Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thôn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
NGÔ ĐỨC TOÀN
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC DUY TRÌ VÀ BẢO VỆ RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG KHU VỰC ATK HUYỆN
ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60-31-10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS-TS Đỗ Anh Tài
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Luận văn “Tác động của việc duy trì và bảo vệ rừng đến sinh kế của người dân trong khu vực ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” được thực hiện từ tháng 6/2008 đến tháng 8/2010 Luận văn sử dụng những thông
tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, đa
số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương Số liệu được sử lý bằng phần mềm thống kê SPSS kết hợp với các phương pháp phân tổ và kiểm định thống kê
Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào t ại Việt Nam
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện về thời gian, tinh thần cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện
đề tài
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS - TS Đỗ Anh Tài đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Joachim Krug thuộc Viện nghiên cứu lâm nghiệp thế giới, đại học Hamburg - Đức đã đã tổ chức lớp huấn luyện về các phương pháp đánh giá chỉ số (Indicators) trong đánh giá sinh kế tại trường
ĐH Kinh tế & QTKD Thái Nguyên tháng 5/2009
Tôi xin chân thành cảm ơn đồng chí Đặng Huy Thành - Giám đốc Trung tâm nước SH & VSMT NT Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về thời gian cũng như công việc để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện Định Hóa - Tỉnh Thái Nguyên, Hạt Kiểm Lâm, phòng Nông nghiệp&PTNT, phòng Thống kê, Phòng lao động thương binh xã hội, Phòng tài nguyên và môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Phú Đình, Điềm Mặc, Bảo Cường và
xã Quy Kỳ đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là người vợ thân yêu đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học về phát triển bền vững 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.1.3 Thực trạng quản lý rừng tại khu vực ATK Định Hóa 37
1.2 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá 38
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 38
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
1.3 Một số công cụ sử dụng trong nghiên cứu 47
1.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích đánh giá 48
CHƯƠNG 2 51
THỰC TRẠNG VIỆC DUY TRÌ VÀ BẢO VỆ RỪNG TRONG KHU VỰC ATK HUYỆN ĐỊNH HÓA 51
Trang 52.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 60
2.2 Thực trạng đời sống kinh tế của hộ gia đình khu vực ATK Định Hoá 85
2.2.1 Nguồn lực con người 85
2.2.2 Nguồn lực xã hội 90
2.2.3 Nguồn lực tự nhiên 92
2.2.4 Nguồn lực tài chính và vật chất 101
2.3 Tác động của quản lý rừng đến đời sống người dân 107
2.4 Kết luận 109
CHƯƠNG 3 110
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM DUY TRÌ VÀ BẢO VỆ RỪNG TRONG KHU VỰC ATK HUYỆN ĐỊNH HÓA 110
3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng bảo vệ và phát triển rừng khu ATK huyện Định Hóa 110
3.1.1 Quan điểm bảo vệ và phát triển rừng khu ATK huyện Định Hóa 110
3.1.2 Mục tiêu 111
3.1.3 Định hướng bảo vệ phát triển rừng tại Định Hoá 111
3.2 Giải pháp phát triển tài nguyên rừng 114
3.2.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 114
3.2.2 Nhóm giải pháp xã hội 117
3.2.3 Nhóm giải pháp khoa học công nghệ 120
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
1 Kết luận 124
2 Kiến nghị 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 130
Phụ lục 01: Kết quả kiểm định 130
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GTZ Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức
SPSS Statistical Package For Social Sciences
MIS Hệ thống thông tin môi trường
PIC Trung tâm thông tin công cộng PSFE Chương trình rừng quốc gia UTOs tổ chức hợp tác kỹ thuật
WWF Quỹ thế giới bảo vệ các loài thú hoang dã
Trang 7DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Bảng thống kê số hộ điều tra cơ sở 41
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Định Hóa 56
Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Định Hóa 61
Bảng 2.3: Tình hình lao động, việc làm và hộ nghèo của huyện Định Hóa 62
Bảng 2.4: Cơ cấu kinh tế của huyện Định Hóa qua 5 năm (2006-2010) 66
Bảng 2.5: Kết quả một số cây nông nghiệp chính trên địa bàn huyện Định Hóa qua 69
Bảng 2.6: Tình hình phát triển chăn nuôi trên địa bàn huyện Định Hóa 70
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Định Hóa 73
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu cơ bản về Y tế của huyện Định Hóa 74
Bảng 2.9 : Hiện trạng quản lý và sử dụng đất quy hoạch lâm nghiệp năm 2010 80
Bảng 2.10: Tình hình sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu và diện tích rừng thiệt hại 82
Bảng 2.11: Thời gian các hộ định cư trên địa bàn tính đến 31.12.2009 (năm) 85
Bảng 2.12: Thông tin chủ hộ 86
Bảng 2.13: Trình độ học vấn của các hộ điều tra 87
Bảng 2.14: Nhân khẩu bình quân / hộ (người) 87
Bảng 2.15: Sự thay đổi số lượng lao động trong hộ (% số người trả lời) 88
Bảng 2.16: Phân bổ thời gian làm việc trong hộ (% tổng quỹ thời gian) 89
Bảng 2.17: Tham gia công tác xã hội, đoàn thể, chính 90
Bảng 2.18: Các phương tiện thông tin truyền thông về sản xuất nông nghiệp: (% số hộ gia đình/tổng số) 91
Bảng 2.19: Nguồn gốc đất đai của hộ (% số hộ) 93
Bảng 2.20: Diện tích đất bình quân của hộ (sào) 93
Bảng 2.21: Chất lượng đất ruộng của hộ 95
Bảng 2.22: Nguồn nước tưới tiêu cho đất ruộng của hộ/(bình quân % diện tích) 95
Bảng 2.23: Chất lượng đất ruộng bậc thang của hộ 96
Bảng 2.24: Nguồn nước tưới tiêu cho đất ruộng bậc thang của hộ 96
Bảng 2.25: Tuổi của vườn cây lâu năm của hộ 97
Bảng 2.26: Loại cây lâu năm của hộ 98
Bảng 2.27: Rừng và loại rừng của các hộ trong các khu vực 99
Bảng 2.28: Tổng thu từ các hoạt động sản xuất trong hộ (1.000đ) 102
Bảng 2.29: Tổng thu từ các hoạt động phi nông nghiệp của hộ (1.000đ) 104
Bảng 2.30: Tổng chi cho các hoạt động nông lâm nghiệp của hộ (1.000đ) 104
Bảng 2.31: Tổng thu nhập bình quân của hộ (1.000đ) 105
Bảng 2.32: Giá trị tài sản bình quân của hộ (1.000đ) 106
Bảng 2.33: Tỷ lệ hộ khai thác sản phẩm từ rừng 106
Bảng 2.34: Các loại sản phẩm khai thác từ rừng (% hộ trả lời) 107
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các hoạt động của hộ trong mẫu điều tra 89 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ phần trăm loại rừng trong các nhóm hộ 100
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích sinh kế 17
Sơ đồ 1.2: Các nguồn lực trong đánh giá sinh kế của hộ gia đình nông dân 46
Sơ đồ 2.1: Sinh kế của các hộ theo 2 khu vực gần và xa rừng 108
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chưa bao giờ vấn đề môi trường lại được quan tâm và đề cập nhiều đến như hiện nay, vì nó ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày hàng giờ đến cuộc sống của vạn vật trên trái đất Cùng với hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” Trái đất
