1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dấu Ấn Việt Hóa Trong Nho Giáo Thời Trần – Ths Đỗ Thị Hương Thảo

144 561 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đúng 300 năm sau khi thành lập, đến thời Trần, Văn Miếu ThăngLong mang trong mình nét mới với việc ba người Việt Nam là Chu Văn An, Trương Hán Siêu và Đỗ Tử Bình được đưa vào phối thờ ở

Trang 1

DẤU ẤN VIỆT HỐ TRONG NHO GIÁO THỜI TRẦN

DÊU ÊN VIƯT Ho¸ TRONG NHO GI¸O THêI TRÇN

ThS Đỗ Thị Hương Thảo *

1 Từ việc đưa người Việt Nam vào phối thờ ở Văn Miếu Thăng Long

Cĩ mặt ở Việt Nam từ tr CN1 cùng với thời điểm người Hán đến ViệtNam và tiếp tục được truyền bá trong thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo được

du nhập vào Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu thống trị của chính quyềnphương Bắc Với tư cách là sản phẩm của chính quyền phương Bắc, dướidạng thức tiếp xúc và giao lưu văn hố cưỡng bức nên ảnh hưởng củaNho giáo trong xã hội Việt Nam lúc này cịn rất hạn chế Cho đến đầuthế kỷ X, giới Nho sỹ vẫn cịn ít ỏi và chưa trở thành một lực lượng xã hộiđáng kể2

Đến thế kỷ XI, vẫn là hệ quả của quá trình tiếp xúc và giao lưu vớivăn hố Hán, nhưng ở dạng thức tiếp xúc và giao lưu tự nguyện/tựnhiên, khi việc xây dựng và phát triển đất nước thời độc lập tự chủ trởthành một yêu cầu cấp bách thì nhà Lý đã chủ động tiếp nhận, sử dụngNho giáo làm chỗ dựa cho việc tổ chức nhà nước, quản lý xã hội, xâydựng và củng cố chế độ quân chủ tập quyền Một trong những biểu hiện

đĩ là việc triều Lý cho dựng Văn Miếu ở Thăng Long thờ Khổng Tử –người sáng lập ra học thuyết Nho giáo và các học trị xuất sắc của ơng(Tứ phối3, Thập triết4 và Thất thập nhị hiền5): “Mùa thu, tháng Tám làmVăn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Cơng và Tứ phối, vẽ tượng Thấtthập nhị hiền, bốn mùa cúng tế Hồng thái tử đến học ở đây”6

Đúng 300 năm sau khi thành lập, đến thời Trần, Văn Miếu ThăngLong mang trong mình nét mới với việc ba người Việt Nam là Chu Văn

An, Trương Hán Siêu và Đỗ Tử Bình được đưa vào phối thờ ở đây, ngồinhững đại diện của Nho giáo Trung Hoa đã được nhà Lý cho thờ phụng Người Việt Nam đầu tiên được nhà Trần đưa vào phối thờ ở Văn

Miếu là Chu Văn An Năm 1370, thời vua Trần Nghệ Tơng, sau khi mất,

* Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIỂU BAN VĂN HOÁ VIỆT NAM

Trang 2

của bộ Tứ thư thuyết ước, tóm tắt bốn bộ sách lớn là Luận ngữ, Đại học,

Trung Dung, và Mạnh Tử dùng làm giáo trình giảng dạy cho người Việt.

Có thể nói Chu Văn An là người có những đóng góp không nhỏ cho sựnghiệp giáo dục thời Trần Ông cũng là một nhà Nho khảng khái, dũngcảm và trung trực bởi chính ông là người từng dâng Thất trảm sớ, đề nghịnhà vua cho chém bảy tên nịnh thần để giữ yên tình hình chính sự trongnước

Ca ngợi ông, Ngô Sỹ Liên viết: “Hãy lấy Văn Trinh mà nói, thờ vua tấtthẳng thắn can ngăn, xuất xử thì làm theo nghĩa lý, đào tạo nhân tài thìcông khanh đều ở cửa ông mà ra, tiết tháo cao thượng thì thiên tử cũngthể bắt làm tôi được Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thầyđược nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ Ngàn năm vềsau, nghe phong độ của ông, há không làm cho kẻ điêu ngoa thành liêmchính, người yếu hèn biết tự lập được hay sao? Ông thực đáng được coi

là ông tổ của các nhà nho nước Việt ta mà thờ vào Văn Miếu” 8

Một năm sau khi Chu Văn An được đưa vào thờ tại Văn Miếu ThăngLong, năm 1371, cũng dưới thời vua Trần Nghệ Tông, người Việt Nam

thứ hai là Trương Hán Siêu tiếp tục được ban cho “tòng tự ở miếu

Khổng Tử”9

Trương Hán Siêu, tự là Thăng Phủ, người xã Phúc Am, huyện YênKhánh, tỉnh Ninh Bình Ông từng làm quan dưới bốn triều vua nhà Trầnlà: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông Trương Hán Siêu đã từng giữ chức Hàn lâm viện học sỹ, là ngườicứng cỏi, giỏi văn chương chính sự Ông cùng Nguyễn Trung Ngạn biên

định bộ Hoàng triều đại điển, khảo soạn bộ Hình thư Ông là tác giả của bài Phú sông Bạch Đằng, khái quát chiến công của quân dân nhà Trần

chống quân Nguyên Với uy tín và học vấn của mình, Trương Hán Siêu

đã từng được các vua Trần gọi bằng Thầy

Ông cũng là một trong những đại diện của Nho giáo thời Trần, đứngtrên lập trường, quan điểm của Nho giáo để phê phán hệ tư tưởng khác,trong đó có Phật giáo Trong bài bia ở chùa Khai Nghiêm, Bắc Giang doông soạn có đoạn viết: "Hiện nay thánh triều đem giáo hoá nhà vua như

Trang 3

DẤU ẤN VIỆT HOÁ TRONG NHO GIÁO THỜI TRẦN

cơn gió thổi lên để chấn chỉnh phong tục đồi bại, thì dị đoan cần bỏ,chính đạo nên theo Phàm kẻ sỹ phu không phải đạo Nghiêu Thuấnkhông nên tâu ở trước vua; không phải đạo Khổng Mạnh không nên chépthành sách; thế mà [nhiều kẻ không làm thế] cứ chăm chăm lầm rầmniệm Phật thì hòng nói dối ai?"10

Trương Hán Siêu thống lĩnh quân Thần Sách trấn thủ Hoá Châu, saumắc bệnh, trở về rồi chết, được tặng Thái phó11

Năm 1380, dưới triều vua Trần Phế Đế, người Việt Nam thứ ba và là người Việt Nam cuối cùng được đưa vào phối thờ ở Văn Miếu Đó là Đỗ

Tử Bình12

Những ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư về Đỗ Tử Bình chỉ cho

biết ông là người đã từng trải qua các chức Ngự tiền học sinh, Thị giảng,giữ việc Viện Xu mật, đồng Tri môn Hạ Bình Chương sự, Hành khiển và

có nhiệm vụ trấn giữ ở Hoá Châu để ngăn ngừa Chiêm Thành quấy rối

Tuy nhiên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã cung cấp

thêm thông tin về quê quán của Đỗ Tử Bình Ở mục “lời chua” của sựkiện năm 1348, khi Đỗ Tử Bình được bổ dụng làm Thị giảng có ghi: “TửBình: Chưa rõ người ở đâu Sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng, nhàMinh chép: “Ở huyện Cổ Lan có vườn Tử Bình, trong vườn có mai, trúc,khe suối và hồ ao, là một chỗ thắng cảnh trong huyện để du thưởng”.Như thế có lẽ Tử Bình là người huyện Cổ Lan? Huyện Cổ Lan tức là ĐôngQuan ngày nay, thuộc tỉnh Nam Định13”14

Như vậy, chỉ riêng trong một triều đại – triều Trần – cùng một lúc đã

có ba người Việt được đưa vào phối thờ ở Văn Miếu bên cạnh các nhàNho Trung Hoa Tuy nhiên, không phải cả ba người này đều được tiếp

tục thờ tự cho đến ngày nay Những ghi chép của Ngô Thì Sỹ trong Đại

Việt sử ký tiền biên cho biết đến khoảng thế kỷ XVIII, Trương Hán Siêu

và Đỗ Tử Bình không còn được tiếp tục thờ ở Văn Miếu15, duy nhất cònmột mình Chu Văn An tiếp tục được phối thờ tại giải vũ phía tây nhà VănMiếu cùng với Thất thập nhị hiền

Trong phần đầu của bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào việcluận giải lý do vì sao các nhà Nho Việt được chọn vào phối thờ và saunày không được tiếp tục phối thờ ở Văn Miếu16 mà chỉ muốn nhấn mạnhđến sự kiện nhà Trần đã đưa ba người Việt Nam vào phối thờ cùng vớinhững nhà Nho Trung Hoa – những người đã có công sáng lập và pháttriển Nho giáo – và nhìn nó như là dấu ấn Việt hoá của Nho giáo ViệtNam thời Trần

Trang 4

Đỗ Thị Hương Thảo

2 Đến dấu ấn Việt hoá của Nho giáo ở thời Trần

2.1 Điều đầu tiên cần khẳng định là không phải đến nhà Trần, Nho

giáo ở Việt Nam mới được Việt hoá Như một thuộc tính của quá trình tiếpxúc và giao lưu văn hoá, Nho giáo cũng như các thành tố văn hoá khác khivào Việt Nam luôn có xu hướng được Việt hoá, được biến đổi cho phù hợpvới tư duy, cách thức, lối sống của người Việt Nhiều khái niệm/quan niệmban đầu của Nho giáo ở Trung Hoa đã được “cải biến, mang tính dân tộc,nhân dân”17 Nói cách khác là “các nhà Nho Việt Nam vì công cuộc xâydựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp nhận và khai thác những yếu tố Nhogiáo cho phù hợp với xã hội và đất nước mình, phải “bản địa hoá”18 Nhogiáo được người Việt tiếp nhận “không bàn nhiều về lý luận phức tạp, màchú trọng vào củng cố nhân luân hiếu đễ, củng cố nền kinh tế nôngnghiệp, củng cố khối cộng đồng gia đình – họ tộc – xóm làng, củng cốviệc học hành khoa cử”19 Nội hàm của chữ “trung”, “hiếu”, “nghĩa”… củaNho giáo Việt Nam không hoàn toàn giống với nghĩa gốc ban đầu khi nóđược du nhập từ Trung Quốc sang

2.2 Tuy nhiên, khi nói đến dấu ấn Việt hoá của Nho giáo Việt Nam

thời Trần, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự kiện nhà nước phong kiếnchính thức đưa người Việt vào phối thờ tại Văn Miếu Thăng Long – nơithờ tự hàng đầu trong hệ thống các di tích thuộc Nho giáo

Dấu ấn Việt hoá quan trọng của Nho giáo ở thời Trần sẽ thể hiện rõnét hơn khi đặt trong tương quan so sánh với triều Lý và triều Lê, nhữngtriều đại được coi là đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển củaNho giáo Việt Nam

Trước tiên chúng ta hãy điểm lại những dấu mốc quan trọng củanhà Lý trong việc tạo dựng những cơ sở đầu tiên cho sự hình thành Nhogiáo ở Việt Nam

Năm 1070, nhà Lý cho dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử Miếu thờKhổng Tử nguyên gốc có ở Trung Quốc Năm thứ 27, niên hiệu Khai

Nguyên thời Đường, Khổng Tử được phong là Văn Tuyên Vương nên miếu thờ Khổng Tử gọi là Văn Tuyên Vương miếu Từ thời Nguyên, Minh

về sau phổ biến gọi là Văn Miếu20 Như Văn Miếu Thăng Long của thời Lý

có nội dung và tên gọi giống với Văn Miếu/Khổng Tử miếu ở Trung Quốc Năm 1076, Quốc Tử Giám được xây dựng, triều Lý chọn “quan viênvăn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám”21 Quốc Tử Giámcũng là tên gọi có nguồn gốc sâu xa từ các trường học có từ thời Hạ,Thương, Chu ở Trung Hoa Từ năm 276 tr CN, nhà Tây Tấn, niên hiệuHàm Ninh thứ hai, Quốc Tử Giám là trường dành riêng cho quý tộc, con

em quan lại từ ngũ phẩm trở lên vào học tập22 Như vậy việc cho xây

Trang 5

DẤU ẤN VIỆT HOÁ TRONG NHO GIÁO THỜI TRẦN

dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám của nhà Lý cơ bản giống với mô hình đã

có ở Trung Hoa

Năm 1075, lần đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam, vua LýThánh Tông cho tổ chức khoa thi Minh kinh Bác học và thi Nho học tamtrường23 để tuyển lựa nhân tài Việc tổ chức thi cử của nhà Lý cũngkhông nằm ngoài sự mô phỏng của phương pháp lựa chọn nhân tài củaTrung Hoa Từ thời Tuỳ trở về trước (tức là trước thế kỷ VII), khi tuyểnchọn người tài ở Trung Hoa thì tiến cử là chính, thi cử là phụ Sau khithống nhất Trung Quốc, nhà Tuỳ sáng lập ra khoa cử – bước tiến bộtrong chế độ tuyển chọn nhân tài24 ở thời điểm bấy giờ – tức là tuyển lựanhân tài qua thi cử Từ thời Đường về sau, khoa cử ở Trung Hoa ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và lựa chọn nhân tàicủa chính quyền trung ương

