Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở trung Lào (19752015) (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MANIVANH SINGHALATH
GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT ĐỊNH CƯ Ở TRUNG LÀO
(1975 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MANIVANH SINGHALATH
GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT
ĐỊNH CƯ Ở TRUNG LÀO
(1975 - 2015)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGHIÊM THỊ HẢI YẾN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Giáo dục trong cộng đồng
người Việt định cư ở trung Lào (1975 - 2015)” dưới sự hướng dẫn của TS
Nghiêm Thị Hải Yến là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực chưa được công bố
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
MANIVANH SINGHALATH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học TS Nghiêm Thị Hải Yến đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Lịch Sử Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Nguyễn Du, trường Hữu nghị Việt - Lào Quảng Bình - Khăm Muộn, trường Thống Nhất ở khu vực trung Lào
Chân thành cảm ơn bạn bè ở Việt Nam, đồng nghiệp nơi tôi công tác và gia đình đã cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài
Trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
MANIVANH SINGHALATH
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TRUNG LÀO, QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ VÀ GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRƯỚC NĂM 1975 9
1.1 Khái quát về miền Trung Lào 9
1.2 Người Việt đến Lào và định cư ở Trung Lào 12
1.3 Giáo dục trong cộng đồng người Việt ở Trung Lào trước năm 1975 16
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT ĐỊNH CƯ Ở TRUNG LÀO (1975 - 2015) 23
2.1 Hoàn cảnh lịch sử mới và nhu cầu phát triển giáo dục trong cộng đồng người Việt ở Lào 23
2.2 Khôi phục và xây dựng mới các trường học của người Việt ở Trung Lào 25
2.2.1 Trường Nguyễn Du 26
2.2.2 Trường Thống Nhất Savẳnnakhệt 27
2.2.3 Trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình-Khăm Muộn 28
Trang 62.3 Vấn đề quản lí hành chính và đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các
trường của người Việt ở Trung Lào 30
2.3.1 Công tác quản lí 30
2.3.2 Đội ngũ giáo viên 37
2.4 Chương trình và thành tích đào tạo hàng năm tại các trường học của người Việt ở Trung Lào 40
Tiểu kết chương 2 45
Chương 3: NHẬN XÉT VỀ GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT ĐỊNH CƯ Ở TRUNG LÀO (1975 - 2015) 47
3.1.Quy mô và hoạt động giáo dục của các trường người Việt ở Lào là trường tư thục và đa cấp học phổ thông 47
3.2 Hoạt động giáo dục của các trường người Việt ở Trung Lào cần sự quan tâm và đầu tư toàn diện từ phía Chính phủ Lào 49
3.2.1.Về vấn đề kinh phí 50
3.2.2 Chính phủ Lào cần có chính sách hợp lí đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho giáo viên trường Việt ở Trung Lào 51
3.2.3 Đội ngũ giáo viên tại các trường người Việt cần nâng cao năng lực chuyên môn 54
3.3 Giáo dục của người Việt ở Trung Lào có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong cộng đồng người Việt và gắn kết mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào 57
Tiểu kết chương 3 60
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bố tộc người ở một số thành phố/ thị xã những năm sau
Chiến tranh thế giới thứ hai 14
Bảng 1.2 Người Việt định cư tại các tỉnh Trung Lào năm 2005 15
Bảng 1.3 Thống kê học sinh trong từng lớp học năm 1945 18
Bảng 2.1 Thống kê lớp học và học sinh năm học 2014 - 2015 tại trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình - Khăm Muộn 29
Bảng 2.2 Thống kê nguồn thu học phí từ năm 2005 đến 2015 35
Bảng 2.3 Thống kê số học sinh trường Nguyễn Du (2012 - 2016) 35
Bảng 2.4 Giáo viên giảng dạy trường Nguyễn Du 38
Bảng 2.5 Trình độ học vấn của giáo viên 39
Bảng 2.6 Chương trình dạy học cấp Trung học phổ thông 41
Bảng 2.7 Thống kê đào tại học sinh trường Nguyễn Du năm học 2014 -2015 42
Bảng 2.8 Học sinh trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình - Khăm Muộn (Năm học 2014 - 2015) 43
Bảng 2.9 Kết quả thi tốt nghiệp của trường Nguyễn Du và trường Hữu nghị Việt - Lào Quảng Bình - Khăm muộn (Năm học 2014 -2015) 44
Bảng 3.1 Số lớp học và số lượng học sinh trường Tiểu học Thống Nhất Savẳnnakhệt 51
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của người Việt ở Lào 58
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng thân thiết, gần gũi Hai nước có chung đường biên giới hơn nghìn km, cùng dùng chung dòng nước Mêkông và tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ Quan hệ Việt - Lào đoàn kết gắn bó đặc biệt, giúp đỡ lẫn nhau trên tình đồng chí anh em trong sáng, thuỷ chung như ánh trăng rằm Đây là tài sản quý giá của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào
Trung Lào là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của nước CHDCND Lào Nơi đây, do vị trí địa lí và điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên mật độ dân số đông gồm nhiều tộc người cùng nhau sinh sống Trong số những người nhập cư đến khu vực Trung Lào tỉ lệ người Việt chiếm số đông Người Việt sang Lào, chọn định cư tại Trung Lào theo những đợt di cư khác nhau Họ
đã cùng dân tộc Lào trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử
Cùng với quá trình định cư, cộng đồng người Việt đã hình thành trên đất Lào Người Việt sống xa quê hương nhưng không nguôi nhớ về Tổ quốc Từ rất sớm họ đã quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ người Việt sống ở Lào giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Các trường học của người Việt đã được xây dựng trên đất Lào Khu vực Trung Lào là nơi thành lập các trường học của người Việt sớm nhất Giáo dục của người Việt thông qua hoạt động của các trường học đã có đóng góp nhất định trong hệ thống giáo dục của Lào Thế nhưng, lâu nay vấn
đề này chưa thực sự được giới khoa học, các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước Lào quan tâm tìm hiểu tường tận
Tôi là người Lào, là giáo viên giảng dạy tại trường Cao đẳng sư phạm Savẳnnakhệt thuộc khu vực Trung Lào Hàng ngày, tôi vẫn thường xuyên giao tiếp với người Việt sinh sống tại Savẳnnakhệt , thậm trí trong số học sinh tôi
Trang 10đã giảng dạy cũng có con em Việt kiều theo học Thế nhưng, tôi cũng như một
số đồng nghiệp của mình thực sự không quan tâm nhiều lắm về hoạt động giáo dục trong các trường học người Việt
Với mong muốn hiểu rõ về cộng đồng người Việt, về giáo dục tại các trường học của người Việt ở Trung Lào nên tôi đã chọn chủ đề nghiên cứu luận
văn thạc sĩ: “Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở Trung Lào (1975
- 2015” Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao sự nhận thức của người Lào về
đóng góp của người Việt, trường Việt đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo hiện nay của Lào Đó cũng là minh chứng rõ nét nhất về tình đoàn kết , hữu nghị Việt Nam - Lào
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tác giả Việt Nam
Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã tìm hiểu và tiếp cận một số công trình khoa học của các tác giả người Việt có nội dung liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài:
Trước hết đó là cuốn sách với tiêu đề “Đất nước Lào: Lịch sử và văn
hoá” do Giáo sư Lương Ninh chủ biên, xuất bản năm 1997 Nội dung cuốn
sách được trình bày gồm 3 phần theo tiến trình lịch sử Lào từ nguồn cội cho đến khi kết thúc kháng chiến chống Mỹ Trong phần thứ hai , tác giả đã phân tích quá trình thực hiện chính sách cai trị của Pháp ở xứ Lào cũng như trên toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp không ngoài mục đích đào tạo tay sai phục vụ cho
bộ máy cai trị thực dân của Pháp
Nghiên cứu chuyên sâu về Đông Nam Á, về Lào, viện Nghiên cứu Đông Nam Á, năm 2006 và năm 2008, nhóm chuyên gia với sự chủ trì của PGS.TS Phạm Đức Thành đã công bố với bạn đọc hai công trình:
Trang 11Công trình thứ nhất tìm hiểu về: “Vai trò của cộng đồng người Việt ở
Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào” Nội dung công trình bước đầu khái
quát về đời sống kinh tế, văn hóa, giáo dục…của cộng đồng người Việt ở Lào Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia khi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước năm 2004 - 2005
Công trình thứ hai: “Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt
Nam - Lào” Cuốn sách là những nét chấm phá ban đầu khi nghiên cứu về cộng
đồng người Việt Nội dung của cuốn sách được trình bày trong 200 trang đánh máy Ở đây, tác giả tiếp cận và trình bày về quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Lào; Vai trò Việt kiều được nhấn mạnh về công lao đóng góp trong quá trình cách mạng Lào Chính sự có mặt và hoạt động cách mạng của người Việt ở Lào là nhân tố thắt chặt tình đoàn kết, chiến đấu Việt Nam - Lào trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
Cũng trong năm 2008, bạn đọc yêu thích và quan tâm đến cộng đồng
người Việt ở Lào đón nhận thêm công trình: “Di cư và chuyển đổi lối sống
trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào” do Nguyễn Duy Thiệu - Chủ biên
Công trình đã được kiểm duyệt và in ấn tại Nhà xuất bản Thế giới Đây là kết quả hợp tác nghiên cứu chung của những nhà khoa học Lịch Sử Công trình gồm có 6 chương do 7 nhà nghiên cứu người Việt và người Lào viết Nội dung của công trình có đề cập và giải thích về quá trình di cư của người Việt; Những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt ở Lào; Những nguồn tài liệu tin cậy thời thuộc Pháp có thể khai thác để tìm hiểu về cộng đồng người Việt ở Lào cũng như ở Campuchia…
Ban biên tập tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, năm 2007 đã dành riêng
số tạp chí tháng 2 đăng các bài viết cho chuyên đề: Việt kiều ở Lào
Trang 12Bài viết: “Cộng đồng dân tộc người Việt tại Lào sinh tồn và gìn giữ bản
sắc” của tác giả Nguyễn Duy Thiệu đã đề cập tới thực trạng quá trình giao thoa
văn hoá Việt - Lào trong cuộc sống của người Việt tại Lào, đồng thời tác giả cũng đã chỉ rõ sự nỗ lực của người Việt về việc thực hiện công tác giáo dục trong cộng đồng nhằm giữ gìn bản sắc Việt đối với thế hệ tương lai
Khai thác khối tài liệu lưu trữ của Pháp tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, tác giả Nguyễn Hào Hùng cung cấp cho bạn đọc những nội dung khoa học có giá trị liên quan đến cộng đồng người Việt ở Lào thời thuộc Pháp
Tác giả Nguyễn Lệ Thi có bài viết: “Chùa của người Việt ở Lào” Nội
dung bài viết đã miêu tả về kiến trúc , tín ngưỡng tôn giáo của người Việt sống trên đất Lào Đặc biệt, tác giả cũng đã nhấn mạnh đến vai trò giáo dục của chùa Việt đối với cộng đồng người Việt tại đây
Tóm lại, những bài viết trong số tạp chí tháng 2 rất phong phú khi tìm hiểu về cộng đồng người Việt dưới nhiều lăng kính khác nhau (cách nhìn nhận của người Việt; Cách đánh giá của người Lào)
Gần đây, năm 2012, Ban Tuyên giáo Trung ương đã xuất bản cuốn “Lịch
sử đặc biệt quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 -2007” Đây là cuốn
tài liệu tuyên truyền về tình hữu nghị giữa hai nước Việt - Lào Nội dung tài liệu gồm 4 chương, trong chương thứ III đã đề cập đến hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong thời kỳ lịch sử mới từ năm 1976 đến năm 2007 Hợp tác giáo dục giữa hai Chính phủ là một trong những nội dung được ưu tiên trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
có nhiệm vụ in ấn Tài liệu được phát miễn phí cho các cơ quan, ban ngành và trường học tại Việt Nam
Ngoài những công trình khoa học trên, tôi đã tiếp cận với một số luận văn, luận án đề cập đến giáo dục Lào nhưng dưới góc độ nghiên cứu hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào theo tiến trình lịch sử
Trang 13Trước hết, luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của học viên Nguyễn Thị Hương đã bảo vệ tại trường ĐHSP Hà Nội năm 2002, đã
nghiên cứu về “Quan hệ giáo dục Việt - Lào từ năm 1975 - 2002” Tác giả đã
tập trung trình bày về những thuận lợi, khó khăn trong hợp tác giáo dục giữa hai nước Việt Nam - Lào trong đào tạo hệ Đại học và Sau đại học theo hai giai đoạn 1975 - 1986 và 1986 - 2002
Luận án Tiến sĩ của học viên Nguyễn Phương Nam (2007) nghiên cứu về
“Quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1975 đến năm 2005” Quan hệ Việt Nam -
Lào được tác giả tìm hiểu theo hai giai đoạn lớn: 1975 - 1986; 1986 - 2005 Trên cơ sở tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Lào, tại chương IV của luận án, tác giả
đã đưa ra đánh giá về thực trạng, đặc điểm của mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc
Nhìn chung, mảng luận văn, luận án nghiên cứu về giáo dục của Lào không nhiều Nội dung của luận văn, luận án đã đề cập trên, giúp tôi có cái nhìn tổng quát về lĩnh vực giáo dục của Lào giai đoạn 1975 - 2005
2.2 Tác giả Lào
Tìm tài liệu tại Lào, có một số công trình, bài viết liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài đang hướng tới như:
Tại Đại học Quốc gia Lào, khoa Giáo dục - Tâm lý đã tập trung nhóm tác
giả viết giáo trình “Lịch sử phát triển giáo dục Lào” xuất bản năm 1996 Giáo
dục của Lào được trình bày theo tiến trình lịch sử từ thời cổ đại đến năm 1995 Giáo dục của người nước ngoài tại Lào (trường của người Việt) được đề cập tới không nhiều bởi đó không phải là nội dung trọng tâm của giáo trình
Năm 2008, Đại học Quốc gia Lào đã xuất bản sách “Sự phát triển của
giáo dục Lào từ năm 1893-2020” của tác giả Soukkongseng Xayyalert Trong
cuốn sách này tác giả Soukkongseng Xayyalert nghiên cứu về tình trạng và hệ
Trang 14thống giáo dục của Lào; Sự hình thành và phát triển các trường học của người nước ngoài (người Việt và người Hoa) hình thành trên đất Lào Nhưng nội dung chỉ được khai thác dưới góc độ hợp tác giữa Lào với chính phủ của hai nước Việt Nam, Trung Quốc
Qua quá trình tìm tài liệu nghiên cứu cho đề tài, tôi nhận thấy:
Thứ nhất, những tài liệu tìm hiểu về lịch sử Lào rất nhiều cả ở Việt Nam
và Lào Nhưng, nội dung các công trình chỉ tập trung đề cập tới quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào hoặc hợp tác toàn diện Việt - Lào trong thời kỳ đổi mới trong đó có hợp tác giáo dục
