1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận Văn Thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về gia nhập điều ước quốc tế

70 518 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 688 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tiến hành hợp tác quốc tế, giao lưu thể hiện mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia ngày càng dễ dàng trên mọi lĩnh vực, các quốc gia tiến hành ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế. Hiện nay trong khoa học Luật quốc tế thuật ngữ “Điều ước quốc tế” được sử dụng rộng rãi và phổ biến, tại khoản 1, điều 2 Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế chỉ định nghĩa “Thuật ngữ điều ước dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.

Trang 1

Trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này tác giả đã gặpkhông ít khó khăn, hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn Tuy nhiên trướcnhững khó khăn và hạn chế đó tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tìnhquý báu của quý thầy cô, gia đình các anh (chị) và các bạn sinh viên Với lòng kínhtrọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất.

Trước tiên tác giả xin chân thành cảm ơn đến tập thể quý thầy cô đang công táctại Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, những người đã truyền đạt vốn kiến thứcquý báu làm nền tảng để nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, các anh (chị) và các bạnsinh viên trong khoa đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tác giả, trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và cả trong việc tìm kiếm các nguồn tài liệu để có thể hoàn thànhluận văn tốt nghiệp này một cách tốt nhất

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến ThS Kim Oanh Na, người đãhết lòng giúp đỡ, động viên tác giả vượt qua khó khăn và tận tình hướng dẫn trong thờigian học tập cũng như nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong thời gian thực hiện đề tài để đề tài đượchoàn thiện một cách tốt nhất tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn không tránh khỏinhững thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạnsinh viên

Sau cùng tác giả xin kính chúc tập thể quý thầy cô trong Khoa Luật - Trường Đạihọc Cần Thơ, ThS Kim Oanh Na, gia đình, các anh (chị) và các bạn sinh viên thật dồidào sức khỏe, bên cạnh đó luôn đạt được nhiều thành công trong công việc và học tập

SINH VIÊN THỰC HIỆN

Trần Vủ Tân

Trang 2

 .

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN  

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP  

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Trang 3

 .

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

MỤC LỤ

Trang 4

MỤC LỤC



LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 3

1.1 Một số khái niệm cơ bản về điều ước quốc tế 3

1.1.1 Điều ước quốc tế 3

1.1.2 Luật điều ước quốc tế 4

1.1.3 Ký kết điều ước quốc tế 5

1.1.4 Gia nhập điều ước quốc tế 6

1.1.5 Thực hiện điều ước quốc tế 7

1.1.6 Thẩm định điều ước quốc tế 8

1.2 Những vấn đề cơ bản về điều ước quốc tế 9

1.2.1 Tên gọi của điều ước quốc tế 9

1.2.2 Ngôn ngữ của điều ước quốc tế 10

1.2.3 Kết cấu của điều ước quốc tế 12

1.2.4 Phân loại điều ước quốc tế 13

1.2.4.1 Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia 13

1.2.4.2 Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh của điều ước 14

1.2.4.3 Căn cứ vào nơi ký kết điều ước quốc tế 14

1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 15

1.3.1 Mục đích của việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 15

1.3.2 Ý nghĩa của việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 17

1.4 Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tế 17

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1998 18

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2005 20

1.4.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 20

1.5 Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 21

1.5.1 Nguyên tắc tự nguyện bình đẳng trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 21

Trang 5

1.5.2 Nguyên tắc thực hiện các điều ước quốc tế đã được ký kết, gia nhập một

cách có thiện chí 23

1.5.3 Nguyên tắc điều ước quốc tế phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 25

2.1 Đề xuất gia nhập điều ước quốc tế 25

2.1.1 Quy định về trách nhiệm đề xuất gia nhập điều ước quốc tế 25

2.1.2 Quy định về trách nhiệm kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế 26

2.1.3 Quy định về trách nhiệm thẩm định điều ước quốc tế 27

2.1.4 Quy định về trách nhiệm thẩm tra điều ước quốc tế 28

2.2 Thẩm quyền quyết định gia nhập điều ước quốc tế 29

2.2.1 Thẩm quyền của Quốc hội 29

2.2.2 Thẩm quyền của Chủ tịch nước 30

2.2.3 Thẩm quyền của Chính phủ 32

2.3 Nội dung quyết định gia nhập điều ước quốc tế 32

2.3.1 Nội dung của quyết định liên quan đến vấn đề về tên, thời gian, địa điểm đăng ký hoặc thông qua của điều ước quốc tế được gia nhập 32

2.3.2 Nội dung của quyết định liên quan đến các vấn đề về bảo lưu và tuyên bố đối với điều ước quốc tế 33

2.3.3 Nội dung của quyết định liên quan đến các vấn đề áp dụng điều ước quốc tế 34

2.3.4 Nội dung của quyết định liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan tổ chức 34

2.4 Hồ sơ trình về việc gia nhập điều ước quốc tế 35

2.4.1 Hồ sơ của cơ quan đề xuất trình Chính phủ 35

2.4.2 Hồ sơ của Chính phủ trình Chủ tịch nước 36

2.4.3 Hồ sơ của Chủ tịch nước trình Quốc hội 37

2.5 Trình tự thủ tục trình, quyết định gia nhập điều ước quốc tế 38

2.5.1 Trình tự, thủ tục trình của cơ quan đề xuất, Chính phủ, Chủ tịch nước 38

2.5.1.1 Trình tự, thủ tục trình của cơ quan đề xuất 38

2.5.1.2 Trình tự, thủ tục trình của Chính phủ 39

Trang 6

2.5.1.3 Trình tự, thủ tục trình của Chủ tịch nước 39

2.5.2 Trình tự thủ tục quyết định gia nhập điều ước quốc tế của Chính phủ, Chủ tịch nước, Quốc hội 40

2.5.2.1 Trình tự thủ tục quyết định gia nhập điều ước quốc tế của Chính phủ 40

2.5.2.2 Trình tự thủ tục quyết định gia nhập điều ước quốc tế của Chủ tịch nước 40

2.5.2.3 Trình tự thủ tục quyết định gia nhập điều ước quốc tế của Quốc hội 41

2.6 Thông báo về việc gia nhập điều ước quốc tế 41

2.6.1 Thông báo lưu chiểu điều ước quốc tế 41

2.6.2 Thông báo cho các cơ quan nhà nước có liên quan về ngày có hiệu lực của điều ước quốc tế 42

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 43

3.1 Thực tiễn áp dụng gia nhập điều ước quốc tế 43

3.1.1 Vấn đề nội lực hóa Công ước Viên 1969 43

3.1.2 Thực trạng gia nhập điều ước quốc tế ở Việt Nam trong một số lĩnh vực 47

3.1.2.1 Trong lĩnh vực lao động 47

3.1.2.2 Trong lĩnh vực quyền con người 49

3.1.2.3 Trong lĩnh vực môi trường 50

3.2 Những khó khăn tồn tại trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam 52

3.2.1 Những khó khăn tồn tại trong việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế 52

3.2.2 Những khó khăn tồn tại trong việc gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 54

3.3 Hướng đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 56

3.3.1 Đề xuất về những quy định của pháp luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 56

3.3.2 Đề xuất về thực tiễn trong quá trình ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 58