và khí quyển được xem như là một nhà kính khổng lồ, trong đó trái đất của chúng ta đang nóng dần lên, Môi trường quanh ta đang ngày càng xấu đi bởi chính các tác động xấu của chúng ta đến môi trường tự nhiên như: việc quản
lý rừng không được tốt dẫn đến tệ nạn phá rừng, khai thác rừng trái phép ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, khí thải của nền sản xuất công nghiệp trên toàn thế giới Môi trường xấu đã tác động tiêu cực ngược lại chính cuộc sống của chúng ta mà cái giá phải trả đó là các cơn lũ quét, lụt lội hay đất đai bị xói mòn và rửa trôi, sa mạc hóa, thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân, ô nhiễm môi trường nước, không khí, dịch bệnh, hạn hán Ở Việt Nam, Chính phủ và người dân cũng đã nhận thức rõ ràng vấn đề bảo vệ môi trường này không còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà là vấn đề chung của toàn nhân loại Bảo vệ môi trường sống cho bản thân chúng ta cũng chính là gìn giữ cho các thế hệ mai sau Cùng với sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài về kinh nghiệm, phương pháp kỹ thuật và vốn, chính phủ Việt Nam và các ban ngành có liên quan đã hợp sức cùng với người dân triển khai các dự án tại khu vực vùng đệm nhằm duy trì và bảo tồn thiên nhiên, cải thiện môi trường sống, nâng cao nhận thức và mức sống của người dân trong khu vực vùng đệm, nhờ đó mà gián tiếp duy trì và bảo vệ các khu vực bảo tồn thiên nhiên
Rừng ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong quần thể di tích lịch sử cách mạng ATK – Định Hóa Chính vì vậy
Trang 10mà đã được Đảng và Chính phủ quan tâm rất nhiều Hiện nay, đời sống của nhân dân vùng ATK tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn Có những khu vực người dân đã quản lý rừng rất tốt, việc quản lý rừng tại đây có nhiều mục đích khác nữa là bảo tồn khu di tích lịch sử
Thế nhưng thực tế người dân sống gần rừng có nhiều rừng lại đa phần là
hộ nghèo do vậy câu hỏi đặt ra: Liệu có phải việc họ phải bảo vệ rừng mà nghèo đi không? Thực chất việc duy trì và bảo vệ rừng ATK Định Hóa ảnh hưởng đến đời sống người dân là như thế nào? Người dân nơi đây đã chấp nhận đánh đổi những gì để phải bảo vệ rừng?…Đó là những câu hỏi mà chúng ta cần phải nghiên cứu để có những giải pháp mang tính bền vững cho người dân nơi đây, và giúp cho việc quản lý rừng ở những khu vực khác
Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tác động của việc duy trì và bảo vệ rừng đến sinh kế của người dân trong khu vực ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá được sự tác động của việc duy trì và bảo vệ rừng nhằm phát triển sinh kế cho người dân trong khu vực ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
• Đánh giá thu nhập của hộ giữa các vùng
• So sánh cấu thu nhập của hộ giữa các vùng
• Sự tham gia và các nguồn doanh thu
• Sử dụng tài nguyên rừng phân theo nhóm hộ
• Nhận thức về các hoạt động gây ô nhiễm
• Sự thay đổi thu nhập của hộ theo đánh giá của người dân
Trang 11• Đánh giá tác động các nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
• Các hộ nông dân sinh sống trong khu vực ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
• Môi trường tự nhiên và xã hội thuộc khu vực ATK Định Hóa
• Các nguồn lực tại khu vực ATK Định Hóa
• Các hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa các nhóm hộ nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi 03 xã là: Xã Phú Đình, xã Bảo Cường, xã Quy Kỳ thuộc khu vực ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Về thời gian: Nghiên cứu từ ngày 01/06/2008 đến ngày 30/08/2010
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động trong thay đổi sinh kế của người dân thuộc khu vực ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên thông qua các hoạt động hỗ trợ của dự án Xem xét khả năng duy trì và phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất, nguồn lực tài chính của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu Từ việc nghiên cứu đó đề xuất các giải pháp để sử dụng và phát triển bền vững các nguồn lực nói trên
Giới thiệu phương pháp luận mới trong đánh giá sinh kế thông qua các chỉ số (Indicators) Phần nghiên cứu này tác giả tham khảo thông qua các chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu và phát triển rừng thế giới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng việc duy trì và bảo vệ rừng trong khu vực ATK huyện Định Hóa
Trang 12Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm duy trì và bảo vệ trong khu vực ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học về phát triển bền vững
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Năm 1992: Tại Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung hiệp định về sự biến đổi khí hậu, quản lý, bảo tồn rừng tự nhiên
Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm trong suốt 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe
và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết
Trang 13phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án VIE/01/021
"Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất Sau đây là một số định nghĩa của Khoa học Môi trường về phát triển bền vững:
Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai [1]
Định nghĩa này bao gồm hai nội dung then chốt: Các nhu cầu của con người và những giới hạn đối với khả năng của môi trường đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai của con người
Phát triển bền vững là mô hình phát triển trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau [2]
Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái môi trường trong tương lai
và làm giảm sự đói nghèo
Trang 14Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc
từ sản phẩm kinh tế - xã hội
Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất - nhu cầu - tài nguyên thiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như công nghệ tiên tiến cho sản xuất
Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do đó, cần xem xét bốn vấn đề chính đó là: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững
Về kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội
Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình
độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội
Về môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng bền vững tài nguyên như đất trồng, nguồn nước, khoáng sản… đồng thời, phải chọn lựa kỹ
Trang 15thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh
Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, các hoạt động uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước, không khí và lương thực
Về công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và
sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất
Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá - môi trường Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối
ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người
Phát triển bền vững theo Brundtland
(Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development-WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững.)