Thứ hai, Nghiên cứu về cộng đồng người Việt định cư tại Lào đã có một
số công trình được công bố Nhưng thực tế, nội dung các công trình còn dừng ở mức khái quát về hoạt động kinh tế, văn hoá, giáo dục của cộng đồng người Việt trên toàn Lào Tài liệu điền dã còn hạn chế Chưa có một công trình nào nghiên cứu chi tiết về giáo dục của cộng đồng người Việt định cư các khu vực khác nhau của Lào Điều này khiến tôi vững tâm, tích cực nghiên cứu chủ đề
mà mình đã chọn mặc dù nguồn tài liệu quá ít ỏi
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, để hoàn thành đề tài, tôi xác định đẩy mạnh khai thác nguồn tài liệu điền
dã tại tại các trường học của người Việt định cư tại Trung Lào
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Trang 15- Quá trình hình thành các trường học và hoạt động giáo dục của người Việt
- Nhận xét về thành tựu và hạn chế của hoạt động giáo dục trong các trường học của người Việt tại khu vực Trung Lào
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Lĩnh vực khoa học: Giáo dục
- Phạm vi không gian: Khu vực Trung Lào [Hoạt động của các trường: Tiểu học Thống Nhất Savẳnnnakhệt (Tỉnh Savẳnnnakhệt) ; trường Nguyễn Du (Viêng Chăn); Trường Hữu Nghị Việt Nam - Lào, Quảng Bình - Khăm Muộn (tỉnh Khăm Muộn)]
- Phạm vi thời gian: 1975 -2015
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
- Các công trình khoa học: Sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án đã được công bố bằng tiếng Việt và tiếng Lào
- Tài liệu lưu trữ:
+ Tài liệu của các trường: Tiểu học Thống Nhất Savẳnnnakhệt ;trường Nguyễn Du ;Trường Hữu Nghị Việt Nam - Lào, Quảng Bình - Khăm Muộn
+ Tài liệu của Hội Người Việt Nam tại Viêng Chăn, Khăm Muộn
- Tài liệu điền dã của tác giả
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử và logic là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình thẩm định, nghiên cứu đề tài Trên cơ sở tiếp cận với các nguồn tài
Trang 16liệu, để có được những số liệu và nhận định chính xác, khoa học về đối tượng nghiên cứu, tác giả đã vận dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê thể hiện qua một số bảng biểu đã trình bày trong luận văn Phương pháp điều tra được thực hiện triệt để trong quá trình điền dã của tác giả tại Trung Lào
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống
về giáo dục của cộng đồng người Việt tại Trung Lào
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho cho môn học Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử Đông Nam Á, Lịch sử Lào, Lịch sử văn hóa, tộc người
- Luận văn là cứ liệu lịch sử khẳng định quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
trong quá khứ và hiện tại
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo và mục lục theo quy định của một luận văn, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về miền Trung Lào, quá trình định cư và giáo dục của cộng đồng người Việt trước năm 1975
Chương 2: Giáo dục trong cộng đồng người Việt định cư ở Trung Lào (1975 - 2015)
Chương 3: Nhận xét về giáo dục trong cộng đồng người Việt ở Trung Lào (1975 - 2015)
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TRUNG LÀO, QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ VÀ GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRƯỚC NĂM 1975 1.1 Khái quát về miền Trung Lào
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam
Á Nước Lào có diện tích lãnh thổ rộng khoảng 236.800 km2, giáp Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, Thái Lan ở phía tây, Mianma ở phía tây bắc
và Trung Quốc ở phía bắc
Nước Lào nằm trong khoảng 140 đến 2205 vĩ Bắc, chiều đông - tây hẹp, nhưng trải dài trên 1.000 km theo chiều bắc - nam Hình thể trải dài tạo nên sự
đa dạng và khác biệt tự nhiên giữa các vùng Do vậy, Lào được chia thành ba miền: Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào
Trung Lào có diện tích 81,033 km2 Đây là vùng đất rất quan trọng nối với Thượng Lào và Hạ Lào, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Lào Trước năm 2006, Trung Lào có 4 tỉnh, 1 thủ đô và 1 khu đặc biệt như: Thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Viêng Chăn, Bo Li Khăm Xay, Khăm Muộn, Savẳnnakhệt và một Đặc khu Xay Sôm Boun Từ năm 2013, Trung Lào bao gồm 5 tỉnh và 1 thủ đô: Thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Viêng Chăn, Xay Sôm boun,
Bo Li Khăm Xay, Khăm Muộn, Savẳnnakhệt Trung Lào có biên giới giáp với Việt Nam ở phía Đông, giáp với tỉnh Xay Ya Bou Ly, tỉnh Luông Pha Băng và tỉnh Xiêng Khoảng ở phía Bắc, giáp với tỉnh Sa La Van ở phía Nam và giáp với Thái Lan ở phía Tây
Miền Trung Lào nằm trong toạ độ từ kinh tuyến 100°50′ Đông đến 106°47′ Đông và từ vĩ tuyến 15°55′ Bắc đến 19°50′ Bắc Do nước Lào không
có biển nên Trung Lào cũng là nơi biểu hiện rõ rệt của khí hậu nhiệt đới, một
Trang 18năm có hai mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng
4, thời tiết lạnh, nhiệt độ trung bình 200c, không mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng, có nhiều mưa nhiệt độ trung bình 28-300c
Trên bề mặt, Trung Lào có hai đồng bằng lớn là đồng bằng Viêng Chăn
và Savẳnnakhệt cùng với cao nguyên Na Kai Phía Đông Trung Lào được bao bọc bởi dãy núi Trường Sơn hùng vĩ Địa hình Trung Lào đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế nông, công nghiệp
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của Lào nói chung cũng là ngành kinh tế chủ yếu của các tỉnh tại miền Trung Lào nói riêng Vùng đồng bằng Viêng Chăn và đồng bằng Savẳnnakhệt là vùng đất dành cho việc sản xuất lúa gạo lớn nhất trong nước, gạo là sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Trung Lào Ngoài ra, nông dân trồng nhiều loại cây khác như: Cây đậu, cây hương, cây mía, bông, thuốc lá, sắn, ngô và các loại cây ăn quả (chuối, mít ,dưa hấu, dừa, dứa, me, ổi, táo, cam, bưởi)
Bên cạnh việc trồng cây nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm ở Trung Lào cũng được chú trọng phát triển Nhìn chung, việc sản xuất nông nghiệp tại Trung Lào phát triển hơn vùng khác do điều kiện tự nhiên thuận lợi
và có thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng
Công nghiệp ở Trung Lào được Chính phủ Lào đầu tư phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến khu vực này Các ngành công nghiệp chủ yếu là công nghiệp chế biến, cơ khí nhỏ, thủy điện…Công nghiệp chế biến gồm có chế biến gỗ, chế biến sản phẩm nông nghiệp, ẩm thực Trung Lào có nhiều công ty nổi tiếng, tiêu biểu là Công ty Beer Lao - nước ngọt, Công ty thuốc, Công ty thuốc lá, Công ty sản xuất xi măng, Công ty sản xuất đồ xây dựng, Công ty bột giặt, Công ty sản xuất muối Nhà máy thủy điện có nhiều tại các tỉnh Trung Lào như: Nhà máy thủy điện NamngermI và Nam ngerm II
Trang 19(Viêng Chăn), Nhà máy thủy điện Namthern I-II-III (Khăm Muộn) Các công
ty khai thác mỏ như: Công ty khai thác Vàng Lan Xang Minilone hay còn gọi
là công ty khai thác Vàng Xe Pone (huyện Vilabouly, Savẳnnakhệt), công ty khai thác mỏ Than (Viêng Chăn, Savẳnnakhệt), công ty khai thác mỏ Kẽm (Bo Neng, Phon Tiu, Khăm Muộn), công ty sản xuất sắt (huyện Xay Bou Ly, Savẳnnakhệt), công ty khai thác mỏ Muối (thủ đô Viêng Chăn, Khăm Muộn, Savẳnnakhệt)
