1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

117 576 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI NHƯ QUỲNH

QUÁN TRIỆT BÀI HỌC “LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA ĐẢNG TRONG GIÁO DỤC VAI TRÒ LÀM CHỦ CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ

QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI NHƯ QUỲNH

QUÁN TRIỆT BÀI HỌC “LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA ĐẢNG TRONG GIÁO DỤC VAI TRÒ LÀM CHỦ CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ

QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: LL & PPDH Bộ môn Lý luận chính trị

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đồng Văn Quân

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và là thành quả của sự nỗ lực, cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Đề tài của tôi chưa từng được ai công bố hoặc

sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Như Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và quý thầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp

ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp đã cung cấp và chia sẻ tư liệu cần thiết hỗ trợ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới

người hướng dẫn khoa học - TS Đồng Văn Quân - người thầy đã tận tình

giúp đỡ và hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Như Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 TƯ TƯỞNG “DÂN LÀ GỐC” VÀ BÀI HỌC “LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 8

1.2 Tư tưởng “dân là gốc” và bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng Cộng sản Việt Nam 10

1.2.1 Tư tưởng “dân là gốc” trong triết học Trung Quốc cổ đại 10

1.2.2 Tư tưởng dân là gốc nước trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 13

1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gốc 25

1.2.4 Bài học lấy “dân làm gốc” của Đảng cộng sản Việt Nam 34

Kết luận chương 1 40

Chương 2 GIÁO DỤC VAI TRÒ LÀM CHỦ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN 42

2.1 Sự cần thiết và nô ̣i dung giáo du ̣c vai trò làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 42

Trang 6

2.1.1 Sự cần thiết phải giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên trường Đại học

Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 42

2.1.2 Nội dung tăng cường giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 53

2.2 Những thành tựu đạt được trong thực hiện quyền làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 55

2.2.1 Làm chủ trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống 55 2.2.2 Tham gia làm chủ lớp học, khoa, Nhà trường 57

2.2.3 Làm chủ trong công tác đoàn thể, xã hội 62

2.2.4 Làm chủ trong rèn luyện, học tập, nghiên cứu khoa học 63

2.3 Những hạn chế trong thực hiện quyền làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 65

2.4 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong thực hiện quyền làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 67

2.4.1 Nguyên nhân của những thành tựu 67

2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 71

Kết luận chương 2 78

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ LÀM CHỦ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN 79

3.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức dân chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên hiện nay 79

3.1.1 Phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên 79

3.1.2 Tăng cường giáo dục, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định, quy chế của ngành cho sinh viên 80 3.2 Nhóm giải pháp làm thay đổi quan niệm về vi ̣ trí và vai trò của người ho ̣c trong hoạt đô ̣ng da ̣y và ho ̣c 80

Trang 7

3.2.1 Thay đổi phương thức đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm 80

3.2.2 Giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và sinh hoạt 87

3.3 Nhóm giải pháp tăng cường giáo dục ý thức làm chủ cho sinh viên, hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý về quyền làm chủ của sinh viên 88

3.3.1 Tăng cường giáo dục ý thức làm chủ cho sinh viên 88

3.3.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý về quyền làm chủ của sinh viên 89

3.4 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng trong việc giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên 90

3.4.1 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trường Đa ̣i ho ̣c Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên 90

3.4.2 Tăng cường vai trò của các cấp chính quyền trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên 92

3.4.3 Phát huy dân chủ trong hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên ở trườ ng Đa ̣i ho ̣c Kinh tế và Quản tri ̣ Kinh doanh Thái Nguyên 93

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử Việt Nam, từ thời kì tự chủ, các triều đại đã có những quan điểm về vai trò của nhân dân trong đường hướng lãnh đạo đất nước Thời Lý - Trần, các nhà tư tưởng rất chú ý đến “ý dân”, “lòng dân” và việc “khoan thứ

sức dân” “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để

chú trọng, Hoàng Ngũ Phúc đã có quan điểm về nhân dân như sau: “Nước lấy

dân làm gốc, nước bình yên, nước hãy để dân yên Dân lấy nước làm lòng, khi nhiễu sự dân ra gánh vác ” [dẫn theo 54] Có thể nói, tư tưởng lấy dân làm

gốc được hình thành từ những buổi đầu lịch sử tự chủ dân tộc và phát triển qua các triều đại

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” ấy thấm sâu vào lòng người dân đất Việt từ đời này sang đời khác, góp phần làm nên lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Nếu phân tích một cách khoa học, tư tưởng lấy dân làm gốc vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn trong cả thời chiến lẫn thời bình Nó phản ánh văn hóa của một dân tộc mà nhân dân luôn có tinh thần yêu nước, tinh thần tự tôn và yêu chuộng hòa bình Kế thừa và phát huy truyền thống quý báu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng tư tưởng ấy, kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo để lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến vinh quang Trong suốt cuộc đời hoạt

động cách mạng của mình, Người luôn nghĩ: “Dân là gốc của một nước, nước

lấy dân làm gốc” [dẫn theo 55] Qua đó Người khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” [dẫn theo 55]

Trang 9

Trong cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, có dân là

có tất cả Đó là phương pháp luận trong tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh

Người đã từng nói “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu

cũng xong” [37, tr 495] Nhưng muốn tập hợp được dân, muốn dân sẵn sàng

hy sinh của cải và tính mạng cho đất nước thì trước hết người lãnh đạo, người Đảng viên phải gương mẫu làm trước, hy sinh trước

Hơn 80 năm qua, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng luôn coi trọng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Đặc biệt từ Đại hội VI - Đại hội

mở đầu cho công cuộc đổi mới đến nay, nhận thức của Đảng về đại đoàn kết dân tộc có những phát triển mới và quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Ngày 01 tháng 3 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành

quyết định số 04/2000/QĐ-BGDĐT về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ

trong hoạt động của nhà trường” Quyết định này đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ

của người học, người dạy, của các tổ chức trong việc phát huy dân chủ ở nhà trường

Tuy vậy, thực tế cho thấy, vấn đề giáo dục ý thức làm chủ cho sinh viên trong các trường học nói chung và trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh chưa được thực hiện tốt theo tinh thần của quyết định 04/2000 của bộ Giáo dục và Đào tạo Vì vậy, tăng cường ý thức tự làm chủ cho sinh viên trong nhà trường là một việc làm cần thiết, có tác dụng to lớn trong việc thực thi tốt

Trang 10

nhất, có hiệu quả nhất những điều Luật Giáo dục quy định theo phương châm

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân Phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức trong nhà trường theo luật định, góp phần xây dựng nền nếp, trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp Nhà nước

Vì lý do trên, chúng tôi xin chọn đề tài “Quán triệt bài học “lấy dân làm

gốc” của Đảng trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích, luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng cường giáo dục vai trò làm chủ cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên

Phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giáo dục vai trò làm chủ cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

“Tăng cường giáo dục vai trò làm chủ cho sinh viên trường Đại học Kinh

tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát, thăm dò vai trò làm chủ của sinh viên trường Đại học Kinh tế

và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên trong 5 năm trở lại đây (2010-2015)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, về phát triển con người và về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, đề tài còn

sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử - logic, so sánh, xin ý kiến chuyên gia, khảo sát, điều tra xã hội học…

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài đã chỉ ra được một số hướng nghiên cứu vấn đề dân chủ trong lịch sử tư tưởng của nhân loại cũng như vấn đề con người, phát triển con người và vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Trên cơ sở đó, khái quát các vấn đề nghiên cứu, đưa ra những nhận xét, đánh giá các công trình

đã nói trên

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung

luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 12

Chương 1

TƯ TƯỞNG “DÂN LÀ GỐC” VÀ BÀI HỌC “LẤY DÂN LÀM GỐC”

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1.1 Li ̣ch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, vấn đề con người, quyền con người

và phát huy quyền làm chủ của con người luôn là một trong những chủ đề quan trọng và được bàn luận nhiều, đặc biệt là các khoa học xã hội với những cách tiếp cận và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau Tuy có sự khác biệt tương đối nhưng tư tưởng dân chủ ở phương Tây và tư tưởng dân là gốc ở phương Đông đều quan tâm giải quyết vấn đề có tính nhân văn, nhân bản trên

Trong triết học cổ đại, vấn đề dân chủ , dân là gốc và thực thi quyền làm chủ của con người được các nhà tư tưởng đề xuất trong các học thuyết của họ Chẳng hạn, mô hình xã hội và nhà nước dân chủ của Platon, hay tư tưởng đề cao vai trò, sức mạnh của dân và đề xuất nền chính trị vì dân trong học thuyết của Nho giáo (Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử )

Sang thời kỳ Phục Hưng, hệ tư tưởng dân chủ tư sản được hình thành

Nó gắn liền với khát vọng tự do, bình đẳng của con người cho nên được đề cao

và phát triển nhanh chóng Tư tưởng này không chỉ mang lại giá trị về mặt lý luận mà còn góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Những nghiên cứu về dân chủ của Môngtexkiơ, G Rutxô đã đặt nền móng cho sự ra đời của tư tưởng dân chủ tư sản và là tiền đề lý luận cho thể chế dân chủ tư sản của nhiều nước phương Tây Tuy nhiên, hệ tư tưởng và thể chế dân chủ tư sản quá đề cao quyền tự do cá nhân, tuyệt đối hoá quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, đã dẫn đến hình thành chủ nghĩa cá nhân

tư sản, làm nảy sinh những bất công, bất bình đẳng trong xã hội tư sản

Trang 13

Trong học thuyết của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân chủ được làm sáng tỏ, từ nguồn gốc đến bản chất của dân chủ; phân biệt sự khác biệt về chất giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa; làm rõ những nguyên tắc và cơ chế để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa

Với sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên phạm vi thế giới, một nền dân chủ kiểu mới đã ra đời - dân chủ xã hội chủ nghĩa Xung quanh vấn đề dân chủ đã diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng quyết liệt giữa hai hệ tư tưởng là hệ

tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản Cuộc đấu tranh đó kéo dài cho đến tận ngày nay

Các nhà tư tưởng tư sản, để bảo vệ cho chế độ tự do tư sản, luôn kêu gọi

“dân chủ hoá” để tìm cách áp đặt trật tự xã hội tư sản phương Tây cho các nước khác, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước phát triển theo xu hướng phi

tư bản chủ nghĩa Họ tìm cách công kích nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gọi chế độ

xã hội chủ nghĩa là độc tài, toàn trị, đảng trị; họ phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, cho rằng đã tập trung thì không còn dân chủ Xu hướng này có thể thấy qua các tác phẩm như: “Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và dân chủ” của I Sumpeter; “Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội, nhà nước ở Liên Xô: Những bài học cho chủ nghĩa xã hội tương lai” của Đavit M Kotx; “Thế nào là dân chủ hiện nay?” Của Alen Turen; “Phân tích so sánh những điều kiện xã hội cần thiết cho việc thiết lập nền dân chủ” của Samur Martin Lipset và Ken Rium Sen

Các nhà lý luận ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây luôn đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích, phê phán những hạn chế của nền dân chủ tư sản, làm rõ bản chất giai cấp của nó, qua đó chứng minh cho thực chất và tính hơn hẳn của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, do những sai lầm chủ quan của chủ nghĩa xã hội hiện thực,

sự quan liêu hoá của bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nên việc vi phạm dân chủ vẫn diễn ra khá phổ biến ở các nước này

Trang 14

Các nhà xã hội dân chủ thì tìm cách dung hoà tư tưởng dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa bằng cách đề cao các giá trị tự do, bình đẳng, đoàn kết, dân chủ Trào lưu tư tưởng trung dung mang tính chiết trung này mong muốn điều hoà mâu thuẫn giai cấp, trên cơ sở kêu gọi đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc để tạo sự đồ ng thuận xã hội, nhưng vẫn bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Cho nên, thực chất nó vẫn mang xu hướng tư bản chủ nghĩa Xu hướng tư tưởng này được thể hiện qua các tác phẩm như “Dân chủ” của Gooc- giơ Mac-se; “Toàn cầu hoá và dân chủ” của I.B.Levin

Ở Trung Quốc hiện nay vấn đề dân chủ, dân là gốc được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Thắng lợi của công cuộc cải cách đã đem lại sự phát triển bền vững nhiều năm liên tục ở Trung Quốc, cùng đó là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc được định hình và phát triển Tuy còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế như tệ quan liêu của bộ máy lãnh đạo còn nặng nề, nông thôn với đại đa số dân cư sinh sống còn lạc hậu, nhưng Đảng và nhân dân Trung Quốc vẫn quyết tâm xây dựng một đất nước dân chủ và giàu mạnh, quyết tâm xây dựng “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” Các học giả Trung Quốc tập trung nghiên cứu, làm rõ bản chất giai cấp của dân chủ; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong quá trình thực thi dân chủ trong Đảng và trong đờ i sống xã hội; đề xuất các xu hướng tư tưởng khác nhau về vấn đề dân chủ trong Đảng như “Thuyết cấp tiến”, “Thuyết ôn hoà”; nghiên cứu và đề xuất cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở Có rất nhiều công trình nghiên cứ u liên quan đến vấn đề này như: “Bàn về phát triển nền chính trị dân chủ và xây dựng văn minh chính trị xã hội chủ nghĩa” của Liễu Thành Diệm; “Thuyết dân chủ hoá trong Đảng nhìn từ góc độ phát triển chính trị” của Xiao Gongqin; “Then chốt để xây dựng năng lực cầm quyền: Thúc đẩy toàn diện dân chủ xã hội chủ nghĩa từ góc độ văn minh chính trị” của Chu Tác Hàn;

“Hãy để dân chủ trở thành một bộ phận trong đời sống nhân dân” của Lý Trữ Vọng; “Chế độ tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của chính đảng mác - xít” của Lạc Thụ Cương; “Dân chủ và giới hạn của dân chủ” của Hu Liênshang

Trang 15

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Tư tưởng “dân là gốc” không phải là một tư tưởng mới mẻ, không phải là

sự sáng tạo của riêng Đảng ta, mà đã xuất hiện trong lịch sử, có sự phát triển về mặt lý luận và đã được kiểm nghiệm về mặt thực tế Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả nhận thấy phần lớn các công trình nghiên cứu đi theo hướng xem xét tổng thể tư tưởng của từng nhà triết học, từng trường phái triết học Còn những nội dung mà tác giả nghiên cứu chỉ được coi là một bộ phận của những tư tưởng ấy Liên quan đến đề tài có những khuynh hướng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu trong nước như sau:

Thứ nhất: Khuynh hướng nghiên cứu lịch sử đối với tư tưởng “dân là gốc” Không có công trình nghiên cứu riêng về vấn đề này, mà chỉ có các tài liệu lịch sử triết học nghiên cứu tư tưởng của từng nhà triết học, từng trường phái triết học.Trong đó có đề cập đến quan điểm, thái độ khác nhau của họ đối

với dân Quan trọng nhất là bộ tài liệu 5 tập Lịch sử triết học phương Đông

của Nguyễn Đăng Thục Đây là một bộ tài liệu chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử, nhiều trích dẫn quan trọng, rất bổ ích cho những ai không có các kinh điển gốc Nghiên cứu tư tưởng “dân là gốc” trong tư tưởng Việt Nam được thực hiện

trong các tài liệu chủ yếu như: Lịch sử tư tưởng Việt Nam xuất bản năm 1993 tại Hà Nội, Lịch sử Việt Nam - Hà Nội 1983

Thứ hai: Nghiên cứu lý luận về vấn đề dân chủ, dân là gốc, làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ

xã hội chủ nghĩa; so sánh, làm rõ sự khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản Theo hướng này, có thể kể đến những nghiên cứu của tác giả Đàm Văn Thọ và Vũ Hùng trong cuốn sách “Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa” của Thái Ninh và Hoàng Chí Bảo; “Những chỉ dẫn của Lênin về đấu tranh chống quan liêu và thực hành dân chủ”, “Lý luận về dân chủ và thực hiện dân chủ hoá ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới” của Hoàng Chí Bảo; “Dân chủ

Trang 16

và tập trung dân chủ ” của Nguyễn Tiến Phồn; “Khái niệm dân chủ, sự khác nhau và sự giống nhau giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa” của Phạm Ngọc Quang; “Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh” của Phạm Thành;

“Dân chủ và thiết chế dân chủ ở Việt Nam” của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (năm 2006)

Thứ ba: Nghiên cứu thực tiễn của quá trình thực hiện bài học “lấy dân làm gốc” Đây là vấn đề có tính thời sự bức xúc, nên có rất nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu khác nhau Quan trọng nhất là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp

nhà nước mang mã số KXBĐ - 12 “Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và những kiến nghị” Kết quả

nghiên cứu của đề tài trên được trình bày trong hai cuốn sách: “Mô hình thực

hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở cơ sở” và “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và vấn đề xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở”

Công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nội dung quan trọng nhất của việc thực hiện bài học “lấy dân làm gốc” ở cơ sở

Liên quan đến nội dung này còn rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, bài báo khoa học, bài viết của các học giả và các chính trị gia của Việt Nam Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở” của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa - Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sạch vững mạnh” của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười; “Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là khâu đột phá trong toàn bộ quá trình phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới” của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; “Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ: “Quan điểm lý luận và phương pháp nghiên cứu” của Hoàng Chí Bảo; “Dân chủ ở cơ sở qua kinh nghiệm của Thuỵ Điển và Trung Quốc” của

Vũ Văn Hiền; “Thực hiện dân chủ ở cơ sở”, “Để thực hiện quy chế dân chủ ở

cơ sở” của Trần Quang Nhiếp; “Dân chủ ở cơ sở - Một khâu quan trọng thực hiện quyền dân chủ của nhân dân” của Đào Duy Quát; “Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay” của Phan Xuân Sơn (chủ biên)

Trang 17

Những công trình trên đã tiếp câ ̣n tư tưởng dân chủ, dân là gốc và phát huy quyền làm chủ của con người ở những khía cạnh khác nhau Nhưng suy cho cù ng, đều xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gố c, phân tích vai trò và thực trạng của viê ̣c thực hiê ̣n dân chủ Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng những kết quả của các công trình đi trước, trong đề tài này, tác giả cố gắng làm rõ viê ̣c quán triệt bài học “lấy dân làm gốc của Đảng” trong giáo dục vai trò làm chủ của sinh viên ở trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên

1.2 Tư tươ ̉ ng “dân là gốc” và bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.1 Tư tưởng “dân là gốc” trong triết học Trung Quốc cổ đại