Theo Ủy ban Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả
mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng
Trang 16nhu cầu của các thế hệ tương lai Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự
đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu, nghèo và giữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững Theo ý kiến tác giả sẽ thống nhất khái niệm về phát triển bền vững theo khái niệm của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED): “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
1.1.1.2 Xu hướng phát triển bền vững
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội [3] Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn,
Trang 17dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành [4]
Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, Đức, Pháp các tác giả đã đưa
ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường, đồng thời cũng đề xuất một
số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam "Quản
lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững [5] Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá, đã tổng hợp từ nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên kết hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của ngân hàng thế giới (World Bank)
Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam [6] Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là dự báo quốc tế về phát triển
Trang 181.1.1.3 Nguyên lý chung về quản lý rừng bền vững
Trong khi khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quá lượng gỗ
mà rừng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì ở Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lần khai thác tiếp theo Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam (được thực hiện 7/1989) là Phương án điều chế rừng lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp) để phát triển Phương thức điều chế rừng ở Việt Nam Nhiệm vụ chính là xây dựng một mẫu phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập
kế hoạch điều chế và đưa ra những đề xuất cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà Cho đến nay, ngành lâm nghiệp vẫn đang dùng thuật ngữ “Điều chế rừng”, coi nó như một công cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý rừng của các chủ rừng Nghĩa là, tất cả các chủ rừng cho đến nay đều quản lý rừng theo cách lập phương án điều chế được thực hiện theo những quy định tại Quyết định 40/2005/QĐ-BNN, ngày 7/7/2005 của Bộ NN-PTNT về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác
Mặc dù khái niệm quản lý rừng bền vững đã có từ những năm cuối thập
kỷ 80 của thế kỷ 20 và không ngừng phát triển nhưng đến nay đối với cán bộ lâm nghiệp khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ về mục đích và các hoạt động của quản lý rừng bền vững Thật vậy, một kết quả điều tra mới đây của ORGUT cho thấy: có 85% số người được phỏng vấn trả lời là có biết về thuật ngữ Quản lý rừng bền vững Nhưng khi hỏi tiếp theo là: Những hoạt động chính để tiến tới quản lý rừng bền vững là gì? thì có tới 75 % trong số đó trả lời là không biết (Báo cáo Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý rừng bền vững
Trang 19của Việt Nam do ORGUT thực hiện trong khuôn khổ Chương trình quản lý bền vững rừng tự nhiên và tiếp thị lâm sản - GTZ tài trợ)
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), QLRBV là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội
Theo Tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác 1
Các định nghĩa trên, nhìn chung tương đối dài dòng nhưng tựu trung lại
có mấy vấn đề chính sau:
Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu
đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ ; phòng hộ
1
Bộ NN&PTNT: Cẩm nang ngành lâm nghiệp năm 2006-Chương Quản lý rừng bền vững tại trang web
http://www.vietnamforestry.org.vn/libraryfolder/Quan%20ly%20rung%20ben%20vung.pdf
Trang 20môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất ; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái )
Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể:
Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì
và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng)
Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn
và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương
Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác
Các nguyên lý quản lý rừng bền vững Nguyên lý thứ nhất là: Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng:
Cuộc sống con người luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để
sử dụng nó, chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải
là vô tận.Theo định nghĩa Brundtlan thì phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến các khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng được các nhu cầu của họ” 2
Trang 21
Vấn đề chìa khoá để bảo đảm nguyên lý bình đẳng giữa các thế hệ trong quản lý tài nguyên rừng là bảo đảm năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo này Một trong những nguyên tắc cần tuân thủ là tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng
Nguyên lý thứ hai là: Trong quản lý tài nguyên rừng bền vững, sự phòng ngừa, nó được hiểu là: ở đâu có những nguy cơ suy thoái nguồn tài nguyên rừng và chưa có đủ cơ sở khoa học thì chưa nên sử dụng biện pháp phòng ngừa suy thoái về môi trường