Trung Lào là khu trung tâm kinh tế thương mại của quốc gia, Chính phủ Lào đang và đã xây dựng nhiều khu trung tâm thương mại như ở nhiều tỉnh như: Tại thủ đô Viêng chăn là Trung tâm thương mại ITEC, khu Trung tâm thương mại Beungthatluong, Viêng Chăn Center, Trung tâm thương mại Dimark, Trung tâm thương mại Savan ITEC tại thành phố Savẳnnakhệt Việc xây dựng các chợ và nơi bán hàng tại Trung Lào ngày càng tăng từ nông thôn đến thành thị Các chợ và nơi bán hàng chính của Trung Lào gồm có rất nhiều nơi, tiêu biểu đó là Chợ Sáng, Chợ Xăng Chiêng, chợ Vangthong night plaza, chợ Paksan, chợ Thakhẹc, chợ Sa Van Xay, chợ Sa Ma Khi Xay, chợ Kheo Tha
Vi Sặp… hiện nay, nhà nước đang xây dựng Trung tâm thương mại tại Savẳnnakhệt với tên gọi : Sa Van-SENO Việc đầu tư xây dựng hệ thống chợ lớn của Chính phủ Lào đã thúc đẩy giao thương nội địa phát triển mạnh mẽ nhằm xoá dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các miền của Lào
Phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, ở Trung Lào hệ thống giao
thông phát triển đồng bộ Về giao thông hàng không, Trung Lào có sân bay Wat Tay và sân bay tỉnh Savẳnnakhệt Sân bay Wat Tay thuộc địa phận thủ đô Viêng Chăn, là sân bay lớn của Lào đạt tiêu chuẩn quốc tế; Về giao thông đường bộ, giao thông chính của Trung Lào là con đường số 8, số 9 và số 12 Những con đường này hướng tới Việt Nam Con đường số 13 là con đường
Trang 20giao thông huyết mạch nối thượng Lào - Trung Lào - Hạ Lào Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh giao thương với nước láng giềng Thái Lan, chính phủ Lào đã xây dựng ba cây cầu qua sông Mê Công tại các địa điểm như: Thủ đô Viêng Chăn, Khăm Muộn và Savẳnnakhệt Nếu so với Thượng Lào và Hạ Lào, hệ thống giao thông tại Trung Lào thuận lợi nhất cho công việc vận chuyển hàng hóa và việc hợp tác với nước ngoài
Với bề dày lịch sử và văn hoá, ngành du lịch ở Trung Lào phát triển mạnh Trung Lào có nhiều điểm du lịch nối tiếng như: Tháp Luống, chùa Hophakeo, chùa Phabathphonsane, Tháp Inghang, chùa Sikhottabong, hang Nongpapha (Khăm Muộn), hang Nang En…
Lào là quốc gia đa dân tộc, sinh sống ở Trung Lào có nhiều dân tộc khác nhau như: Tày, Phu Tày, Lự, Nhuôn, Dắng, Sẹk, Thay Nưa, Kưm Mụ, Pray, Xinh Mun, Phoọng, Then, Ơ Đu, Bít, La Mệt, Xam Tao, Kạ Tang, Mạ Coong, Triu, Drụ, Triêng,Ta Ôi, Dẹ, Brâu, Kạ Tu, Ha Rắc, Ôi, Kriêng, Chênh… Dân tộc Lào ở Lào có ba bộ phận: Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Xủng
Cư trú ở khu vực Trung Lào chủ yếu là người Lào Lùm ( người Lào ở thấp)
Họ chiếm tỉ lệ lớn nhất trong dân cư các vùng Khăm Muộn, Viêng Chăn, Xaynhabuli ( trên 90%) [ 11, tr.12] Trung Lào với diện tích rộng, địa hình phong phú, đa dạng lại có vị trí địa lí thuận lợi cho quá trình định cư và phát triển của nhiều tộc người Vì thế, từ rất sớm Trung Lào là nơi tập trung đông
đảo thành phần nhập cư người Việt
1.2 Người Việt đến Lào và định cư ở Trung Lào
Trong lịch sử di cư của người Việt trên phạm vi bán đảo Trung Ấn thì việc người Việt nhập cư vào sinh sống ở đất Lào có từ rất sớm, khoảng từ giữa thế kỷ thứ XV kéo dài cho tới nay Quá trình di cư và định cư của người Việt ở Lào diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử vì giữa Việt Nam và Lào có
Trang 21khoảng cách gần gũi về địa lí với 2067 km đường biên giới, hai nước lại có
sự tương đồng về văn hoá, đó là cư dân của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước Chính sự tương đồng và giao thoa văn hoá giữa hai dân tộc Việt - Lào đã giúp người Việt khi di cư và định cư tại Lào dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống nơi đây
Hiện tượng di cư của người Việt đến Lào tăng nhanh khi vùng đất này là một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp Người Việt đến Lào dưới thời Pháp thuộc được phân thành hai loại:
Thứ nhất, di cư tự phát do điều kiện làm ăn thuận lợi hơn Mặc dù thiên
nhiên Lào khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, nhưng việc Pháp sáp nhập Lào vào khối Đông Dương đã hình thành một địa bàn thống nhất và tạo điều kiện cho người dân chuyển đổi địa bàn sinh sống dễ dàng
Thứ hai, di cư có tổ chức Hình thức này phục vụ cho mục đích khai thác
thuộc địa của Pháp Do đặc điểm dân cư của Lào nên Pháp thực sự khó khăn trong vấn đề tìm kiếm nguồn nhân lực phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa lần
1 và lần 2 ở xứ Lào Để khắc phục tình trạng đó, Pháp đã đưa người Việt sang lao động tại Lào
Người Việt sang Lào đảm trách các chức năng khác nhau như: Công chức phục vụ bộ máy hành chính của Pháp; làm culi, phu làm đường và phục vụ trong các hầm mỏ Đời sống của họ khổ cực dưới sự giám sát chặt chẽ của các viên quản lí người Pháp Trong đợt nhập cư lớn nhất của người Việt sang Lào trong thời thuộc Pháp là từ năm 1939 đến năm 1945, phần lớn người Việt chọn khu vực Trung Lào (Viêng Chăn, Savẳnnakhệt, Khămmuộn và một phần cao nguyên Bôlôven) làm nơi định cư chủ yếu với số lượng 39.500 người Sự định cư của người Việt đã làm thay đổi tỷ lệ dân cư tại hầu hết các thị xã như Viêng Chăn, Savẳnnakhệt, Thàkhẹc, Xiêng Khoảng, điều đó thấy rõ qua số liệu sau:
Trang 22Bảng 1.1 Phân bố tộc người ở một số thành phố/ thị xã những năm sau
Chiến tranh thế giới thứ hai
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1946), thực dân Pháp mở những đợt càn quét lớn vào một số địa bàn quan trọng của miền Trung Lào, người Việt sinh sống tại khu vực này phải cấp tập tản cư sang vùng Đông Bắc Thái Lan
Số lượng Việt kiều sinh sống tại Trung Lào giảm
Khi thực dân Pháp rút khỏi Lào, thời kỳ thuộc Mỹ số lượng người Việt sinh sống tại Lào khó thống kê chính xác
Sau năm 1975, trong điều kiện hoà bình, trên tinh thần hữu nghị, chính phủ hai nước Việt Nam - Lào đã đẩy mạnh hợp tác phát triển trên mọi lĩnh vực Lào là một thị trường tiềm năng đối với các doanh nhân Việt Theo đó, quá trình di cư sang Lào của người Việt cũng tăng nhanh Người Việt sang Lào
Trang 23bằng nhiều con đường: Một số cán bộ người Việt sang Lào thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ Lào xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Khi công trình hoàn thành một bộ phận nhỏ công nhân đã chủ động xin định cư tại Lào;Thăm thân nhân rồi ở lại Lào; Sang Lào theo giấy thông hành, hết hạn giấy thông hành lại xin gia hạn; Tự do sang Lào kiếm việc làm… Theo kết quả điều tra của Viện
Nghiên cứu Đông Nam Á (Việt Nam) trong Dự án 2005-SE 020 về Cộng đồng
người Việt tại Lào do quỹ Rockefeller tài trợ cho biết, hiện tại có khoảng
30.000 người Việt sống tại Lào và dân số Lào thời điểm hiện tại 6,1 triệu người Như vậy, tỉ lệ giữa dân bản địa và người Việt di cư ở Lào không nhỏ
Ở các tỉnh thuộc Trung Lào, dựa trên số liệu của Hội người Việt Nam cung cấp đến thời điểm năm 2005, số lượng người Việt định cư tại Lào như sau:
Bảng 1.2 Người Việt định cư tại các tỉnh Trung Lào năm 2005
Trang 24sống tại Viêng Chăn có khoảng 5000 người So sánh con số người Việt ở Viêng Chăn năm 2005 và năm 2015 cho thấy số lượng người Việt nhập cư tăng không đáng kể Lí giải hiện tượng này, ông Đào Minh Châu (Chủ tịch Hội người Việt