Như vậy, nhìn một cách tổng thể, Nho giáo Việt Nam thời Lý cónhiều điểm tương đồng với Nho giáo Trung Hoa cả về việc thờ phụngngười sáng lập ra học thuyết Nho giáo và về hình thức tổ chức khoa cử Thế kỷ XV, sau khi giành độc lập dân tộc, nhà Lê đã đưa Nho giáoViệt Nam phát triển lên đến đỉnh cao, trở thành quốc giáo

Bên cạnh việc tiếp tục thờ người Việt trong Văn Miếu đã có từ thờiTrần, việc đề cao Nho giáo của nhà Lê thể hiện trên nhiều lĩnh vực: triềuđình cho miễn lao dịch với những người thi đỗ và học tập ở Quốc TửGiám; định rõ thể lệ, thời gian cho các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình; đặt

các chức Ngũ Kinh Bác sỹ, ban cấp các bản in Ngũ Kinh của Nhà nước cho

Quốc Tử Giám… Trong đó vị vua có nhiều đóng góp nhất phải kể đến vua

Lê Thánh Tông với những sự kiện đáng ghi nhận:

Năm 1472, vua Lê Thánh Tông cho định lệ tư cách của Tiến sỹ25 Năm 1483, nhà Lê cho sửa Văn Miếu – Quốc Tử Giám: “làm điện ĐạiThành, đông vu, tây vu ở Văn Miếu, cùng điện Canh Phục, kho chứa ván

in, kho chứa đồ tế lễ, đông tây đường nhà Minh Luân”26

Năm 1484, lần đầu tiên vua Lê Thánh Tông cho dựng bia đá tại VănMiếu ghi tên tuổi, quê quán của những người đỗ Tiến sỹ, bắt đầu từ khoathi Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ ba (năm 1442) triều Lê Thái Tông trở

đi27 Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sỹ Thân Nhân Trung đãkhẳng định tinh thần đề cao giáo dục Nho học của nhà Lê trên nội dungvăn bia: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí thịnh thì thếnước mạnh mà hưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn

Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáodục nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm côngviệc cần kíp”28 Cũng trong năm này, nhà Lê còn quy định về việc ban cấp

Trang 6

Nho giáo đời Trần mặc dù ít được các nhà nghiên cứu chú ý so vớitriều Lý và triều Lê nhưng những trình bày ở trên cho thấy Nho giáo thời

Lý và thời Lê có nhiều điểm tương phỏng Nho giáo Trung Hoa trong khivới việc đưa người Việt Nam vào phối thờ ở Văn Miếu, Nho giáo của thờiTrần đã mang một tính chất khác hẳn Sự kiện này cho thấy lúc này VănMiếu Việt Nam nói riêng và Nho giáo Việt Nam nói chung không còn hoàntoàn rập khuôn theo nguyên mẫu Trung Hoa

Ngoài ra, ở thời Trần còn xuất hiện xu hướng chống chủ nghĩa giáođiều trong Nho học cũng như xu hướng muốn sửa chữa và uốn nắn ngaynhững nguyên lý và tín điều của Nho giáo

2.3 Đặt trong bối cảnh cùng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung

Hoa trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá ở giai đoạn đầu củathời kỳ độc lập, tự chủ sau 1.000 năm Bắc thuộc; so sánh với hai triềuđại gần kề (nhà Lý và nhà Lê), việc đưa các nhà Nho Việt vào phối thờtại Văn Miếu Thăng Long của nhà Trần đã ghi dấu ấn đáng kể trong việcchuyển Nho giáo mang đậm ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa sangNho giáo mang yếu tố Việt ở khía cạnh nhà nước chính thống

Cho đến hết thời kỳ phong kiến ở Việt Nam – ở các triều đại tiếptheo (Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và triều Nguyễn) – không cóngười Việt Nam nào được đưa vào phối thờ thêm ở Văn Miếu cho nên sựkiện này của nhà Trần có thể nói là sự kiện “vô tiền khoáng hậu” trongviệc người Việt đã dần biến Nho giáo của Trung Hoa thành Nho giáo củaViệt Nam

Việc đưa người Việt vào phối thờ cùng các nhà Nho Trung Hoa đãkhẳng định vai trò của nhà Trần trong việc sử dụng Nho giáo như mộtbiểu hiện mạnh mẽ cho sự trưởng thành của dân tộc Việt

Trang 7

DẤU ẤN VIỆT HOÁ TRONG NHO GIÁO THỜI TRẦN

Chọn hai nhà Nho là Chu Văn An và Trương Hán Siêu vào phối thờ ởVăn Miếu là thông điệp của nhà Trần trong việc khẳng định Việt Nam đã

có những nhà Nho đích thực tiếp cận, nắm bắt các quan điểm của họcthuyết Nho giáo Hay nói như nhà sử học Phan Phu Tiên thì: “Bậc danhnho các đời có bài trừ được dị đoan, truyền giữ được đạo thống trị thìmới được cho tòng tự ở Văn Miếu, thế là để tỏ rõ đạo học có ngọnnguồn”30

Trả lời câu hỏi tại sao nhà Trần lại đưa một vị quan võ như Đỗ TửBình vào phối thờ ở Văn Miếu là điều đáng quan tâm và cần được nghiêncứu thêm Nhưng ít nhất nó cũng cho thấy đối tượng mà nhà Trần đưavào phối thờ không chỉ đơn thuần là các đại diện của Nho giáo mà còn

có cả đại diện của yếu tố quyền lực của chính quyền nhà nước Điều nàyphần nào phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của nhà Trần lúcbấy giờ

2.4 Như vậy, bên cạnh những đóng góp to lớn của nhà Lý, nhà Lê

đối với Nho giáo Việt Nam, khi nói đến dấu ấn Việt hoá của Nho giáo ViệtNam không thể không nhắc đến triều Trần, một triều đại đặc biệt khôngchỉ lừng danh với ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông, với việc tạo

ra dòng Phật giáo mang yếu tố Việt (Trúc Lâm) mà còn là triều đại cócông tạo ra cho Nho giáo Việt Nam sự khác biệt với Nho giáo Trung Hoa.Một lần nữa, điều này khẳng định “bản lĩnh”, “bản sắc”, “khả năng ứngbiến” (như chữ dùng của GS Trần Quốc Vượng), tính uyển chuyển củacon người Việt Nam, của văn hoá Việt Nam trong quá trình tiếp xúc, giaolưu với văn hoá phương Bắc nói riêng và văn hoá nước ngoài nói chung

Trang 8

Ngơ Đức Thịnh

TOµN CÇU HO¸ V¡N HO¸ §A TUỸN

GS.TS Ngơ Đức Thịnh *

1 Tồn cầu hố và tồn cầu hố văn hố

Vấn đề tồn cầu hố mà nội dung cơ bản của nĩ là tồn cầu hốkinh tế là một điều hiển nhiên khơng phải bàn cãi và nhiều học giả đãđưa ra các quan niệm khác nhau Chẳng hạn, theo Wikipedia: “Tồn cầuhố là khái niệm về quá trình đa dạng, phức tạp của những thay đổi vềkinh tế, xã hội, cơng nghệ và văn hố, được xem như sự phụ thuộc lẫnnhau, sự hội nhập và tương tác ngày càng tăng giữa người dân và cácdoanh nghiệp ở những vị trí khá xa nhau trên thế giới”31 Hay một địnhnghĩa khác của Uỷ ban châu Âu mang sắc thái kinh tế hơn: Tồn cầuhố “là một quá trình mà thơng qua đĩ thị trường và sản xuất ở nhiềunước khác nhau trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do tính năngđộng của việc buơn bán hàng hố và dịch vụ cũng như do tính năngđộng của sự lưu thơng vốn tư bản và cơng nghệ”32

Theo quan niệm của Wikipedia, thì trong tồn cầu hố, ngồi yếu tốkinh tế, xã hội, cơng nghệ cịn cĩ cả văn hố nữa Nĩi như thế cũng cĩnghĩa, văn hố là một nhân tố hữu cơ cấu thành tồn cầu hố Tuy nhiênngày nay, ngồi khái niệm về tồn cầu hố nĩi chung, mà thực chất là

tồn cầu hố về kinh tế, cịn cĩ tồn cầu hố văn hố Nếu như tồn cầu

hố về kinh tế là điều hiển nhiên, được nhiều người thừa nhận thì về

khái niệm tồn cầu hố văn hố hiện đang cĩ nhiều ý kiến khác nhau.

Nếu một số người thừa nhận cĩ tồn cầu hố văn hố, thì cũng khơng ítngười phủ nhận sự tồn tại của tồn cầu hố văn hố Đấy là chưa kểngười ta bàn bạc nhiều đến tác hại của tồn cầu hố văn hố, phảichăng nĩ sẽ làm mất đi tính đa dạng, làm thui chột bản sắc, tính đặc thùvăn hố của các quốc gia, các dân tộc

* Viện Nghiên cứu Văn hố.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIỂU BAN VĂN HOÁ VIỆT NAM

Trang 9

TOÀN CẦU HOÁ VĂN HOÁ ĐA TUYẾN

Như vậy là trên phương diện lý luận, có cái gọi là toàn cầu hoá nói

chung, trong đó có văn hoá, như là Wikipedia quan niệm hay là có một

thứ toàn cầu hoá văn hoá bên cạnh toàn cầu hoá kinh tế? Theo chúng

tôi, không thể phủ nhận yếu tố văn hoá trong khái niệm toàn cầu hoákinh tế, tất nhiên trong đó yếu tố động lực và chủ đạo là kinh tế và côngnghệ Tuy nhiên, do tính đặc thù và tính độc lập tương đối của văn hoá,nên cùng với quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hoá kinh tếthì vẫn có quá trình toàn cầu hoá văn hoá Toàn cầu hoá văn hoá diễn ragần như song song với toàn cầu hoá nói chung, trên cơ sở sự tăng cườngtoàn cầu hoá về kinh tế, trên cơ sở sự tăng cường mạnh mẽ của cácthành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là giao thông và viễn thông, sựtăng cường giao lưu ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các dân tộc,các quốc gia, khiến văn hoá các dân tộc có nhiều cơ hội giao lưu ảnhhưởng, cọ xát, học hỏi, chia sẻ lẫn nhau Trong quá trình đó, một mặtvăn hoá các dân tộc vừa phong phú, đa dạng hơn, mặt khác cũng khôngloại trừ sự mất mát, thui chột của các nền văn hoá, các yếu tố văn hoá

đã lỗi thời, không còn sức sống cạnh tranh

Như vậy, cũng như toàn cầu hoá nói chung, mà cốt lõi của nó làtoàn cầu hoá kinh tế, thì toàn cầu hoá văn hoá cũng là điều hiện hữu.Vấn đề chỉ còn là toàn cầu hoá văn hoá như thế nào, theo kiểu nào, mức

độ nào mà thôi

2 Từ “khu vực hoá” đến “quốc tế hoá” và “toàn cầu hoá”

Hiện tại cũng đang có những quan niệm khác nhau về mối quan hệgiữa “khu vực hoá”, “quốc tế hoá” với “toàn cầu hoá” Một số nhànghiên cứu, điển hình là Thomas L Friedman, cho rằng toàn cầu hoá

chia thành ba thời kỳ: toàn cầu hoá 1.0 từ 1492, khi Côlômbô tìm ra châu Mỹ, toàn cầu hoá 2.0 gắn với cách mạng công nghiệp và toàn cầu

hoá 3.0, từ 2000 đến nay33 Có người còn đẩy toàn cầu hoá sớm hơn 100năm bằng việc hình thành con đường tơ lụa giữa phương Đông vàphương Tây trên bộ và trên biển34

