1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây Dựng Các Giải Pháp Phù Hợp Cho Việt Nam Nhằm Hoàn Thiện, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Thuế Theo Chuẩn Mực Quốc Tế

18 555 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự hội nhập và phát triển về kinh tế, hệ thống chính sách thuế cũng đã từng bước được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện tốt vai trò là công

Trang 1

MỤC LỤC

Lời nói đầu 2

Nội dung 3

1 Kinh nghiệm một số nước về quản lý Thuế Thu nhập cá nhân 3

1.1 Về chính sách Thuế Thu nhập cá nhân 4

1.2 Về quản lý Thuế Thu nhập cá nhân 9

1.3 Xu hướng cải cách chính sách Thuế Thu nhập cá nhân ở các nước 11

2 Bài học về quản lý Thuế Thu nhập cá nhân cho Việt Nam 14

2.1 Về chính sách Thuế Thu nhập cá nhân 14

2.2 Về quản lý Thuế Thu nhập cá nhân 16

Kết luận 18

Tài liệu tham khảo 18

Trang 2

Lời nói đầu

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu phổ biến và cơ bản trong các nền kinh tế thị trường Hiện nay, hơn 180 nước trên thế giới đã áp dụng Luật Thuế TNCN, tỷ trọng thuế thu nhập chiếm khoảng 13-40% tổng số thu ngân sách tùy theo quan điểm đánh thuế của từng nước Chẳng hạn như ở Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức là 30-40%; Các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippines chiếm khoảng 13-14%

Những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã từng bước hội nhập và phát triển cùng các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng với sự hội nhập và phát triển về kinh tế, hệ thống chính sách thuế cũng đã từng bước được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện tốt vai trò là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong

đó việc ban hành và áp dụng Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009) là một bước tiến khá quan trọng trong cải cách chính sách thuế thu nhập nói riêng và chính sách thuế nói chung của Việt Nam

Qua 3 năm thực hiện, Luật thuế TNCN đã đạt được những mục tiêu đề ra khi ban hành Luật, như đã bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế; Đảm bảo động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội; Góp phần đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước và từng bước góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật Thuế TNCN đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, một số quy định còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó khăn cho công tác quản lý thuế Trước tình hình này, Chính phủ đã trình Quốc hội Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN

Bên cạnh việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá về thực trạng quản lý Thuế TNCN ở Việt Nam thì cần thiết có sự nghiên cứu xu hướng quản lý Thuế TNCN của các nước trong khu vực và trên thế giới, học tập kinh nghiệm quốc tế để từ

đó đề xuất, xây dựng các giải pháp phù hợp cho Việt Nam nhằm hoàn thiện,

Trang 3

nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với thực tiễn

Nội dung

1 Kinh nghiệm một số nước về quản lý Thuế Thu nhập cá nhân.

Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay Đến nay đã có hơn 180 nước áp dụng Thuế TNCN Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808 Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm trong thời kỳ nội chiến nhưng bị gián đoạn vào năm 1872 Các nước Châu Âu khác, cũng như Úc, Newzealand và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19 Các nước Châu Á áp dụng muộn hơn: Thái lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippines năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Các nước Đông Âu sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mới áp dụng lại như Rumani năm 1990, Nga năm

1991, Ba Lan năm 1992

Thời kỳ mới ban hành, các Chính phủ thường đánh thuế vào đối tượng dễ

đo lường được như đánh trên đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình, các hàng hoá và tàu biển, hoặc số lượng cửa sổ hoặc lò sưởi trong một toà nhà Tuy nhiên cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế, những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi

Thuế TNCN có diện điều chỉnh tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân người nước ngoài nếu đến nước sở tại làm việc và có thu nhập Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng, luật thuế TNCN của nhiều nước quy định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế Cụ thể kinh nghiệm quản lý Thuế TNCN của một số nước như sau:

Trang 4

1.1 Về chính sách Thuế Thu nhập cá nhân

- Xây dựng mô hình đánh Thuế TNCN

Về lý thuyết, có ba mô hình đánh Thuế TNCN chủ yếu: đánh trên từng loại thu nhập, đánh trên tổng thu nhập và đánh thuế hỗn hợp Trong thực tế, đại