Tư tưởng “dân là gốc” là một tư tưởng triết học quan trọng của Trung Quốc cổ đại Mệnh đề “dân là gốc nước” xuất hiện lần đầu tiên trong Kinh thư, một trong những tác phẩm cổ nhất của người Trung Quốc Trong quyển 2 (Hạ thư), thiên thứ 3 (ngũ tử chi ca) có ghi lại lời các em vua Thái Khang khuyên

răn vua: “Hoàng tổ (Hạ Vũ) có lời giáo huấn: Đối với dân nên gần và có tình

thân, không nên xơ tình mà coi như đệ hạ Dân là gốc nước Gốc có vững thì nước mới an bình” [26, tr.11]

Tư tưởng “dân là gốc nước” là một sự khái quát lịch sử quan trọng Đây

là một tư tưởng được rút ra từ kinh nghiệm đấu tranh giữ nước, xây dựng và củng cố chế độ chính trị của các nhà nước chiếm hữu nô lệ Trung Quốc

Theo Kinh thư, “dân là gốc nước”, bởi vì dân là đối tượng thống trị của nhà vua Dân và vua là hai mặt đối lập quy định, ràng buộc, nương tựa vào nhau Vua

không thể thiếu dân, vì “vua không có dân cùng ai trị vì” [26, tr.139] Dân luôn

luôn là chỗ dựa của vua trong công cuộc giữ nước, chống kẻ thù xâm lược Dân không chỉ cung cấp sức người, mà còn cung cấp của cải để nuôi quân đánh

giặc, cho nên “Dân không có, vua trông cậy vào đâu, vua không có dân cùng

ai giữ nước” [26, tr.364…] Ngược lại, theo Kinh thư, dân cũng cần đến vua

để đảm bảo an bình mới có thể mưu sinh được Chính quyền, xét trên một

Trang 18

phương diện nào đó, phải là chỗ dựa tinh thần cho dân, bởi vì tuy dân có sức mạnh to lớn, nhưng không thể tự mình tổ chức để có được sức mạnh tổng hợp Trong công cuộc dựng nước và giữ nước chính quyền phải là người

lãnh đạo, tổ chức các hoạt động của dân: “Dân không có vua không thể mưu

sinh được” [26, tr.139]

“Dân là gốc nước” bởi vì “ý dân là ý trời” “Thừa thiên ý” là một trong

những quan niệm truyền thống của người Trung Quốc Kinh thư cũng cho rằng

ý trời là tôn chỉ cho mọi hành động của con người, đặc biệt là của nhà vua Vua

phải theo ý của trời, mà ý trời thì theo ý của dân, nên vua phải trọng dân

Vì “dân là gốc nước”, “ý dân là ý Trời”, nên nước phải “lấy dân làm gốc”, tức là vua phải thực hiện nền chính trị được lòng dân, phải biết kính dân, yêu dân, vì có làm như vậy thì “dân cố giữ gìn cùng nhà vua lo lắng” Phải thực hiện chính sách dưỡng dân, nuôi dân cho tố t Phải biết giáo hoá cho dân, lấy

đức hạnh làm gương để trị dân, “dùng đức hạnh thay cho hình phạt…dân có tội

lỗi không cứ tội to, cũng không cứ tội nhiều, ta chịu tội cả” [26, tr.276]

Như vậy, ngay ở tác phẩm rất cổ của người Trung Quốc, Kinh Thư, tư tưởng “dân là gốc nước” và “nước lấy dân làm gốc” đã được định hình tương đối chắc chắn và có những nội dung xác định - đó là thấy được sức mạnh, vai trò nhất định của dân, chủ trương kính dân, dưỡng dân, giáo hoá dân và chủ

trương Đức trị

Khổng Tử (551 Tr.CN - 479 Tr.CN) đã tiếp thu, kế thừa, phát triển tư tưởng “Dân là gốc nước” của Kinh Thư, bổ sung cho nó những nội dung mới, nêu ra yêu cầu quan trọng là: “Nướ c phải lấy dân làm gốc”, ông là người nhận

rõ vai trò, sức mạnh của dân đối với nước Tuy không nói ra, nhưng ông đã ý thức được rằng dân có sức mạnh đẩy thuyền và lật thuyền (điều mà sau này đã được Tuân Tử khái quát) Khổng Tử cho rằng sự tồn vong của một triều đại phụ thuộc vào việc dân có tin, có nghe theo hay không? Nếu dân tin, dân theo, dân ủng hộ thì triều đình đứng vững Còn nếu dân không tin, không theo, bỏ đi

Trang 19

nơi khác hoặc nổi loạn thì triều đình tất sẽ đổ nát Nhận rõ điều trên, Khổng Tử rất ca ngợi những nhà cầm quyền biết thi ân cho dân, biết chăm lo cho dân Ông hết lời khen ngợi Tử Sản vì ông này biết đối xử tử tế với dân, Tử sản có bốn điều hợp với đạo người quân tử: giữ mình thì khiêm cung, thờ vua thì kính cẩn, nuôi dân thì có ân huệ, sai bảo dân thì hợp nghĩa Đồng thời, ông rất phê phán những người không biết chăm lo cho dân, cho rằng như thế là hại dân Ông đã không nhận Nhiễm Cầu là học trò của mình vì khi làm quan Nhiễm Cầu

đã thu thuế quá nặng, làm cho dân khốn đốn Vì thấy được sức mạnh to lớn của dân, coi “dân là gốc nước”, nên Khổng Tử đã chủ trương “Quốc dĩ dân vi bản” tức là “Nước phải lấy dân làm gốc” Để thực hiện điều đó, ông đề xướng một loạt chính sách trị dân nhân đức

Khi phát triển tư tưởng “Dân là gốc”, Mạnh Tử (371 Tr.CN - 289 Tr.CN)

đã mạnh dạn nêu lên một tư tưởng rất mới lạ so với thời đại của ông - tư tưởng

“Dân vi quý”, ông nói: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Sở dĩ như vậy

là vì có dân thì mới có nước, có nước thì mới có vua Được dân thì được tất cả, mất dân thì mất tất cả Nếu có được dân ủng hộ, dân giúp đỡ thì mới giữ được nước, mới làm được Thiên Tử Còn nếu chỉ được lòng Thiên Tử thì chỉ làm đến chư hầu, được lòng chư hầu thì mới chỉ làm đến đại phu Nếu chư hầu nhiều nhưng quốc gia nguy khốn vì mất lòng dân thì ngôi vị của vua cũng sẽ bị phế truất Qua đó có thể thấy Mạnh Tử, cũng như Khổng Tử, đánh giá rất cao sức mạnh của dân Hơn thế nữa, ông còn giải thích, chứng minh cho sức mạnh thực

tế ấy Theo ông, tuy dân không biết tự mình sắp xếp, nhưng dân có quyền đồ ng

ý hay không đồng ý Nếu ý của kẻ trị nước hợp với ý dân thì việc làm mới có kết quả, nếu không xã hội sẽ loạn

Ý thức được sức mạnh của dân, Tuân Tử (315 Tr.CN - 230 Tr.CN) đã nêu một luận điểm đặc sắc Có thể coi đây là một sự phát triển về mặt lí luận, là đỉnh cao trong sự phát triển tư tưởng “Dân là gốc” trong triết học Trung Quốc

cổ đại, đó là tư tưởng coi dân có sức mạnh của kẻ đẩy thuyền và lật thuyền

Trang 20

Ông cho rằng dân là nước, triều đình là thuyền, nước có thể đẩy thuyền đi, nhưng nước cũng có thể lật thuyền Tuân Tử còn cho rằng sức mạnh của dân là

ở tính cộng đồng, tính tập thể, tính xã hội của họ Mỗi con người riêng rẽ thì

“sức không bằng con trâu”, “chạy không nhanh bằng con ngựa”, nhưng khi con người hợp lại với nhau (hợp quần) thì điều khiển được trâu, được ngựa

Tóm lại, tư tưởng “dân là gốc nước” là một tư tưởng quan trọng, một đóng góp to lớn của Nho giáo cổ đại Nhưng do hạn chế lịch sử, do lập trường giai cấp, nên tư tưởng “dân là gốc” trong triết học Trung Quốc cổ đại vẫn chỉ dừng lại khiêm tốn ở sự thừa nhận sức mạnh của dân, ở yêu cầu đối với chính quyền là phải quan tâm đến dân, mà chưa có được một chủ trương dân chủ rộng rãi, chưa thấy được vị trí, vai trò thực sự của dân với tính cách là người sáng tạo chân chính ra lịch sử Sự đóng góp của Nho giáo cổ đại có thể coi là một kì tích, bởi vì phần lớn các nhà tư tưởng thờ i đó thường coi thường dân, đề cao vua và các nhà trí thức Và cũng chỉ có các nhà Nho cổ đại mới coi dân là gốc Các thế hệ nhà Nho về sau này dường như đã “đánh mất mình”, làm cho tư tưởng “dân là gốc nước” dần dần bị hình thức hoá, thiếu nội dung, đặc biệt khi

mà Nho giáo đã trở thành một hệ tư tưởng chính thống của giai cấp địa chủ phong kiến

1.2.2 Tư tưởng dân là gốc nước trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Việt Nam là một đất nước nằm ở Đông Nam Châu Á, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm, mưa nhiều Điều kiện khí hậu và thiên nhiên có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, nhưng cũng có không ít những khó khăn do thiên tai đem lại Trong suốt quá trình dựng nước, các cộng đồng người Việt đã phải liên kết lại với nhau vừa để khai khẩn đất đai trồng cấy, tạo nên nền văn hoá lúa nước đặc sắc, vừa để chống lại thiên tai, lũ lụt, hạn hán Công cuộc dựng nước đó đã tạo nên một cộng đồng người biết yêu thương nhau, đùm bọc nhau, ý thức được sức mạnh cộng đồng