Theo chúng tôi, giữa “khu vực hoá”, “quốc tế hoá” và “toàn cầuhoá” tuy có mối quan hệ gắn kết, nhưng giữa chúng cũng có sự khácnhau Nhìn toàn cầu hoá với tư cách là một quá trình lâu dài như vậy,cũng có nghĩa trong nó đã bao gồm cả quá trình khu vực hoá và quốc tếhoá, coi khu vực hoá và quốc tế hoá là giai đoạn mở đầu, giai đoạn pháttriển thấp của quá trình toàn cầu hoá Tuy nhiên cũng phải thừa nhậnrằng, giữa chúng cũng có sự khác biệt về chất, nhất là giữa khu vực hoá

và quốc tế hoá với toàn cầu hoá, trong đó toàn cầu hoá không chỉ là quá

Trang 10

Ngô Đức Thịnh

trình lôi cuốn cả nhân loại, hành tinh vào quá trình liên hệ và giao lưumạnh mẽ, mà còn là quá trình phát triển về chất, đặc biệt là sự hìnhthành của các tập đoàn kinh tế khổng lồ xuyên quốc gia, xuyên đại lục

và ngày càng có vai trò chi phối kinh tế quốc tế Nó chính là sản phẩmcủa nhân loại khi bước vào giai đoạn hiện đại hoá và hậu hiện đại

Như vậy, dù quan niệm toàn cầu hoá theo nghĩa nào thì bản chấtcủa toàn cầu hoá là một quá trình phát triển mang bản chất của việcxây dựng xã hội hiện đại hoá hay hậu hiện đại Do vậy, khi xem xét toàncầu hoá như là một xu hướng phát triển thì không thể không quan tâmtới thực chất của xã hội hiện đại và hậu hiện đại

3 Hiện đại hoá là gì? Từ hiện đại hoá đơn tuyến đến hiện đại hoá đa tuyến

Đúng như nhận xét của M Knauft trong công trình Critically

Modern35 đã quan niệm hiện đại hoá và tính hiện đại là “những ý tưởng,

các thiết chế gắn liền với sự tiến bộ và phát triển theo lối phương Tây”.Người ta cho rằng, lúc đầu khái niệm “hiện đại” như một thứ “mốt”, đểchỉ khát vọng trở nên “thời thượng”, “cập nhật”, khiến cho một số cộngđồng sẵn sàng từ bỏ các giá trị truyền thống của mình, mà trong quanniệm, những cái đó đối lập với cái gọi là “truyền thống”, để được xếp,hay tự mình xếp vào loại “hiện đại” Cũng có bộ phận cư dân bị lôi kéovào quá trình “hiện đại hoá” một cách không tự nguyện, thông qua các

dự án phát triển do các tổ chức quốc tế hay các công ty xuyên quốc giatài trợ, do sức hấp dẫn của chủ nghĩa tiêu thụ Về sau, quá trình hiện đạihoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, với chủ nghĩa cánhân, sự thành đạt và lối suy nghĩ theo kiểu duy lý phương Tây tư bảnchủ nghĩa Và cũng giống như quan niệm phát triển, “hiện đại hoá”,

“tính hiện đại” (Modernity, dùng theo số ít) hàm chứa nội dung “vậtchất”, “kỹ thuật” và “kinh tế”, gắn với thiết chế xã hội mang nặng tínhquan liêu Kết quả của quá trình này là các nước càng hiện đại hoá, xãhội càng mang tính hiện đại bao nhiều thì lại càng phụ thuộc vào cácnước công nghiệp hiện đại Âu - Mỹ bấy nhiêu

Trong xu hướng hiện đại hoá theo mô hình “kinh tế”, “kỹ thuật”phương Tây như vậy, thì về phương diện quan niệm, người ta thường đốilập giữa “cái truyền thống” với “cái hiện đại”, khiến cho quá trình pháttriển của một xã hội là sự lựa chọn giữa truyền thống hay hiện đại Cũngkhông ít trường hợp như ở nước ta, trong quan niệm xã hội có sự đồngnhất “hiện đại hoá” với “phương Tây hoá”

Trang 11

TOÀN CẦU HOÁ VĂN HOÁ ĐA TUYẾN

Từ thập kỷ 80 – 90 của thế kỷ XX trở đi, người ta đã nhìn nhận lạiquan niệm “hiện đại hoá”, “tính hiện đại” ít nhất trên hai phương diện

Thứ nhất, quá trình hiện đại hoá hay “tính hiện đại” của một xã hội không

chỉ bị hạn hẹp trên bình diện kinh tế, kỹ thuật hay nặng về kinh tế, kỹthuật, mà nó còn bao gồm cả khía cạnh con người, xã hội và văn hoá, tức

là khía cạnh chủ thể của quá trình hiện đại hoá Đó là: Ai thực hiện quá

trình hiện đại hoá và hiện đại hoá cho ai? Từ đó cũng dẫn đến phương

diện thứ hai, đó là có nhiều quá trình hiện đại hoá, có nhiều tính hiện đại

(Modernities, dùng theo số nhiều) chứ không phải chỉ có một mô hìnhhiện đại hoá, chỉ có một tính hiện đại theo mô thức phương Tây Cùng với

nó, trên bình diện quan niệm, truyền thống và hiện đại hay “tính truyềnthống” và “tính hiện đại” không phải là các thực thể tách rời, mà nóquyện lẫn vào nhau và thể hiện trong mỗi hiện tượng xã hội, văn hoáđương đại

Trong sự thay đổi mang tính bước ngoặt ấy của quan niệm “hiện

đại hoá” và “tính hiện đại”, chúng ta thấy dần hiện lên cái nền tảng văn

hoá của hiện đại hoá, của tính hiện đại Từ chỗ coi quá trình “hiện đại

hoá” mang nặng tính khách thể, tức coi trọng khía cạnh phương tiện vậtchất, kỹ thuật và kinh tế, mà thường là xuất phát từ mô thức phươngTây tư bản chủ nghĩa, nhiều khi mang tính áp đặt, “đồng hoá cưỡng

bức”, người ta càng ngày càng nhận rõ vai trò của chủ thể của hiện đại

hoá, đó là vai trò của con người, của xã hội, mà con người và xã hội ở

đây không phải là con người và xã hội chung chung, mà là con người và

xã hội thuộc về các dân tộc, các quốc gia, các địa phương với nhữngtruyền thống, những điểm mạnh và yếu khác nhau Chính xuất phát từgóc độ chủ thể hay nói cách khác, từ góc độ con người và văn hoá củahiện đại hoá mà mô hình và quá trình hiện đại hoá cũng mang tính đadạng, cũng như tính hiện đại của một xã hội cũng mang tính đa dạng.Người ta đã dần chuyển khái niệm “hiện đại hoá”, “tính hiện đại” từdạng số ít (Modernity) sang số nhiều (Modernities)

Từ việc phân tích các quá trình hiện đại hoá và tính hiện đại theohướng đa dạng hoá, các nhà nghiên cứu cũng càng ngày càng nhận ravai trò của những đặc thù dân tộc, quốc gia, đặc thù địa phương đối với

sự phát triển nói chung và quá trình hiện đại hoá nói riêng Thế giớitrong thế kỷ XX đã chứng kiến hai xu hướng phát triển mang bản chấtkhác nhau, tuy nhiên có điểm chung là mang tính nhất loạt và áp đặt

Đó là xu hướng phương Tây hoá tư bản chủ nghĩa đối với thế giới, thểhiện qua chủ nghĩa trung tâm châu Âu (Europcentrism) và chủ nghĩa tự

Trang 12

Ngô Đức Thịnh

do Mỹ Một xu hướng khác của phong trào Cộng sản thế giới mang nặngtính nhất loạt, áp đặt, duy ý chí Hai xu hướng này đều coi nhẹ tính đặcthù xã hội và văn hoá trong phát triển và hiện đại hoá, do vậy hiệu quảcủa quá trình này đều bị hạn chế, thậm chí thất bại

Thực ra, trong phát triển nói chung và hiện đại hoá nói riêng, việctìm ra xu hướng, quy luật là rất cần thiết, nó đảm bảo cho sự phát triển

ấy hợp quy luật, không ra ngoài quỹ đạo phát triển nhân loại Tuy nhiên,phát triển như thế nào, bằng cách nào thì lại phụ thuộc nhiều vào tínhđặc thù của từng quốc gia, địa phương và dân tộc Từ đó tất yếu dẫnđến nhiều mô hình phát triển, nhiều mô hình hiện đại hoá, phù hợp vớiđặc thù của từng nước, từng dân tộc, địa phương, khắc phục tình trạngđơn tuyến, nhất loạt và áp đặt như vừa qua36

4 Từ hiện đại hoá đa tuyến đến toàn cầu hoá đa tuyến

Một thuộc tính cơ bản của văn hoá là khả năng tự chia sẻ, học hỏi,giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cộng đồng Mỗi phát minh, sángtạo vốn xuất phát từ một nơi, nhưng nhanh chóng được truyền bá, lantoả đến các vùng khác Chính vì lẽ đó, giao lưu ảnh hưởng văn hoá từ xaxưa đã đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển không chỉ của bảnthân văn hoá mà còn của cả xã hội nữa Dân tộc, quốc gia nào đóng kín,biệt lập, chối từ giao lưu ảnh hưởng thì trước sau đều dẫn đến suy thoái,lạc hậu Quá trình giao lưu ảnh hưởng đó phát triển dần dần trong phạm

vi khu vực, rồi mở rộng ra giữa các khu vực và ngày nay, trong môitrường công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ đã tạo cơ hội cho quátrình giao lưu ảnh hưởng văn hoá trên phạm vi toàn cầu Đó là quy luậttất yếu không thể đảo ngược

Cũng giống như làn sóng hiện đại hoá trước những năm 80 của thế

kỷ XX, đây là quá trình toàn cầu hoá đơn tuyến, mà không ít người đãbóc trần bộ mặt thật của xu hướng này là Mỹ hoá hay Âu - Mỹ hoá, mộtthứ “chủ nghĩa thực dân mới” của các nước giàu có muốn bóc lột, đồnghoá các nước kém phát triển hay đang phát triển ở châu Á, châu Phi và

Mỹ Latinh nhằm biến các nước, các dân tộc này trở thành “cái sân sau”,thành khu vực chịu sự phụ thuộc vào các quốc gia lớn Âu - Mỹ Chính vìthấy được bộ mặt thật đó, nhiều phong trào đấu tranh phản đối toàn cầuhoá đã và đang nổ ra ở ngay trung tâm của các nước phát triển nhất, nơiđang đóng vai trò khống chế và lợi dụng quá trình toàn cầu hoá này

Ở đây nảy sinh một nghịch lý là, một bên, quá trình toàn cầu hoá là

xu hướng tất yếu của con đường phát triển nhân loại, sẽ tạo cơ hội phát

Trang 13

TOÀN CẦU HOÁ VĂN HOÁ ĐA TUYẾN

triển cho các quốc gia, dân tộc, còn bên kia là các nước tư bản, các tậpđoàn xuyên quốc gia đang lợi dụng xu hướng toàn cầu hoá để làm giàubằng sự bóc lột các nước thế giới thứ ba kém phát triển Trước nghịch lý

đó, vấn đề không phải là chống lại toàn cầu hoá, mà là chống lại toàn

cầu hoá đơn tuyến, tức quá trình Âu - Mỹ hoá thế giới Muốn vậy phải

thực hiện toàn cầu hoá đa tuyến.