đa số các nước đều lựa chọn mô hình đánh Thuế TNCN hỗn hợp nhưng có sự vận dụng cho phù hợp với điều kiện từng nước Điều đó có nghĩa là, trong hệ thống thuế, ngoài các loại thu nhập được đánh theo cơ chế chung còn một số loại thu nhập, do bản chất, được chọn đánh thuế theo cơ chế riêng Một số nước tuy vẫn chọn mô hình đánh thuế trên tổng thu nhập nhưng cách xác định thu nhập ròng chịu thuế của từng loại thu nhập lại áp dụng theo quy tắc riêng

- Xác định đối tượng nộp Thuế TNCN

Hiện nay, Thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới chủ yếu dựa trên hai nguyên tắc đánh thuế, đó là: nguyên tắc đánh thuế theo cư trú (sau đây gọi tắt là nguyên tắc cư trú) và nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập (sau đây gọi tắt là nguyên tắc nguồn)

Theo nguyên tắc cư trú, một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước sẽ phải chịu Thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn thu nhập phát sinh là ở trong nước hay nước ngoài Còn một cá nhân được coi là đối tượng không cư trú chỉ phải chịu nghĩa vụ thuế đối với phần thu nhập có nguồn gốc tại nước đó Nguyên tắc đánh thuế theo tiêu thức cư trú được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là cư trú tại nước đó Đa số các nước quy định, đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú Các nước áp dụng nguyên tắc này là Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Nga, Thụy Điển Ví dụ cụ thể của một số nước quy định về đối tượng nộp thuế TNCN theo nguyên tắc cư trú như:

Trang 5

Nhật Bản: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân cư trú

và không cư trú tại Nhật Bản Trong đó, cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật dưới một năm

Philippin: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân tại Philippin bao gồm cả

các cá nhân cư trú và không cư trú Trong đó công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin

Trung Quốc: đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân có chỗ

ở hoặc không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc

Mỹ: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân cư trú và

không cư trú Người nước ngoài được coi là cư trú tại Mỹ nếu họ cư trú thường xuyên hợp pháp tại Mỹ (được cấp thẻ xanh) hoặc nếu họ có mặt ở Mỹ trong một khoảng thời gian dài đủ để được cấp một thẻ lưu trú

Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của các đối tượng không cư trú Cách đánh thuế này cũng phù hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc, đầu tư và công dân nước đó ít ra nước ngoài làm việc hoặc đầu tư Chẳng hạn Hồng Kông quy định mọi cá nhân, không phân biệt cư trú hay không cư trú, chỉ phải nộp thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Hồng Kông

Trang 6

- Xác định thu nhập chịu Thuế TNCN

Hiện có hai cách xác định thu nhập chịu thuế khác nhau trong lĩnh vực này: đó là thu nhập đã nhận (thu nhập gộp) hay thu nhập đã nhận được trừ một

số khoản chi phí để tạo ra thu nhập

Đối với các nước có quan điểm đánh thuế trên số thu nhập đã nhận thì thu nhập tính thuế được xác định là toàn bộ số tiền mà NNT đã nhận, không phân biệt đã phải bỏ ra ít hay nhiều chi phí để tạo ra thu nhập tính thuế Cách tính thuế này đơn giản nhưng thường không đảm bảo được sự công bằng trong chính sách động viên đối với từng cá nhân, từng gia đình Đây là cách xác định thu nhập chịu thuế mà chúng ta đã áp dụng trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Hầu hết các nước hiện nay (như: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, ) đều xác định thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế Tổng thu nhập của một đối tượng trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập chịu thuế mà đối tượng đó kiếm được trong kỳ tính thuế không bao gồm các khoản được miễn thuế Tổng các khoản được giảm trừ là tổng chi phí phát sinh trong kỳ tính thuế và các khoản được phép trừ khác theo quy định như giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế

Về cơ bản, đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng dựa theo nguồn hình thành, và thường bao gồm các loại chủ yếu sau:

+ Thu nhập từ công việc lao động;

+ Thu nhập từ sản xuất kinh doanh;

+ Thu nhập từ tài sản như thu nhập từ cho thuê tài sản, chuyển nhượng tài sản, thừa kế, quà tặng, quà biếu;

+ Thu nhập từ đầu tư gián tiếp như thu nhập từ tiền lãi, cổ tức, thu nhập được chia từ các hoạt động góp vốn;

+ Thu nhập khác

Riêng cơ quan thuế Nhật Bản quy định thu nhập từ tiền hưu trí cũng được coi là một khoản thu nhập chịu Thuế TNCN

Trang 7

- Xác định thu nhập không chịu Thuế TNCN

Qua nghiên cứu Luật Thuế TNCN của các nước trên thế giới nói chung như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia có thể thấy, hầu hết các nước phân biệt thu nhập không chịu thuế dựa vào các tiêu thức chủ yếu sau:

+ Thứ nhất, không chịu thuế vì lý do xã hội như: các khoản phúc lợi xã

hội, học bổng, tiền bồi thường

+ Thứ hai, không chịu thuế theo quy định của các Hiệp định, hiệp ước,

thoả thuận quốc tế đã ký kết giữa các nước

+Thứ ba, không chịu thuế có thể vì lý do chính trị hoặc lý do quản lý như:

các khoản thu nhập bất thường,

+ Thứ tư, miễn thuế vì lý do muốn khuyến khích một hoạt động cụ thể

nào đó như: thu nhập từ quỹ lương hưu nhằm khuyến khích đóng góp lương hưu, hoặc thu nhập từ cổ phiếu trái phiếu không chịu thuế nhằm khuyến khích các hoạt động đầu tư gián tiếp

- Xác định khoản miễn, giảm Thuế TNCN

Quy định về miễn, giảm thuế có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau nhằm đạt được hiệu quả tối ưu của Luật thuế, nhất là yếu tố chính trị luôn được các nhà lập pháp và hoạch định chính sách cân nhắc kỹ lưỡng Trên thế giới hiện nay có các phương pháp miễn, giảm chủ yếu sau:

Phương án 1: Trong luật thuế có quy định rõ những trường hợp miễn,

giảm thuế cụ thể bằng mức tiền hoặc khung tỷ lệ phần trăm (%) trên số thuế phải nộp, thí dụ: NNT gặp rủi ro bất khả kháng do thiên tai, hoàn cảnh đặc biệt, Ưu điểm của phương án này là sự rõ ràng, minh bạch, NNT thấy được ngay kết quả cụ thể của chính sách Vì vậy trên thế giới có rất nhiều nước áp dụng, nhất là các nước phát triển

Phương án 2: Quy định miễn giảm thuế dưới hình thức tạm thời chưa thu

thuế đối với một số khoản thu nhập Ưu điểm là thu hút nhiều hơn được sự quan tâm của xã hội mà vẫn đạt được mục tiêu lâu dài của chính sách đồng thời mang

ý nghĩa chính trị lớn

Trang 8

Phương án 3: Dựa trên cơ sở kết hợp ưu điểm của 2 phương pháp trên.

Theo đó vừa quy định miễn giảm thuế cho một số loại thu nhập, vừa cho phép miễn giảm một số tiền thuế nhất định đối với một số đối tượng trong những hoàn cảnh nhất định

- Xác định khoản giảm trừ gia cảnh

Luật Thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định các khoản giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của tính công bằng theo chiều ngang trong điều tiết thu nhập Tuy có cùng một mức thu nhập như nhau nhưng người có hoàn cảnh khó khăn hơn (ví dụ có nhiều người phải nuôi dưỡng, bị tàn tật ) sẽ gặp khó khăn nhiều hơn khi phải nộp cùng một mức thuế với những người có điều kiện thuận lợi Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy các khoản được giảm trừ có thể thực hiện theo 2 loại: giảm trừ cá nhân và giảm trừ tiêu chuẩn