Trang 21

Lịch sử dân tộc Việt Nam đồng thời là lịch sử chống ngoại xâm Với trên một ngàn năm Bắc thuộc và liên tiếp sau đó là các cuộc xâm lược của các đế chế phương Bắc, Pháp, Mỹ, đã làm cho người Việt Nam càng ý thức sâu sắc hơn sức mạnh của lòng yêu nước và tư tưởng cộng đồng Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã phải vừa đấu tranh để tồn tại, vừa đấu tranh để chống lại sự đồng hoá vào các dân tộc khác Trải qua thời kì Bắc thuộc hơn một ngàn năm, dân tộc Việt Nam là dân tộc duy nhất trong khối Bách Việt, không bị đồng hoá và diệt vong Công cuộc dựng nước và giữ nước

đó là cơ sở hình thành nên những truyền thống dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam như tư tưởng yêu nước, ý thức cộng đồng Và đó cũng là mầm mống của

tư tưởng “Dân là gốc”

Mệnh đề “Dân là gốc nước” được du nhập vào Việt Nam cùng với sự truyền bá của tư tưởng Nho giáo Nhưng tư tưởng “Dân là gốc” hoàn toàn không phải là đặc quyền của người Trung Quốc Tư tưởng ấy có mầm mống trong ý thức cộng đồng của người Việt - tức là ý thức về sức mạnh của cộng đồng, của người lao động, cuả nhân dân nói chung Mỗi một người Việt Nam đều biết về truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân, tự nhận mình là “con Lạc, cháu Rồng” Những từ “đồng bào”, “bà con” đều xuất phát từ truyền thuyết ấy Như vậy mọi người Việt Nam đều coi mình là có chung một nguồn gốc, chung dòng máu, chung một người mẹ sinh ra, nên biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau

để tạo nên một sức mạnh chung “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” [ca dao]

Hay:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” [ca dao]

Truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân đương nhiên chỉ là huyền thoại,

nhưng lại được dân gian thừa nhận làm cội nguồn của mình vì nó có ý nghĩa thực tế như là một chất keo dán gắn kết cộng đồng người Việt với nhau trong công cuộc chống thiên tai, địch hoạ để tồn tại và phát triển Ý thức cộng đồng

ấy là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh dân tộc để nhân dân ta vượt qua

Trang 22

sóng gió của lịch sử, nó rất gần gũi với tư tưởng “Dân là gốc nước” của người Trung Quốc

Truyền thuyết Thánh Gióng là một ví dụ về ý thức cộng đồng, về vai trò

và sức mạnh của dân trong dân gian Thánh Gióng nhờ được nhân dân đùm bọc, nuôi dưỡng, nấu cơm cho ăn, đưa ngựa sắt cho cưỡi, rèn roi sắt cho dùng nên đã đánh thắng giặc Ân

Còn truyền thuyết Trọng Thuỷ - Mỵ Châu là một ví dụ phản diện nói lên

rằng mất dân là mất tất cả An Dương Vương, cậy mình có nỏ thần, có vũ khí tốt, quân đội tốt, không biết dựa vào dân nên đã mất nước

Trong dân gian Việt Nam có rất nhiều câu nói thể hiện rõ sự đánh giá sức mạnh của dân, tinh thần “trọng dân”, coi dân là gốc Từ xưa dân ta đã nói:

“Quan nhất thời, Dân vạn đại” Câu này có nghĩa là làm quan chỉ có thời của

nó, gặp thời vận thì mới được làm quan, nên “Hết quan thì hoàn dân” còn làm dân thì bền vững, không phải lo mất chức mất quyền, nên “Dân vạn đại” Câu này còn thể hiện là nước có thể thiếu quan mà không thể thiếu dân được vì dân

là “vạn đại”, có dân mới có nước Câu nói trên có thể so sánh với tư tưởng của Mặc Tử “Quan không sang mãi, dân không hèn mãi”, và tư tưởng của Mạnh Tử

“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” trong triết học Trung Quốc cổ đại

Đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cũng là sự thể hiện tinh thần coi “dân là gốc” Vì vấn đề ở đây không chỉ là đạo lí mà còn

là sự ghi nhận, sự đánh giá công lao to lớn của dân, của người lao động - những người đã tạo ra của cải vật chất để nuôi sống xã hội

Sức mạnh của dân được đánh giá một cách chính xác trong câu ca dao Bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa Dân mà đã “nổi can qua” thì không một chính quyền nào có thể đứng vững được Đây là một sự khái quát kinh nghiệm lịch sử mà nhân dân ta đã đúc kết được trong cuộc sống của mình Nó là bằng chứng khẳng định rằng trong dân gian ta đã có ý thức một cách sâu sắc sức mạnh của dân, một sức mạnh “Đẩy thuyền và lật thuyền”

Trang 23

Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam khoảng thế kỉ I, II Công nguyên, khi mà ở Trung Quốc nó đã trở thành hệ tư tưởng chính thống, nhằm để nô dịch dân ta Các tác phẩm kinh điểm của Nho giáo (Ngũ kinh) đồng thời cũng được đưa vào giảng dạy Nho giáo (Hán nho) với tính chất khắc nghiệt, sơ cứng, đã trở thành thứ vũ khí nô dịch tinh thần đối với dân ta Nhưng đằng sau tính chất khắc nghiệt, phản động của nó, thì cũng có thể thấy một số yếu tố tích cực của Nho giáo được dân ta chấp nhận Trong số những tư tưởng tiến bộ của Nho giáo nổi lên tư tưởng “Dân là gốc nước” Tư tưởng này gần gũi với truyền thống tư tưởng và đạo lí của người Việt Nam, nên khi được truyền bá vào Việt Nam, kết hợp với tư tưởng và tình cảm của người bản địa, thì nó mang một ý nghĩa đặc biệt, nó kết hợp với tư tưởng yêu nước truyền thống của người Việt tạo nên một sức mạnh tổng hợp giúp các thời đại phong kiến Việt Nam đấu tranh sát cánh cùng với nhân dân để giữ nước, chống xâm lược, chống thiên tai

để tồn tại và phát triển Hầu hết những nhà chiến lược đại tài, các nhà tư tưởng lớn của dân tộc đều quán triệt một cách sâu sắc tư tưởng “Dân là gốc” và từ đó

“Lấy dân làm gốc” trong mọi công việc to lớn của đất nước Toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng một triều đại phong kiến đang lên, đang hưng thịnh đều coi “Dân là gốc”, nên đã được lòng dân, lôi kéo được quần chúng nhân dân đi theo mình và nhờ đó mà chiến thắng

kẻ thù, giữ được nước Còn khi triều đại lụi tàn, sụp đổ chính là lúc mà chính quyền xa dân, ức hiếp dân, không coi “Dân là gốc”

Văn hoá tư tưởng dưới thời Lí - Trần đạt được những bước phát triển nhảy vọt Đây là thời kì tam giáo đồng nguyên với sự tồn tại, ảnh hưởng của ba trào lưu tư tưởng được du nhập từ ngoài vào là Nho, Phật, Lão Đương nhiên khi du nhập vào Việt Nam thì cả ba trào lưu trên đều phải chịu sức ép của truyền thống văn hoá, tư tưởng, tín ngưỡng bản địa nên mang màu sắc đặc biệt

- đã được Việt hoá Trong ba trào lưu trên thì Nho giáo ảnh hưởng nhiều nhất đến tư tưởng Việt Nam thời kì này bởi vì bản thân Nho giáo không phải là một

Trang 24

tôn giáo, mà là một hệ tư tưởng chính trị - xã hội nên được sử dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục cũng như việc trị nước Năm 1070 nhà Lí lập Văn Miếu, năm 1075 mở khoa thi đầu tiên, năm 1076 lập Quốc Tử Giám, sau đó qua một số năm lại mở một kì thi Nhà Trần mở các khoa thi đều đặn hơn, bổ nhiệm các chức học quan để trông coi việc học hành ở các phủ, lộ

Sự ảnh hưởng của Nho giáo lên hệ thống giáo dục và chính trị thời Lí - Trần dẫn đến nhiều tư tưởng của nó được coi trọng, trong đó có tư tưởng dân bản sâu sắc “Dân là gốc nước” Nhiều nhà chính trị lỗi lạc, nhiều nhà tư tưởng lớn của dân tộc thời kì này đã mang một tinh thần dân bản sâu sắc như Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Lí Thường Kiệt

Trong “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn năm 1010 đã thể hiện ý tưởng coi dân là gốc trong mọi chủ trương của nhà cầm quyền Cái gì hợp với lòng dân, có lợi cho dân thì làm Cái gì trái với lòng dân, không có lợi cho dân thì tránh không nên làm Cho nên việc dời đô không phải là tuỳ tiện theo ý muốn

chủ quan của mình, mà “chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm mưu toan việc

lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”[42, tr.229-230]

Nhà Đinh, nhà Lê do thiên cưỡng gò ép đóng đô ở nơi không thuận tiện làm hao tổn sức dân, muôn vật không được thích nghi nên không thể tồn tại lâu dài Lí Công Uẩn quyết định dời đô về Thăng Long là để cho “dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt, muôn vật rất mực phong phú tốt tươi” [48, tr.230] Cái tinh thần coi dân là gốc của Lí Công Uẩn rất được triều thần tán thưởng