Vậy toàn cầu hoá đa tuyến là gì ? Đó là quá trình của những thayđổi kinh tế, xã hội, công nghệ và văn hoá diễn ra trong mối quan hệ đachiều, hội nhập và tương tác lẫn nhau giữa các quốc gia, các dân tộc ởcác vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới, tạo nên động lực và thời cơthúc đẩy sự phát triển của tất cả các nước và các dân tộc Toàn cầu hoá

đa tuyến còn là một cuộc đấu tranh giữa một bên là những kẻ, những thếlực lợi dụng toàn cầu hoá để mưu lợi riêng và bóc lột các dân tộc, cònmột bên là sự hội nhập, tương tác thực sự vì lợi ích của mỗi dân tộc và sựbình đẳng chung Trên thực tế, sự hợp tác và đấu tranh đã và đang diễn

ra trên mọi diễn đàn mang tính quốc tế, từ tổ chức cao nhất là Liên hợpquốc; UNESCO đến các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế, như WTO, WB,IMF; các khối nước EU, ASEAN Tất nhiên, đây là cuộc đấu tranh khôngcân sức giữa các nước giàu Âu - Mỹ và các nước nghèo, tuy nhiên, nếucác tổ chức quốc tế xây dựng được các thể chế hợp lý thì sự bất bìnhđẳng cũng sẽ được khắc phục và cơ hội phát triển cũng sẽ đến với cácnước đang và kém phát triển

Tất nhiên, toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến phụ thuộc nhiều vào toàncầu hoá kinh tế, tuy nhiên, văn hoá vẫn có nét đặc thù và có con đường

đi riêng của mình Đó là quá trình giao lưu ảnh hưởng văn hoá mạnh mẽgiữa các dân tộc, các quốc gia trên cơ sở bảo tồn những bản sắc văn

hoá riêng của mình Toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến thực chất là quá

trình quốc tế hoá đời sống văn hoá các dân tộc và dân tộc hoá đời sống văn hoá quốc tế Toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến chống lại quá trình lợi

dụng toàn cầu hoá để đồng hoá văn hoá thế giới của văn hoá Âu - Mỹ,nhất là văn hoá Mỹ Toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến phải là quá trìnhgiao lưu ảnh hưởng văn hoá đa phương, đa chiều, trong đó, một mặt,mỗi dân tộc tiếp thu đời sống văn hoá của các nước, các dân tộc khác

để làm giàu cho văn hoá của mình; và mặt khác, đóng góp những nétvăn hoá độc đáo của mình vào kho tàng tài sản chung của nhân loại Haiquá trình đó diễn ra song song và tương tác lẫn nhau, cái nọ làm tiền đềcho sự tồn tại và phát triển của cái kia

Lịch sử phát triển văn hoá nhân loại cho thấy, một khi xu hướngquốc tế hoá mạnh mẽ đe doạ sự sống còn của văn hoá dân tộc, thì đối

Trang 14

Ngô Đức Thịnh

trọng lại là quá trình gìn giữ bản sắc dân tộc một cách mạnh mẽ hơn Vớilại, văn hoá là quá trình phát triển không ngừng nghỉ, toàn cầu hoá có thểsan bằng, làm mất đi nhiều nét đặc thù của dân tộc, địa phương, nhưngtrên cái nền chung mới sẽ nảy sinh tính đa dạng mới Văn hoá không baogiờ chỉ là cái đơn nhất, cái đồng nhất, mà mỗi quốc gia, dân tộc, địaphương sẽ biết làm giàu, làm đa dạng văn hoá của mình trên cái nềnchung của nhân loại Bởi vì suy cho cùng, cái đa dạng mới là bản chất củavăn hoá, còn văn hoá thì còn đa dạng, thế giới văn hoá không bao giờ là

“thế giới phẳng”

Văn hoá của mỗi dân tộc, quốc gia vừa rất đa dạng về màu sắc vừanhiều tầng bậc Thực tế cho thấy, hiện tượng toàn cầu hoá văn hoá hiệnnay diễn ra trên một số lĩnh vực của đời sống, như hệ tư tưởng, đời sốngtôn giáo, nhiều tôn giáo, như Kitô giáo (Tin Lành, Công giáo), Phật giáo,Hồi giáo đều có xu hướng vươn lên thành tôn giáo mang tính toàn cầu.Đặc biệt, toàn cầu hoá diễn ra sôi động trên các lĩnh vực truyền thông(báo chí, internet, truyền hình, phát thanh ), giải trí (âm nhạc, thểthao, ), du lịch, lối sống, phương tiện sống (ăn, mặc, ở, đi lại )

Trong các tầng lớp văn hoá chịu ảnh hưởng của toàn cầu hoá sớm

nhất và mạnh mẽ nhất là văn hoá đại chúng, liên quan tới truyền thông,

lối sống, vui chơi giải trí, du lịch, trò chơi, ẩm thực, ăn mặc Như vậy làquá trình toàn cầu hoá văn hoá không phải là đều khắp, nhất loạt Đấy

là chưa kể, xu hướng toàn cầu hoá văn hoá lại được các khu vực, cácquốc gia, dân tộc tuỳ theo truyền thống văn hoá của mình mà tiếp nhậntheo những cách khác nhau, thậm chí không loại trừ sự tẩy chay, chốnglại toàn cầu hoá đã và đang diễn ra ở một số nơi, trong một số tầng lớp

xã hội

Con người là bình đẳng, các nền văn hoá là bình đẳng, không cóvăn hoá cao hay thấp, siêu đẳng hay thấp hèn, tuy nhiên, như đã từngdiễn ra hàng mấy nghìn năm nay, các nền văn hoá trên hành tinh khôngphải bao giờ cũng đóng vai trò như nhau Thời văn minh cổ đại và trung

cổ, rõ ràng văn minh Hy La giữ vai trò chủ lưu trong sự phát triển vănminh châu Âu; cũng như vậy, ở phương Đông, văn minh Ai Cập, Ấn Độ,Trung Hoa cũng đã từng đóng vai trò như vậy đối với văn minh cácnước phương Đông Ngày nay, với sự hình thành các nền văn minh hiệnđại và hậu hiện đại, thì các trung tâm văn minh hiện đại như Tây Âu,Bắc Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc đã và đang là các đa cực trong thếgiới hiện đại và cũng đóng vai trò chủ lưu của quá trình toàn cầu hoá nóichung và toàn cầu hoá văn hoá nói riêng Tuy nhiên, điều đó không cónghĩa là các trung tâm này có thể áp đặt lên toàn bộ thế giới các mô

Trang 15

TOÀN CẦU HOÁ VĂN HOÁ ĐA TUYẾN

hình văn hoá của mình Chính trên các dòng chủ lưu đó cùng với cácphần còn lại của nhân loại sẽ tạo nên sự thống nhất và đa dạng mới củavăn hoá toàn cầu hoá

Việt Nam mới hội nhập với quốc tế từ thập niên 90 tới nay, tuynhiên, Việt Nam đã gia nhập vào quá trình “khu vực hoá”, “quốc tếhoá” từ rất lâu đời

– Từ sau CN, giống như nhiều quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á, cácquốc gia cổ đại nước ta (Văn Lang - Âu Lạc, Chămpa, Phù Nam) tham giavào quá trình hội nhập khu vực, một bên với văn hoá Đông Á mà vănminh Trung Hoa là trung tâm, một bên là văn hoá Ấn Độ Quá trình hộinhập khu vực này đã là nhân tố ngoại sinh rất quan trọng góp phần thúcđẩy quá trình hình thành và phát triển các nền văn minh ở Việt Nam vàĐông Nam Á

– Từ thế kỷ XVI, với quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dânphương Tây, hầu hết các quốc gia ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam,đều trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân như Pháp, Anh, Tây BanNha, Bồ Đào Nha Từ đây, về phương diện kinh tế, xã hội và văn hoádiễn ra quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây, một quá trình mang tính

“quốc tế hoá” sâu sắc… Với quá trình quốc tế hoá này, Việt Nam và cácnước Đông Nam Á đã bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

và cùng với nó là sự thắng lợi của phong trào dân tộc, xây dựng các nhànước dân tộc hiện đại Đối với Việt Nam, giai đoạn từ 1945 đến 1975, với

tư cách là thành viên của các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa, quá trìnhquốc tế hoá tiếp tục diễn ra với tính chất và quy mô khác với giai đoạntrước

Qua hai lần hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế như vậy, conngười và văn hoá Việt Nam, tuy trong một hoàn cảnh bất lợi, bị mất độclập, nhưng đã chủ động hội nhập và tự cường nền văn hoá của mình, tôiluyện bản sắc và bản lĩnh văn hoá, để sau mỗi lần hội nhập, nền vănhoá Việt Nam không những không bị đồng hoá mà lại càng phong phú,giàu bản sắc hơn, từ đó vươn lên khôi phục lại nền độc lập của dân tộcmình

Lần này, trong làn sóng toàn cầu hoá, dù có sự khác biệt về chất sovới hai lần hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế, nhưng bù lại, Việt Nam

là một quốc gia độc lập, có vị thế trên trường quốc tế Chúng ta hoàntoàn có thể tin tưởng đất nước ta sẽ vững vàng và chủ động hội nhậptrong xu hướng toàn cầu hoá, nền văn hoá Việt Nam sẽ phát triển vàđậm đà bản sắc hơn

Trang 16

Ngô Đức Thịnh

31 CHÚ THÍCH

Wikipedia, Toàn cầu hoá.

32 Trích qua: Nguyễn Văn Dân (Chủ biên), Những vấn đề của toàn cầu hoá

kinh tế, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001.

33 Thomas L Friedman, Thế giới phẳng, NXB Trẻ, 2007.

34 Nguyễn Quang A, Việt Nam và toàn cầu hoá, in trong Lao động cuối tuần,

10 – 12 – 2006.

35 M Knauft, Critically Modern, University Press, 2002

36 Ngô Đức Thịnh, Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004; Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998; Vai trò của văn hoá địa phương với sự phát

triển xã hội, in trong “Văn hoá truyền thống các tỉnh bắc Trung Bộ”, NXB Khoa

học Xã hội, Hà Nội, 1997.

Trang 17

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

hỵp SưU/TLU/TR¢U

Nguyễn Cung Thơng, Thạch Sanh *

Phần này viết về chi thứ hai hay chi Sửu của thập nhị chi (12 congiáp) Sửu dùng để chỉ thời gian từ 1 giờ tới 3 giờ sáng (đêm năm canhngày sáu khắc), và xác định khơng gian (hướng NNE (Bắc Bắc Đơng)).Phần sau chỉ giới hạn về liên hệ Sửu Hán Việt (HV) và trâu tiếng Việt chothấy một tương quan mật thiết khi đi ngược dịng thời gian, cũng nhưcho thấy một lần nữa nguồn gốc phương Nam (Việt Nam) của tên (HV)

12 con giáp Đương nhiên là các kết quả (nếu cĩ) của các nghiên cứuDNA lồi trâu/(bị) ở Á châu, cùng với những nghiên cứu về khảo cổ họcliên hệ sẽ tăng phần chính xác của kết luận trên Người viết tránh dùngcác thuật ngữ để giữ cho bài viết đơn giản, tuy nhiên cĩ nhiều chú thíchcho biết nguồn rõ ràng và tài liệu chi tiết để người đọc tiện tra cứuthêm Cần phân biệt thanh điệu được ghi bằng số sau vần, khác với các

số thứ tự ghi chú Âm Bắc Kinh/BK được ghi bằng pinyin (phiên âm, bínhâm)

Xe bị chở gạch - những viên gạch xây dựng nhà cửa, thành thị, cơng nghiệp của tương lai đưa nơng nghiệp và trâu, bị vào quá khứ Phải chăng mâu thuẫn là nguồn gốc của tiến bộ?