Nguyên lý thứ ba là: Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên rừng cùng thế hệ : Đây là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra sự công bằng cho các thế hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưa tạo được những cơ hội bình đẳng cho những người sống ở thế hệ hiện tại Rawls, 19713 cho rằng, sự bình đẳng trong cùng thế hệ hàm chứa hai khía cạnh:
- Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng về sự tự do thích hợp trong việc được cung cấp các tài nguyên từ rừng;
- Sự bất bình đẳng trong xã hội và kinh tế chỉ có thể được tồn tại nếu: (a) sự bất bình đẳng này là có lợi cho nhóm người nghèo trong xã hội và (b) tất cả mọi người đều có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên rừng như nhau Nguyên lý thứ tư là tính hiệu quả Tài nguyên rừng phải được sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái
Trang 22
1.1.1.4 Mối quan hệ giữa quản lý rừng với sinh kế của người dân
Theo Trung tâm nuôi trồng Thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dương (NACA): Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá ) và các hoạt động cần có để kiếm sống [7] Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên
a) Khái niệm và phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh
kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
Sinh kế bền vững: Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng của con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai Trên thực tế thì nó nên thúc
Trang 23đẩy sự hoà hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai
Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này phải hội tụ đủ những nguyến tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động
Theo DFID (1999), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được , chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
Các nguồn lực và khả năng mà con người có, được xem là các vốn hay tài sản sinh kế bao gồm 5 loại sau:
- Vốn con người: bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế
- Vốn xã hội: đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức
xã hội và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau
- Vốn tự nhiên: là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc một cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước và các nguồn tài nguyên ven biển
- Vốn tài chính: là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước
Trang 24- Vốn vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng, nhà ở và cá đồ dùng, dụng cụ trong gia đình
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh kế; Qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; Cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; Họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên;
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế - đó là những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài, bao gồm:
- Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt,
sự an toàn của đời sống vật chất
Trang 25- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống trong trạng thái dể bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá
cả thị trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soạt dịnh bệnh gia súc, vâng vâng
- An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực vv
- Sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên: Sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các thành tố của một sinh
kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh kế của con người chịu sự tác động bởi các yếu tố bên ngoài Điều này được thể hiện trong khung phân tích sinh kế dưới đây (DIFID, ):
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích sinh kế
Trang 26Nguồn: theo DFID (2003)
b) Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân
Tài nguyên rừng bao gồm đất rừng, bải chăn thả gia súc, cây cối, động vật rừng, các nguồn lâm sản khác và dược liệu, nguồn gen, nguồn nước, được xem là tài sản sinh kế (vốn tự nhiên) của mỗi hộ dân và cả cộng động Xét trong mối quan hệ với các nguồn lực khác, tài nguyên rừng là nguồn lực tạo ra các nguồn lực khác: Bán sản phẩm thu lượm từ rừng sẽ cho những khoản tiền mặt, bổ sung cho nguồn lực tài chính; Quản lý và sử dụng tài nguyên rừng dưới hình thức cộng đồng làm tăng mối liên kết và quan hệ giữa các cá nhân, bổ sung cho nguồn vốn xã hội
Rừng là trung tâm sự sống của con người chừng nào con người còn sống trên trái đất (Bishop, 1999) Rừng mang lại nhiều lợi ích không những cho địa phương mà còn cho quốc gia và cả thế giới
Trang 27Rừng là nơi sinh sống cho hơn 200 triệu người ở vùng nhiệt đới (Brown
et al, 1991) Họ có thể là những người dân sống ở vùng rừng qua nhiều thế hệ, mới chuyển đến như là người đến định cư hoặc là sống tạm, hoặc là người nơi khác đến để khai thác rừng
Rừng cung cấp gỗ và năng lượng cho con người Giá trị các loại sản phẩm gỗ được buôn bán trên thị trường thế giới hàng năm lên đến 36000 triệu USD Ước tính của FAO vào năm 1990, lượng tiêu thụ củi đốt và than củi của
cả thế giới lên đến 1800 triệu m3 (FAO, 1992a)
Rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ bao gồm thực phẩm, thảo dược, nhựa, sợi, thức ăn cho gia súc và những sản phẩm cần thiết khác Số liệu điều tra ở Camerun, Côte D‟lvoire, Ghana và Liberia cho thấy động vật rừng chiếm từ 70 – 90% tổng lượng protêin động vật được tiêu thụ (FAO, 1993g) Theo một nghiên cứu của Sounthone Ketphanh (Lào), người dân nông thôn dùng lâm sản để ăn (măng tre nứa, lá một số loại cây, cá suối và thịt chim thú), làm vật liệu xây dựng(mây tre, cây quanh vườn, lá lợp ), công cụ săn bắn và canh tác Với 90% dân cư sống ở vùng nông thôn có đến 50% thu nhập của các hộ dân nông thôn là từ lâm sản ngoài gỗ
Rừng mang lại những lợi ích về môi trường cho con người Rừng có chức năng bảo vệ môi trường không những ở địa phương mà còn cả khu vực
ở những vùng có độ dốc cao, rễ cây rừng có tầm quan trọng trong việc ngăn chặn xói mòn, sạt lở đất
Rừng giúp ngăn cản gió, giữ và điều hòa lượng nước mưa và nước ngầm Trong hệ thống canh tác nông nghiệp, rừng giúp duy trì độ màu mở của đất thông qua chu trình dinh dưỡng của cây rừng Rừng tạo bóng mát, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm không khí
Trang 28Rừng là nơi phát triển các dịch vụ khác như du lịch sinh thái, khu nghĩ mát, địa điểm giải trí, Nó còn là nơi chứa đựng nguồn gen không những có giá trị kinh tế mà còn có giá trị khoa học và xã hội Nguồn gen này luôn luôn được tái tạo và nó có thể được sử dụng mãi mãi nếu như được quản lý tốt Rừng có ý nghĩa quan trọng như là một nguồn tiết kiệm và sự bảo đảm cho người nghèo đối phó với những rủi ro và bất thường xảy ra Rừng cung cấp sản phẩm bù đắp sự thiếu hụt ở thời kỳ giáp hạt (vụ) Những bất thường xảy ra trong cuộc sống như điều trị bệnh, ma chay, xây dựng nhà cửa, yêu cầu một lúc lượng tiền lớn Cây rừng có thể mang lại cho những người nghèo một khoản tiền lớn để họ có thể đáp ứng yêu cầu này (Chambers, 1986)
ở Việt Nam, rừng và đất rừng chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của Việt Nam, là nơi sinh sống của hơn 2/3 dân số cả nước (Qui, 1994) 75% dân số
cả nước sống phụ thuộc vào nông nghiệp và rừng như là nguồn sống chủ yếu Dân số ngày càng tăng tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên rừng, nhu cầu về các sản phẩm rừng ngày càng cao (Rambo và Cúc, 1996)
Mặc dụ đã có những tiến bộ đáng kể trong sản xuất lương thực, sau nhiều năm thiếu hụt lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới, nhưng những tiến bộ này chỉ giới hạn chủ yếu ở vùng đồng bằng có hệ thông thủy lợi tốt Hàng triệu người nông dân ở vùng miền núi vẫn còn đối mặt với sự thiếu hụt lương thực Sản xuất nông nghiệp ở vùng miền núi vẫn còn nhiều hạn chế lớn Điều này đã làm cho người dân vùng núi phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng như là nguồn sống của họ ( Mittelman, 1997) Nghèo đói và kém phát triển ở Việt Nam đã làm cho người nghèo ở nông thôn và và cả Nhà nước phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên rừng như là một nguồn thu nhập Trong 50 năm qua, sự khai thác và sử dụng tài
Trang 29nguyên rừng quá mức là một trong những nguyên nhân làm phá hủy gần một nữa tài nguyên rừng của cả nước (GoV and GEF, 1994)
Thực phẩm từ rừng như thịt động vật rừng, măng tre, củ quả, mật ong và nấm được sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày Rất nhiều loài cây lấy cũ, cây rau và những sản phẩm rừng khác được sử dụng làm thức ăn trong thời kỳ giáp hạt hoặc thiếu hụt lương thực trầm trọng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, người dân phu thuộc hoàn toàn vào rừng như là nguồn lương thực, thức
ăn cho gia súc trong thời gian 4 tháng hoặc hơn trong năm (Gamelgaard, 1990; Mao 1987)
Theo tác giá Lương Văn Tiến (1991), ở nước ta ước tính có 23 triệu tấn củi được tiêu thụ hàng năm Nhiều vùng miền núi ở nước ta, nguồn thu nhập
từ việc bán sản phẩm rừng thường cao hơn nguồn thu nhập từ bán các sản phẩm nông nghiệp như lúa
Hoạt động khai thác sản phẩm ngoài gỗ bao gồm việc canh tác, thu lượm, bán và chế biến đã tạo việc làm cho hàng trăm ngàn người dân
Theo kết quả điều tra của tác giả Nguyễn Giang Nam năm 2000, cộng đồng người dân ở xóm Vành xã Mông Hóa - Kỳ Sơn - tỉnh Hòa đã sử dụng 45 loài Lâm sản ngoài gỗ cho nhu cầu gia đình và bán ra thị trường Qua tìm hiểu tập quán khai thác và sử dụng các Lâm sản ngoài gỗ của đồng bào dân tộc Mnông - xã ĐakR'tih - huyện Dakr - tỉnh Đaklak, Tác giả Huỳnh Văn Phong đã điều tra xác định được người dân ở đây sử dụng 25 loài Lâm sản ngoài gỗ
để ăn, làm công cụ và bán Theo kết quả điều tra của tác giả Trương Thu về tình hình sử dụng cây rừng làm thuốc, tác giả đã điều tra được khoảng 100 loài cây rừng dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh hàng ngày
Trang 30Tóm lại, rừng có vai trò rất quan trọng đối với con người, đăc biệt là người dân sống ở vùng rừng và có cuộc sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng Tuy nhiên việc khai thác và sử dụng tài nguyên rừng không hợp lý của con người là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái tài nguyên
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Một số hoạt động của tổ chức GTZ trên thế giới
Tại Indonesia: Dự án cung cấp nước sạch cho nông thôn tại Nusa
Tenggara Timur and Nusa Tenggara Barat Dự án thực hiện từ tháng 7/2002 đến tháng 12/2008 [22]
Nội dung của dự án: Rất nhiều các khu vực nông thôn của các tỉnh miền
Đông và miền Tây của tỉnh Nusa Tenggara Timur và Nusa Tenggara Barat của Indonesia chưa được cung cấp nước sạch Hiện tượng thiếu nước trầm trọng trong 8 tháng mùa khô thường xuyên sảy ra, gần như không có quá trình