ở Viêng Chăn) cho biết nguyên nhân do chính phủ Lào thực hiện những quy định mới, hạn chế nhập cư của người nước ngoài vào Lào
Như vậy, quá trình di cư của người Việt đến Lào theo chiều dài lịch sử
đã hình thành nên cộng đồng người Việt vững chắc tại đây Tuy số lượng người Việt định cư tại Lào thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, nhưng họ đã trở thành một bộ phận quan trọng trong bức tranh đa dân tộc của đất nước Lào Cộng đồng người Việt ở Lào tuân thủ pháp luật Lào, hoạt động hiệu quả với sự
chỉ đạo của các Hội người Việt Nam tại các tỉnh Lào
1.3 Giáo dục trong cộng đồng người Việt ở Trung Lào trước năm 1975
Ở khu vực Trung Lào, nhất là Viêng Chăn, trong cộng đồng người Việt thời gian định cư của gia đình người Việt lâu nhất đã trải qua 7 đời Số người Việt sinh sống ở đây từ 4 đến 5 đời chiếm tỉ lệ đông nhất (55,14%) Đây là những người Việt đến định cư tại Lào vào thập niên đầu thế kỷ XX Người Việt đến Lào từ sau năm 1975 chiếm tỉ lệ thấp và khó điều tra đầy đủ
Trong quá trình định cư tại Lào, người Việt phải đối mặt với nhiều biến
cố khó khăn những họ vẫn kiên cường vượt qua tất cả Định cư ở quê người, một trong những đức tính quý báu của người Việt luôn được phát huy, đó chính
là tinh thần hiếu học Người Việt lấy sự học tập làm điều căn bản để thực hiện
đạo lý làm người “nhân bất học bất tri lý” Do đó, trong suốt mấy trăm năm,
trải qua mọi giai đoạn thăng trầm của lịch sử, tại quê hương mới, giáo dục luôn
là một lĩnh vực được coi trọng và đề cao Việc “học” đã trở thành yếu tố quyết định tương lai, vị thế của người Việt trong môi trường xã hội Lào
Việc “học” đối với người Việt rất quan trọng Tuy nhiên, những ngày đầu tiên làm ăn sinh sống tại Lào họ gặp rất nhiều khó khăn, cách học của
Trang 25người Việt là tự tổ chức giảng dạy cho con cái ở nhà, con học theo cha mẹ, ông bà; Do có sự tương đồng về văn hoá nên một số người Việt cũng đã đưa con cháu mình đi học tại các chùa của người Lào hoặc chùa của người Việt tại Lào
Thời thuộc Pháp, cùng với việc củng cố bộ máy thống trị, tiến hành khai thác kinh tế, thực dân Pháp cũng quan tâm đến lĩnh vực đời sống văn hoá - xã hội Nếu như ở Việt Nam, việc “học” được người Pháp chú trọng ngay khi đặt ách cai trị thì ở Lào ít khẩn trương hơn Chiếm được xứ Lào năm 1893 nhưng đến năm 1902 thực dân Pháp mới bắt đầu tổ chức nền giáo dục ở đất này Mục đích nền giáo dục thuộc địa chỉ là để duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp
Khâm sứ Lào Fournier khẳng định: “Nền giáo dục ở nước Lào không có mục
đích nào khác là đào tạo các thông ngôn cho các công sở mà còn cho các nhu cầu thương mại ngày càng phát triển nữa” [11, tr 30]
Theo mô típ chung, ngay thời gian đầu thực dân Pháp lợi dụng nền giáo dục bản xứ để áp đặt nền giáo dục Pháp Nếu ở VN với hệ thống trường làng và nền giáo dục ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho học thì ở Lào hệ thống trường chùa làm cơ sở cho giáo dục phổ cập trong nhân dân đã có trước khi Pháp đến.Thực dân Pháp chủ trương đưa thêm một số kiến thức sơ đẳng về khoa học tự nhiên vào các chương trình học
Năm 1906, Toàn quyền Paul Beau chủ trương tiến hành cải cách giáo dục trên toàn cõi Đông Dương Ở Lào trường sư phạm cho các nhà sư được thành lập ở Viêng Chăn Sau đó, các trường tương tự được thành lập ở Savảnnakhệt, Pắc Xế… Như vậy, với chương trình cải cách giáo dục lần thứ nhất trên toàn Đông Dương ở Lào có hai loại trường: Trường chùa và trường sư phạm Về việc phân cấp học, trường chùa nằm trong hệ thống trường cấp I, nghĩa là tương đương với trường sơ học trong cả nước
Cải cách giáo dục toàn Đông Dương được Pháp thực hiện năm 1917 Dự
án được thực nghiệm ở bốn vùng khác nhau, trong đó có Viêng Chăn và
Trang 26Savẳnnakhệt Chủ trương cải cách giáo dục ở Lào cho thấy , thực dân Pháp dựa vào trường chùa, dựa vào đạo Phật để phục vụ ý đồ cai trị
Thực tế, ngân sách chi cho giáo dục của Pháp ở Lào rất ít Năm 1902, Pháp
mở trường tiểu học đầu tiên ở Viêng Chăn Năm 1915, số trường tăng lên 12, đến năm 1930 là 66 trường Phần lớn các trường chỉ thành lập ở các trung tâm đô thị như Viêng Chăn, Savẳnnakhệt, Xiêng Khoảng, Chăm Pa Xắc [11, tr.35]
Người Việt ở Trung Lào phần lớn nghèo khó nên không thể theo học các trường Pháp - Lào mà học ở trường chùa Chỉ có một bộ phận nhỏ thuộc đối tượng con cái của người Việt phục vụ trong hệ thống cai trị của Pháp ở Lào mới có khả năng theo học các trường nội trú giảng dạy bằng tiếng Pháp theo chương trình học của phương Tây Cán bộ giảng dạy trong hai trường này là người Việt Nam như thầy Tôn Định Thiệu, thầy Phạm Lê, thầy Tin Thổ Dạo, thầy Bolise (người Pháp), thầy Khăm là giáo viên người Lào đầu tiên Mặc dù Pháp đầu tư ngân sách ít ỏi cho giáo dục và đào tạo nhưng việc dạy học rất nghiêm túc, có hiệu quả nhất định Học sinh sau khi tốt nghiệp cấp I, Pháp đã lựa chọn học sinh giỏi sang Sài Gòn ở Việt Nam để học cấp II khoảng 2-3 năm, sau khi tốt nghiệp cấp II một số học sinh trở về Lào làm người phiên dịch cho Pháp, còn một số người đặc biệt là những người học giỏi có thể tiếp tục học nâng cao tại thủ đô Pari của Pháp
Bảng 1.3 Thống kê học sinh trong từng lớp học năm 1945
STT Lớp học Số học sinh Học sinh Lào Học sinh nước ngòai
Trang 27Chùa là ngôi nhà chung của cộng đồng người Việt tại Lào Ngoài việc chăm sóc tinh thần về mặt tâm linh, chùa còn có chức năng giáo dục Chùa Phật Tích là nơi sinh hoạt cộng đồng người Việt tại thủ đô Viêng Chăn, đền Đức Thánh Trần, đền Quan Lảnh ở Viêng Chăn đây cũng là nơi học hành và nơi thực hiện các nghi lễ truyền thống của người Việt
Việc học hành của bà con Việt tại chùa trong thời Pháp thuộc rất đa dạng
có nhiều hình thức như: Tìm hiểu về đạo đức, ngôn ngữ, kiến trúc xây dựng, kiến thức y học dân gian, tìm hiểu thủ công mỹ nghệ, cầu nguyện Các sư thầy
là giáo viên giảng dạy cho con cái của cộng đồng người Việt, chính vì vậy các nhà sư có vai trò rất quan trọng trong cộng đồng người Việt tại Lào
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Đây là cơ hội “ngàn năm có một” đối với các dân tộc đang trên bước đường đấu tranh giành độc lập Việt Nam tuyên bố độc lập tháng 9 năm 1945; Lào tuyên bố độc lập tháng 10 năm1945 Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Theo nghị quyết tại Hội nghị Ianta, thực dân Pháp quay trở lại, tái chiếm Đông Dương Bảo vệ nền độc lập của mình, nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia sát cánh bên nhau, bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp
Cuối năm 1949 vùng Tây Bắc Lào đã thành lập 2 khu chống Pháp, ông
Phoumi Vongvichith là người đứng đầu của hai khu này Các ngôi chùa tại Lào
vẫn giữ được vai trò trong công việc đào tạo nguồn nhân lực có kinh nghiệm, đạo đức, có truyền thống yêu nước nhằm mục đích nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của quân giải phóng Lào trong cuộc chiến tranh chống Pháp
