chủ và dân quyền trong thực tiễn Tư tưởng dân chủ

và dân quyền của Phan Châu Trinh là một đóng góp to lớn không những chophong trào đổi mới và cải cách mà cả cho sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việtnam đầu thế kỉ XX

Đề cao hiến pháp, hướng đất nước theo con đường XHCN

• Ông chủ trương lấy pháp luật làm chuẩn mực để điều hành xã hội

• Hướng dân tộc phát triển mạnh theo con đường tư bản chủ nghĩa, hòngdần dần đưa nước ta hòa nhập vào dòng văn minh chung của thế giới Về mọimặt dân tộc Việt Nam đã có những nhảy vọt, từ phạm trù tư duy phong kiếntruyền thống sang phạm trù tư duy thời cận đại, chuẩn bị cho những bước tiếptheo

Giá trị về văn học- giáo dục

Trang 5

Để lại nhiều tác phẩm có giá trị về nội dung và tưởng:

- Chấn dân khí của Phan Chu Trinh vẫn còn sống mãi, và chúng ta vẫn đang tiếpbước người xưa

II Những đóng góp của vương triều Lý trong lịch sử dân tộc

Trang 6

Không những là triều đại mở đầu cho nền độc lập tự chủ ổn định lâu dài,trước nhà Lý, các vương triều như Tiền Lý (541 - 547), Ngô (939 - 967), Đinh(968 - 980), Tiền Lê (981 - 1009) đều đã giành độc lập dân tộc song chưa thểduy trì, phát triển nền tự chủ được bền lâu, mà vương triều Lý còn đặt nền móngcho sự phát triển của dân tộc Đại Việt trong suốt lịch sử hàng ngàn năm sau.Việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long (1010),ban bố Hình thư (1042), xây dựng Văn miếu (1072), mở Quốc Tử Giám (1076)

… với dụng ý xây dựng, phát triển một đất nước giàu mạnh, hùng cường, phápchế quốc gia đi vào nề nếp, quy củ, mở mang dân trí, đào tạo nhân tài đã trởthành những việc làm có ý nghĩa lịch sử trong truyền thống dựng nước và giữnước của dân tộc ta Và nhắc đến những thành tựu đó, không thể không nhắcđến vai trò hết sức to lớn của Phật giáo, một tôn giáo đã có quá trình gắn bó,đồng hành cùng dân tộc suốt chiều dài lịch sử Sự ổn định, vững bền của vươngtriều Lý, chắc chắn có dấu ấn và sự đóng góp tích cực của Phật giáo

(Trước khi nói về sự đóng góp tích cực của Phật giáo, chúng ta sẽ cùng)1) Lý giải nguyên nhân Phật giáo được xem trọng và trở thành quốc giáotrong thời Lý

Do từ lâu những giáo lý của đạo Phật phù hợp với những truyền thống tốtđẹp của dân tộc Việt Nam như tư tưởng từ bi, vị tha đã được cư dân bản địa tiếpthu và trở thành tâm thức của người Việt cổ

Và sau đó niềm tin vào Phật giáo ngày càng được củng cố hơn sau nhữngviệc làm mang màu sắc huyền tích của thiền sư Vạn Hạnh và những người phò

tá Lý Công Uẩn khi ông lên ngôi vua

VD như việc ở viện Cảm Tuyền, chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp cócon chó đẻ con sắc trắng có đám lông đen thành hình hai chữ “thiên tử” Kẻ thứcgiả nói rằng đó là điềm năm Giáp Tuất sinh người làm thiên tử Đến nay, vuasinh năm Giáp Tuất lên làm thiên tử, việc đó thực ứng nghiệm

Trang 7

Xét về quan hệ, thái tổ nhà Lý (Lý Công Uẩn) có mối quan hệ đặc biệt vớicác nhà sư đương thời, thuở nhỏ từng là con nuôi của sư Lý Khánh Vân và là đệ

tử thụ giáo của sư Vạn Hạnh

Xét về niềm tin tôn giáo, các vua thời Lý rất sùng đạo Bản thân một số vuađược tôn là tổ của các phái thiền Vua Lý Thái Tông là vị Tổ thuộc thế hệ thứbảy phái thiền Vô Ngôn Thông Vua Lý Thánh Tông là Tổ thứ hai thiền pháiThảo Đường