xử lý nước thải và điều kiện vệ sinh yếu kém đã làm tăng nhanh số người bị mắc bệnh tật làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của khu vực
Thực hiện: Dự án được tài trợ bởi ngân hàng phát triển KfW KfW có
trách nhiệm xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch trong khi đó GTZ liên kết với các thành viên địa phương trở thành người đứng ra quản lý, xác nhận sự
Trang 31lường và cung cấp thông tin về cung cấp nước tại địa phương là cơ sở cho họ quản lý hệ thống cung cấp nước cả trên phương diện khoa học và tài chính và thực hiện nó một chách độc lập Trong trường hợp này, họ trở nên tốt hơn khi nắm được tình hình về thực tế cải thiện vệ sinh và sự bảo tồn các tài nguyên
Dự án cũng chuẩn bị cho lãnh đạo địa phương đối với luật để quản lý việc cung cấp nước một cách chính xác và phương pháp để bảo tồn tài nguyên
Kết quả đạt được:
Đến tháng 10/2005, trên mỗi huyện đã có 10 đơn vị quản lý và 40 tổ chức sử dụng nước tuân thủ theo luật của từng cấp tại địa phương Đơn giản việc cung cấp nước chính xác theo kế hoạch và được xây dựng với sự tham gia của người dân Người sử dụng nước máy có thể quản lý tài chính và chi phí độc lập Trung bình mỗi ngày lượng nước cung cấp tăng tới 40 lít/người/ngày Người dân tham gia cho biết tốt hơn về tầm quan trọng của việc vệ sinh cá nhân khi dung nước Những người trong nhóm sử dụng nước thường xuyên thảo luận về bảo tồn tài nguyên trong các cuộc họp và thực thi giảm ô nhiễm đến nguồn tài nguyên nước
Tại Thái Lan
Dự án GTZ tập trung Quản lý hệ thống thông tin để hạn chế ô nhiễm Công nghiệp thực hiện từ tháng 6/2005 đến tháng 5/2007
Nội dung:
Các cơ quan của chính phủ thiếu những thông tin chính xác về ảnh hưởng đối với môi trường bởi quá trình công nghiệp hoá và đó chính là cơ hội lớn để cải thiện trong năng lực quản lý khí thải công nghiệp
Mục tiêu:
Trang 32Đến khi kết thúc dự án, các cơ quan của chính phủ đưa ra chính sách và thước đo và được thực hiện theo các bước sau:
Cơ sở dữ liêụ về môi trường công nghiệp (Không khí, nước, rác thải ) đối với khu vực đã lựa chọn là phải được ứng dụng thực tế
Nhu cầu về việc ứng dụng hệ thống quản lý thông tin cho các khu vực được lựa chọn của các công ty vừa và nhỏ để nâng cao hiệu quả sinh thái
Phương thức tiếp cận:
Tất cả các hoạt động của dự án nhằm giới thiệu hệ thống thông tin hiện đại như cơ sở cho việc ra quyết định tốt hơn tại các nhóm mục tiêu khác nhau Nhiệm vụ đầu tiên là thực thi một hệ thống thong tin về môi trường tại Cục công nghiệp để theo theo dõi, phân tích và quản lý có hiệu quả khí thải công nghiệp.Hệ thống sẽ dựa trên cơ sở dữ liệu lấy từ các báo cáo và từ chính các nhà máy Gần đây, các dữ liệu này được báo cáo và xử lý theo định dạng tương tự (trên giấy) Kết quả là việc giới thiệu Hệ thống thông tin môi trường (MIS) ban đầu lại tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của các cải cách có liên quan và của các quy trình xét duyệt Hơn thế nữa việc này còn giúp cho Cục công nghiệp có thể kiểm tra độ tin cậy của các dữ liệu được báo cáo một cách liên tục và kiểm soát, phân tích sự phát triển của các vấn đề môi trường công nghiệp theo từng lĩnh vực và khu vực Các dữ liệu về ô nhiễm công nghiệp sẽ cung cấp một cách cơ bản cần thiết cho việc hoạch định chính sách phát triển công nghiệp Theo quan điểm của lĩnh vực công nghiệp, hệ thống sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng cung cấp từ Cục công nghiệp
Nhiệm vụ thứ hai tập trung vào việc thực hiện về hệ thống thông tin môi trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đã lựa chọn Đối với tất cả
Trang 33một công cụ hoàn toàn mới Có rất ít công ty có kinh nghiệm về hệ thống thông tin môi trường Hệ thống của hộ tập trung chính vào các vấn đề về tài chính, như là sự chiếm lĩnh về nguồn vật chất
Nhiệm vụ chính thứ hai, các hệ thống của nước này tập trung chủ yếu vào các vấn đề liên quan đến kế toán, như việc mua các vật liệu thô và buôn bán Hệ thống quản lý thông tin được dự án phát triển và thúc đẩy sẽ chú trọng vào phân tích dòng nguyên liệu và cung cấp những thông tin có giá trị cho những nhà hoạch định, nhằm cải thiện tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh của các công ty Yếu tố sau sẽ là mấu chốt để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ triển khai và sử dụng hiệu quả những hệ thống như vậy Mặc dù ban đầu chỉ có vài công ty trong các phân ngành được lựa chọn sẽ giới thiệu MIS, nhưng các công ty khác chắc chắn sẽ theo sau
Nhiệm vụ chính thứ ba nêu lên thực tại rằng cho đến nay, hầu như không
có dịch vụ tư vấn sở tại liên quan đến MIS nào cho các SME Thái Lan Những dịch vụ này sẽ rất quan trọng nhằm đảm bảo tính bền vững của kế quả thứ 2, vì các SME sẽ cần nhiều hỗ trợ hơn trong việc triển khai và sử dụng đầy đủ những hệ thống này Do vậy, dự án sẽ triển khai một chương trình đào tạo và đánh giá cho những tư vấn viên địa phương và khuyến khích họ hỗ trợ quá trình triển khai MIS trong 2 phần ngành được lựa chọn Có thể giả định rằng các tư vấn viên địa phương sẽ muốn tham gia Hơn nữa, các tư vấn viên
sẽ muốn mở rộng dịch vụ của họ tới các ngành công nghiệp khác