Tháng 4 năm 1953, Liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Thượng Lào trong vòng một tháng, liên quân giải phóng một vùng rộng lớn với trung tâm là Sầm Nưa tạo ra một địa bàn đứng chân vững chắc của cách mạng Lào Tiếp đó, trong cuộc chiến Đông Xuân 1953-1954 thắng lợi của các
Trang 28chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào đã củng cố và mở rộng và căn cứ ở vùng trọng yếu này Hạ tuần tháng 1 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp thay
đổi phương châm tác chiến dịch Điên Biên Phủ từ “đánh nhanh, giải quyết
nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, bộ đội Việt Nam phối hợp với quân
giải phóng Lào và được nhân dân Lào chi viện vật chất, tấn công khu vực sông Nậm U , tiến sát kinh đô Luông Pha băng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch đẩy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của đối phương vào thế hoàn toàn cô lập Ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân và dân Việt Nam mở cuộc tiến công chiến lược ở Điện Biên Phủ Quân dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chiến lược của địch, chi viện cho Điện Biên Phủ từ phía Lào; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa tới sự kiện ký kết Hiệp định Giơnevơ Tuy chưa phản ánh đầy đủ thắng lợi của quân dân ba nước, song Hiệp định Giơnevơ đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia
Trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào-Việt Nam phát triển vượt bậc tạo nên sức mạnh kỳ diệu mới, đưa cách mạng giải phóng dân tộc của hai nước tới thắng lợi hoàn toàn Hai mươi mốt năm chống Mỹ là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
Trong kháng chiến chống Mỹ , các ngôi trường dành cho bà con Việt định
cư tại Trung Lào được thành lập tại Viêng Chăn và Savẳnnakhệt mang tên là trường Nguyễn Du I (1966, Viêng Chăn), Nguyễn Du II (1967, Viêng Chăn) và trường Thống Nhất tỉnh Savẳnnakhệt
Sau thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào),
sự hợp tác của Chính phủ Lào với cộng đồng người Việt tại Trung Lào, giáo
Trang 29dục người Việt có những thay đổi Việc thành lập trường học là một công việc phổ biến trong các thành phố lớn của Lào, bà con Việt có quyền lợi học hành tại các trường học Lào đặc biệt, là những con cháu người Việt đã nhập quốc tịch Lào Chính phủ Việt Nam cũng đẩy mạnh quan tâm, giúp đỡ bà con Việt kiều tại Lào, vì thế, trường học của người Việt trong hệ thống giáo dục của nước CHDCND Lào ngày càng khẳng định vai trò đào tạo nhân lực của mình
Tiểu kết chương 1
Trong nội dung chương 1, tác giả đã đề cập tới những vấn đề sau:
1.Trung Lào là một khu vực địa lí rộng lớn của quốc gia Lào Nơi đây là địa bàn sinh sống thuận lợi của nhiều dân tộc khác nhau trong 5 thành phố lớn Thủ đô Viêng Chăn là trung tâm kinh tế, văn hoá và chính trị của cả nước
2 Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ rất sớm trong lịch sử, khu vực Trung Lào đã thu hút nhiều người nước ngoài đến định cư làm ăn và sinh sống, trong số đó người Việt Nam chiếm tỉ lệ đông nhất, sau đó là người Hoa Người Việt di cư sang Lào theo nhiều đợt khác nhau, nhưng số lượng đông nhất là thời Pháp theo mục đích khai thác thuộc địa thực dân Sau năm 1975, số lượng người Việt sang Lào có giảm hơn so với thời thuộc Pháp do chính sách nhập cư của chính phủ Lào Người Việt định cư ở Lào lâu nhất tính đến nay đã trải qua
7 thế hệ Họ đã tạo nên cộng đồng người Việt vững chắc trên đất Lào Họ sống chan hoà với người Lào và được người Lào yêu thương, đùm bọc, chở che
3 Mặc dù sống xa quê hương nhưng từ rất sớm người Việt đã quan tâm tới việc giáo dục con em mình Dưới sự cai trị của thực dân Pháp cuộc sống của dân Lào cũng như người Việt tại Lào rất nghèo khó, họ phải đối mặt với nhiều khó khăn nên giáo dục cộng đồng chưa có điều kiện phát triển Con em người Việt chủ yếu được học những kiến thức sơ giản trong hệ thống trường chùa của Lào
Trang 304 Vào những năm 60 của thế kỷ XX, trong vùng giải phóng của Lào, một số cá nhân người Việt đã đóng góp và xây dựng trường học dành cho con
em Việt kiều Sau năm 1975, khi nước Lào hoàn toàn giải phóng, được sự giúp
đỡ của Chính phủ Lào, Chính phủ Việt Nam và Hội người Việt ở một số tỉnh Lào, hệ thống trường Việt có điều kiện phát triển về quy mô và số lượng Trung Lào là nơi tập trung số lượng trường học của người Việt nhiều nhất trên toàn lãnh thổ Lào
Trang 31Chương 2 GIÁO DỤC TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT ĐỊNH CƯ
Ở TRUNG LÀO (1975 - 2015) 2.1 Hoàn cảnh lịch sử mới và nhu cầu phát triển giáo dục trong cộng đồng người Việt ở Lào
Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào đã mở ra
kỷ nguyên mới cho dân tộc Lào: Kỷ nguyên “độc lập, tự chủ, thống nhất và thịnh vượng”
Hoà bình lập lại, nước Lào đối mặt với muôn vàn khó khăn trong quá trình tái thiết và xây dựng đất nước phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội (CNXH) Để thực hiện mục đích cao cả và lí tưởng cách mạng của mình, nước Lào phải tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế
xã hội ổn định tình hình mọi mặt, phát triển văn hoá giáo dục phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục hết sức nặng nề Bởi muốn phát triển kinh tế xã hội điều cần thiết phải đẩy mạnh phát triển giáo dục, nâng cao hiệu quả đào tạo nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ khoa học thích ứng với thời đại mới
Lào là nước kém phát triển, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên là phổ biến, chưa có truyền thống về giáo dục, đào tạo hiện đại Vì thế, ngay sau giải phóng, Chính phủ Lào xác định rõ ràng và đúng đắn trong việc thực hiện ba cuộc cách mạng: Cách mạng tư tưởng và văn hoá; Cách mạng khoa học kĩ thuật và cách mạng quan hệ sản xuất Hội nghị liên tịch của Hội đồng Chính phủ và Hội đồng
Nhân dân tối cao Lào tháng 2 năm 1977 đã khẳng định: “Phải tiến hành tình
trạng không biết chữ cho nhân dân, phát triển sự nghiệp văn hoá cách mạng
[20] Trong điều kiện kinh tế, xã hội còn hết sức lạc hậu, Đảng Nhân dân Cách
Trang 32mạng Lào xác định không chờ kinh tế phát triển rồi mới đẩy mạnh nâng cao dân trí Đảng quyết tâm sử dụng ưu thế về chế độ chính trị để phát triển văn hoá
xã hội trước hết là sự lựa chọn ưu tiên phát triển giáo dục nhằm đào tạo và xây dựng lớp người mới tri thức mới
Vai trò, vị trí quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp cách mạng tiếp tục
được nhấn mạnh: “Đưa công tác giáo dục đi trước một bước phát triển mạnh
mẽ nền giáo dục về số lượng và tích cực nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo coi đó là chìa khóa mở đường đưa cách mạng tiến lên nhanh chóng và vững chắc” [24] Để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra, chính phủ Lào chú trọng xây
dựng hệ thống giáo dục quốc gia các cấp:
- Hệ thống giáo dục phổ thông của Lào từ sau năm 1975 cho đến năm
2006 là hệ thống giáo dục 11 năm (5+3+3); Từ năm 2006, Lào đang thực hiện giáo dục phổ thông 12 năm (5+4+3) Các cấp học gồm có: Giáo dục sớm (Giáo dục mầm non); Giáo dục tiểu học; Giáo dục trung học
- Giáo dục và kĩ năng đào tạo nghề; Giáo dục đại học