Xét về chính trị, việc nhà Lý thành lập có công hậu thuẫn to lớn của thế lựcPhật giáo trong nước đứng đầu là sư Vạn Hạnh Về sau, các nhà sư lại trở thànhnhững trợ thủ đắc lực phò vua giúp nước

Xét về xã hội, triều đình phong kiến nhà Lý muốn tận dụng những ưu điểmcủa Phật giáo để dung hòa những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội Chính điều

đó đã giúp cho dân chúng có một cuộc sống ổn định để tăng gia sản xuất, pháttriển kinh tế

2) Những đóng góp của vương triều Lý trong lịch sử dân tộc

Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), Điện Tiềnchỉ huy sứ - Lý Công Uẩn được quần thần tôn lên làm vua, sáng lập vương triều

Lý Nhà Lý trị vì thiên hạ được 216 năm, trải 9 đời vua (từ Lý Công Uẩn đến LýChiêu Hoàng) Thời gian ở ngôi báu của các Đức vua tuy dài ngắn khác nhau,song các Đức vua nhà Lý đều dốc lòng vì vương triều, vì nước, vì dân và đều đểlại dấu ấn của vương triều mình trong quá trình đấu tranh giữ nước, xây dựng vàkiến thiết đất nước, nói chung Thăng Long nói riêng…Vậy nên các sử gia củanước Việt đều đồng lòng đánh giá cao vương triều Lý: là một vương triều đãđóng góp nhiều thành tựu cho lịch sử nước nhà ở một số lĩnh vực như chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, kiến trúc…Những thành tựu đó của vương triều Lý - những trang vàng mang dấu ấn của nhà Lý sẽ còn mãi với đất nước, với ThăngLong - Hà Nội

2.1 Về tư tưởng: Đưa Phật giáo phát triển trở thành quốc giáo trong thiênhạ

Trang 8

Phật giáo thời kỳ này giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, nó đượcgiai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng vào việc ổn định trật tự xã hội, phát triểnchế độ phong kiến, dựng nước và giữ nước.

Các vua Lý đều tôn sùng Phật giáo Do nhận thấy được những giá trị màPhật giáo đã và sẽ đem lại cho đất nước nên ngay từ khi lên ngôi, vua Lý CôngUẩn đã cho xây dựng một chính quyền sùng Phật và thân dân, đề cao tư tưởng từ

bi, bác ái

Ông cho xây dựng chùa trong cả nước, độ dân làm sư, cử sứ thần sangnước Tống xin kinh Tam tạng… Từ đó các tín đồ Phật giáo phát triển cả về sốlượng và chất lượng, hình thành nhiều trung tâm Phật giáo lớn như Đại La, HoaLư

Nhận thức được vai trò to lớn của những nhân sỹ Phật giáo như vậy nêncác vị vua nhà Lý luôn tìm cách để trọng dụng, tranh thủ đức tài của họ vàocông cuộc trị nước Những vị như thiền sư Vạn Hạnh, Đa Bảo, Giác Hải, MãnGiác, Viên Chiếu, Quốc sư Minh Không, Viên Thông, Thông Biện… không chỉlàm rạng danh Phật giáo đồ mà còn là những bậc quân sự lỗi lạc, phò trợ các bậcquân vương gìn giữ vương quyền chính thể, để lại tiếng thơm lưu danh muônđời Chính vì vậy mà chùa chiền còn là nơi đào tạo trí thức của đất nước

Có thể nói đây là đóng góp quan trọng nhất của vương triều Lý bởi đónggóp này đã có nhiều tác động tích cực đến tất cả mọi lĩnh vực của đất nước ta từchính trị - xã hội đến kinh tế, văn hóa, và quân sự

2.2 Về chính trị - xã hội

2.2.1 Đổi mới triều đại

Cuối thời tiền Lê ( tức thời Lê Ngọa Triều), đất nước rơi vào tình thế khủnghoảng, vua và quan ăn chơi sa đọa, nhân dân sống trong cảnh lầm than, cực khổ.Điều này báo hiệu cho sự sụp đổ của triều đại Tiền Lê và thay thế là một vươngtriều mới

Sau khi vua Lê Long Đĩnh mất (Lê Ngọa Triều mất), không có con trai nốingôi, Lý Công Uẩn lên ngôi và lập ra nhà Lý (1010) Việc nhà Lý thành lập

Trang 9

không những không gây ra sự bất đồng trong triều đình, sự phản đối trong nhândân mà ngược lại nhân dân hết lòng ủng hộ, quan lại trong triều đều quy phục,như đánh giá của của những người xưa “Giành ngôi một cách hòa bình ngaytrong khủng hoảng, tránh được can qua”.