Họ trả lời ông “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế lâu dài để trên cho có nghiệp to lớn

được thịnh vượng, dưới cho nhân dân giàu của, nhiều người, việc lợi như thế ai dám không theo” [9, tr.191]

Lí Thường Kiệt trong lời nói cũng như việc làm luôn thể hiện rõ coi dân là

gốc Trong bài “Văn lệ bố” khi đánh Tống, Ông viết: “Trời sinh ra dân chúng vua

hiền tất hoà mục, đạo làm chủ cốt ở nuôi dân” [dẫn theo 56] Tinh thần “nuôi dân”

Trang 25

của ông được thể hiện bằng việc làm cụ thể như đã được ghi trong bài Minh Bia chùa Linh Xương núi Ngưỡng Sơn mà người đời sau hết lời ca ngợi Ở đó người ta

ca ngợi Lí Thường Kiệt là người làm việc siêng năng, sai bảo dân ôn hậu, khoan hoà giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, chăm lo cho muôn dân được ấm

no, lo đến tận người già nơi thôn dã nên được mọi người yêu mến quý trọng

Các vua chúa thời Trần nhiều người cũng đánh giá rất cao vai trò sức mạnh của dân, chăm lo cho dân Vua Trần Nhân Tông cảm thông với nỗi khổ

của dân đã phải thốt lên “Hết thảy sinh dân đều là đồng bào của ta Nỡ lòng

nào để cho bốn bề khốn cùng” [43, tr.172]

Đỉnh cao của tư tưởng “Dân là gốc nước” và “Coi dân là gốc của nước” Thời Lý -Trần là tư tưởng của Trần Quốc Tuấn Ông sinh vào thời Thái Tôn và mất vào năm 1300 Là một nhà chiến lược đại tài, một nhà tư tưởng lỗi lạc,Trần Quốc Tuấn đã lãnh đạo ba cuộc chiến tranh chống quân Nguyên - Mông thắng lợi Một trong những tư tưởng chỉ đạo của ông là dựa vào dân, coi dân là gốc

của nước Ông nói “ Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là

thượng sách để giữ nước” [10, tr.88-89] Khoan thư sức dân là không lạm dụng

sức dân vào những việc không cần thiết, là “Sử dân dĩ thời”, là phải chăm lo cho đời sống của muôn dân, qua đó để tranh thủ được sự đồng lòng của dân Khoan thư sức dân là để giữ nước, vì có tranh thủ được sức dân, lòng dân thì mới giữ được nước Chiến thắng trong ba cuộc chiến tranh giữ nước do Trần Quốc Tuấn lãnh đạo đã chứng minh cho chủ trương “Khoan thư sức dân” của ông là hoàn toàn đúng đắn Ông đã đi đến một quan niệm rất tiến bộ - Chiến

tranh nhân dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước góp sức, giặc tất

bị bắt” [10, tr.88] Như vậy sức mạnh của dân tộc chủ yếu là “Trên dưới đồng

lòng”, “Lòng dân không chia”, chứ không phải chỉ có tướng tài, binh mạnh là đủ,vì nếu không có sự góp sức của toàn dân, nếu như không làm cho mỗi người dân đều trở thành một chiến sĩ thì không thể thắng giặc “Hịch tướng sĩ” của ông cũng chính là lời kêu gọi “Trên dưới đồng lòng”, để thực hiện “Lòng dân không chia” ấy

Trang 26

Cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV nhà Trần bắt đầu suy tàn Nhà Hồ ra đời thay thế cho nhà Trần Hồ Quý Ly lên ngôi với một loạt những chính sách tiến bộ nhằm cải cách chế độ chính trị của nhà Trần Nhưng do không biết dựa vào dân nên khi giặc Minh sang xâm lược (1406), nhà Hồ đã nhanh chóng thất bại Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà Lê sơ ra đời, mở ra một chương mới cho sự phát triển mọi mặt của đất nước Chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn

là bằng chứng hùng hồn về vai trò sức mạnh của dân Thời kỳ này tư tưởng

“Dân là gốc” được phát triển đến đỉnh cao về mặt lý luận ở Nguyễn Trãi, và được kiểm chứng về mặt lịch sử Thế kỷ XVI - XVIII là thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam với sự chia cắt đất nước bởi các tập đoàn phong kiến, chiến tranh liên miên, đời sống nhân dân cực khổ; Nam - Bắc triều với chiến tranh Trịnh - Mạc; chiến tranh Trịnh - Nguyễn với sự phân chia Đàng trong -Đàng ngoài Cuối thế kỷ XVIII các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi lên mọi nơi Tiêu biểu nhất là khởi nghĩa Tây Sơn với sự lên ngôi của vua Quang Trung - Nhà Tây Sơn ra đời Vào thế kỷ thứ XIX nhà Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn, lập nên một chế độ phong kiến cực kỳ phản động, quan liêu, thối nát Khi Pháp xâm lược nước ta thì nhà Nguyễn đã nhanh chóng đầu hàng Trong suốt thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến thời Lê - Nguyễn chính quyền hầu như không quan tâm đến đời sống của nhân dân, không coi dân là gốc, nên

tư tưởng “Dân là gốc nước” phần nào bị lãng quên Tuy nhiên một số nhà tư tưởng tiêu biểu thời kỳ này vẫn trung thành với tư tưởng trọng dân của Nguyễn Trãi, vẫn tìm về với “Gốc của nước” Tiêu biểu nhất là tư tưởng của các chí sĩ yêu nước thương dân như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm

Nguyễn Trãi (1380-1442) là một nhà văn hoá, nhà tư tưởng lớn, một vị anh hùng dân tộc Về mặt tư tưởng, ông là người đã vượt lên trên thời đại mình,

bỏ xa các nhà tư tưởng trong lịch sử, là đỉnh cao trong sự phát triển tư tưởng của dân tộc qua các triều đại phong kiến Việt Nam Ông là người đã quán triệt

và phát triển đến đỉnh cao tư tưởng chính trị nhân nghĩa và tư tưởng thân dân,

Trang 27

trọng dân Trong tư tưởng của ông nhân dân luôn là đối tượng quan tâm của chính sự Ông luôn quán triệt tôn chỉ: cứu nước, làm chính trị nhân nghĩa chính

là để vì dân, để an dân, vỗ về dân Trong “Đại Cáo Bình Ngô” ông viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo” [49, tr.77]

Để yên dân phải “Trừ bạo” Điều này được ông thể hiện rõ trong suốt quá trình theo Lê Lợi chống quân Minh Trong toàn bộ hoạt động chính trị và

tư tưởng của mình Nguyễn Trãi luôn luôn nêu cao tư tưởng “Dân là gốc nước”:

Thứ nhất: Nguyễn Trãi đại điện cho tư tưởng của những người đang

vươn lên để bảo vệ cho lợi ích của dân tộc trước sự xâm lược của ngoại bang, thấy được trách nhiệm của mình là phải bảo vệ cho dân, nuôi dân, dưỡng dân

Thứ hai: Trong con mắt của Nguyễn Trãi, dân là người lao động có địa

vị nhỏ bé cuối cùng trong xã hội, nhưng lại có vai trò to lớn là nuôi sống xã hội

Đó là những người lao động bình thường đang làm ra của cải cho xã hội Khi chiến tranh xảy ra thì nhân dân (dân đen) là người chịu khổ cực nhiều nhất Ông rất thông cảm với nỗi thống khổ ấy của nhân dân

“Thui dân đen trên lò bạo ngược,

hãm con đỏ dưới hố tai ương” [49, tr.77]

Thứ ba: An dân là điều kiện để an xã hội Theo ông, phải xem dân là gốc

của nước, dân có quan hệ đến sự an nguy của xã hội, bời vì dân là số đông, là

cơ sở của xã hội, là lực lượng có vai trò quyết định đến sự ủng hộ hay phế truất nền thống trị của một triều đại, một ông vua

Bằng những ví dụ lịch sử, Nguyễn Trãi đã làm sáng tỏ vai trò, sức mạnh của dân Ông cho rằng sở dĩ nhà Trần bị sụp đổ là do dân chán ghét chế độ Nhà Hồ để mất nước về tay giặc Minh là do dân oán giận Nhân dân căm hờn giặc Minh đi theo nghĩa quân Lam Sơn “Gạo nước đón rước, người theo đầy đường” nên giặc Minh bị bại, khởi nghĩa thắng lợi Như vậy sức mạnh của dân

là sức mạnh đẩy thuyền và lật thuyền

Trang 28

Nhận thức rõ được sức mạnh của dân, thấy rằng “Dân là gốc của nước”, chủ trương một nền chính trị nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã phấn đấu suốt đời để thực hiện chính sách thân dân, vì dân Ông cho rằng cứu nước trước hết là cứu dân, và chính dân phải là người tự cứu lấy mình, nên ông đã phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, mọi người dân đều cầm vũ khí chống giặc minh Khởi nghĩa Lam Sơn đã trở thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Sau khi giành được độc lập, đánh đuổi được giặc Minh, Nguyễn Trãi vẫn trung thành với tưởng “Dân là gốc” của mình Ông đã tiến hành xây dựng một chính quyền

vì dân, yên dân, để cho “Trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận

oán sầu” [11, tr.63]