Sau giải phóng, trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, Chính phủ Lào rất quan tâm đến giáo dục của người Việt ở Lào Định
cư lâu dài trên đất Lào, nhu cầu giáo dục trong cộng đồng người Việt rất lớn Trước giải phóng, một số trường học của người Việt đã được xây dựng bởi sự quyên góp của các cá nhân Do vậy, trong hệ thống trường học ở Lào,
do Chính phủ Lào quản lí, sau năm 1975, những trường của người Việt ở Lào có những điều kiện thuận lợi mới tiếp tục phát triển và đã có đóng góp không nhỏ cho nền giáo dục Lào
Một trong những yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của các trường học của người Việt ở Lào đó là sự ủng hộ và giúp đỡ của Chính phủ Việt Nam Quan hệ, gắn bó đặc biệt Việt Nam - Lào là điển hình của mối quan hệ bền chặt
Trang 33và thuỷ chung Sự gắn bó đó đã được thử thách qua khói lửa của chiến tranh Hoà bình là điều kiện thuận lợi thúc đẩy mối quan hệ này lên tầm cao mới Việt Nam chú trọng triển khai hợp tác toàn diện với nước bạn Lào, đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, đây là nội dung quan trọng có tính chiến lược vì lợi ích lâu dài của hai nước và là lĩnh vực hợp tác thành công nhất trong quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Ngay sau giải phóng hàng loạt hệ thống trường lớp ở Lào có sự giúp đỡ của Việt Nam như: Các trường phổ thông, trung cấp sư phạm, Đại học sư phạm Viêng Chăn Việt Nam đã giúp Lào đào tạo các chuyên gia có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học Quá trình đào tạo được Chính phủ Việt Nam hỗ trợ phần lớn về kinh phí
Cuộc sống ổn định, bà con Việt kiều ở Lào quan tâm đến việc nâng cao trình độ văn hoá cho con em, họ muốn thế hệ tương lai có điều kiện học hành tốt, có nhiều cơ hội phát triển trên đất Lào Mặc dù sống xa quê hương, người Việt luôn hướng về Tổ quốc, họ muốn giáo dục con em mình gìn giữ tiếng Việt, chữ viết và bản sắc văn hoá dân tộc Chính phủ Việt Nam từ sau năm
1975 đến nay đã thúc đẩy việc hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực cho việc dạy học tại các trường của người Việt ở Lào, đặc biệt ưu tiên có trọng điểm đối với các trường kinh phí hoàn toàn do các Hội Việt kiều quản lí Các trường học
ở Trung Lào cũng đã nhận được sự giúp đỡ từ phía chính phủ Việt Nam theo lộ trình hợp tác giáo dục giữa hai chính phủ Việt Nam - Lào
2.2 Khôi phục và xây dựng mới các trường học của người Việt ở Trung Lào
Theo số liệu báo cáo của Bộ Giáo dục & thể thao Lào năm 2015, miền Trung Lào có 6 tỉnh với tổng số 2.711 trường tiểu học, 647 trường trung học cơ
sở và trung học phổ thông trong đó trường học của người Việt có 9 trường như:
Ở Viêng Chăn có trường song ngữ Nguyễn Du đào tạo học sinh từ mẫu giáo
Trang 34cho đến cấp III; Tỉnh Bolikhămxay có trường mẫu giáo và tiểu học; Tỉnh Khăm Muộn có trường mẫu giáo, trường tiểu học và trường Hữu nghị Lào - Việt Khăm Muộn - Quảng Bình đào tạo học sinh từ mẫu giáo đến cấp II…
Tuy số lượng trường của người Việt ở Trung Lào không nhiều nhưng hầu hết các trường có bề dày lịch sử và gắn kết với lợi ích của người Việt
2.2.1 Trường Nguyễn Du
Trường Nguyễn Du I
Năm 1966, Hội Việt kiều ở thủ đô Viêng Chăn đã tích cực quyên góp, xây dựng ngôi trường cùng mang tên Nguyễn Du I, nằm ở Ban Phon Sa Văn, Huyện Si Sát Tạ Nác, thủ đô Viêng Chăn Trường được xây dựng trên diện tích
500 m2 Buổi ban đầu, trường chỉ là một ngôi nhà sàn dài khoảng 30m có sàn, vách, cầu thang và lan can bằng gỗ, mái lợp tôn, chia làm 4 phòng tương ứng 4 lớp (từ lớp 1 đến lớp 4) Trong lớp có 25 học sinh người Việt và người Lào chỉ
là 15 học sinh Dạy tiếng Việt hồi đó là cô Hương, người Quảng Bình, nguyên giáo viên cấp I theo chồng sang định cư ở Lào Mỗi tuần hai buổi học thêm là chiều thứ 3 và chiều thứ 6 dành riêng cho con em Việt kiều, lương giáo viên dạy thêm tiếng Việt được trích từ quỹ Hội
Sau năm 1975, trường Nguyễn Du I được xây dựng khang trang hơn Khuôn viên trường có một toà nhà 2 tầng Tầng 1 có 3 lớp học, tầng 2 có 4 lớp học và 1 văn phòng Toàn trường có 7 lớp với khoảng gần 300 học sinh
Từ năm học 2007- 2008 trường đã chuyển đến Ban Dông Pà Lẹm, huyện Chăn Thạ Bou Ly Bây giờ, nhà trường đã xây dựng được những khu nhà ở dành cho giáo viên
Trường Nguyễn Du II
Trường tiểu học Nguyễn Du II được xây dựng năm 1967 bởi cộng đồng người Việt sinh sống tại thủ đô Viêng Chăn Địa điểm xây dựng Trường được
Trang 35đặt tại bản Thống Khắn Khăm, huyện Chăn Thạ Bou Ly, thủ đô Viêng Chăn Với diện tích 800 m2, cơ sở vật chất của trường là một toà nhà 2 tầng, tầng 1
có 6 lớp học, tầng 2 có 5 lớp học và 1 văn phòng
Sau năm 1975, Trường có ba lớp 1, hai lớp 2, hai lớp 3, hai lớp 4 và hai lớp 5 Năm 2006, số học sinh theo học tại trường có 400 em với 16 giáo viên tham gia giảng dạy các môn
Đến năm học 2007-2008 Trường đã chuyển nằm ở bản Đông Pà Lẹp, huyên Chăn Thạ Bou Ly Hiện nay, Trường được xây dựng lại có cơ sở hiện đại hơn do Hiệp hội người Việt Nam ở thủ đô Viêng Chăn quản lí
Năm 2007, ngôi trường Nguyễn Du mới hoàn thành Ngôi trường trông rất khang trang, nằm ở bản Đông Pa Lép, huyện Chăn Tha Bu Ly thủ đô Viêng Chăn, gồm 3 dãy nhà 3 tầng với 29 phòng học, phòng thư viện, phòng học máy
vi tính, phòng nghỉ của giáo viên và phòng ăn nghỉ của học sinh bán trú Trong năm học đầu tiên, Trường Nguyễn Du mới đã tiếp nhận 700 học sinh từ lớp mẫu giáo đến hết cấp II
Năm học 2014-2015, trường Nguyễn Du đã trở thành trường song ngữ Lào - Việt Nam đầu tiên tại Lào Hằng năm, vào tháng 9, trường song ngữ Lào
- Việt Nam Nguyễn Du tại thủ đô Viêng Chăn tổ chức Lễ khai giảng năm học mới Tới dự có đại diện Bộ Giáo dục và Thể thao Lào, Đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Lào cùng đông đảo cán bộ giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh là con em Việt kiều và Lào
2.2.2 Trường Thống Nhất Savẳnnakhệt
Trường Tiểu học Thống Nhất tại Savẳnnakhệt thuộc miền Trung Lào được xây dựng từ năm 1975-1976, ở bản Lat Ta Na Lang Si Nứa, huyện Kay Sone Phom Vi Han Trường có diện tích 1.240 m2, .gồm 2 dãy nhà một tầng làm bằng gỗ Năm học đầu tiên của Trường bắt đầu từ năm 1976-1977 Từ đó
Trang 36đến nay, với sự quan tâm của bà con trong Hội Việt kiều, trường đã có những bước phát triển về cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo, trở thành một trong những ngôi trường áp dụng chương trình học tập hiệu quả cho con em gốc Việt trên đất Lào
Hiện nay, khuôn viên Trường Tiểu học Thống Nhất có một tòa nhà 2 tầng với 14 phòng sử dụng Trong đó, có 10 lớp học, 1 phòng thư viện; 1 phòng dành cho giáo viên; 1 phòng làm việc của Hiệu trưởng nhà trường và 1 phòng để hoạt động ngoại khóa
Sân trường chia thành hai khu như: Khu vui chơi thể thao có sân bóng rổ, sân bóng và nơi để tập thể dục, còn một khu nữa là vườn hoa và sân chào cờ
2.2.3 Trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình-Khăm Muộn
Trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình-Khăm Muộn nằm ở bản Thà Khẹc Nứa vùng trung tâm thị xã Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn Trường được xây dựng năm 1975 Hoạt động của trường theo sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của