Giảm trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực

tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ Các khoản chi phí được giảm trừ này được cá nhân kê khai và phải có chứng từ chứng minh Hình thức này đảm bảo công bằng hơn nhưng phức tạp và tốn kém chi phí hành thu, cho nên thường chỉ được áp dụng ở những nước có trình độ kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao và hệ thống lưu giữ thông tin tốt Có nước quy định các chế độ miễn trừ cho bản thân NNT (vợ hoặc chồng, bố mẹ hoặc con cái phải nuôi dưỡng) như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, nhưng có nước lại áp dụng biểu tính thuế từ đồng thu nhập đầu tiên để NNT thấy rõ nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình (Pháp, Mỹ, Anh )

Để đơn giản hoá chính sách và giảm nhẹ công tác quản lý, các nước chậm

phát triển thường áp dụng hình thức giảm trừ tiêu chuẩn vì không có đủ tiêu

chuẩn để áp dụng hình thức giảm trừ cá nhân Theo đó, mức khởi điểm chịu thuế là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí cần thiết

về kinh tế và xã hội theo quan điểm và tập quán của mỗi nước

- Xác định thuế suất và biểu thuế

Mức thuế suất cao hay thấp, được thiết kế theo một mức cố định hay theo biểu luỹ tiến thể hiện chính sách động viên phù hợp với khả năng đóng góp và

Trang 9

trình độ quản lý của mỗi nước Hầu hết các nước đều chia ra làm hai loại thuế suất: thuế suất toàn phần và thuế suất luỹ tiến Trong đó thuế suất toàn phần thường áp dụng cho loại thu nhập từ vốn, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ bản quyền Thuế suất luỹ tiến chủ yếu áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công

Để đảm bảo nguyên tắc công bằng thì cần phải xây dựng được biểu thuế và các mức thuế suất cụ thể trên cơ sở đạt sự cân bằng tối ưu giữa các mục tiêu được đặt ra Biểu thuế cần rút gọn các mức thuế suất, giảm bớt mức luỹ tiến thông qua việc mở rộng biên độ chịu thuế giữa các bậc Từ kinh nghiệm thực tiễn và xu hướng cải cách Thuế TNCN trên thế giới, biểu thuế nên thiết kế khoảng 5 -7 bậc với các mức thuế suất từ 5% đến 45% là hợp lý Một biểu thuế với ít bậc thuế và khoảng cách giữa các bậc thuế xa sẽ đảm bảo đơn giản cho việc quản lý, mang lại hiệu quả nhiều hơn cho công tác quản lý thuế Trái lại lựa chọn phương án nhiều bậc thuế suất và giữ khoảng cách hợp lý giữa các bậc thu nhập cho phép thực hiện được yêu cầu công bằng hơn

Ví dụ: Ở Nhật Bản, biểu thuế suất luỹ tiến áp dụng đối với thu nhập từ các khoản tiền công và tiền lương bao gồm 4 mức thuế suất: 10%, 20%, 30% và 37% Biểu thuế áp dụng đối với thu nhập hoạt động kinh doanh của các cơ sở tự kinh doanh và thu nhập từ quản lý theo hợp đồng hoặc cho thuê đối với các doanh nghiệp hoặc tổ chức gồm 5%, 10%, và 13% Nhật Bản thực hiện thuế suất

tỷ lệ cố định 20% được áp dụng đối với thu nhập từ tiền thù lao tác giả (trừ chi phí 30% thu nhập chịu thuế)

1.2 Về quản lý Thuế Thu nhập cá nhân

Theo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cho thấy có hai cách tiếp cận đối với việc quản lý Thuế TNCN: kê khai toàn bộ và kê khai hạn chế Cụ thể:

- Kê khai toàn bộ

Tất cả cá nhân có thu nhập gộp vượt quá một mức tối thiểu nhất định (gọi là Ngưỡng kê khai) có nghĩa vụ phải nộp tờ khai thuế, nguyên tắc này cũng áp dụng cho cả các cá nhân có thu nhập từ nguồn duy nhất là tiền lương do một chủ lao động trả Các nước yêu cầu kê khai toàn bộ bao gồm Úc, Canađa, Singapore và Mỹ