Trong khi các quan đương thời thường nói “Ơn vua, lộc nước” thì Nguyễn Trãi đã nêu một quan điểm mới lạ “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày” Phải ơn dân là vì dân là người làm ra mọi của cải cho xã hội, vì mọi cái “Đều do sức lao khổ của dân” mà ra Cho nên mọi chủ trương, chính sách đều phải hợp với lòng dân, lòng dân ủng hộ thì làm, trái với lòng dân thì bỏ, không được “theo lòng mình mà ức lòng người” Mọi việc có liên quan đến dân, theo ông,

chính quyền phải xem xét cẩn thận trước khi quyết định: “ Ai hiểu rõ thời

vụ đều bàn bạc về thể lệ dùng tiền thế nào cho thuận lòng dân? muốn của một người mà cưỡng ép nghìn muôn người không muốn phải theo, để làm phép hay của một đời”[49, tr.195]

Ở đây có thể thấy rõ Nguyễn Trãi không chỉ quán triệt tư tưởng “Dân là gốc nước”, mà ông luôn thực hiện “Nước phải lấy dân làm gốc” Điều đó không chỉ dừng lại ở quan điểm, mà còn được thể hiện trong hành động mang tính nhất quán của ông Trong suốt thời gian phục vụ cho Nhà Lê sơ, ông luôn luôn đứng về phía dân, diệt tham, trừ bạo để yên dân Ông đấu tranh trực diện

để chống bọn tham quan Lê Ngân, Lê Sát, thực hiện “Giản chính, khoan dân” Hành động đó của ông được nhân dân kính trọng, nhưng lại bị bọn tham quan căm thù Nên sau khi Lê Lợi qua đời, gia đình ông đã bị “Chu di tam tộc”

Trang 29

Sau Nguyễn Trãi, do sự tranh giành quyền lực và lợi ích giữa các tập đoàn phong kiến, tư tưởng “Dân là gốc” phần nào đó bị lãng quên Tuy nhiên từng thời điểm một, vẫn có những nhà tư tưởng, có những quan đại thần vực lại

tư tưởng nhân nghĩa, thân dân của Nguyễn Trãi Họ nêu lại tư tưởng đó chủ yếu

để khuyên can các bậc vua chúa đừng quá hại dân, coi thường dân, chứ thực sự thì tư tưởng “Dân là gốc” thời kì này không còn là tôn chỉ cho các hoạt động chính sự của chính quyền nữa Trong tư tưởng chính trị - xã hội thời kì này nổ lên cuộc đấu tranh giữa “Bá đạo” và “Vương đạo”, giữa bạo lực và nhân nghĩa Các chí sỹ tiến hộ thường ủng hộ “Vương đạo”, chống “Bá đạo”

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) là người ủng hộ vương đạo Ông cho rằng từ xưa đến nay điều nhân mới là vô địch, chứ không phải là chiến tranh

Sở dĩ nhà Hán làm nên nghiệp vương là nhờ nhân nghĩa; còn nhà Tần mất nước

là vì quá lạm dụng chiến tranh Nội dung của chính trị nhân nghĩa, theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, là vì dân Tức là phải chăm lo cho đời sống của dân, nhất là đối

với dân nghèo, bởi vì “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn

giữ được nước, cốt phải được lòng dân” [43, tr.359]

Trạng nguyên Giáp Hải thời Mạc, thấy các chính sách nhà Mạc rất khắc nghiệt, không được lòng dân, nhân có các vụ thiên tai xảy ra liền dâng sớ khuyên vua rằng thiên tai là điều quở trách của trời do việc người làm không tốt Ông khuyên vua phải trị bọn tham quan, hại dân, chăm lo đến đời sống của dân, như thế mới hợp lòng trời

“Xin bệ hạ tôn trọng gốc nước, cố kết lòng dân, hậu đãi mà đừng làm

khốn dân, giúp đỡ mà đừng làm hại dân, dè dặt chứ không dùng hết sức của dân, nhẹ bớt cho dân những việc phục dịch tức là chính sách của vương đạo đó” [6, tr.257] Có thể thấy nổi lên hai khuynh hướng tư tưởng tương đối khác

nhau trong quan niệm về dân thời kì này Một khuynh hướng có tính duy tâm thần bí coi ý dân là biểu hiện của ý trời, mệnh trời nên phần nào đó không thấy hết được vai trò sức mạnh của dân như tư tưởng Nguyễn Dữ, Ngô Thì Sĩ, Phan

Trang 30

Huy Ích Một khuynh hướng tư tưởng nhận rõ sức mạnh của dân, coi trọng lòng dân, ý dân như tư tưởng của Phùng Khắc Hoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm Trong đó, nổi bật nhất là tư tưởng “Lòng dân yên định thì ý trời cũng xoay chuyển” của Ngô Thì Nhậm

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) cho rằng những biến loạn của thời đại không phải do trời, mà là do con người, do các chính sách của triều đình, chính sách không hợp với lòng người, pháp luật không nghiêm để quan tham nhũng

ức hiếp dân thì dân tình khốn đốn, mà dân là trung tâm của vũ trụ, của mối

quan hệ trời người “Trời trông, trời nghe do ở dân lòng dân yên định thì ý trời

cũng xoay chuyển” [43, tr.462]

Ngô Thì Nhậm coi được lòng dân là cơ sở của sự hoà hợp và phát triển, nước được yên là nhờ lòng dân yên Do đó ông chủ trương thực hiện chính trị, được lòng dân Muốn vậy phải giảm bớt gánh nặng đóng góp sức người, sức của cho dân, phải làm cho nông dân được hài lòng, người buôn bán được thoả

dạ, binh sỹ được vừa ý Từ đó ông đề xuất một loạt chính sách nhân đạo, hợp lòng người như: miễn giảm thuế, quan tâm đến người có công, hy sinh vì nước, chống tham ô, tham nhũng, cải cách chế độ ruộng đất, Tuy ý tưởng của ông không được triều đình Lê - Trịnh thực hiện, nhưng phần nào đã nói lên được một ý nguyện muốn cho dân được yên ổn để xã hội phát triển Đó là một tư tưởng tiến bộ so với thời đại

Giữa thế kỉ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn nhanh chóng đầu hàng Một loạt phong trào yêu nước nổi lên như phong trào Cần Vương, Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục, nhưng lần lượt thất bại Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp là sự truyền bá, du nhập của ý thức hệ tư sản vào Việt Nam Nhiều chí sỹ yêu nước người Việt đã mang tư tưởng tư sản, tuy tỏ ra là tiến bộ hơn so với tư tưởng phong kiến thối nát của Nhà Nguyễn, nhưng lại lạc hậu so với thời đại Đại diện tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng này là Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Tư tưởng của họ thể hiện một tinh thần dân chủ, khinh quân trọng dân, coi “Dân là gốc”

Trang 31

Phan Châu Trinh đưa ra bản “Thất điều trần” để kể tội vua Khải Định

và triều đình nhà Nguyễn chỉ biết ăn chơi, ức hiếp dân lành, không biết chăm lo đến muôn dân mà chỉ vì lợi ích của riêng mình Ông ca ngợi chế

độ dân chủ phương Tây, nơi mà theo ông, chính quyền là sự uỷ thác của dân, cho nên chăm lo cho dân là bổn phận của chính quyền, của tổng thống Từ đó

ông kết tội triều đình nhà Nguyễn “Ai coi nước nhà như một món của riêng

mình thì ví như bọn trộm cướp, còn ai cậy quyền mà áp chế nhân dân thì ví như quân phản nghịch” [25, tr.176]

Phan Bội Châu là một trí sỹ yêu nước, với một quan niệm rất tiến bộ về dân, Ông đã từ bỏ tư tưởng tôn quân của nho giáo, đề cao tinh thần “Ái quốc ái quân”, “Khinh quân trọng dân” Ở ông, dân không chỉ có sức mạnh “Đẩy thuyền, lật thuyền”, mà dân còn là một lực lượng sáng tạo Ông đã đi gần đến quan niệm coi “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Phan Bội Châu luôn luôn nhìn nhận dân và nước trong một chỉnh thể thống nhất - Nước không thể thiếu dân, dân không thể thiếu nước Trong tác phẩm “Hải ngoại huyết thư” ông viết:

Người dân ta, của dân ta

Dân là dân nước, nước là nước dân” [dẫn theo 57]

Trong tác phẩm này, ông đã chỉ rõ nguyên nhân mất nước là:

“Một là vua sự dân chẳng biết

Hai là quan chẳng biết gì dân

Ba là dân chỉ biết dân, mặc quân với quốc, mặc thần với ai” [dẫn theo 58] Theo Phan bội Châu,dân không chỉ có sức mạnh có khả năng giữ nước,

mà dân còn có trách nhiệm bổn phận để làm việc ấy Bổn phận giữ nước không thuộc về một người hay một nhóm người, không phải của riêng bọn vua quan nhà Nguyễn, mà thuộc về dân cho nên khi dân không thực hiện bổn phận, quay

lưng lại với trách nhiệm của mình thì ông rất buồn Ông nói: “Ta thương yêu

Trang 32

nhất là dân,nên những người nào mà ta thầm trách cũng là dân ta Dân nước

ta có chịu hối mà tự cường không” [4, tr.200]

Tóm lại: Tuy mệnh đề “Dân là gốc nước” có nguồn gốc từ trong triết học Trung Quốc cổ đại, được du nhập cùng với sự truyền bá nho giáo vào Việt Nam, nhưng tinh thần coi "dân là gốc" đã nảy nở và phát triển ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tư tưởng