* Nhà nghiên cứu Ơxtrâylia.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIỂU BAN VĂN HOÁ VIỆT NAM

Trang 18

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử ngồi trên xe bò đi chu du

thiên hạ Trong “Nhân Thiên” của Luận ngữ, Khổng Tử mong con người

không màng công danh như loài trâu, chỉ cố sức cày cấy, không khoekhoang kể công Có lẽ vì vậy mà Khổng Tử yêu cầu phải có trâu (bò) khicúng tế 37 Hứa Thận trong Thuyết văn giải tự thời Đông Hán cũng ghi

nhận về trâu “大 牲 也 đại sinh dã” (con vật cúng lớn) Trâu cũng hiện

diện trên trống đồng thời Đông Sơn, đánh dấu văn hoá “lúa nước” củathời Hùng Vương (xem các hình ở cuối bài) Khi xem các thành ngữ, cadao, ta sẽ thấy trâu (bò) gắn liền với các phong tục dân tộc ở châu Á,nhất là ở vùng Đông Nam Á, Indonesia Phần sau chú trọng về vănhoá, ngôn ngữ Trung Hoa so với Việt Nam qua lăng kính con giáp thứ haihay Sửu

1 Giới thiệu tổng quát

1.1 Sửu là chi thứ hai

Sửu HV 丑 hay chŏu giọng BK hiện tại, so với giọng Quảng Đông

cau2, giọng Hẹ chiu cu3…và Đại Hàn chug, Nhật là chu (Đại Hàn và Nhật

đọc gần âm BK hơn) Theo Khang Hy, Sửu thời Đường đọc là sắc cửu thiết

Trang 19

-NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

đồng âm với xú (xấu) 醜: tiếng HV vẫn còn duy trì phụ âm s- đầu chứng tỏ

lần nữa hệ thống âm thanh HV đã nhập

(có hệ thống rõ ràng) vào tiếng Việt khoảng thời kỳ này Từ điển Việt – Bồ

– La (1651) cũng ghi nhận các chữ sỡu hay tlâu kề bên nhau cho thấy

mối liên hệ mật thiết giữa hai chữ/âm này; phần sau sẽ đưa ra các tương

quan ngữ âm chứng minh rằng sửu chính là một dạng của trâu, nhìn

rộng hơn qua các bài viết khác, ta có thể nhận ra rằng hệ thống tên gọi

Tý, Sửu, Dần… chính là hệ thống ký âm của người Hán ghi lại tên gọi cáccon vật từ một tiếng “nước ngoài” (tiếng Việt Cổ)

1.2 Trâu, bò trong văn hoá Trung Hoa

Ngưu hay ngâu là tiếng HV, nghĩa là bò (cow, ox, bull)38, giọng BK

bây giờ là niú, cũng viết bằng bộ ngưu 牛 thứ 93 trong 214 “bộ thủ” cổ

điển So với các giọng đọc khác, ngâu gần với giọng Quảng Đông và

ngưu gần với giọng Hẹ (Hakka), giọng Ngô (Wu) là nhiu cho thấy kết quả

ngạc hoá cao độ Tiếng Trung Hoa còn dùng các cụm từ thuỷ ngưu để chỉ con trâu so với mẫu ngưu, hoàng ngưu, hoả ngưu… là con bò Đi

ngược dòng thời gian về thời Tiên Tần, các hình vẽ/ khắc trên giáp cốt

văn, kim văn đều cho thấy ngưu là chữ tượng hình - hình phía trước của con trâu có hai sừng Nếu chữ ngưu được dùng thay chữ Sửu trong tên

12 con giáp thì nguồn gốc Trung Hoa của chúng có cơ sở chứng minh,

nhưng lạ thay lại có chữ Sửu (và dĩ nhiên các chữ khác như Tý, Dần,

Hợi…) chẳng dính líu gì đến tên gọi 12 con vật trong tiếng Hán Nhất làkhi tên 12 con giáp đã được ổn định từ thời Tần về sau, Trung Hoa đã có

tên gọi các con thú này rồi! Ngoài ra, chữ Sửu thường được dùng làm

thành phần hài thanh/(HT) trong quá trình cấu tạo chữ Hán như 忸 狃 扭

紐 鈕 杻 là nữu HV, và các chữ này được đọc là niŭ, niú giọng BK bây giờ (hay là nữu, ngưu theo giọng Hẹ) chứ rất ít khi là Sửu Điều này cho thấy mối dây liên hệ mật thiết giữa Sửu 丑 và ngưu (trâu/bò) 牛.

Trang 20

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Lão Tử cưỡi trâu xanh - ở phương Nam… đi về hướng Tây mất dạng?

(http://en.wikipedia.org/wiki/Lao_Tsu) (hình vẽ từ

http://www.williamjames.com/History/CHINA.htm)

Trong phần này, trâu được dùng để dịch nghĩa chữ HV ngưu dù rằng

có phần gượng ép Theo truyền thuyết Trung Hoa thì trâu biểu hiện sựsống lâu (thọ) như chuyện Lão Tử khi về già đã cưỡi trâu xanh đi vềhướng Tây qua đồi núi và mất dạng Ta hãy xem qua hình ảnh của trâu(bò) trong văn hoá Trung Hoa qua các thành ngữ như:

Trang 21

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

Ngưu ẩm ưu hà: Con trâu uống nước ở sông Hoàng Hà, nghĩa rộng

hơn là cuộc sống đầy đủ, thoải mái

Ngưu giác quải thư: Đeo sách ở sừng trâu - chuyện kể Lý Mật đời

Đường nhà nghèo mà chăm học, vừa đi chăn trâu vừa đeo sách (học) ởsừng trâu

Ngưu Lang Chức Nữ: Truyền thuyết Trung Hoa về chàng chăn trâu

(Ngưu Lang) và cô gái dệt (Chức Nữ), liên hệ đến thất tịch39 (đêm mùng

7 tháng 7) và mưa ngâu (tháng bảy mưa nhiều như nước mắt hai vợchồng Ngưu Lang, Chức Nữ khi gặp nhau)…

Ngưu đầu mã diện: Đầu trâu mặt ngựa - quỷ sứ trong hình dạng thú

(như dưới âm phủ)

Ngưu quỷ xà thần: Yêu ma quỷ quái - như câu đầu trâu mặt ngựa ở trên.

Ngưu đầu bất đối mã chuỷ: Đầu trâu không xứng với mõm ngựa

-cũng như các câu: Ông nói gà bà nói vịt; Trống đánh xuôi kèn thổi

ngược; Râu ông nọ cắm cằm bà kia; Nồi vuông úp vung tròn.

Ngưu giác tiêm hay toan ngưu giác tiêm: Chui (rúc) vào sừng trâu

-Chui (đi) vào ngõ cụt, đi vào chỗ bế tắc

Ngưu đao cát kê hay cát kê yên dụng ngưu đao (sách Luận ngữ):

Dùng dao to (mổ bò) để giết gà - có tài mà phải làm những công việc(nhỏ nhoi) không xứng

Ngưu đỉnh phanh kê: Vạc trâu (bò) mà nấu gà - Có tài mà làm việc

Ngưu sưu mã bột: Ngưu sưu và mã bột là các vị thuốc Trung Hoa dễ

lấy - ý nói những gì rẻ tiền mà lại có ích

Ngưu nhân mã nhân: Làm việc như trâu ngựa - Đời sống cực khổ Ngưu mã sinh hoạt: Sống đời cực khổ như trâu ngựa.

Ngưu mã bất như: Sống đời cực khổ còn hơn trâu ngựa

Ngưu đề chi sầm: Khả năng giới hạn.

Trang 22

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Ngưu ký đồng tạo: Trâu và ngựa cùng chuồng - Như vàng thau lẫn lộn, không phân biệt người khôn và người ngu.

Ngưu khuyên lý bất yêu tháp tiến mã chuỷ lai: Không để mõm ngựa

trong bầy trâu (bò), hay đừng xen vào chuyện người khác - Không phảichuyện của mình

Ngưu bì đại vương: Người ưa khoe khoang.

Đối ngưu đàn cầm: Gảy đàn cho trâu nghe - Đàn gảy tai trâu - nói

(giải thích) cho người điếc nghe (người không biết thưởng thức), đưa

châu ngọc cho lũ heo (cast pearls before swine)… Đàn HV là gẩy, còn

cầm HV mới là cây đàn!

Ngưu ngưu niệt niệt: Niệt là nắm, bóp - Ý nói tư cách ngại ngùng40

như không nói được ý mình muốn nói

Các cách dùng ngưu y (áo trâu, áo người nghèo), ngưu xa (xe trâu/bò, dân nghèo đi), ngưu đầu (đầu trâu),… so với cách dùng long y (áo vua, đẹp đẽ và lộng lẫy), long xa (xe vua đi), long đầu (đầu con

rồng, hoành tráng)… cho thấy hai thái cực của xã hội đều có dấu ấntrong hai con giáp này

1.3 Hình ảnh trâu (bò) trong văn hoá Việt Nam

Trâu hiện diện thường xuyên trong thành ngữ, ca dao Việt Nam, từhoạt động kinh tế căn bản nhất (mua trâu) đến việc dựng vợ gả chồnghướng về tương lai:

Mua trâu chọn giống.

Cưới gái lựa dòng.

Và ngay cả sự nghiệp của một đời người:

Tậu trâu, lấy vợ, cất nhà, Trong ba việc ấy thật là khó thay

Hay là:

Con trâu là đầu cơ nghiệp Ruộng sâu trâu nái

Trang 23

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

Muốn giàu nuôi trâu nái Muốn lụn bại nuôi bồ câu…

Trâu còn là nhân vật chính trong một số phong tục như chọi trâu ở

Đồ Sơn, cũng giống như các phong tục ở Malaysia, Indonesia…

Dù ai buôn bán trăm nghề, Mồng mười tháng tám cũng về chọi trâu.

Tâm lý xã hội phức tạp hàm chứa trong các câu nói như: Trâu bò

húc nhau ruồi muỗi chết (kẻ dưới thiệt thòi khi có xung đột ở cấp trên); Trâu buộc ghét trâu ăn; Trâu chậm uống nước đục (đến sau mất phần); Trâu ngờ ăn cỏ béo (có khi ngờ nghệch lại gặp may mắn); Trâu cổ cò, bò

cổ giải; Trâu chết mặc trâu, bò chết mặc bò, củ tỏi giắt lưng (ý nói người

ích kỷ chỉ biết lo cho phần mình); Trâu dắt ra, bò dắt vào (chỉ nhà giàu có); Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đấy (Trâu trắng rất hiếm thấy, ý chỉ người không may mắn); Trâu đi tìm cọc, cọc chẳng tìm trâu (ai cần đến

ai thì phải đi mà tìm); Trâu ra mạ vào (cày xong thì phải cấy ngay); Trâu

lấm vấy càn (kẻ ưa nói xấu người khác); trâu ho bằng bò rống (hoạt

động của người khoẻ); Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa (người khoẻ làm thêm cũng không sao); Bụng trâu làm sao, bụng bò làm vậy; Trâu lành

không ai mặc cả, trâu ngã khối kẻ cầm dao (lợi dụng lúc người đang yếu

thế); Trâu chết để da, người chết để tiếng (trâu chết còn da để dùng làm nhiều việc, người ta chết để lại tiếng thơm hay xấu); Lo bò trắng răng, cũng như: Lo bò không có hàm trên (lo chuyện không đâu); Bò chết

chẳng khỏi rơm (ý nói rất gắn bó)…

Kinh nghiệm dân gian cho thấy41:

Trâu năm, sáu tuổi còn nhanh,

Bò năm, sáu tuổi đã tranh cõi già.

Lái trâu, lái lợn, lái bè, Trong ba “lái” ấy chớ nghe anh nào.

Tuổi Sửu, con trâu kềnh càng, Cày chưa đúng buổi lại mang cày về.

Thứ nhất vợ dại trong nhà, Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn…

nhưng lại có cách nhìn khác hơn là:

Vợ dại thì đẻ con khôn,

Trang 24

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

Và kinh nghiệm khi mua bán trâu:

Xa sừng, mắt lại nhỏ con, Vụng đàn, chậm chạp, ai còn nuôi chi.

Khô chân, gân mặt, đắt tiền cũng mua.

Đốm đầu thì mua - đốm đuôi thì thịt.

Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà, Vểnh sừng, tóc chớp, cửa nhà không yên.