Nhiệm vụ chính thứ tư chú trọng vào việc thiết kế và triển khai trung tâm thông tin công cộng (PIC) về các vấn đề môi trường công nghiệp trên cơ sở xem xét các lợi ích cụ thể của công chúng được các đại diện tiêu biểu trình bày và các thông tin sẵn có (có thể là được cung cấp chủ yếu bởi MIS) Các thông tin được công bố phải là các thông tin có liên quan, được công chúng
Trang 34quan tâm, có tính thời sự, có thể hiểu được bởi những người không phải là chuyên gia, và đáng tin cậy [23]
Tại Trung Quốc
Nội dung:
Trong những năm qua Trung Quốc đã giành nhiều công sức nhằm cải thiện an toàn thực phẩm Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều nỗ lực, những vấn đề rất nghiêm trọng vẫn còn có nhiều tồn tại trong nghành nông nghiệp, chăn nuôi và thuỷ sản, đặc biệt là về lĩnh vực sản xuất thức ăn cho thị trường Trung Quốc Không biết phải làm thế nào cũng như phải tuân theo công nghệ nào thì mới đạt được tiêu chuẩn quốc tế Việc tích trữ, bảo quản và hệ thống phân phối không được phát triển Các vấn đề nhiễm khuẩn và nhiễm độc thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc trừ sâu và nhiễm một số kim loại nặng cho thấy kết quả là những thất bại, những rủi ro sức khoẻ đáng quan tâm đối với người tiêu dung
và dẫn tới sự bài trừ những sản phẩm thức ăn có nguồn gốc từ trung Quốc trên nhiều thị trường thế giới
Trang 35Nhà nước nên phác thảo và thực thi một hệ thống quản lý để đảm bảo rằng các xí nghiệp tự có trách nhiệm với sản phẩm của mình Như vậy, hệ thống thông thường bao gồm những yếu tố sau:
Đánh giá rủi ro để xác định xem có bao nhiêu người có thể bị ảnh hưởng
và nghiêm trọng đến mức độ nào, nếu một công ty bán ra các sản phẩm bị nhiễm độc
Dựa vào đánh giá rủi ro này, một hệ thống quản lý rủi ro sẽ được thiết kế
và triển khai Điều này có thể cũng đòi hỏi sự điều chỉnh một số quy tắc hành chính nhất định Một phần là sự giám sát theo hoạch định của các sản phẩm của các doanh nghiệp
Một bộ phận không thể thiếu của hệ thống quản lý rủi ro là hệ thống khẩn cấp cho phép việc nhận dạng và xóa bỏ tất cả các sản phẩm bị nhiễm độc khỏi hệ thống phân phối ngay khi mẫu xét nghiệm cho thấy có gây nguy hại tới sức khỏe cộng đồng
Dự án GTZ sẽ tập trung và các sản phẩm được lựa chọn (hoa quả, rau và thịt lợn) của 3 hạt của tỉnh Hebei và sẽ xem xét toàn bộ chuỗi từ sản xuất ban đầu đến tiêu thụ Thời gian triển khai dự án từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 4 năm 2010 [24]
Tại Camaroon: Dự án quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nội dung:
Mặc dù Cameroon với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có rất triển vọng cho việc phát triển kinh tế và giảm đói nghèo Nhưng cho đến nay, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác hiệu quả và đang trong tình trạng suy giảm chất lượng
Trang 36Rất nhiều chương trình và chiến lược đưa ra nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hiệu quả hơn đều không thành công Nguyên nhân là do mâu thuẫn về quyền lợi, và hơn thế là thiếu cân đối và phối hợp hài hoà giữa các chương trình này
Hiện nay, chính phủ Cameroon đang thực thi chương trình Rừng quốc gia (PSFE) nhằm đạt được tiến triển ở những khu vực nhất định
Người dân trong khu vực rừng cần bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên này một cách hợp lý
Phương thức tiếp cận:
GTZ ưu tiên việc phối hợp và hài hoà các nhân tố ở các quốc gia liên quan tới chương trình PSFE tương ứng với hành động của họ Hơn nữa, thông qua việc liên kết chặt chẽ với Hiệp hội bảo vệ rừng Châu Phi (COMIFAC), chương trình này được tổ chức theo hướng siêu quốc gia trong khu vực Trong nội dung chương trình, GTZ hiện nay tập trung mũi nhọn vào việc thực hiện chiến dịch toàn Châu Âu có tên là “Thi hành luật bảo vệ rừng, cai quản và thương mại‟ tại Cameroon
Một hoạt động có tính quyết định nữa trong chương trình là truyền đạt các cách thức để thúc đấy việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và tuân thủ các
Trang 37quy định, luật lệ cũng như nâng cao nhận thức của người dân Bộ lâm nghiệp
sẽ được tư vấn phương pháp để cập nhật tiến độ dự án
Ở khu vực phía Tây Nam và Tây Đông của Cameroon, GTZ phối hợp cùng các cơ quan chức năng, Quỹ thế giới bảo vệ các loài thú hoang dã (WWF) và Hiệp hội bảo vệ thú rừng (WCS) để xây dựng một tổ chức hợp tác
kỹ thuật (UTOs) Đây là thiết bị quy hoạch không gian, được thiết kế nhằm hài hoà giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ sinh thái ở những khu vực này
Kết quả đạt được đến thời điểm hiện tại:
Nhờ sự hỗ trợ của dự án GTZ, một chiến lược quốc gia có tính nhất quán cao với kế hoạch trung hạn và các mục tiêu rõ ràng đang được triển khai Quá trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng về lâm nghiệp và các bộ phận khác đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong quy hoạch không gian cho những khu vực riêng biệt dựa trên các nhân tố địa lý, sinh thái và phát triển kinh tế Kế hoạch quản lý ở hai khu vực này cũng đang được triển khai
Người dân địa phương nhận được rất nhiều sự hỗ trợ trực tiếp như việc giúp đỡ một tổ chức phi chính phủ để phát triển các dịch vụ du lịch sinh thái, nhờ đó mà số lượng khách du lịch đến khu vực này tăng lên gấp đôi trong vòng ba năm Các làng bản ở khu vực phía Tây Nam hiện nay đã có thể sử dụng hợp lý tài nguyên thô từ loài tre “Prunus africana” – một nguyên liệu rất cần thiết cho ngành công nghiệp dược phẩm, phù hợp với kế hoạch quản lý và khả năng khai thác