KẾT LUẬN 61

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, không có một quốc gia nào tồntại một cách biệt lập mà thay vào đó các quốc gia ngày càng tăng cường hợp tác trênnhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao…Để thúc đẩy quá trình hợp tác, cácquốc gia đã xây dựng một hệ thống pháp luật cho chính quốc gia mình bằng việc kýkết, gia nhập các điều ước quốc tế, mà qua đó những điều ước quốc tế mà các quốc gia

ký kết, gia nhập sẽ tạo điều kiện cho việc hợp tác diễn ra thuận lợi và nhanh chónghơn

Đối với Việt Nam quan điểm của Đảng và Nhà nước ta từ Đại hội VII năm 1991

với tính chất là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết” Đại hội

đã nêu rõ “Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Từ quan điểm trên, Việt Nam cũng như các quốc gia

khác trên thế giới không ngừng hợp tác quốc tế với nhiều quốc gia bằng hình thức kýkết hoặc gia nhập điều ước quốc tế trên nhiều lĩnh vực Để đảm bảo việc áp dụng điềuước có hiệu quả ngoài việc quy định việc ký kết điều ước quốc tế pháp luật Việt Namcòn quy định việc gia nhập điều ước quốc tế khi xét thấy điều ước quốc tế đó phù hợpvới thực tiễn của đất nước Qua đó cho thấy công tác gia nhập điều ước quốc tế giữmột vai trò quan trọng và còn là cơ sở pháp lý vững chắc trong việc tăng cường mởrộng các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế

Tuy nhiên, việc gia nhập điều ước quốc tế là một điều không dễ dàng bởi lẽ khigia nhập điều ước quốc tế phải tính đến hiệu quả của việc áp dụng vào trong nước, sựtương thích giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế được gia nhập Hiện nay vớinhững quy định của pháp luật Việt Nam về gia nhập điều ước quốc tế đã mang lạinhiều thành tựu và hiệu quả cao, song bên cạnh đó trong quá trình áp dụng vẫn còn tồntại một số hạn chế nhất định làm cho việc gia nhập điều ước quốc tế gặp nhiều khókhăn

Từ những lý do trên tác giả đã chọn đề tài “Thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về gia nhập điều ước quốc tế” với mong muốn được tìm hiểu

những thực trạng về việc gia nhập điều ước quốc tế, bên cạnh đó đề xuất những hướnghoàn thiện thông qua những bất cập còn tồn tại trong những quy định của pháp luậtViệt Nam và cả trong quá trình thực hiện

Trang 8

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những quy định của pháp luật vàthực trạng áp dụng gia nhập điều ước quốc tế từ đó sẽ có những hướng hoàn thiệntrước những hạn chế trong quá trình thực hiện Để đạt được mục tiêu nghiên cứu vừanêu đề tài dựa trên những quy định của pháp luật về gia nhập điều ước quốc tế cụ thểtại Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 và một số quy địnhcủa pháp luật có liên quan

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về gia nhập điều ướcquốc tế dựa trên văn bản chủ yếu là Công ước Viên 1969 và Luật ký kết, gia nhập vàthực hiện điều ước quốc tế năm 2005 Bên cạnh đó đề tài sẽ tìm hiểu về thực tiễn củaviệc gia nhập điều ước quốc tế đồng thời sẽ có những kiến nghị nhằm hoàn thiệnnhững tồn tại, vướng mắc trong quá trình gia nhập điều ước quốc tế

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất người viết đã vận dụng nhiều phương phápnghiên cứu nhưng chỉ tập trung ở một số phương pháp như: phân tích luật viết, phươngpháp so sánh, phương pháp liệt kê, phương pháp tổng hợp các thông tin qua các bàiviết và các văn bản pháp luật có liên quan, đó là một số phương pháp phổ biến màngười viết sẽ sử dụng

5 Bố cục luận văn

Để làm rõ những vấn đề mà người viết đã nêu ở mục tiêu nghiên cứu và phạm vinghiên cứu ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bố cục luậnvăn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Khái quát chung về điều ước quốc tế và luật điều ước quốc tế.

- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về gia nhập điều ước quốc tế.

- Chương 3 Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện pháp luật về gia nhập điều ước quốc tế.

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ

LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ



1.1 Một số khái niệm cơ bản về điều ước quốc tế

1.1.1 Điều ước quốc tế

Để tiến hành hợp tác quốc tế, giao lưu thể hiện mối quan hệ hữu nghị giữa cácquốc gia ngày càng dễ dàng trên mọi lĩnh vực, các quốc gia tiến hành ký kết hoặc gianhập điều ước quốc tế Hiện nay trong khoa học Luật quốc tế thuật ngữ “Điều ướcquốc tế” được sử dụng rộng rãi và phổ biến, tại khoản 1, điều 2 Công ước Viên 1969

về Luật điều ước quốc tế chỉ định nghĩa “Thuật ngữ điều ước dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”

Ngày 10 tháng 10 năm 2001 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Côngước viên 1969 về luật điều ước quốc tế Năm 2005 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa X

đã ban hành Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, tại đây thuật ngữ điều

ước quốc tế được định nghĩa “là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác” Từ những định nghĩa trên điều ước quốc tế có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, điều ước quốc tế phải là một thỏa thuận quốc tế Như vậy điều ước

quốc tế là một thỏa thuận quốc tế, vậy một thỏa thuận quốc tế như thế nào để đượcxem là một điều ước quốc tế điều này cần phải xem xét Tại khoản 1, điều 2, Pháp lệnh

ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội số

33/2007/PL-UBTVQH quy định: “Thỏa thuận quốc tế là văn bản về hợp tác quốc tế được ký kết nhân danh cơ quan nhà nước ở trung ương ,cơ quan cấp tỉnh, cơ quan trung ương của tổ chức trong phạm vi chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình với một hoặc nhiều bên ký kết nước ngoài…” Với quy định trên thì thỏa thuận quốc tế

không phải là một điều ước quốc tế mà chỉ dùng làm một tên gọi cho các cam kết quốc

tế có tính chất hạn hẹp đồng thời thỏa thuận quốc tế chỉ là một cam kết quốc tế thểhiện sự tự ràng buộc của các quốc gia vào một nghĩa vụ pháp lý quốc tế nhất định

Trang 10

Theo pháp luật Việt Nam thì thỏa thuận quốc tế khi ký kết chỉ được nhân danh cơ quannhà nước ở trung ương như: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,nhân danh cơ quan cấp tỉnh, nhân danh cơ quan trung ương của tổ chức như: Hội cựuchiến binh, Hội nông dân Việt Nam Một số thỏa thuận quốc tế như: Thỏa thuận hợptác về pháp luật và tư pháp giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Bun-ga-ri, ký ngày 21/01/2009, Thỏa thuận hợptác giữa liên minh luật sư nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đoàn luật sưnước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2012-2015 ký ngày 07/9/2012…Pháp luật Việt Nam quy định một thỏa thuận quốc tế được xem là một điều ướcquốc tế phải được ký kết, gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ và

có những nội dung liên quan đến hòa bình, an ninh biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốcgia…,1 hay liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thì thỏa thuận đóđược xem là một điều ước quốc tế