“Dân là gốc nước” gắn bó mật thiết với chủ nghĩa yêu nước và tính cộng đồng của người Việt Sự thống nhất ấy đã tạo nên một sức mạnh to lớn để nhân dân

ta tránh khỏi nạn đồng hoá vào dân tộc khác chống giặc ngoại xâm giành độc lập và chống thiên tai giành cuộc sống

Khi du nhập vào Việt Nam, tư tưởng “Dân là gốc” của Nho giáo đã để lại những ảnh hưởng to lớn lên tư tưởng dân tộc tinh thần trong dân, yêu dân, thân dân được thể hiện ở nhiều nhà tư tưởng dân tộc Đồng thời, do sức ép của tư tưởng tuyền thống bản địa của người Việt, nên tư tưởng “Dân là gốc” cũng phải thay đổi, mang những nội dung mới, hình thức biểu hiện mới, tức là có một bản sắc mới - bản sắc Việt Nam Nếu như ở Trung Quốc, tư tưởng “Dân là gốc” gắn với vấn đề thống nhất quốc gia để bảo vệ lợi ích của chế độ phong kiến, thì

ở Việt Nam tư tưởng “Dân là gốc” gắn liền với việc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm, nên hoà quyện với tư tưởng yêu nước, yêu giống nòi

1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gốc

Kế thừa tư tưởng đúng đắn của nho giáo và tư tưởng truyền thống dân tộc “Dân là gốc nước” dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Hồ Chí Minh đã ý thức được mọt cách sâu sắc, sức mạnh vai trò của dân đối với nước, với cách mạng Sức mạnh ấy là sức mạnh số đông, sức mạnh của những người có thể “đẩy thuyền và lật thuyền” sức mạnh không gì ngăn cản

được Người đã khái quát: “Dân mạnh thì quân lính nào, súng ống nào, cũng

không chống lại được” [29, tr.247]

Trang 33

Sở dĩ dân là gốc của nước, của cách mạng vì dân có sức mạnh Sở dĩ dân

có sức mạnh vì dân là số đông Sức mạnh của dân là sức mạnh của nhiều người hợp lại Sức mạnh tổng hợp ấy có thể giải quyết được những việc to lớn mà một người không thể làm được Hồ Chí Minh tin tưởng một cách sâu sức vào khả năng ấy của dân Lịch sử dân tộc và thế giới đã chứng minh cho khả năng

ấy của dân Người nói: “Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy

làm cũng được Không có thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [31, tr.518] Ở đây chúng ta có

thể thấy rõ Hồ Chí Minh tuy rất tán đồng tư tưởng “Dân là gốc nước” của nho giáo, nhưng vượt lên trên hạn chế của tư tưởng ấy Ở Người, dân không phải là một lực lượng tiêu cực, không phải là một đối tượng để người ta sai khiến, mà dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Người đã khẳng định một cách chắc chắn rằng: dân là một lực lượng sáng tạo, việc làm của dân không ai có thể thay thế được Khi đánh giá về vai trò của dân Hồ Chí Minh rất tâm đồng câu ca dao mới của nhân dân Quảng Bình trong thời kì chiến tranh chống Mỹ cứu nước Trong bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ cấp huyện ngày 18/1/1967 Người nói: “Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt, các đồng chí ở Quảng Bình nói rất đúng:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu khó trăm lần dân liệu cũng xong” [37, tr.495]

Sức mạnh của dân không chỉ ở số đông người là còn bởi dân có trí tuệ, dân rất thông minh, tuy không phải mọi người dân đều được học hành đến nơi, đến chốn Nhưng nếu biết lợi dụng kinh nghiệm và trí tuệ của nhân dân thì có thể giải quyết được nhiều việc lớn Như vậy, sức mạnh của dân không chỉ là sức mạnh cơ bắp mà còn là sức mạnh của kinh nghiệm, sức mạnh của trí tuệ Trí tuệ của một người, dù có tài ba, thông minh đến đâu, thì cũng không bằng trí tuệ của muôn người, của toàn dân hợp lại Người

Trang 34

nói: “Có người cho rằng “dân ngu khu đen” thế là tầm bậy Dân rất thông

minh Quần chúng, kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều Chỉ cần mình có biết học hay biết lợi dụng mà thôi” [33, tr.390] Nhưng Hồ Chí Minh cũng khẳng

định rằng dân là một lực lượng không thuần nhất, bao gồm nhiều tầng lớp, giai cấp có lợi ích không hoàn toàn giống nhau, có khả năng trí tuệ khác nhau, có ý kiến khác nhau, nên cần phải đoàn kết họ, giáo dục họ, tổ chức họ để phục vụ tốt hơn cho nước, cho cách mạng

Sức mạnh của dân còn thể hiện ở truyền thống tốt đẹp của họ Tuyền thống vừa là nguồn sức mạnh vừa là tấm gương để dân học tập Khi đánh giá

về truyền thống của dân ta, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng dân ta có rất nhiều truyền thống tốt như truyền thống lao động cần cù, truyền thống cách mạng, gắn bó với Đảng, truyền thống đoàn kết, truyền thống yêu nước , trong đó truyền thống yêu nước là nguồn sức mạnh to lớn nhất Truyền thống ấy đã giúp

cho dân ta đứng vững trong đấu tranh chống thiên tai, chống địch hoạ “Dân ta

có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [33, tr.36]

Dân có sức mạnh nên dân có vai trò rất to lớn đối với nước, với cách mạng, là gốc của nước, của cách mạng Dân trước hết là người lao động, là công nhân, nông dân là người đã làm ra mọi của cải để nuôi sống xã hội Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của lao động Lao động chính là nguồn gốc của mọi giá trị vật chất cũng như tinh thần Không có lao động thì không có của

cải, không có trí tuệ, không có xã hội và tiến bộ xã hội nói chung “Xã hội có

cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động Xây nên giàu có, tự do dân chủ cũng là nhờ người lao động Trí thức mở mang cũng là nhờ lao động (lao động trí óc) Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ loài người” [32, tr.420]

Trang 35

Dân còn là lực lượng chủ yếu, là gốc của cách mạng, cách mạng có thành công hay không phụ thuộc vào việc dân có tham gia tích hay không vào quá trình cách mạng Bởi vì dân vừa là chủ thể vừa là động lực của cách mạng, chỉ có dân mới là người kiên quyết nhất, dũng cảm nhất trong đấu tranh cách mạng

Người nói:

“Ai làm cách mạng ? - Nhân dân!

Ai kháng chiến thắng lợi? - Nhân dân ” [35, tr.482]

Trong quan niệm của Người, cách mạng phải luôn luôn là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là của cá nhân nào Đảng chỉ là người lãnh đạo, chứ Đảng không thể tự mình làm cách mạng Lực lượng cách mạng chủ yếu

cũng là người lao động, là công nhân, nông dân “Chỉ có giai cấp công nhân là

dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân Nông dân ta có truyền thống cách mạng, tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng” [35, tr.601] Sở dĩ công, nông triệt để cách mạng như vậy là vì họ, nhân

dân lao động, là những người bị áp bức bóc lột nặng nề, là lực lượng đông đảo nhất và có nguồn sức mạnh, họ không có gì để mất trong cuộc đấu tanh cách mạng ngoài “xiềng xích” trói buộc họ

Qua đánh giá vai trò, sức mạnh của dân đối với nước, với cách mạng, Hồ Chí Minh kêu gọi phải biết ơn dân để vì dân phục vụ dân cho tốt Người luôn

nhắc nhở: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do

mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân” [34, tr.392] Từ đó, Người đã nêu lại tư tưởng “Dân vi quý” của

Mạnh Tử, cho rằng dân là đáng quý nhất, kết hợp với đạo lí truyền thống dân tộc “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, làm cho tư tưởng ấy trở nên sâu sắc, toàn diện

“Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có

gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” [35, tr.276]

Trang 36

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò sức mạnh của dân hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Sáng tạo của Người là ở chỗ vận dụng chủ nghĩa Mác để xem xét

cụ thể lịch sử vai trò của quần chúng nhân dân đối với cách mạng Việt Nam

Tư tưởng của Người vừa có tính khoa học đúng đắn, vừa mang tính nhân dân cao cả Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân đã trở thành cơ sở, nền tảng cho các chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước, của cách mạng ta đối với dân

Vì dân là gốc nước, cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: phải lấy dân làm gốc của nước, gốc của cách mạng