Sở Giáo dục và thể thao tỉnh Khăm Muộn
Tỉnh Khăm Muộn kết nghĩa với tỉnh Quảng Bình (Việt Nam) Mối quan
hệ, hợp tác phát triển giữa hai tỉnh đã đạt được những thành tựu lớn trong thời gian qua Gần đây nhất, ngày 30 tháng 1 năm 2015, nhận lời mời của lãnh đạo tỉnh Khăm Muộn, đoàn đại biểu cấp cao Đảng, chính quyền tỉnh Quảng Bình
đã sang thăm và làm việc tại Khăm Muộn Hai bên đã kí kết Biên bản hợp tác hữu nghị năm 2015 Theo đó, Quảng Bình hỗ trợ cho Khăm Muộn gói kinh phí
3 tỷ đồng đầu tư cho giáo dục Một phần kinh phí chi cho xây dựng và hoạt động trường người Việt ở Khăm Muộn [20]
Hiện nay, cơ sở trường có 3 tòa nhà xây hai tầng dành cho học sinh 3 cấp như: Mẫu giáo, cấp I và cấp II
Trang 37Tòa nhà số 1: Dành cho các học sinh mẫu giáo, gồm có 6 phòng trong
đó 4 phòng là lớp học, 1 phòng làm phòng làm việc của các thầy cô giáo và 1 phòng để sắp xếp đồ và sách vở
Tòa nhà số 2 : Dành cho học sinh cấp I, gồm có 18 phòng; trong đó 15 lớp học, 1 phòng thư viện, 1 phòng làm việc của giáo viên và 1 phòng dành cho Hiệu trưởng nhà trường
Tòa nhà số 3: Sử dụng cho học sinh cấp II, gồm có 10 phòng; trong đó
có 9 lớp học, 1 phòng làm việc của giáo viên
Số lượng học sinh theo học tại trường ngày càng tăng, điều đó được minh chứng qua số liệu tại bản báo cáo của Nhà trường năm học 2014- 2015 như sau:
Bảng 2.1 Thống kê lớp học và học sinh năm học 2014 - 2015
tại trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình - Khăm Muộn
TT Lớp học Số lớp (lớp) Số học sinh (người) Học sinh nữ
Theo số liệu thống kê, Trung Lào hiện có 9 trường học của người Việt,
do điều kiện đi lại khó khăn nên chúng tôi chỉ đến và tìm hiểu được các trường
đã đề cập trên Đây là những trường điển hình và được xây dựng ở trung tâm các tỉnh thuộc Trung Lào, nơi mà người Việt sống tập trung nhất Chúng tôi nhận thấy, các trường có điểm chung đó là: Mô hình trường đa cấp (từ mầm
Trang 38non đến cấp III); Trường của người Việt đào tạo cấp phổ thông, không có đào tạo khối chuyên nghiệp
2.3 Vấn đề quản lí hành chính và đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các trường của người Việt ở Trung Lào
2.3.1 Công tác quản lí
Cơ cấu quản lí của các trường
Cũng như các cơ sở đào tạo khác, cơ cấu quản lí trong trường học của người Việt ở Lào có Ban Giám hiệu Trường và các phòng, ban chuyên môn giúp việc, tư vấn cho Hiệu trưởng Nhà trường Tuy nhiên, do đặc điểm riêng và quy mô hoạt động nên mạng lưới quản lí chung cũng có sự khác nhau về số lượng nhân viên và phòng ban chuyên trách
Trường song ngữ Nguyễn Du được quản lí chung bởi 1 hiệu trưởng và 2 hiệu phó Hiệu trưởng bao quát và quản lí chung
Hiệu phó thứ nhất phụ trách về hành chính Thuộc quyền quản lí của hiệu phó thứ nhất có các phòng Kế hoạch tài chính, phòng Tổ chức, phòng Quản lí tài sản
Hiệu phó thứ hai phụ trách về đào tạo Mảng đạo tạo gồm có hai phòng chuyên môn: Phòng Đào tạo và phòng Quản lí học sinh, hoạt động ngoại khoá Công việc của phòng Đào tạo quản lí có các mảng như: Trẻ em - mẫu giáo, cấp
I, cấp 2, cấp 3; Phòng Quản lí học sinh và hoạt động ngoại khoá cũng tương ứng với hoạt động của trẻ ở các cấp mẫu giáo, cấp I, II và III Trong đó, có các ban cụ thể như: Ban Thể dục thể thao; Ban Môi trường; Ban Tình nguyện viên; Ban Văn nghệ; Ban Thông tin; Ban Thanh niên; Ban Tuổi trẻ…
Đối với trường Hữu nghị Việt - Lào Quảng Bình - Khăm Muộn, cơ cấu quản lí trong nhà trường có khác đôi chút [Phụ lục 2] Hiệu trưởng - người
Trang 39đứng đầu bộ máy quản lí của trường, chịu trách nhiệm chính về hoạt động của nhà trường Hiệu trưởng trực tiếp quản lí và điều hành hoạt động của các ban: Ban Đảng, ban Thanh Niên, Công đoàn, ban Kế hoạch - tài chính, ban Tổ chức;
Tư vấn cho Hiệu trưởng có Hội Phụ huynh học sinh và Hội giáo viên; Trường
có 2 hiệu phó Hiệu phó thứ nhất có trách nhiệm quản lí đào tạo, phụ trách chất lượng chuyên môn các môn học cụ thể như ngữ văn, tiếng Anh, địa lí, lịch sử, giáo dục chính trị…; Hiệu phó thứ hai chuyên trách về quản lí học sinh bao gồm: Sinh hoạt, học tập của học sinh; Vấn đề sức khỏe và bảo đảm an toàn cho học sinh; Giáo dục cộng đồng cho học sinh…
Nhìn chung, cấu trúc quản lí trong các trường học của người Việt ở Trung Lào cho thấy sự phát triển và tính chuyên nghiệp trong quản lí đào tạo của nhà trường.Và sự bổ sung, đổi mới và hoàn thiện về bộ máy quản lí của nhà trường cũng chính là đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục trong mục tiêu phát triển giáo dục của Bộ Giáo dục & Thể thao Lào
Quản lí hoạt động chung và hoạt động chuyên môn
Hoạt động của Nhà trường được xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm học Lộ trình triển khai hoạt động được cụ thể hoá tại các kì học, hoạt động tháng và hoạt động từng tuần của Nhà trường
Ví như, trong kế hoạch năm học của trường Tiểu học Thống Nhất Savẳnnakhệt năm học 2012 - 2013, hoạt động năm học được xây dựng trên căn
cứ kế hoạch phát triển giáo dục 5 năm lần thứ VII (2011- 2015) của Bộ Giáo dục &Thể thao Lào nước CHDCND Lào; Kế hoạch của Sở giáo dục, Phòng giáo dục huyện Kayson Phomvihan; Kế hoạch của Ban Giáo dục Đào tạo của Hội người Việt Nam tại Savẳnnakhệt Kế hoạch hoạt động của Trường trong năm học xác định những nhiệm vụ trọng tâm:
Trang 40-Về tư tưởng chính trị: Thường xuyên giáo dục tư tưởng chính trị cho giáo viên, học sinh thấm nhuần chính sách của Đảng và Nhà nước, chính sách chế độ của Hội đối với giáo viên và học sinh; Chấp hành nghiêm quy chế của Nhà trường…
-Về phổ cập giáo dục Tiểu học: Giáo dục đúng độ tuổi; Kết hợp với Ban Giáo dục và đào tạo của 2 trường mẫu giáo Lạc Hồng và Hoàng Oanh nắm được tổng số trẻ đã qua mẫu giáo lớn sẽ chuyển vào cấp Tiểu học theo đúng độ tuổi
- Nhà trường cũng xác định rõ do nằm trong hệ thống giáo dục của Lào nên theo quy định Nhà trường chỉ được dạy môn Tiếng Việt 2 tiết/ tuần Nhưng, đáp ứng yêu cầu của Hội người Việt Nam, nguyện vọng của phụ huynh học sinh số tiết môn Tiếng Việt đối với các khối lớp 1,2,3 là 12 tiết / tuần; Khối lớp 4,5 là 10 tiết / tuần Số tiết tiếng Việt tăng là sự vận dụng linh hoạt của Nhà trường trong thực tiễn thông qua các hoạt động ngoại khoá như dạy hát, thể thao bằng ngôn ngữ Việt, do giáo viên Việt Nam đảm nhiệm…
Trong Kế hoạch năm học của trường cũng vạch rõ hoạt động của học sinh trong từng tuần và cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh Kết quả học tập được niêm yết công khai tại bảng tin trường theo từng tháng
Đối với công tác chuyên môn, trong kế hoạch hoạt động của thầy và trò; hoạt động phong trào chung được chi tiết theo từng tháng Cuối năm, đánh giá xếp loại giáo viên và học sinh Thậm chí, kế hoạch sinh hoạt hè của học sinh cũng được xây dựng trong kế hoạch của Nhà trường
Đối với các trường Nguyễn Du, trường Hữu Nghị Việt - Lào Quảng Bình
- Khăm Muộn ở Trung Lào trong việc xây dựng kế hoạch năm học cũng thực hiện theo các nguyên tắc chung giống như trường Thống Nhất mà chúng tôi đã
đề cập ở trên Vai trò quản lí thể hiện ở chỗ, để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