Một số thành ngữ Trung Hoa có hàm ý như trong các thành ngữ Việt

Nam: làm việc như trâu (bò), đàn gảy tai trâu… nhưng lại có nhiều điểm khác biệt, có lúc lại ngược với nhau như cách nói mổ trâu, mổ bò như làm

ăn như mổ bò… có ý tiêu cực trong tiếng Việt, còn mổ trâu trong tiếng Hán

páo dīng jiě niú (bào đinh giải ngưu HV)

có nghĩa tích cực: nói lên một khả năng do luyện tập thường xuyên mà

thành! Tiếng Việt có từ bê = bò con và nghé chỉ con trâu con so với các cụm từ ngưu tử, tiểu ngưu, độc trong tiếng Hán Ca dao, tục ngữ Việt

Nam liên hệ đến trâu có phần đa dạng và phong phú hơn Trung Hoa,cũng như những lấn cấn về phạm trù nghĩa của trâu, bò trong tiếngTrung Hoa - nhưng không đủ cơ sở để đi đến kết luận Sửu (biểu tượng làtrâu) có nguồn gốc Việt (Cổ) Có người cho rằng Trung Hoa thời xưakhông có trâu mà chỉ có bò (ngưu), khi bành trướng về phương Nam mới

bắt đầu ghép thêm chữ thuỷ (nước) để cho ra thuỷ ngưu chỉ con trâu địa

phương, nhưng cũng có người cho rằng trâu đã có mặt tại lưu vực sôngHoàng Hà từ thời cổ đại Đây là một vấn đề khá mơ hồ vì thiếu địnhnghĩa khoa học (nên rất dễ lầm) của trâu và bò thời xưa, kết quả khảo cổ

và di truyền học chưa rõ ràng và cần được nghiên cứu chi tiết hơn

Tiếng Phạn cũng có các từ như kita vừa chỉ con trâu, con bò, vừa chỉ con

dê, và ustra là con trâu hay lạc đà (trâu có bướu) Ta hãy đi sâu vào cấu trúc và lịch sử hình thành ngữ của chữ Sửu so với ngưu để tìm thêm

manh mối

2 Phụ âm đầu s- của sửu

2.1 Sửu có dạng âm cổ phục nguyên là *trhuw theo EdwinPulleyblank42 so với dạng *drju theo cách phục hồi của William Baxter43,

Trang 25

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

và *tn’njôg của Bernhard Karlgren44 và *plau của Li Fang-kuei45 Hai dạng

đầu gần với trâu/tru tiếng Việt nhất - xem thêm bảng so sánh tên 12

con giáp (bài số 2) William G Boltz dựa vào các phương ngữ Thái còn

đề nghị dạng âm cổ của Sửu *hnrjơgwx46 - so với dạng âm cổ của PaulBenedict *k[a]R[]b/l/aw47 Thật ra, các tổ hợp phụ âm kl- hay tl-, bl- đã

từng hiện diện trong tiếng Việt như cách viết chữ Nôm: (ba + lăng) là

trăng, (cổ + lộng) là trống, (cự + lẫm) là sấm, (cự + lang)

sang, (cổ + lộng) là sống, (chu + luân) là son hay (luân + cự)

là son, (ba + lai) là trai, (ba + lâu) là trầu, (ba+lệ) là trời v.v… Giọng Bắc Việt Nam bây giờ có khuynh hướng ngạc hoá trăng, trời cho ra dạng zăng, zời (hay giăng, giời phụ âm đầu z hữu thanh cùng vị trí phát âm với s vô thanh) Đây là tàn tích của quá trình ngạc hoá từ kl/tl/bl ra thành s mà ta còn thấy khi so sánh tiếng Việt với

tiếng Mường và các tiếng láng giềng:

Sông/Việt là klong (tiếng Bru), khlông (Miến Cổ), krung (Môn Cổ),

krun (Môn), kron (Bana), khlon (Mường Hung), krong (Chăm), karung(Katu), rong (Mnông, Kơho), kroung (Brou), Xrong (Sơđăng), khong(Mường Bi), krông (Riang), sungai (Indonesia), klang (Palaung), khung(Thái)

Sấm krim (Mường Ruc), gram (Rongao, Bana), krum/grum

(Chăm)

Sau khlau (Mường Hung), krau (Môn)

Sáu prau (Mường Uý-Lộ), torow/parau (Môn), turai (Mnông) - tiền

Bana (proto-Bhanaric, thuộc nhánh Môn-Khmer) là *pơ-raw

Sóc (con) kam-prok (Khmer), prok (Bana, Rơngao, Chăm), chuột/

sóc (Mường), pro (Kơho)

Sâu kru (Mường Uý-Lộ), ksu (Mường Thạch Bi), jru (Bana), khu

(Mường Bi)… Chữ Nôm dùng lâu HT cho thấy âm l- đầu

Sống klông (Mường Uý-Lô), klung/kluong (Ruc), khổng (Mường

Bi)-chữ Nôm dùng lộng HT cho thấy âm -l- (hay tl-)

Sóng so với lãng HV, krong (Mường Uý-Lô) - chữ Nôm dùng lộng

HT

Sửu klu/tlu (trâu, tiếng Mường), tru (giọng Ninh Bình, Thanh

Hoá ), tơla (Bana), krapư (Brâu), krobây/khây (Khme), krâu

Trang 26

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

(Wa) Giọng Quảng Trị vẫn còn có dạng tlâu

Xem thêm các bảng so sánh phần phụ chú ở dưới

2.2 Trâu còn được phiên âm là ko lou 革 蔞 (cách lâu HV) hay

*klâu trong An Nam dịch ngữ - Vương Lộc giới thiệu và chú giải (NXB Đà

Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 1995 - không thấy ghi phiên âm bò?).Các dạng chữ Nôm như dùng lâu HT, dạng phiên âm *klâu trên,

dạng tlâu trong Tự điển Việt – Bồ – La (Alexandre de Rhodes, 1651, luôn

luôn đi kèm với “sỡu”), các dạng tiếng Mường tlu/klu (trâu) cho ta cơ sởrất vững chắc liên hệ âm và nghĩa của Sửu với trâu Tác giả HenriMaspero48 (1912) đã từng nhận xét về tổ hợp phụ âm bl-: blang (trăng),

blòng (trồng) hiện diện trong tiếng Việt, cũng như tác giả JerryNorman49 (1985) từng đề nghị dạng âm cổ của s (trong chữ Sửu) có thể

là gl-, dl-, chl- hay tổng quát hơn là Cl- (C là một phụ âm không nhất

thiết phải là p, k, t…) Tác giả Ann Yue-Hashimoto50 (1991) đã nghiêncứu và viết về các phương ngữ Quảng Đông (hay Việt, 越, 粵 yuè BK) và

cho rằng tổ hợp phụ âm kl- đã đơn âm hoá như cái nách là ka lak dai,

kak lak Tuy còn tàn tích trong các ngôn ngữ địa phương, tương quan Sửu - trâu còn để lại dấu ấn trong văn hoá và chữ viết của Trung Hoa51

2.3 Như vậy ta có thể liên hệ Sửu (chŏu BK) với dạng tlu/klu tiếng

Mường (tru giọng Ninh Bình, Thanh Hoá ) So với dạng Hán Thượng Cổ

phục hồi của ngưu52 (niú BK) là *ngiơ (hay *ngwơ) khá nhất trí từ các tácgiả Bernhard Karlgren (1957), Edwin Pulleyblank (1991), William Baxter(1992), Axel Schuessler (2007)… Một nhận xét nữa là các chữ Hán hiếmthấy như … có âm lóu BK hay LÂU HV có thể liên hệ đến loài SÂU,cũng như 髑 髏 độc lâu HV (dú lóu BK) hay 骷 髏 kū lóu BK là SỌ người.

Phổ biến hơn là liên hệ ls như lực sức, lãng sóng, lãng sáng, lạp

-sáp, lãm - xem, lam - xám, liên - sen Cho nên phụ âm đầu s- của Sửu

có âm cổ hơn là l- (r-) hay tl/tr- cũng không làm cho ta ngạc nhiên.

Tóm lại, ta có cơ sở rất vững chắc để thành lập tương quan phụ âmđầu

s-kl/tl-tr của Sửu-*klu/*tlu-trâu.

3 Nguyên âm ưu/âu của Sửu/trâu

Liên hệ u hay iu và âu - như Sửu/Trâu - hay nguyên âm với độ mở

rộng miệng lớn hơn thường gặp trong tiếng Việt:

Trang 27

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

Khang Hy ghi âm Sửu là sắc cửu thiết, đồng âm với xú (xấu) Điều này

còn phù hợp với giả thuyết của học giả André G Haudricourt9 về quátrình thành lập thanh điệu tiếng Việt: Thế kỷ VI có ba thanh điệu (thanhhỏi và sắc là một) và đến thế kỷ XII thì có 6 thanh điệu (thanh hỏi và sắctách ra thành hai thanh khác biệt) Tiếng Việt có nhiều thanh điệu nhấttrong nhóm Nam Á hay nhánh Môn Khơmer, có lẽ vì tiếp xúc rất mậtthiết với tiếng Trung Hoa trong một thời gian rất dài

Trở lại với thanh thứ ba của âm chŏu BK và thanh hỏi của Sửu HV,

tương quan này hiện diện khá rõ ràng với bảng so sánh sau:

Tiếng Trung Hoa, âm BK Tiếng HV

Trang 28

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

hơn)

không có dạng vủ

Chŏu Sửu - không thấy tiếng Việt dùng các dạng Sữu, sứu, sừu.

Tóm lại, ta có thể thiết lập liên hệ Sửu và trâu qua các tương quangiữa phụ âm đầu s- và kl/tl/tr-, thanh điệu cũng như nguyên âm có cơ sở

rất rõ ràng, nhưng không có tương quan ngữ âm nào giữa ngưu HV (niú BK) và trâu cả Điều này cho thấy tiếng Hán đã mượn từ trâu (hay *klu)

của phương Nam - hay là cả tên 12 con giáp - tuy rằng đã có tên gọi

chúng trong tiếng Hán rồi (như ngưu chẳng hạn) Nhưng từ thời Tần

Hán, nhất là thời Đường Tống, khi văn hoá Trung Hoa khởi sắc thì cáctiếng Việt - Hán53 như Sửu lại nhập ngược lại vào tiếng Việt (trở thành

tiếng Hán - Việt) làm vấn đề truy nguyên trở nên rất phức tạp

5 Phụ chú và phê bình thêm

Có những khảo cứu mới đây dựa vào ADN của các loài trâu TrungQuốc, Ấn Độ, Ba Tư, Đông Nam Á và Úc châu cho thấy quá trình thuần hoátrâu độc lập ở Ấn Độ và Trung Quốc cũng như kết quả pha trộn của các loài

trâu Ấn Độ và Trung Quốc ở Đông Nam Á? Xem bài viết Independent

maternal origin of Chinese swamp buffalo (Bubalus bubalis) - các tác giả

Lei, C Z.; Zhang, W.; Chen, H ; Lu, trong tạp chí Animal Genetics, volume

38, number 2, April 2007, pp 97-102(6), hay bài viết Origin of

mitochondrial DNA diversity of domestic yaks các tác giả Songchang Guo,

Trang 29

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

Peter Savolainen, Jianping Su, Qian Zhang cũng cho thấy kết quả khôngđồng nhất (thời gian, không gian) về nguồn gốc thuần hoá bò Tây Tạng -tuy rằng chúng có thể bắt nguồn từ một nhóm gen của loài bò hoang (wildgene pool) Bài này có thể tìm đọc trên mạng qua địa chỉhttp://www.pubmedcentral.nih.gov/articlerender.fcgi?artid=1626082B5 Người đọc có thể tra cứu thêm các tài liệu liên hệ đến DNA, khảocổ trên mạng Các bài viết về Tý, Dần có thể đọc trên mạng qua địachỉ khoahoc.net, dunglac.net, anviettoancau.net v.v cho liên tục

Trang 30

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Seal Characters (chữ triện)

s11002

Trang 31

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

Trang 32

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Seal Characters (chữ triện)

Trang 33

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

Theo Thường Tuấn, Văn hoá về 12 con giáp, NXB Tổng hợp Tp HCM, 2005.

38 Tiếng Anh có nhiều từ chỉ con bò (ox) như bò đực (male ox, bull), bò cái (female ox, cow) Phân loại khoa học (danh pháp động vật) của trâu và bò như sau:

TrâuBòGiới (kingdom, regnum)Animalia (động vật)AnimaliaNgành (phylum)Chordata (động vật có dây

sống)ChordataLớp (class)Mammalia (động vật có vú)MammaliaBộ (order)Artiodactyla (bộ guốc chẵn)ArtiodactylaHọ (family)Bovidae (trâu bò)BovidaePhân họ (subfamily)Bovinae (trâu bò)BovinaeChi

(genus)Bubalus (trâu)************ BosLoại (species)Bubalus bubalis (trâu)************* Bos taurus

(bò) Với sự bành trướng của thành thị và kỹ nghệ, trâu, bò càng ngày càng trở nên ít công dụng hơn (như không còn xe bò nữa) Dân thành thị nhiều khi không

có một khái niệm rõ ràng về trâu và bò, có chăng chỉ là hình ảnh mờ nhạt còn sót lại từ những chuyến viếng thăm sở thú để xem các loài thú hiếm này Trâu,

bò càng ngày càng xa lạ đối với con người văn minh cũng như 12 con giáp, bây

giờ chỉ còn vài loài vật như chó, mèo là còn nuôi trong nhà (pets).