Thực chất của lấy dân làm gốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng

và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tư tưởng dân chủ là một trong những

tư tưởng quan trọng được Hồ Chí Minh phát triển sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân làm cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công Trong tư tưởng của Người dân chủ có nghĩa là dân làm chủ, dân phải trở thành người chủ thật sự của đất nước, của cách mạng Vì dân là chủ, cho nên người có địa vị cao nhất phải là dân, quyền lực cao nhất phải thuộc về dân Đảng, Nhà nước lãnh đạo dân, cũng có nghĩa là Đảng, Nhà nước phục vụ cho dân, là người đầy tớ trung thành, là “Công bộc” của dân Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên là phải tận tuỵ phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Hồ Chí Minh sử dụng cụm từ “Đầy tớ của dân”, “Công bộc của dân” nhiều lần nhằm nhắc nhở cán bộ đảng viên khi còn đang làm việc thì không được tự coi mình là “Quan cách mạng”, là quan của dân Nói là chính quyền phải vì lợi ích của nhân dân thì ngay nền dân chủ tư sản cũng thường xuyên tuyên truyền, nhưng nói rằng chính quyền là đầy tớ của dân thì xưa nay chưa từng có Có thể nói đây là một sáng tạo của Hồ Chí Minh Quan niệm trên hoàn toàn hợp lí, không có gì mâu thuẫn với quyền lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước Đảng, Nhà nước lãnh đạo nhưng thực chất là thực hiện quyền hạn mà nhan dân uỷ thác, giao cho, chứ không phải là đứng trên dân Dân là nguời chủ,

nên Đảng và Nhà nước phải phục vụ cho người chủ là đúng đắn “Các cơ quan

Trang 37

của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kì dưới quyền thống trị của Pháp Nhật” [31, tr.56] Người nhiều lần

phải nhắc đi nhắc lại rằng chế độ ta là chế độ dân chủ, dân chủ nghĩa là dân

là người chủ; quyền hạn là của nhân dân; Nhà nước là của dân, do dân, vì dân; chính phủ là do nhân dân lập nên và có thể bị nhân dân phế bỏ điều

đó đã thể hiện một cách chắc chắn và nhất quán tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Về bản chất của chế độ dân chủ, Người đã giải thích trong tác

phẩm dân vận như sau:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra

Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [34, tr.698]

Lực lượng và sức mạnh của dân đã được nhiều người đánh giá cao trong lịch sử Còn quyền hành thuộc về nhân dân, thì chỉ trong chế độ ta, chế độ xã hội chủ nghĩa mới có được một cách thực sự Qua giải thích của hồ Chí Minh, một khái niệm rất phức tạp - khái niệm dân chủ, đã trở nên cụ thể và rõ ràng, dân chủ tức là mọi cái đều của dân, do dân, vì dân Vì dân, có nghĩa là phải đảm bảo lợi ích cho dân, đảm bảo cái gì có lợi cho dân thì làm, có hại cho dân thì phải tránh Nhưng quyền lợi và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời, nên Người cũng thường xuyên nhắc nhở phải kết hợp hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lợi ích chung và lợi

ích riêng Người nói: “Lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích riêng của người dân

là nhất trí; quyền lợi của công dân và nghĩa vụ công dân là nhất trí; đã là người chủ của nước nhà thì phải phụ trách đối với tổ quốc” [34, tr.148] “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân ” [34, tr.148]

Trang 38

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất tốt đẹp của chế độ ta, nhưng muốn cho nhân dân thực sự là người chủ, tham gia một cách tích cực, hữu hiệu vào cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước, thì Đảng, chính phủ phải giáo dục,

rèn luyện họ vì: “Nói chung, quần chúng căn bản là có tinh thần bất khuất,

nhưng còn rất dốt nát” [28, tr.26] Dốt nát được Hồ Chí Minh coi như một kẻ

địch cần phải tiêu diệt Giặc dốt và giặc ngoại xâm đi liền với nhau Giặc dốt là giặc “Nội xâm” Giặc ngoại xâm thường lợi dụng sự dốt nát để “Hủ hoá dân ta”, thực hiện chính sách ngu dân Từ đó Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta Chúng ta

phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên “Một dân tộc dũng cảm yêu nước, yêu

lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” [31,tr.7]

Giáo dục cho dân trước hết là giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin để cho dân nhận thức rõ mục đích, lí tưởng của cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, ý thức được quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để tham gia tích cực vào cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin phải gắn liền với giáo dục văn hoá, khoa học kĩ thuật Để làm được những việc ấy, trước hết phải dạy cho dân biết chữ, phải “Xoá mù” Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng chính sự yếu kém về văn hoá

đã cản trở dân ta, làm cho họ không hiểu đúng căn nguyên của sự khổ đau, của

sự áp bức và bóc lột, không hiểu được sức mạnh, vị trí và vai trò của chính mình Chính vì vậy, ngay sau khi giành được độc lập, Người đã phát động phong trào “Bình dân học vụ” để xoá nạn mù chữ, nâng cao dân trí, nâng cao trình độ văn hoá trong dân Người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người biết nhiều dạy cho người biết ít, anh dạy cho em, chồng dạy cho vợ nhà nhà đều học, người người đều học Phong trào ấy đã thực sự mang lại hiệu quả to lớn, không những làm cho dân biết chữ, nắm bắt được khoa học kĩ thuật, mà

còn giúp họ trở thành những công dân tốt, vì “Bình dân học vụ không những

dạy đọc, dạy viết, mà còn phải trú trọng đạo đức công dân” [34, tr.327]

Trang 39

Để nhân dân thực sự là người chủ, đảm bảo quyền dân chủ của họ, Hồ Chí Minh chủ trương là phải kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện xấu

xa của các thói hư, tật xấu trong xã hội

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Đảng ta đã trở thành “Đảng cầm quyền” Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để cải tạo xã hội

cũ, xây dựng xã hội mới Trong điều kiện của một Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những nguy cơ dẫn đến Đảng bị quan liêu hoá, xa rời dân, đứng trên dân, nhiều cán bộ đảng viên đã có chức, có quyền, không còn là “đầy tớ” của dân, mà trở thành “quan dân”, “quan cách mạng” nên đã sống ích kỉ, cá nhân, hưởng lạc, ức hiếp nhân dân, dẫn đến nguy cơ làm cho Đảng mất dân, Đảng không còn coi dân là gốc của nước, của cách mạng Hồ Chí Minh đã vạch

rõ những thói hư, tật xấu của nhiều cán bộ, đảng viên làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân:

“Những tư tưởng tác phong xấu cần chống là:

Trang 40

- Đối với tập thể thì kèn cựa, địa vị, tính thiệt, suy hơn, chỉ đòi hỏi Đảng

và chính phủ đã làm gì cho mình, không tự hỏi mình đã làm gì ích lợi cho nhân dân, cho xã hội

- Đối với của công thì lãng phí, tham ô…

- Đối với bản thân thì không trau dồi đạo đức cách mạng, không lo học tập

để tiến bộ mà chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp hơn người khác ” [36, tr.20] Nguyên nhân của những căn bệnh trên, theo Hồ Chí Minh, là do xa dân, không hiểu dân, khinh dân là “dân ngu, khu đen”, không yêu dân, sợ dân vì mình có khuyết điểm

Để chống chủ nghĩa cá nhân khắc phục những thói hư, tật xấu khác, Hồ Chí Minh cho rằng mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng học hỏi, trau dồi đạo đức cách mạng; phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, phải nâng cao tinh thần vì dân, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của Đảng của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, hướng dẫn nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; kiên quyết đấu tranh phê bình và tự phê bình

Như vậy, chủ trương lấy dân làm gốc ở Hồ Chí Minh là một chủ trương nhất quán, liên tục Vì dân là gốc của nước, của cách mạng, nên phải lấy dân làm gốc, trong suốt cuộc đời mình, nhất là từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, Người không ngừng phấn đấu để cho dân có thể trở thành người chủ thực

sự của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Người luôn luôn kêu gọi các cán

bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân

phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh, chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [31, tr.56-57]

Ở Người tư tưởng “Dân là gốc” được thể hiện một cách đầy đủ, toàn diện, nhất quán, Người không chỉ đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của dân đối với nước, với cách mạng, mà còn luôn luôn phấn đấu để cho sức mạnh ấy được bộc lộ một cách đầy đủ nhất, hiệu quả nhất Ở Người dân không chỉ “là gốc” mà dân còn được

“làm gốc” “Dân làm gốc” có nghĩa là dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tự mình quyết định vận mệnh của mình, quyết định sự thành bại của cách mạng “Dân làm

Ngày đăng: 18/03/2017, 10:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Ánh, Góp phần tìm hiểu mệnh đề "Dân là gốc nước" trong kinh thư, Tạp chí Triết học tháng 1/1997 - tr 37,39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân là gốc nước
2. Ban dân vận TW, "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và vấn đề xây dựng cơ chế dân chủ ở cơ sở , Nxb Chính trị Quốc gia , H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Ban dân vận TW, Mô hình thực hiện "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
4. Phan Bội Châu, toàn tập, Tập II, Nxb Thuận Hoá, Huế 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
5. Doãn Chính (chủ biên), Đại cương Lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb Đại học & Giáo dục chuyên nghiệp , H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Nhà XB: Nxb Đại học & Giáo dục chuyên nghiệp
6. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học Xã hội & Nhân văn, H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội & Nhân văn
7. Phan Huy Chú, Hoàng Việt dư địa chí, Nxb Thanh Niên, H. 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt dư địa chí
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
11. Võ Xuân Đàn, Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 21 CT/TƯ ngày 10/10/1997 về một số vấn đề cấp bách ở nông thôn hiện nay, Báo nhân dân ngày 11/10/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 21 CT/TƯ ngày 10/10/1997 về một số vấn đề cấp bách ở nông thôn hiện nay
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước, Một số văn kiện của đại hội toàn quốc lần thứ VII, H. 1991, tr 5-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Báo nhân dân 30/6/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về đổi mới và chỉnh đốn Đảng
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ VI, Nxb Sự Thật, H. 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự Thật
17. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ VII, Nxb Chính Trị Quốc gia, H. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ VIII, Nxb Chính Trị Quốc gia, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia
19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khoá VII, Nxb Chính Trị Quốc gia, H. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khoá VII
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 khoá VIII, Nxb Chính Trị Quốc gia, H. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội X Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội XI Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội XII Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w