Thứ hai, điều ước quốc tế phải được thỏa thuận bằng văn bản Việc thể hiện ý chí

của các bên tham gia điều ước sau khi được thống nhất sẽ được thể hiện trên văn bản ởdạng thành văn qua đó văn bản này sẽ ghi nhận tất cả những thỏa thuận cuối cùng củacác bên

Thứ ba, điều ước quốc tế phải có tên gọi Đối với tên gọi của điều ước quốc tế rất

đa dạng, các bên tham gia ký kết có thể thỏa thuận thống nhất lựa chọn một tên gọiriêng cho điều ước tùy vào tính chất hoặc đặc điểm của điều ước mà mình tham gia kýkết Một số tên gọi thường dùng cho điều ước quốc tế như: Công ước, Công hàm, Nghịđịnh thư, Hiệp ước, Hiệp định

Thứ tư, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữ các quốc gia và phải được luật quốc

tế điều chỉnh Đây chính là một điểm đặc biệt để phân biệt giữa điều ước quốc tế vớihợp hợp đồng được ký kết giữa giữa các quốc gia, chính vì điều đó điều ước quốc tế sẽ

có sự khác biệt lớn so với các hợp đồng giữa các quốc gia, dẫn đến việc điều ước quốc

tế sẽ được pháp luật quốc tế điều chỉnh là điều tất yếu

1.1.2 Luật điều ước quốc tế

Một bộ phận quan trọng của pháp luật quốc tế là Luật điều ước quốc tế, trong bốicảnh quốc tế hiện nay Luật điều ước quốc tế giữ vai trò rất quan trọng, đó là khungpháp lý để điều chỉnh các quan hệ ký kết thực hiện điều ước quốc tế đồng thời còn làcông cụ hữu hiệu nhằm thiết lập duy trì, ổn định hòa bình phát triển trong quan hệquốc tế Cũng như một số ngành luật quốc tế khác, Luật điều ước quốc tế là một ngành

1 Điểm a, Khoản 2, Điều 7, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 11

luật độc lập nếu như những ngành luật khác như Luật hàng không quốc tế điều chỉnhmối quan hệ giữa các chủ thể pháp luật quốc tế trong việc sử dụng vùng trời vào mụcđích giao thông trên không và hoạt động thương mại của các hàng vận tải hàng không,2

hay Luật biển quốc tế điều chỉnh về các mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thểkhác của luật quốc tế về việc xác định chế độ pháp lý liên quan đến các vùng biểnhoặc các hoạt động sử dụng và khai tài nguyên biển, các quy định về bảo vệ môitrường… thì đối với Luật điều ước quốc tế sẽ đối tượng điều chỉnh của ngành luật này

là điều ước quốc tế

Năm 1969 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế đã được thông qua đã điềuchỉnh cụ thể những vấn đề liên quan đến điều ước quốc tế như: Đàm phán, soạn thảo,thông qua, ký, phê chuẩn, phê duyệt, áp dụng điều ước quốc tế, sửa đổi, bổ sung, đìnhchỉ, chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế… Tóm lại xuất phát từ đối tượng điều chỉnhcủa Luật điều ước quốc tế và Công ước viên 1969 với vai trò là văn bản chủ đạo củaLuật điều ước quốc tế, có thể định nghĩa Luật điều ước quốc tế là tổng thể các nguyêntắc, các quy phạm pháp luật quốc tế, điều chỉnh các quan hệ về ký kết và thực hiệnđiều ước quốc tế của các chủ thể luật quốc tế.3

1.1.3 Ký kết điều ước quốc tế

Tại điều 6 Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế quy định “Mọi quốc gia điều có tư cách để ký kết điều ước”, như vậy từ quy định trên cho thấy Công ước

Viên 1969 đã quy định tất cả các quốc gia đều có tư cách ký kết điều ước quốc tế.Theo Luật Ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 tại điều 2, khoản 4

đã giải thích ký kết điều ước quốc tế là những hành vi do người có thẩm quyền hoặc

cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện trong đó bao gồm đàm phán, ký, phêchuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế hoặc trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế.Tuy nhiên cần phân biệt giữa ký kết và ký điều ước quốc tế, trước đây Pháp lệnh số07/1998/PL-UBTVQH10 Về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế chỉ định nghĩa về kýkết điều ước dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này là một, do đó cần phân biệtgiữa hai khái niệm này một cách riêng biệt

Thứ nhất, Ký kết là một quá trình, nhưng được thực hiện bởi các hành vi gồm:

đàm phán, thông qua, ký, phê chuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế và trao đổi vănkiện tạo thành điều ước quốc tế Đối với ký điều ước quốc tế lại là một hành vi pháp lý

cụ thểbao gồm ký điều ước quốc tế không phải phê chuẩn hoặc phê duyệt và ký điềuước quốc tế phải phê chuẩn hoặc phê duyệt, hành vi này do người có thẩm quyền hoặc

2 Đỗ Hòa Bình, Thuật ngữ pháp luật quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, 2009, tr 219

3 Lê Mai Anh, Giáo trình luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tr 81

Trang 12

người được ủy quyền thực hiện Như vậy đối với ký kết điều ước quốc tế có phạm virộng và bao gồm cả ký điều ước quốc tế Có những điều ước quốc tế có hiệu lực pháp

lý ngay sau khi được ký như Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lặp lại hòabình ở Việt Nam năm 1973, nhưng cũng có những điều ước để có hiệu lực cần phảitrải qua một quá trình như phê chuẩn, phê duyệt hoặc thông qua của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, một số điều ước cần phải phê chuẩn, phê duyệt hoặc thông qua nhưcông ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Công ước Viên năm 1963 về quan hệlãnh sự…Pháp luật Việt Nam đã quy định về thẩm quyền ký điều ước quốc tế tại điều

11, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 như sau: Chủ tịchnước có thẩm quyền ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước với người đứng đầu nhànước khác, Chính phủ có thẩm quyền quyết định ký điều ước quốc tế nhân danh Chínhphủ, nhân danh Nhà nước trừ trường hợp tại khoản 1, điều 11, bên cạnh đó còn quyđịnh thẩm quyền ký điều ước quốc tế của một số cơ quan khác trong bộ máy nhà nước

Thứ hai, nếu như chủ thể ký kết điều ước quốc tế được thực hiện bởi cá nhân tức

người có thẩm quyền và cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì đối với ký điều ước quốc

tế chủ thể chỉ có người có thẩm quyền và người được ủy quyền Như vậy những người

có thẩm quyền ký điều ước quốc tế như là Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ , đốivới người được ủy quyền ký điều ước quốc tế chỉ trong trường hợp không cử người đi

ký điều ước quốc tế, và người được ủy quyền ký điều ước quốc tế phải là lãnh đạo của

cơ quan đề xuất hoặc là người được cơ quan đề xuất trình chính phủ quyết định sau khi