39 Thất tịch tiết 七 夕 節 tương đương với Valentine’s Day (ngày Tình nhân) Từ

huyền thoại về chàng chăn trâu và cô gái thợ dệt có các thành ngữ Ngưu Lang

Trang 34

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

Chức Nữ chỉ vợ chồng đôi tình nhân phải sống xa nhau, hay xây cầu ô thước (ô là

con quạ, thước là con chim khách - Hán ngữ là thước kiều/què qiáo BK) ý nói mai

mối cho hai người… Cô gái thợ dệt là một trong bảy người hầu Ngọc Hoàng Thượng Đế (các tên hiệu khác là Ngọc Hoàng Đại Đế, Ngọc Đế, Thiên Công…) Trâu (bò) đã hiện diện trong văn hoá cổ đại Trung Hoa từ rất sớm Có huyền thoại khác cho rằng cô gái dệt là con gái của Ngọc Hoàng Thượng Đế, và các văn hoá Á Đông khác cũng có những huyền thoại tương tự… Câu ca dao sau tóm tắt mối tình trên:

Mồng bảy tháng bảy mưa ngâu, Con trời lấy chú chăn trâu cũng buồn.

Sự phổ thông của Tình Nhân Tiết (ngày Tình nhân, ngày 14 tháng 2 theo dương lịch) ở Trung Hoa và Việt Nam cho thấy ảnh hưởng Tây phương càng ngày càng rõ

nét so với thất tịch (ít người biết đến) Ngoài ra, thành ngữ Ngô ngưu suyễn nguyệt

呉 牛 喘 月 có nghĩa là con trâu (bò) nước Ngô thấy trăng mà thở hồng hộc Theo truyền thuyết thì chỉ có nước Ngô (gồm vùng Giang Tô hay Tô Châu bây giờ) mới có trâu (bò), sau đó dân mới đem loài trâu này xuống phương Nam nóng hơn nhiều Một đêm khi con trâu nhìn thấy trăng xuất hiện, tưởng là mặt trời nên bắt đầu thở

hổn hển (suyễn HV - thở mạnh, như bị suyễn) Thành ngữ Ngô ngưu suyễn nguyệt

có ý chỉ một phản ứng quá đáng (over reaction) Các truyền thuyết Ngưu Lang

Chức Nữ, Ngô ngưu suyễn nguyệt phản ánh quan hệ gắn bó của loài trâu (bò) với

văn hoá Trung Hoa từ thuở xa xưa.

Thế vận hội Bắc Kinh 2008 cũng cho thấy phần nào truyền thống văn hoá lâu đời qua hình ảnh con trâu (chịu khó, hiền lành và dễ thương).

Ngay tại Việt Nam, một bộ sừng rất lớn của loại “trâu rừng” được đem ra trình làng

lần đầu tiên (theo báo Lao động số 22 ngày 26 – 1 – 2007) Cặp sừng này dài tới

2,18m (Chi tiết xem trên mạng http://www.laodong.com.vn/Home/khoahoc/2007/1/20926) Hình ảnh của trâu, bò luôn luôn gắn bó với các dân tộc ở Đông Nam Á, tuy rằng số lượng trâu, bò càng ngày càng ít đi cùng với sự phát triển của các khu vực thương mại và đô thị.

40 Trích từ cuốn Tân Hoa thành ngữ tự điển, Bắc Kinh (2004) Một số thành ngữ rất xa lạ với người Việt Nam như ngưu ngưu niệt niệt, ngưu đề chi sầm… Có

những thành ngữ không thấy các tài liệu Trung Hoa (nhất là từ Bắc Kinh, Thượng Hải…) nhắc đến vì nhiều lý do như “Xử lý qua toà án như là mất một con bò vì một con mèo” hay “Con bò bị kéo tới Bắc Kinh cũng vẫn là con bò” (câu này từ Đài Loan)…

41 Trích từ các cuốn 12 con giáp, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998 và Từ điển

văn hoá cổ truyền Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội, 1995.

42 Tác giả Edwin Pulleyblank đã nghiên cứu và viết nhiều về âm Hán (Trung)

Cổ, như cuốn Middle Chinese: A study in Historical Phonology, 1984 hay cuốn

Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin, 1991, NXB University of British Columbia Press

(Vancouver, B.C.).

43 Tác giả William Baxter viết và nghiên cứu nhiều về âm Hán (Thượng) Cổ

như cuốn A Handbook of Old Chinese Phonology, 1992, NXB Mouton De Gruyer.

44 Bernhard Karlgren là một kiện tướng nghiên cứu nhiều về cách phục nguyên

âm Hán Cổ - tác giả của nhiều bài viết về tiếng Hán (Cổ) từ năm 1915 đến năm

1974 - nhưng nổi tiếng nhất là cuốn Grammata serica recensa, NXB Bulletin of

the Museum of Far Eastern Antiquities, 1957… Tuy nhiên, cách phục nguyên của Karlgren không hoàn toàn được giới Hán học chấp nhận.

Trang 35

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

45 Li Fang-kuei là một kiện tướng về tiếng Thái, Hán Cổ… nghiên cứu và viết nhiều về các chủ đề trên từ năm 1931 đến năm 1983 - nhưng nổi tiếng nhất là

công trình A Handbook of Comparative Tai, 1977, NXB University Press of Hawaii.

46 Trong cuốn Studies in the Historical Phonology of Asian Languages, 1991, NXB

John Benjamins.

47 Trong cuốn Austro - Thai, Language and Culture, 1975, NXB New Haven.

48 Henri Maspero viết một bài luận về nguồn gốc tiếng Việt rất nổi tiếng là

Etudes sur la Phonetique Historique de langue Annamite, les Initiales trong tập

BEFEO XII (1912, tr.78) Ông đưa ra kết quả là tiếng Việt thuộc ngôn ngữ Thái, nhưng khoảng 40 năm sau, đồng nghiệp của ông là A G Haudricourt chỉnh lại các dữ kiện và đưa ra kết luận về nguồn gốc Nam Á cùng các thanh điệu của tiếng Việt qua hai bài viết…

49 Bài viết A note on the origin of the Chinese Duodenary Cycle, trong cuốn

“Linguistics of the Sino-Tibetan area”, papers presented to Paul K Benedict for his 71 st birthday” (1985), Pacific Linguistics, Series C, No 87.

50 Bài viết The Yue dialects trong cuốn “Languages and Dialects of China”

-GS William S-Y Wang (Chủ biên), NXB Journal of Chinese Linguistics, 1991.

51 Không phải ngẫu nhiên mà ta có chữ tu HV (rất hiếm, Khang Hy) - giọng BK

bây giờ là xiū so với giọng Quảng Đông là sau1, saau1 (đọc như sâu, xâu) - sau1

có nghĩa là con trâu, bò Lưu ý thêm nữa là thành phần HT của tu là tu (sửa,

chữa) và còn một dạng cổ nữa là TRAU (trau giồi) Như vậy là không những ta có

liên hệ Sửu 丑 - trâu (Việt) nhưng còn tu - sâu - trau cho thấy âm cổ hơn *tlu (Mường) hay dạng trau hiện tại (Việt) Xem thêm 瘳 (sưu, trừu) sau đây.

52 Theo tác giả An Chi (AC) (hay Huệ Thiên) trong cuốn Những tiếng trống qua

cửa sấm (Sài Gòn - in lại bài viết trên Thế Giới mới số 224, 24/2/1997) thì ngưu

chính là trâu, âm trâu là âm cổ của ngưu vẫn còn duy trì trong tiếng Việt AC dựa vào một chữ duy nhất để đưa đến kết luận trên - chữ Hán rất hiếm đó là sưu HV hay chōu BK viết bằng bộ nạch 疒 hợp với chữ ngưu 牛 mà AC cho là thành phần

HT Sưu bộ nạch hợp với chữ ngưu nghĩa là khỏi bệnh, theo chúng tôi còn có thể viết bằng bộ nạch hợp với chữ liêu HT hay là 瘳 - đây là chữ thường gặp hơn dạng chữ mà tác giả AC đưa ra - có thể đọc là sưu hay liệu HV (chōu liáo BK)… Chữ liêu

thường được dùng làm thành phần HT để cho ra nhiều chữ Hán khác như 廖 (họ Liêu), 瘳 (sưu, trừu), 戮 (lục, giết chết, hợp lực), 蓼 (liễu, loại rau răm), 熮 (liệu, lựu nghĩa là cháy), 疁 (lựu, cháy cỏ) v.v Thành ra, sưu hay trừu lại chính là các dạng của trâu chứ không phải là ngưu - dựa trên cách thành lập chữ liệu HT này! Ngoài

ra, theo tác giả Axel Schuessler trong cuốn ABC Etymological Dictionary of Old

Chinese, University of Hawaii Press, Honolulu, 2007) thì âm Hán Thượng Cổ của ngưu 牛 là *ngwơ (gốc Hán - Tạng, gần với âm ngưu giọng Bắc Việt Nam) rất khác với dạng âm Hán Thượng Cổ của Sửu 丑 là *thru hay *rhu ! Âm Hán Thượng Cổ của

sưu, trừu 瘳 hay liệu (chōu, liáo BK) là *rhiu hay gần với âm tlu - tru - trâu tiếng Việt Xem lại Khang Hy, sưu 瘳 đọc là sắc cưu thiết hay sửu cưu thiết thời Đường Tống - đồng âm với trừu 抽 (hay *tru/tlu): một lần nữa cho ta thấy mối dây liên hệ

sưu-*tlu hay trâu Còn ngưu thì đọc là ngữ cầu thiết (Đường Vận) so với ngư vưu thiết (Tập Vận) - phù hợp với dạng âm Hán Thượng Cổ phục nguyên của Bernhard

Karlgren (1957), Sergei Starostin, Baxter (1992)… là *ngiơ (xem thêm các dữ kiện

ở địa chỉ http://starling.rinet.ru/cgi-bin/response.cgi?single=1&basename=/data/ china/bigchina&text_ number=+158&root=config ) Các kết luận trên đều phù hợp

với kết quả của phần này cho thấy liên hệ Sửu - *tlu/klu - trâu rất rõ nét Ngoài ra tương đồng giữa âm sầu HV 愁 chóu BK - rầu: thiếu, sửu HV … chŏu BK - trố

(mắt) đều cho thấy liên hệ chou BK - sau/sưu - tr/r Tóm lại, tác giả AC đã đưa

ra một nhận xét sưu – ngưu - trâu không phù hợp với những dữ kiện và nhiều kết

Trang 36

Nguyễn Cung Thông, Thạch Sanh

quả nghiên cứu đã dẫn trong phần này Cần thận trọng khi đưa ra kết luận (về

nguồn gốc) dựa vào chỉ một chữ rất hiếm như vậy Thêm vào đó là cách suy luận

" nước Trung Hoa dã từng có trâu bò rồi, tại sao phải mượn một tiếng nước ngoài

để chỉ loài vật rất gần với mình? " Cách hỏi như vậy cũng có thể đặt ra cho tiếng Thái, Lào, Nhật, Hàn, Việt hay những bộ tộc thời Thượng Cổ! Vấn đề cốt lõi là cách dùng loài trâu (vật) để chỉ thời gian (ngày, thàng, năm), và liên kết phần nào đến vận mạng loài người - trâu hay cả 12 con giáp đã trở nên bất tử cũng như loài rồng (hư cấu) vậy! Có lẽ ý thức được hiện tượng này mà người Hán đã duy trì cách

đọc “ngoại lai” của các tên 12 con giáp vì không nằm trong cách suy nghĩ của tộc

Hán Tuy nhiên công lao của người Trung Hoa trong quá trình bảo trì (qua chữ Hán, các tài liệu viết về 12 con giáp…) và phân phối hệ thống 12 con giáp ở châu Á nói riêng, và trên toàn thế giới nói chung quả không phải là nhỏ.