Những định hướng phát triển làng bản với sự trợ giúp của nước Đức sẽ giúp người dân địa phương sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên và các nguồn hỗ trợ tài chính của quốc gia cũng như quốc tế
Thời gian thực hiệndự án từ tháng 10/2003 đến 9/2015 [25]
Trang 381.1.2.2 Một số dự án đã triển khai trong thời gian qua tại Việt Nam
a) Chương trình dự án 327:
Đây là chương trình hỗ trợ phát triển lâm nghiệp được thành lập theo Nghị định 327/CT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành vào tháng 9 năm 1992 Mục tiêu của chương trình là nhằm khuyến khích việc trồng vào bảo vệ rừng, cải thiện điều kiện sử dụng đất, nâng cao mức sống của người dân địa phương (sống dựa vào rừng) và hỗ trợ chương trình định cư
b) Chương trình dự án 661:
Các quyết định 08/1997/QH10 và 661/QĐ-TTg được ban hành lần lượt vào tháng 12/1997 và tháng 7/1998 nhằm xây dựng chương trình trồng rừng quốc gia, thường được gọi là chương trình 661 hay Chương trình trồng 5 triệu
ha rừng Chương trình này thực chất là nối tiếp Chương trình 327
Chương trình có 3 mục tiêu cơ bản: (1) Trồng mới 5 triệu ha rừng nhằm tăng diện tích che phủ của rừng lên 43% trong giai đoạn 1998 đến 2010 Điều này góp phần vào bảo vệ môi trường, giảm thiên tai, tăng lượng nước, bảo vệ nguồn gien và đa dạng sinh học; (2) Sử dụng đất trống như một công cụ sản xuất để tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo; định canh định cư; tăng thu nhập của người dân tại các vùng nông thôn miền núi Đặc biệt là người dân tộc thiểu và đảm bảo ổn định chính trị và xã hội, quốc phòng và an ninh, đặc biệt tại khu vực biên giới; và (3) cung cấp gỗ cho các hoạt động công nghiệp, củi và các sản phẩm rừng khác cho nhu cầu trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu Tóm lại mục tiêu của chương trình này là nhằm biến rừng thành một nguồn đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Trang 39Chương trình được thực hiện thông qua các dự án có sự tham gia của người dân tại địa phương Quyết định 661/QĐ-TTg nêu rõ “Nhân dân là lực lượng chủ yếu trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và hưởng lợi ích từ nghề rừng ”
Việc phân bổ quỹ cũng tương tự như chương trình 327, bao gồm cả các tiêu chí được đặt ra cho việc chi trả các hoạt động trồng và bảo vệ rừng Ví
dụ, những hộ chăm sóc rừng đặc dụng và rừng phòng hộ được trả 50.000 đồng/năm/ha Với những hoạt động như trồng rừng mới, đặc biệt trong các khu vực cẩn khôi phục hệ sinh thái thì còn có thể được trả cao hơn (khoảng 2 triệu đồng/ha)
Việc giải quyết thủ tục giao đất giao rừng và trao giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho “ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân” cũng được đặc biệt quan tâm
Tuy nhiên, liệu các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền sở hữu đất của người dân có giúp tạo ra sinh kế bền vững cho người dân miền núi không? Làm thế nào mà những chính sách này làm cho người dân chuyển
từ canh tác nương rãy tự cung tự cấp sang định canh? Sự chuyển đổi này đã làm thay đổi đời sống của người dân như thế nào? Hệ thống canh tác nào đã xuất hiện trong hệ thống sử dụng đất mới được hình thành từ các chính sách
về đất đai? Trước khi trả lời các câu hỏi này, trước hết chúng ta hãy cùng nhau xem xét phản ứng của người dân đối với những chính sách này như thế nào
c) Một số dự án của GTZ đã triển khai tại Việt Nam
Dự án Phát triển nông thôn Đắk Lắk
Từ năm 2003, Dự án Phát triển nông thôn Đắk Lắk đẩy mạnh sự tham
Trang 40gia của đồng bào dân tộc thiểu số nông thôn vào tiến trình phát triển kinh tế của tỉnh Mục tiêu là giới thiệu phương pháp lập kế hoạch phát triển chung dựa theo nhu cầu để phân phối nguồn lực Sự quan tâm đến nhu cầu và bối cảnh văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số là điểm mấu chốt trong việc điều chỉnh khung pháp lý để phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Dự án hỗ trợ giới thiệu mô hình quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia trong giao đất, điều tra rừng và lập kế hoạch quản lý rừng Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan liên quan xây dựng và thí điểm các thủ tục hành chính và tài chính cần thiết để thể chế hóa thủ tục và nhân rộng toàn tỉnh Cùng với các cơ quan khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp&PTNT và với sự tham gia của nông dân là dân tộc thiểu số Dự án đã triển khai thí điểm và phổ biến các mô hình canh tác đất dốc và chăn nuôi gia súc phù hợp Đồng thời giới thiệu các phương pháp khuyến nông có sự tham gia và hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn tín dụng quy mô nhỏ Để tạo cơ hội tăng thu nhập thêm cho người dân
Dự án xúc tiến thúc đẩy mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và thương mại thông qua xây dựng các chuỗi giá trị và Hợp tác Công - Tư Dự án cũng tập trung vào nâng cao năng lực và tập huấn cho các cán bộ ở các cơ quan và tổ chức xã hội các cấp trong tỉnh Các quy trình, hướng dẫn mới hoặc được thông qua và các mô hình đã được thí điểm ở 4 xã mục tiêu của dự án ở huyện Lak và Ea H‟Leo Phân bổ tài chính công cho các buôn người dân tộc thiểu số
ở 2 huyện mục tiêu vùng dự án (Lak và Ea H'Leo) tăng từ 23 tỉ đồng (tương đương khoảng 1,15 triệu Euro vào năm 2005) lên 35 tỉ đồng (tương đương 1,75 triệu Euro) [11]
Tại Đắc Nông