đã lấy ý kiến của Bộ ngoại giao.4

1.1.4 Gia nhập điều ước quốc tế

Theo Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế thì quốc gia có thể trở thànhthành viên của điều ước quốc tế bằng việc ký kết trực tiếp điều ước quốc tế với chủ thểkhác hoặc bằng hình thức gia nhập Mặc dù tại công ước Viên 1969 chưa có địnhnghĩa như thế nào là gia nhập điều ước quốc tế nhưng vẫn cho phép các quốc gia tham

gia điều ước bằng việc gia nhập theo đó điều 11, Công ước Viên 1969 quy định “Việc một quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký kết, trao đổi các văn kiện của điều ước, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập, bằng mọi cách khác được thỏa thuận như vậy” Như vậy việc gia nhập điều ước

quốc tế đã được pháp luật quốc tế thừa nhận và đó trở thành một hình thức để tham giavào điều ước quốc tế

Theo pháp luật Việt Nam khái niệm gia nhập điều ước quốc tế được quy định rõtại khoản 10, điều 2, Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

4 Khoản 5, Điều 23, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 13

“Gia nhập điều ước quốc tế là hành vi pháp lý do Quốc hội, Chủ tịch nước, hoặc Chính phủ thực hiện chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế nhiều bên đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ký điều ước quốc tế đó, không phụ thuộc vào việc điều ước quốc tế này đã có hiệu lực hay chưa có hiệu lực” Từ quy định trên cho thấy gia nhập

điều ước quốc tế phải là một hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của mộtquốc gia và người có thẩm quyền đồng thời hành vi này phải được thực hiện bởi cơquan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền của quốc gia đó, qua đó các cơquan có thẩm quyền và người có thẩm quyền sẽ chấp nhận sự ràng buộc của các điềukhoản của điều ước quốc tế và không được thêm mới nội dung vào các điều khoảnnhưng lại có quyền bảo lưu một số điều khoản theo những quy định của điều ước đó Việc gia nhập điều ước quốc tế chỉ áp dụng đối với điều ước quốc tế đa phươngnhưng không phải bất kỳ điều ước quốc tế đa phương nào cũng được gia nhập và việcgia nhập điều ước quốc tế đa phương phải phụ thuộc vào tính chất của điều ước vàthỏa thuận của các thành viên qua đó sẽ quyết định điều ước đa phương nào sẽ đượcgia nhập và không gia nhập Riêng đối với điều ước quốc tế song phương với bản chất

là điều ước quốc tế được ký kết giữa hai chủ thể nên khi có một quốc gia khác thamgia sẽ làm thay đổi các mối quan hệ của các quốc gia ban đầu vì thế các điều ước quốc

tế song phương sẽ không được phép gia nhập

1.1.5 Thực hiện điều ước quốc tế

Là một quá trình diễn ra sau khi ký kết và gia nhập điều ước quốc tế Thực hiệnđiều ước quốc tế phải được dựa trên nguyên tắc tận tâm thực hiện của các thành viêntham gia điều ước, mặc dù Luật quốc tế không có quy định bất cứ chế tài nào được ápdụng khi các bên không thực hiện, do đó việc thực hiện điều ước quốc tế là việc làmhết sức quan trọng và phụ thuộc rất lớn vào các thành viên tham gia để đảm bảo hiệulực thi hành

Mặc dù trong khoa học pháp lý của Luật quốc tế chưa có một định nghĩa chínhthức như thế nào là thực hiện điều ước quốc tế nhưng dựa vào tính chất và nội dungcủa việc thực hiện điều ước có thể định nghĩa thực hiện điều ước quốc tế là một quátrình các bên tham gia điều ước giải thích, công bố và đăng ký điều ước quốc tế và quátrình này đảm bảo thực thi điều ước có hiệu quả trên phạm vi lãnh thổ mà điều ướcquốc tế đã quy định cho các quốc gia là thành viên

Việc thực hiện điều ước quốc tế như thế nào tùy thuộc vào từng quốc gia là thànhviên hay nói cách khác các quốc gia tham gia điều ước có quyền lựa chọn miễn sau

Trang 14

điều ước quốc tế đó được thực hiện tận tâm và đầy đủ nhất Theo pháp luật Việt Namquy định việc thực hiện điều ước phải có kế hoạch và kế hoạch thực hiện điều ướcquốc tế mà Việt Nam đã tham gia phải có các nội dung như: Lộ trình thực hiện điềuước quốc tế; Dự kiến phân công trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tổchức thực hiện điều ước quốc tế; Kiến nghị sửa đổi bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành vănbản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế…5

Tuy nhiên trên thực tế các quốc gia thành viên khi thực hiện điều ước quốc tế thì

sẽ diễn ra một quá trình là giải thích, công bố và đăng ký điều ước quốc tế Áp dụngđiều ước quốc tế phải gắn liền với việc giải thích mặc dù đó là hai quá trình khác nhaunhưng luôn có một mục đích chung đó là nhằm thực thi các thỏa thuận về ý chí giữacác bên đã đạt được từ các quá trình đàm phán đến ký kết Đối với công bố và đăng kýđiều ước ước quốc tế thì lại không bắt buộc, điều đó không ảnh hưởng đến hiệu lựccủa điều ước quốc tế, dù điều ước quốc tế được đăng ký hay không đăng ký thì vẫn cóhiệu lực như nhau

1.1.6 Thẩm định điều ước quốc tế

Theo quy định của pháp luật Việt Nam điều ước quốc tế phải được thẩm địnhtrước khi trình chính phủ về việc đàm phán, ký.6 Bất kỳ một điều ước quốc tế nàotrước khi đàm phán, ký điều được thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,mục đích của việc thẩm định nhằm xác định tính hợp hiến của điều ước bên cạnh đócòn được xác định khả năng áp dụng một phần hay toàn bộ điều ước quốc tế, đồng thờiviệc thẩm định còn xác định được mức độ tương thích với các quy định của pháp luậttrong nước hay không, qua đó sẽ quyết định việc tham gia vào điều ước quốc tế Xuấtphát từ những vấn đề trên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể định nghĩa

“Thẩm định điều ước quốc tế là quá trình kiểm tra tính hợp hiến, phạm vi áp dụng, mức độ tương thích của điều ước quốc tế với pháp luật trong nước của một quốc gia được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đàm phán, ký” Việc

thẩm định điều ước quốc tế được pháp luật Việt Nam quy định trong Luật ký kết, gianhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, qua đó quy định cơ quan có trách nhiệmthẩm định điều ước quốc tế là Bộ Tư Pháp, tuy nhiên việc thẩm định điều ước quốc tếvẫn được Hội đồng thẩm định thực hiện trong trường hợp Bộ Tư pháp đề xuất đàmphán, ký điều ước quốc tế hoặc cơ quan khác đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tếnhưng còn nhiều ý kiến khác nhau…,7 việc thành lập Hội đồng thẩm định sẽ do Bộ Tưpháp quyết định

5 Điểm a, b,c, Khoản 2, Điều 71, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

6 Điều 17, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

7 Khoản 2, Điều 19, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 15

Như vậy việc thẩm định điều ước quốc tế là một quá trình quan trọng và khôngthể thiếu trong việc ký kết gia nhập điều ước quốc tế, do đó việc thẩm định hoàn toànphụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia điều ước mục đích cuối cùng của việc thẩmđịnh là có nên hay không khi tham gia vào một điều ước quốc tế Nhìn chung mỗiquốc gia điều có những quy định riêng cho các cơ quan có quyền thẩm định điều ướcquốc tế trước khi tham gia, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định tính chấtcũng như những lợi ích mà điều ước quốc tế mang lại nhằm đạt được kết quả cao nhấtkhi tham gia vào điều ước quốc tế.