53 Tiếng Việt - Hán, một cách đơn giản, là những tiếng có gốc Việt Cổ nhập vào tiếng Hán (thường trước thời Tần Hán) khi văn hoá Trung Hoa còn chưa được định hình; so với tiếng Hán - Việt là những từ gốc Hán nhập vào tiếng Việt qua các thời Tần, Hán Đường Tống khi văn hoá Trung Hoa khởi sắc và ảnh hưởng lan rộng ra khắp nơi (Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam ) Ví dụ các tiếng Việt -

Hán là tên gọi 12 con giáp chẳng hạn: Tý, Sửu, Dần… Tuất, Hợi chính là các

dạng của âm chuột, trâu, kễnh chó, cúi (heo/lợn) Số lượng tiếng Việt-Hán không nhiều và rõ ràng như tiếng Hán - Việt vì: (a) thời gian nhập vào tiếng Hán

đã quá lâu - có nhiều thay đổi làm công việc nhận dạng rất khó khăn; (b) số từ vựng và cấu trúc tiếng Việt Cổ có thể rất đa dạng như là một tập hợp các ngôn ngữ nhánh Việt-Mường, Môn-Khmer và một số cũng có thể hoàn toàn đồng hoá vào tiếng Hán (và tộc Hán); (c) tài liệu trước thời Tần Hán ít ỏi và mơ hồ, dựa nhiều vào huyền sử/mê tín thay vì dữ kiện khách quan và khoa học v.v… Hiện nay, khuynh hướng bảo thủ và quốc gia cực đoan của một số học giả Trung Hoa đã từ từ mất dần ảnh hưởng, thay vào đó là các nghiên cứu khoa học, nghiêm túc (và không mang màu sắc chính trị) để đưa ra ánh sáng một số vấn

đề như ảnh hưởng của văn hoá, ngôn ngữ phương Nam vào tiếng Hán thời

Thượng Cổ; ví dụ như chữ giang (jiāng BK) chẳng hạn, hầu như đều được chấp

nhận là có nguồn gốc phương Nam chứ không phải là do Hán tộc phương Bắc chế ra và dạy lại hay “thuần hoá” các bộ tộc phương Nam Thật ra Hứa Thận đã

nhận ra điều này phần nào khi ông viết “giang tùng thuỷ, công thanh” trong

Thuyết văn giải tự cả hai ngàn năm trước đây

Tóm tắt vài đặc điểm của các nhóm dân tộc ở phương Nam (như Bách Việt):

- thờ các loài động vật (đa thần);

- làm thuyền bè và giỏi về chiến tranh trên sông nước;

- xăm mình để tránh Giao Long (tục văn thân);

- làm các đồ bằng đồng như trống đồng

Xem các hình thú vật như con trâu trên trống đồng, ta có thể thấy ngay mối dây liên hệ cổ đại của dân tộc phương Nam và 12 con giáp Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được tra cứu kỹ càng hơn bằng phương pháp khảo cổ, di truyền học

để tăng mức chính xác Xem các bài viết của tác giả Jerold A Edmonson như

The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam, hay bài viết về người Choang (Zhuang)

của tác giả Jeffrey Barlow Các tài liệu này có thể tìm thấy trên mạng rất dễ dàng và cho thấy ảnh hưởng của phương Nam cũng như vết tích trong văn hoá ngôn ngữ Trung Hoa (mà nhiều người cho rằng là thuần nhất và tự phát).

Hình ảnh con trâu cũng hiện diện trên trống đồng Đông Sơn và các thạp đồng (hình trên) cùng thời đại Điều này cho thấy trâu (không phải bò) đã rất gần với các văn hoá (lúa nước là chính) ở phương Nam, do đó càng phù hợp với kết quả

Trang 37

NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP…

ở trên về quá trình nhập vào tiếng Hán trâu-*tlu/klu thành ra Sửu (giọng BK

bây giờ).

The decorative images on the tympanum follow a common pattern: at the center is a star encircled by concentric panels of human or animal scenes interspersed with bands of geometric motifs Birds, deers, buffaloes and

http://www.viettouch.com/pre-hist/dongson_drums.html (địa chỉ trên mạng) Tạm dịch: Các hình trên trống đồng thường là một hình sao ở giữa, các vòng tròn đồng tâm xen lẫn với hình người và các loài vật Cũng có các hình chim,

trâu, loài phượng hoàng… xem hình bên trái.

Các dạng khắc và viết chữ Sửu - trích từ http://www.chineseetymology.org của

tác giả Richard Sears (cập nhật 2003, 2009) Các dữ kiện Thượng Cổ này cho

thấy rõ ràng là Sửu không có một liên hệ gì đến con trâu/bò thời bình minh của chữ viết, hay Sửu chỉ là một cách ký âm của một tiếng “nước ngoài” (tiếng Việt

cổ) mà thôi!

Trang 38

Nguyễn Ngọc Thơ

Tõ LƠ HéI LONG TONG (TAM NGUYƯT TAM)

cđa D¢N TéC CHOANG BµN VỊ TÕT MïNG 3 TH¸NG 3 ë VIƯT NAM

ThS Nguyễn Ngọc Thơ *

1 Sự kiện

Dân tộc Choang54 cĩ truyền thống lâu đời, được cho là cĩ quan hệnguồn gốc với tộc người Âu Việt và một bộ phận người Lạc Việt tronglịch sử Bách Việt thời kỳ tr CN Qua mấy ngàn năm thăng trầm của lịch

sử, tổ tiên người Choang đã để lại cho hậu thế kho tàng văn hố dângian truyền thống hết sức phong phú Mặc dù quá trình tiếp xúc và giaolưu văn hố giữa người Choang và các dân tộc lân cận, đặc biệt là vớidân tộc Hán, diễn ra mạnh mẽ, song tố chất văn hố bản địa vẫn là cốtlõi của các sinh hoạt văn hố dân gian Lễ hội ca hát 3 tháng 3 âm lịch55

(Tam nguyệt tam) là một trường hợp điển hình

Người Choang gọi lễ hội này là long tong (隴洞, âm Hán /lúng tung/), được cho là cùng gốc với lễ hội lồng tồng ở các dân tộc Tày, Nùng vùng Việt Bắc, Việt Nam Lễ hội long tong 3 tháng 3 của dân tộc Choang cĩ

nguồn gốc từ rất lâu đời, mang bản chất phi Hán Theo ghi nhận củasách sử, từ trước khi Tần Thuỷ Hồng bình định đất Lĩnh Nam thì tổ tiênngười Choang đã cĩ lễ hội này rồi Hiện cĩ bốn thuyết về nguồn gốc ra

đời của lễ hội long tong

Thứ nhất, lễ hội ca hát 3 tháng 3 ra đời từ việc hát tụng thần

linh Như ở các dân tộc khác, tổ tiên người Choang giải thích những gì

mình chưa nhận biết được bằng cách cho là cĩ thần linh chi phối Từ

đĩ, họ chọn ngày 3 tháng 3 để tụ tập ca hát, chúc tụng thần linh với

hy vọng sẽ nhận được phúc lành Sách Thuyết Man (說蠻) cĩ ghi chép

* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIỂU BAN VĂN HOÁ VIỆT NAM

Trang 39

TỪ LỄ HỘI LONG TONG (TAM NGUYỆT TAM) CỦA DÂN TỘC CHOANG BÀN VỀ

TẾT…

“người Đồng56 (l) tụ hội ca hát hai mùa xuân thu, nam nữ ca hát rất

lạ tai ”

Thuyết thứ hai cho rằng lễ hội này bắt nguồn từ lao động Nhà văn

Lỗ Tấn (魯迅) nói: “Thơ ca bắt nguồn từ lao động và tôn giáo Thứ nhất làtrong lúc lao động, vừa làm vừa ca hát sẽ giúp họ quên nỗi vất vả” Có

lẽ cuộc sống lao động khó nhọc đã khiến tổ tiên người Choang tìm đếnvới ca hát, một là để quên đi nỗi vất vả thường ngày, hay là thiết lập vàcủng cố các mối quan hệ nhân sinh cần thiết cho cuộc sống Đời Tống,Chu Khứ Phi (周去非) trong cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp (領外代答) có viết:

“các huyện ở Quảng Tây, hễ nhiều người là họp lại vui vẻ… tuy làmruộng vất vả nhưng miệng không ngớt hát ca ”

Thuyết thứ ba cho rằng lễ hội này bắt nguồn từ nhu cầu chọn bạn

trăm năm Có thể vì địa bàn cư trú rộng, đường đi cách trở đã khiến tổ

tiên người Choang giao ước với nhau chọn ngày 3 tháng 3 để nam nữthanh niên tụ họp giao lưu Lâu dần, nội dung lễ hội này mở rộng thêm,nam phụ lão ấu đều có thể tham gia, từ đó lễ hội trở thành một sinh hoạtcộng đồng Trong lễ hội ngày nay vẫn còn lưu lại dấu vết của nghi thứcchọn bạn trăm năm như hát đối đáp chọn bạn, ném tú cầu kén rể

Thuyết thứ tư khẳng định rằng đây là dịp kỷ niệm tổ tiên và các

thần tiên trong tín ngưỡng bản địa… Có người cho rằng lễ hội ca hát này

nhằm tưởng nhớ đến người nữ anh hùng Lưu Tam Tỷ (劉三姐)57, cũng cóngười cho là tưởng nhớ đôi tình nhân người Choang bị các thế lực phongkiến và gia đình bức hại58, lại có người cho là dịp tạ ơn tổ tiên đã khaisinh ra dân tộc mình Dân Choang vùng duyên hải Thạch Nam, hươngĐường Hồng, huyện Thượng Lâm, Quảng Tây còn có truyền thuyết vềrắn thần cụt đuôi Tương truyền một phụ nữ Choang đi làm đồng, mộtcon rắn cứ năm lần bảy lượt chui vào rọ của bà Thấy thương tình, bàđem về nhà nuôi như con đẻ Một lần chẳng may rắn bị cắt cụt đuôi.Càng lớn, rắn càng có tài hô phong hoán vũ, làm mưa giúp dân Khi

“mẹ” qua đời, rắn thần đã khóc thật nhiều Hôm ấy là ngày 3 tháng 3

Cứ thế về sau vào dịp 3 tháng 3, trong vùng thường có lốc to, người tabảo rằng rắn cụt đuôi về “tảo mộ” cho “mẹ”

Miêu tả quang cảnh ngày hội 3 tháng 3 của dân tộc Choang, nhàthơ Vi Phong Hoa (韋豐華) trong bài Liêu Giang Trúc Chi Từ (廖江竹枝詞)

viết59:

Trang 40

Nguyễn Ngọc Thơ

Cấp mạn ca thanh phong ngoại khởi, 急漫歌聲風外起

Tạm dịch ý thơ: “Gió xuân ấm áp mưa xuân qua; Đồng xuân xanhmướt khắp quê nhà; Hướng mắt nhìn quanh rừng núi thấp; Hoa cỏ rộnràng ba tháng ba Rượu thịt đơm đầy người dâng cúng; Cơm thơm nếpmới khách đến nhà; Thánh thót âm vang mùa lễ hội; Nhà nhà thôn nữđẹp muôn hoa”

Về hình thức, lễ hội ca hát 3 tháng 3 của dân tộc Choang có thểphân thành hai loại Thứ nhất là kiểu tụ họp ca hát ngoài đồng, trên đồi

hay ngoài bãi cỏ, được gọi là dã ca khư (野歌墟, dã: nơi hoang vắng; khư:

khu tụ tập, chợ…) Dã ca khư thường được tổ chức ban ngày, có khi kéodài đến tận nửa đêm Tại các làng mạc, thị trấn đông đúc, loại hình dã

ca khư là phù hợp, bởi số người tham gia và người xem rất đông Trongcác buổi lễ hội thế này, nam nữ song phương ca hát đối đáp, không phải

để phân thắng bại mà để giao lưu tình cảm, để ca ngợi tổ tiên, tình yêuquê hương, tình yêu đôi lứa, tình cảm cộng đồng Nội dung ca hát baotrùm nhiều lĩnh vực, từ tình cảm đến thiên văn, địa lý, lịch sử, canhnông Loại thứ hai chỉ tiến hành vào ban đêm trong nhà (đình, miếu,

nhà công ), được gọi là dạ ca hội ( 夜歌會, dạ: tối) Do phạm vi không

gian hẹp nên số người tham gia có hạn, thường chỉ ở các ngôi làng nhỏhay chỉ giới hạn trong các dòng tộc Một số gia đình lựa chọn dịp lễ hội 3tháng 3 này để dựng vợ gả chồng cho con cái, làm cho lễ hội ca hátcàng thêm rộn ràng, càng nhiều màu sắc Các bài hát phổ biến trong lễhội ca hát người Choang là các bài bốn câu, mỗi câu có năm chữ đượcgieo vần chặt chẽ Tuy vậy, người ta vẫn có thể chọn các bài hát theothể tự do, miễn sao có ý nghĩa là được

Lễ hội ca hát 3 tháng 3 còn được điểm tô bằng các sinh hoạt cộngđồng khác như ném cầu chọn tình nhân, bắn pháo hoa, ném còn, thi kéo

co, bắn nỏ v.v… Một số nơi còn kết hợp múa rồng, múa sư tử, múa háitrà, diễn kịch Các hoạt động cứ thế thay phiên nhau, kéo dài đến hai,

ba ngày mới kết thúc

Về mặt ý nghĩa, lễ hội 3 tháng 3 là dịp quan trọng để các thế hệngười Choang truyền bá kinh nghiệm sống của mình đến thế hệ sau,

Ngày đăng: 18/03/2017, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w