Sự thành lập của vương triều Lý đã chấm dứt thời kì khủng hoảng vào cuốithời Tiền Lê, đưa đất nước bước sang một thời kì mới – thời kì phát triển thịnhvượng

2.2.2 Đổi mới đế đô

Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ có một quyết định lịch sử, chọn thành Đại

La kinh đô cũ do Cao Biền xây dựng nằm ven sông Tô Lịch, làm kinh đô mớicho vương triều Lý Bởi Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) nằm trong miền núi nonhiểm trở, mang tính phòng thủ cao đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình trongbuổi đầu dựng nước Còn "…thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vươngở vào nơitrung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng vị trí các hướng nam bắcđông tây, rất tiện cho sự nhìn sông dựa núi; địa thế vừa rộng vừa bằng phẳng,đất đai lại cao và thoáng; dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vậtcũng rất mực phong phú, tốt tươi Ngắm khắp nước Việt ta, chỉ có nơi đây là

"thắng địa" Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, xứng đáng

là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời" (Trích "Chiếu dời đô" của vua

Lý Công Uẩn Đó là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình củavận mệnh dân tộc) Sự phát triển không ngừng của Đại La - Thăng Long - HàNội hơn 1000 năm lịch sử đã minh chứng sự đúng đắn và sáng suốt cho quyếtđịnh dời đô của vua Lý Công Uẩn

2.2.3 Chính sách đối nội:

Đối với dân: vì dân, thương dân, gần dân

Khi đang tại vị, Lý Thái Tổ - vị vua đầu triều nhà Lý đã cho xây cung LongĐức ở phía đông thành Thăng Long, giữa khu vực dân cư sinh sống và buôn bán

để Thái tử Lý Phật Mã ở, tạo cho Thái tử có điều kiện tìm hiểu đời sống dân

Trang 10

sinh, với mong muốn người kế nghiệp tương lai sẽ gần dân, hiểu dân và sau này

có những chính sách thân dân, vì dân

Năm 1029, vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) cho sửa sang điện CànNguyên và đổi tên là điện Thiên An Hai bên tả hữu đặt hai lầu chuông đối xứngnhau, tạo điều kiện cho dân ai có việc kiện tụng, oan uổng thì đến đánh chuông,nhà vua sẽ đích thân xem xét xử lý Năm 1033, nhà vua lại cho đúc quả chuôngnặng một vạn cân (khoảng 6 tấn), treo ở lầu chuông, để tiếng chuông vang thấutai vua Ngoài ra vào lễ cày Tịch Điền, vua còn trực tiếp xuống cày ruộng để hòamình vào dân, làm gương cho dân chúng Việc làm đó là một minh chứng chochính sách thân dân của vị vua thứ hai của Nhà Lý

Lý Thánh Tông nổi tiếng là một minh quân Ngài có lòng thương dân nhưcon Sử gia còn chép: "Nhân một năm trời rét đậm, Thánh Tông bảo các quanhầu cận rằng: Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rétthế này Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không

có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngaychưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật thương tâm lắm Nói rồi vua truyền cho lấychăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bữa ăn"

Đối với tù trưởng dân tộc thiểu số miền núi:

Chính sách rằng ràng buộc tầng lớp thống trị miền núi là quan hệ hôn nhân(gả con gái cho các châu mục, tù trưởng có thế lực để lôi kéo họ)

2.2.4 Chính sách đối ngoại:

Đối với quân Tống ở phía Bắc:

Ngay sau khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã có chủ trương giao hảo với nhàTống Năm 1010, viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tài Nguyên được cử

đi sứ Tống, do đó quan hệ giữa hai nước tương đối hòa hảo

Từ năm 1075 - 1077, nước ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống xâmlược nên quan hệ hai bên trở nên căng thẳng Sau khi cuộc kháng chiến kết thúcthắng lợi, nhà Lý vẫn giữ tư thế một nước độc lập, tiếp tục giao hảo với nhàTống

Ngày đăng: 18/03/2017, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w