1.2 Những vấn đề cơ bản về điều ước quốc tế

1.2.1 Tên gọi của điều ước quốc tế

Hiện nay pháp luật quốc tế chưa có một quy định nào cho việc thống nhất tên gọichung cho điều ước quốc tế do vậy thuật ngữ điều ước quốc tế là một danh từ chung,dùng để gọi các văn kiện pháp lý được ký kết giữa hai hay nhiều quốc gia, hoặc giữacác chủ thể khác của Luật quốc tế.8 Tại công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tếcũng không quy định việc thống nhất một tên gọi duy nhất cho điều ước quốc tế màqua đó việc lựa chọn tên gọi sẽ do các thành viên của điều ước thỏa thuận quyết định

Ở Việt Nam việc lựa chọn tên gọi cho điều ước quốc tế đã được quy định tạikhoản 1, điều 2, Luật ký kết, gia nhập điều và thực hiện ước quốc tế năm 2005 như

sau: “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập

là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”.9 Qua quy định trên chothấy pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với pháp luật quốc tế về tên gọi của điềuước quốc tế là không bắt buộc một tên gọi nhất định

Do không có sự quy định bắt buộc của pháp luật quốc tế về tên gọi của điều ướcquốc tế do đó khi tham gia vào điều ước quốc tế các chủ thể của luật quốc tế sẽ thốngnhất nên lựa chọn tên gọi như thế nào cho phù hợp với nội dung của điều ước để xácđịnh tên gọi cho các điều ước mà các bên tham gia ký kết Trong thực tiễn, tùy theotính chất của từng văn bản sẽ có rất nhiều tên gọi khác nhau, cụ thể như: Hiến chương(charter); Hiệp định (convention); Hiệp ước (covenant); Công ước (pact); Hòa ước(accord); Tuyên ngôn (declaration); Thỏa ước (agreement); Cam kết (engagement);

8 Kim Oanh Na, Giáo trình Luật Quốc tế, Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, 2012, tr.34

9

Trang 16

Quy chế/đạo luật (statute/act); Nghị định thư (protocol); Thỏa thuận sơ bộ(understanding); Quy tắc/Điều lệ - điều khoản (regulation/provision);…10 Thôngthường khi các bên tham gia ký kết sẽ lựa chọn một số tên gọi dựa vào nội dung củađiều ước hay phạm vi ký hết nhưng cũng có thể là mức độ quan trọng của điều ướcđến các quốc gia là thành viên từ đó sẽ có các tên gọi khác nhau Hiện nay trong thựctiễn ký kết điều ước quốc tế một số tên gọi được dùng phổ biến như:

- Hiến chương: Đây là một tên gọi được dùng cho điều ước quốc tế về việc thành

lập một tổ chức quốc tế liên chính phủ có phạm vi khu vực hoặc quốc tế, quy địnhnhững vấn đề về cơ cấu, tổ chức cũng như quy định về nội dung hoạt động, mục tiêu

và nhiệm vụ Ví dụ như Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Hiến chương ASEAN

- Công ước: Là tên gọi thường được sử dụng cho điều ước quốc tế đa phương

phổ cập cho phép tất cả các quốc gia tham gia, với tên gọi này thường điều chỉnh mộtvấn đề cụ thể mang tính chất chung Một số công ước như Công ước của Liên hợpquốc về Luật Biển năm 1982, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963…

- Hiệp định: Với tên gọi này sẽ được sử dụng cho những điều ước quốc tế song

phương có tính chất quan trọng và thường được ký với danh nghĩa chính phủ Một sốcông ước như: Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và Ấn Độ kýngày 08/10/2007, Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình

sự giữa Việt Nam và Ba Lan ký ngày 23/3/1993, Hiệp định về tương trợ tư pháp vềhình sự giữa Việt Nam và Hàn Quốc ký ngày 15/9/2003…

1.2.2 Ngôn ngữ của điều ước quốc tế

Một điều ước quốc tế bắt buộc phải có một ngôn ngữ xác định Công ước Viên

1969 về Luật điều ước quốc tế không quy định việc lựa chọn một ngôn ngữ cho điềuước quốc tế, điều đó chứng tỏ ngôn ngữ của điều ước quốc tế sẽ do các bên tham gia

ký kết tự thỏa thuận Pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với Công ước Viên 1969

về Luật điều ước quốc tế, qua đó Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tếnăm 2005 cũng không quy định cụ thể về việc lựa chọn ngôn ngữ cho điều ước mà chỉquy định thẩm quyền quyết định có nên hay không khi lựa chọn ngôn ngữ đã đượcthỏa thuận Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy địnhChính phủ quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế bằng văn bản với những nộidung về tên gọi, hình thức, ngôn ngữ và danh nghĩa ký điều ước quốc tế.11 Từ quy địnhtrên cho thấy để lựa chọn ngôn ngữ cho một điều ước quốc tế phải phụ thuộc vào tất cảcác bên tham gia để lựa chọn, pháp luật quốc gia chỉ quy định về thẩm quyền quyết

10 Kim Oanh Na, Giáo trình Luật Quốc tế, Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, 2012, tr.34

11 Điểm a, Khoản 4, Điều 11, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 17

định việc lựa chọn ngôn ngữ, và một quốc gia sẽ không có quyền tự quyết định lựachọn một ngôn cho điều ước quốc tế nếu không được sự cho phép của các quốc giacòn lại, tức các quốc gia tham gia điều ước.

- Đối với điều ước quốc tế đa phương (nhiều bên), với mục đích tạo điều kiệncho nhiều quốc gia hoặc các chủ thể khác của Luật quốc tế tham gia nên ngôn ngữthường sử dụng là các ngôn ngữ sử dụng chính thức của Liên hợp quốc gồm: TiếngAnh, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Ả Rập, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, vớicách lựa chọn như vậy các bên thường quy định ngôn ngữ của điều ước quốc tế ngaytrong các điều khoản của điều ước như tại điều 53, Công ước Viên 1961 quy định

“Nguyên bản Công ước này, được lập bằng các thứ tiếng Anh, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Pháp và Nga có giá trị như nhau về quan hệ ngoại giao”, hoặc tại điều 111 Hiến chương Liên hợp quốc “Hiến chương này gồm các bản tiếng Trung Hoa, Pháp, Nga, Anh và Tây Ban Nha, điều có giá trị như nhau…”.