Trang 10

Việc thu nộp thuế áp dụng đối với phương thức kê khai toàn bộ là khấu trừ thuế tại nguồn, theo đó một số loại thu nhập được người/tổ chức chi trả thu nhập khấu trừ thuế trước khi chi trả cho NNT, bên cạnh đó NNT có thể yêu cầu thanh toán thuế định kỳ cho các loại thu nhập khác không được khấu trừ Vào cuối năm, NNT nộp tờ khai thuế tổng hợp bao gồm kê khai toàn bộ các hình thức TNCN khác nhau thu được trong năm (tiền công, thu nhập đầu tư, thu nhập kinh doanh ) và trừ đi các khoản được giảm trừ (như giảm trừ cá nhân, các khoản chi phí được trừ ) Thu nhập ròng từ tất cả các nguồn thu sau đó bị đánh thuế theo biểu thuế suất đơn giản (thường với thuế suất luỹ tiến), sau khi được

bù trừ với khoản thuế nộp thừa hay nộp thiếu đã khai trong tờ khai thuế sẽ tính toán ra nghĩa vụ thuế còn lại trong năm

Với hình thức này, các tổ chức chi trả có trách nhiệm báo cáo định kỳ cho

cơ quan thuế các thông tin về giao dịch của mình với NNT Vào cuối năm, cơ quan thuế sẽ kiểm tra các thông tin bên thứ ba với thông tin do NNT báo cáo trên tờ khai thuế Hệ thống kiểm tra này gắn chặt với mã số thuế đã cấp cho NNT và các tổ chức khác

Để hạn chế gánh nặng của phương thức kê khai toàn bộ đối với NNT và đại lý thuế, nhiều nước đã sử dụng rộng rãi hệ thống kê khai thuế điện tử đối với với tờ khai thuế và báo cáo về khấu trừ tại nguồn Tại một số nước, theo quy định của luật, một số tổ chức (ví dụ như các chủ lao động lớn, các tổ chức tài chính) phải nộp các báo cáo khấu trừ (và chuyển số tiền khấu trừ của mình) dưới dạng điện tử Nhằm giảm bớt chi phí tuân thủ, một số đại lý thuế (như Chi lê, Đan Mạch, và Thụy điển) đã kết hợp các thông tin nhận được từ bên thứ ba (đại

lý khấu trừ và các tổ chức báo cáo thông tin) với các thông tin khác do cơ quan thuế nắm giữ để lập tờ khai nhằm hỗ trợ cho NNT trước khi điền vào tờ khai (các thông tin được hỗ trợ điền vào tờ khai của NNT là các thông tin đã biết về thu nhập, các khoản chi phí được trừ, các khoản miễn thu ) và việc tính ban đầu

số thuế cần phải nộp cho mỗi NNT

- Kê khai hạn chế

Theo phương thức kê khai hạn chế, nhiều cá nhân không phải nộp tờ khai thuế, nhưng thay vào đó bị đánh thuế qua việc khấu trừ tại nguồn thông qua hệ

Ngày đăng: 18/03/2017, 10:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Một số quốc gia áp dụng Thuế TNCN đồng nhất một mức - Xây Dựng Các Giải Pháp Phù Hợp Cho Việt Nam Nhằm Hoàn Thiện, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Thuế Theo Chuẩn Mực Quốc Tế
Bảng 1. Một số quốc gia áp dụng Thuế TNCN đồng nhất một mức (Trang 12)
Bảng 2.  Xu hướng giảm số bậc thuế suất trong Biểu Thuế TNCN - Xây Dựng Các Giải Pháp Phù Hợp Cho Việt Nam Nhằm Hoàn Thiện, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Thuế Theo Chuẩn Mực Quốc Tế
Bảng 2. Xu hướng giảm số bậc thuế suất trong Biểu Thuế TNCN (Trang 12)
Bảng 3. Tổng thu từ  Thuế TNCN  và mức thuế suất lũy tiến cao  nhất trong - Xây Dựng Các Giải Pháp Phù Hợp Cho Việt Nam Nhằm Hoàn Thiện, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Thuế Theo Chuẩn Mực Quốc Tế
Bảng 3. Tổng thu từ Thuế TNCN và mức thuế suất lũy tiến cao nhất trong (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w