- Đối với điều ước quốc tế song phương (hai bên), với bản chất chỉ có hai bêntham gia ký kết nên việc lựa chọn ngôn ngữ cho điều ước quốc tế song phương các bên

sẽ lựa chọn và các bên có thể lựa chọn theo các cách như:

+ Lựa chọn hai hoặc một trong hai ngôn ngữ của hai quốc gia ký kết

+ Lựa chọn ba ngôn ngữ gồm: Ngôn ngữ của hai quốc gia ký kết và ngôn ngữthứ ba, ngôn ngữ thứ ba này có thể là ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên hợpquốc

+ Lựa chọn nhiều ngôn ngữ cho điều ước mà những ngôn ngữ đó thuận lợi choviệc ký kết

Từ những cách lựa chọn ngôn trên có thể thấy việc lựa chọn ngôn ngữ cho điềuước quốc tế hoàn toàn không bắt buộc nhưng lại phụ thuộc vào thỏa thuận của cácthành viên tham gia

- Giống như tên gọi của điều ước quốc tế, ngôn ngữ của điều ước quốc tế cũngrất đa dạng và phong phú, một điều ước quốc tế được sử dụng ngôn ngữ nào hoàn toànphụ thuộc vào các bên tham gia điều ước thỏa thuận lựa chọn, tuy nhiên việc thỏathuận lựa chọn đó phải theo một số quy tắc nhất định như:

+ Việc lựa chọn ngôn ngữ của điều ước quốc tế phải được thống nhất của tất cảcác bên tham gia ký kết Đây là điều rất quan trọng bởi lẽ những điều ước quốc tế đaphương đòi hòi cần có sự thống nhất cao của các bên tham gia ký kết không chỉ về nộidung mà còn cả về hình thức, việc thống nhất lựa chọn một ngôn ngữ cho điều ước thểhiện sự bình đẳng của các quốc gia với nhau trong quá trình kết, do đó chỉ cần một

Trang 18

quốc gia không thống nhất được ngôn ngữ có thể dẫn đến quá trình ký kết kéo dàithậm chí là không đi đến việc ký kết mà dừng lại tại quá trình đàm phán.

+ Lựa chọn một, một số hoặc toàn bộ ngôn ngữ của Đại Hội đồng Liên HiệpQuốc, tuy nhiên trong thực tiễn ký kết, một ngôn ngữ thứ ba nào đó thường sẽ đượchai bên thỏa thuận để làm chuẩn trong việc giải thích các vấn đề liên quan nếu nhưquan điểm của hai bên chưa nhất quán với nhau.12

+ Lựa chọn những ngôn ngữ mà khi dịch ra ngôn ngữ của các quốc gia thànhviên không làm thay đổi nội dung đã được thỏa thuận Ngôn ngữ mà các quốc gia lựachọn có thể là ngôn ngữ làm việc của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc hoặc là ngôn ngữcủa một quốc gia khác tuy nhiên việc lựa chọn ngôn ngữ nào đi nữa cần đảm bảo mộtyếu tố đó là không được thay đổi về nghĩa của điều ước khi dịch ra ngôn ngữ của cácquốc gia là thành viên

1.2.3 Kết cấu của điều ước quốc tế

Dù là điều ước quốc tế song phương hay đa phương nhìn chung kết cấu của điềuước quốc tế được chia làm ba phần với các nội dung khác nhau thể hiện tính minhbạch và cụ thể đảm bảo cho việc thực thi điều ước có hiệu quả

- Phần thứ nhất là lời mở đầu, ở nội dung này chưa quy định từng điều khoảncũng như việc chưa chia bố cục thành từng chương từng phần cụ thể những gì các bên

đã thỏa thuận mà chỉ nêu lên những mục đích, cam kết thực hiện, các lý do ký kết hoặcđơn giản là tên của các quốc gia tham gia điều ước

- Phần nội dung, đây là phần thứ hai được xem là phần quan trọng nhất, bởi vì ởphần nội dung này việc các bên thỏa thuận và đi đến thống nhất lựa chọn sẽ được ghinhận, những thỏa thuận sẽ được xem là những quy phạm có giá trị pháp lý cao nhất và

là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia đồng thời đó cũng

là những điều khoản chống lại khi một hoặc nhiều bên không thực hiện đúng nhưnhững gì ghi ở phần nội dung này

- Phần cuối cùng còn được gọi là các điều khoản cuối cùng ở phần này chủ yếu làcác điều khoản quy định chung về hình thức của điều ước, hoặc quy định các vấn đề

về hiệu lực, đăng ký, giải thích, sửa đổi điều ước…

1.2.4 Phân loại điều ước quốc tế

Có nhiều cách phân loại điều ước quốc tế việc phân loại điều ước như thế nào tùyvào pháp luật của mỗi quốc gia quy định Theo pháp luật Việt Nam tại khoản 1, điều 7,Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 thì chỉ có điều ước quốc

12 Kim Oanh Na, Giáo trình Luật Quốc tế, Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, 2012, tr.35

Trang 19

tế hai bên hoặc nhiều bên, và những điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên đó khi kýkết hoặc gia nhập chỉ được nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ Hiện nayviệc phân loại điều ước quốc tế rất đa dạng có thể căn cứ vào số lượng chủ thể thamgia, cũng có thể căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh hoặc căn cứ vào nơi ký kết điều ướcquốc tế…, dưới đây là một số cách phân loại điều ước thường được sử dụng

1.2.4.1 Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia

Dựa vào số lượng các thành viên tham gia điều ước, sẽ chia thành điều ước quốc

tế song phương (hai bên) và điều ước quốc tế đa phương (nhiều bên)

- Điều ước quốc tế song phương, điều ước quốc tế này còn gọi là điều ước quốc

tế hai bên Với đặc điểm chỉ có hai bên là chủ thể của luật quốc tế nên chắc chắn mộtđiều phải có ít nhất là hai bên tham gia và số lượng tối đa cho phép cũng chỉ là hai chủthể, tuy nhiên điều ước quốc tế song phương vẫn có sự liên quan đến một quốc gia thứ

ba nhưng quốc gia thứ ba này không phải là thành viên vì việc ký kết đó với mục đíchmang lại lợi ích cho bên thứ ba và bên thứ ba không có nghĩa vụ gì liên quan đến việcthực hiện điều ước Chính vì điều này dẫn đến một đặc trưng của điều ước quốc tếsong phương là không cho phép bất cứ bên nào bảo lưu bất kỳ điều khoản nào và đòihỏi phải có sự nhất trí hoàn toàn của cả hai bên đối với toàn bộ nội dung văn bản điềuước.13 Một số điều ước song phương như: Hiệp định về chuyển giao người bị kết ánphạt tù và hợp tác thi hành án hình sự giữa Việt Nam và Thái Lan ký ngày 3/3/2010,Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hợp chúng quốc Hoa

Kỳ về nhận trở lại công dân Việt Nam ký ngày 22/01/2008, Hiệp định về chuyển giaongười bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Hàn Quốc ký ngày 29/5/2009…

- Điều ước quốc tế đa phương hay còn gọi là đều ước quốc tế nhiều bên Đối vớiđiều ước điều ước quốc tế đa phương phải có ít nhất từ ba chủ thể của luật quốc tếtham gia, thông thường điều ước quốc tế đa phương này được hoạt động với phạm virộng nên có thể chia điều ước quốc tế đa phương thành hai loại:

+ Điều ước quốc tế đa phương toàn cầu Ví dụ như: Hiến chương Liên hợp quốc,Công ước Luật biển năm 1982…

+ Điều ước đa phương khu vực, với điều ước này các bên tham gia ký kết là cácquốc gia trong khu vực địa lý nhất định mà điều ước quy định, qua đó các quốc giakhác ngoài khu vực sẽ không được phép tham gia Ví dụ như: Hiến chương ASEANnăm 2007, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương về thành lập Khối quân sự Bắc Đại Tây

13 Đỗ Hòa Bình, Thuật ngữ Pháp luật Quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 148

Trang 20

Dương (NATO) ký ngày 04/4/1949, Hiệp ước Maastricht về thành lập Liên minh châu

Âu ký ngày 07/02/1992…

1.2.4.2 Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh của điều ước

Mỗi điều ước quốc tế sẽ điều chỉnh từng lĩnh vực riêng biệt, lĩnh vực điều chỉnhcủa điều ước quốc tế rất đa dạng và bắt buộc phải có để phân biệt với những điều ướckhác Khi dựa vào lĩnh vực điều chỉnh của điều ước quốc tế có thể phân loại như sau:

- Điều ước quốc tế về chính trị, ví dụ như: Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ giữaViệt Nam và Trung Quốc ký ngày 25/12/2000, Hiệp định về "Vùng nước lịch sử" giữaViệt Nam và Campuchia ký ngày 07/7/1982, Hiệp định Quy chế quản lý Biên giới đấtliền Việt Nam - Trung Quốc ký ngày 18/11/2009…

- Điều ước quốc tế về lĩnh vực môi trường, có các điều ước như: Công ước Viên

về bảo vệ tầng ôzôn, năm 1985, Công ước về Đa dạng sinh học, năm 1992, Công ước

về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), năm 1973…

- Điều ước quốc tế về kinh tế, ví dụ như: Công ước của Liên hợp quốc về hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG 1980), Hiệp định chung về thuế quan vàthương mại ký ngày 30/10/1947, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ký ngày14/7/2000

- Điều ước quốc tế về lĩnh vực lao động và việc làm như: Công ước số 122 vềChính sách việc làm, 1964, Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức, 1957,Công ước số 111 về Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, 1958…

1.2.4.3 Căn cứ vào nơi ký kết điều ước quốc tế

Nơi ký kết điều ước quốc tế được hiểu là tên của một địa danh hay một khu vực

mà nơi đó diễn ra việc ký kết giữa các bên tham gia điều ước, nơi ký kết có thể là tênmột thủ đô hoặc tên một thành phố của một quốc gia diễn ra việc ký kết Khi căn cứvào nơi ký kết không bắt buộc quốc gia nơi mà diễn ra việc ký kết phải tham gia, nhưvậy quốc gia có nơi diễn ra ký kết sẽ có thể không tham gia điều ước mặc dù việc kýkết đó diễn ra trên lãnh thổ của mình Một số điều ước quốc tế điển hình như : Hiệpđịnh Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam ký kết ngày27/01/1973, Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương ký kết ngày20/7/1954, Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các quốc gia ký kết ngày26/12/1933…

1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

1.3.1 Mục đích của việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

Trang 21

Tham gia ký kết và gia nhập điều ước quốc tế là việc xuất phát từ mong muốncủa một quốc gia, trong bối cảnh thế giới hiện nay việc tham gia ký kết và gia nhập vàthực hiện điều ước quốc tế đều mang lại những thuận lợi nhất định trên các lĩnh vựckinh tế, chính trị, ngoại giao quân sự… Ở nước ta việc tham gia ký kết gia nhập điềuước quốc tế cũng diễn ra mạnh mẽ chỉ tính riêng từ năm 1998 đến tháng 4/2004 ViệtNam đã ký kết hoặc gia nhập khoảng 702 ĐƯQT song phương và đa phương. 14 Và đãtrở thành thành viên của Công ước viên 1969 về Luật điều ước quốc tế qua đó cho thấyviệc tham gia ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế là điều hết sức cần thiếtbởi lẽ khi tham gia ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của các quốc gia trong đó có ViệtNam điều xuất phát từ những mục đích:

Thứ nhất, nhằm duy trì hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế Trên thực tế việc

ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của nhiều quốc gia trong đó có ViệtNam nhằm mục đích hòa bình để giải quyết một số vấn đề liên quan đến chiến tranh,chống khủng bố Vào 21/01/2013 Hiệp ước ASEAN về chống khủng bố (ACCT) đãđược 10 thành viên ASEAN thông qua, qua đó cho thấy việc ký kết, gia nhập và thựchiện điều ước quốc tế để duy trình hòa bình, an ninh cũng được các quốc gia quan tâmđáng kể không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ở phạm vi quốc tế

Thứ hai, phù hợp với xu thế phát triển của luật quốc tế hiện đại, trải qua nhiều

giai đoạn khác nhau luật quốc tế đã có sự thay đổi mạnh mẽ và phù hợp với từng giaiđoạn nhất định Ngày nay toàn cầu hóa đã thúc đẩy các quốc gia không ngừng pháttriển và phụ thuộc lẫn nhau chính vì thế việc ký kết, gia nhập và thực hiện các điềuước quốc tế là điều cần thiết là công cụ hữu hiệu giúp các quốc gia thoát khỏi sự lạchậu trên các lĩnh vực và đó được xem là một xu thế phát triển mới hiện nay

Thứ ba, nhằm thiết lập mối quan hệ hợp tác ngoại giao quốc tế trên từng lĩnh

vực Với xu thế phát triển của luật quốc tế hiện đại việc mở rộng hợp tác của Việt Nam

là điều kiện để thúc đẩy quá trình phát triển mọi mặt của đất nước, điều này đượcchứng minh qua bởi một số công ước trong từng lĩnh vực mà Việt Nam đã tham gia,trên lĩnh môi trường Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước CITES 1973 Vềbuôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, ký ngày 20/01/1994,Công ước về đa dạng sinh học (CBD) 1992 ký ngày 16/11/1994 Trên lĩnh vực chínhtrị gồm một số điều ước như: Hiệp định phân vịnh Bắc bộ giữa Việt Nam và TrungQuốc ký ngày 25/12/2000, Hiệp định về Quy chế biên giới giữa nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia ký ngày 20/7/1983 Trên

14 Hoàng Ngọc Giao, Bàn về việc thực thi điều ước quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, 2005, tr 67-72,

tr 70

Trang 22

lĩnh vực ngoại giao có Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Pháp về vấn đề

dân sự năm 1999 ký ngày 24/02/1999, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa

Việt Nam và Australia ký ngày 02/7/2014 và một số điều ước quốc tế khác

Thứ tư, nhằm nội lực hóa các điều ước quốc tế đã ký kết, gia nhập và thực hiện

những điều ước quốc tế đó để tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật trong nước,

điều này thể hiện rõ, ngày 10/10/2001 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của

Công ước viên 1969 về luật điều ước quốc tế sau đó đã thành công trong việc nội lực

hóa công ước viên 1969, vào năm 2005 đã ban hành Luật ký kết, gia nhập và thực hiện

điều ước quốc tế qua đó chứng minh việc nội lực hóa các điều ước quốc tế khi ký kết

và gia nhập cũng hết sức cần thiết

Thứ năm, thúc đẩy phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập, đây là một yếu tố

không thể thiếu ở mỗi quốc gia, một ví dụ điển hình khi Việt Nam gia nhập WTO nền

kinh tế có sự thay đổi nhanh chóng Việc gia nhập WTO đã mở ra cơ hội lớn cho hàng

hóa và dịch vụ của Việt Nam với thị trường rộng lớn, gồm 155 nước thành viên, chiếm

97% GDP toàn cầu Sau 5 năm gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh

mẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ.15 Riêng đối với xuất

nhập khẩu hàng hóa 5 năm trước và sau khi gia nhập WTO cũng có bước phát triển

đáng kể

Biểu đồ: Thống kê xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 5 năm trước và

sau khi gia nhập WTO

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

1.3.2 Ý nghĩa của việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế không phải dễ dàng mà phải trải

qua nhiều giai đoạn khác nhau bên cạnh đó với bản chất là sự thỏa thuận ý chí của các

bên tham gia do đó một điều ước để được ký kết, gia nhập phải tốn rất nhiều thời gian,

việc tham gia một điều ước các bên tham gia phải có sự tính toán thật kỹ bởi khi tham

gia ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

thực thi Nếu một điều ước quốc tế khi tham gia được phân tích đánh giá chính xác khi

15 Thành Luân, Bộ ngoại giao Việt Nam, Kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO: Bộn bề thách thức, http://

www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns120222081429,[ngày truy cập 4-8-2014]

Trang 23

áp dụng vào trong quốc gia sẽ mang nhiều lợi ích thiết thực, nhưng ngược lại nếu mộtđiều ước không được xem xét phân tích, đánh giá ngay lúc ban đầu trước khi ký kết sẽảnh hưởng lớn đến quá trình việc thực thi sau này Từ những lý do trên công tác kýkết, gia nhập có một ý nghĩa to lớn.

Thứ nhất, ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được xem là công cụ

hiệu quả để duy trì các mối quan hệ quốc tế, qua đó thể hiện sự thiện chí giữa các quốcgia là thành viên cũng như các quốc gia có liên quan đến điều ước tạo điều kiện cácquốc gia càng gần nhau hơn và phụ thuộc với nhau trong quá trình phát triển

Thứ hai, là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các

chủ thể của luật quốc tế, bên cạnh đó việc ký kết, gia nhập còn làm phát sinh quyền vànghĩa vụ cho các bên tham gia từ đó làm cơ sở thúc đẩy cho quá trình thực hiện điềuước diễn ra nhanh chóng và hiệu quả

Thứ ba, khi các quốc gia ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế sẽ sẽ tạo

ra một môi trường ổn định trong một phạm vi khu vực hoặc thế giới Bởi lẽ khi cácquốc gia tham gia ký kết, gia nhập đồng nghĩa với việc chấp nhận sự ràng buộc vềquyền và nghĩa vụ của quốc gia mình vào điều ước quốc tế đó đồng thời sẽ thực hiệnđiều ước với mục đích cùng vì sự phát triển chung của các quốc gia

Thứ tư, việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế sẽ làm đa dạng hệ

thống pháp luật quốc gia, do có sự chuyển hóa điều ước quốc tế thành quy phạm phápluật trong nước và bắt buộc phải thực hiện những quy phạm pháp luật đó một cáchnghiêm chỉnh Để có sự chuyển hóa các điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luậttrong nước việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế sẽ giữ vai trò chủ đạo

1.4 Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tế

Ở Việt Nam vào ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ ChíMinh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từđây với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, bình đẳng với mọi quốc gia trênthế giới và cũng chính từ giai đoạn này đã đánh dấu sự hình thành và phát triển củapháp luật Việt Nam về ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế Trải qua các giaiđoạn khác nhau pháp luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ từ đó đã đóng vai trò quan trọng vào việc xây dựngmối quan hệ hữu nghị hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực ngoại giao,đồng thời còn góp phần xây dựng và thúc đẩy phát triển đất nước về mọi mặt trong đờisống xã hội

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1998

Trang 24

Đây được xem là giai đoạn đầu tiên hình thành pháp luật về ký kết, gia nhập vàthực hiện điều ước quốc tế, được ghi nhận chủ yếu trong các bản Hiến pháp Sau khigiành được chính quyền, điều cấp bách đặt ra chính là phải có một bản Hiến pháp chonhà nước Việt Nam Ngày 06/01/1946, bắt đầu cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trên

cả nước, mười tháng sau ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên, ngày 09/11/1946Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội chính thức thông qua tại kỳ họp thứ hai Từ đây sự

ra đời của bản Hiến pháp năm 1946 đã tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ đối ngoại củaViệt Nam với các quốc gia trên thế giới đồng thời tạo ra bước ngoặc phát triển đầu tiêncủa những quy định về điều ước quốc tế, điều này được chứng minh rõ tại các quy

định của hiến pháp cụ thể điều 23 Hiến pháp 1946 quy định “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài”, và cũng tại điều 49 quy định

“Chủ tịch nước có quyền ký hiệp ước với các nước”, như vậy với những quy định trên

thể hiện rõ sự quan tâm của nhà nước Việt Nam về các vấn đề ngoại giao điều này lànền tảng quan trọng cho những bước phát triển tiếp theo về những quy định của việc

ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

Năm 1954 sau khi ký hiệp định Giơ-ne-vơ đất nước tạm chia cắt làm hai miềnNam - Bắc Ở mỗi miền có những nhiệm vụ khác nhau từ đó bối cảnh trong nước đãthay đổi, Hiến pháp năm 1946 đã không còn phù hợp với tình hình thực tế Năm 1959bản Hiến pháp mới ra đời với những quy định mới liên quan đến chính sách đối ngoại,

cụ thể tại điều 53 khoản 12 Hiến pháp 1959 quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội có

quyền “Quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài, trừ trường hợp mà Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét cần phải trình Quốc hội quyết định”, hay tại điều 64 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến; căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước

ký với nước ngoài ” Qua những quy định trên nhìn chung Hiến pháp năm 1959 quy

định về những vấn đề đối ngoại nói chung và các vấn đề liên quan đến ký kết các điềuước quốc tế nói riêng đã có những tiến bộ và phát triển hơn hẳn so với Hiến pháp năm1946

Năm 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân đại thắng đã mở ra một giai đoạnmới miền nam được hoàn toàn giải phóng Tại Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 7 ngày18/12/1980, đã nhất trí thông qua Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1980 Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 tiếptục quy định những vấn đề liên quan đến đối ngoại, đó là những quy định trực tiếp về

Trang 25

việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế cụ thể tại điều 15 khoản 83 quy định Quốc

hội có nhiệm vụ quyền hạn “Phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước quốc tế theo đề nghị của Hội đồng Nhà nước”, hoặc tại điều 100 khoản 16 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Nhà nước “Phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước quốc tế, trừ trường hợp xét thấy cần trình Quốc hội quyết định” Hiến pháp 1980 này cũng cho

thấy việc đối ngoại được Nhà nước quan tâm đáng kể bằng việc thể hiện qua nhữngquy định trực tiếp trong cả Hiến pháp

Một điều có thể thấy rõ các quy định liên quan đến điều ước quốc tế chỉ được ghinhận trong các bản Hiến pháp mà chưa có quy định trên các văn bản riêng biệt Vì vậykhông cụ thể hóa được các bước của quá trình ký kết, thực hiện ĐƯQT như: Đề xuấtđàm phán; vấn đề bảo lưu, lưu chiểu, đình chỉ hay bãi bỏ các ĐƯQT 16

Ngày 15/12/1986 Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra, đây được xem là đạihội có ý nghĩa hết sức to lớn, với mục tiêu là đổi mới nền kinh tế từ tập trung quan liêubao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới trên một

số lĩnh vực khác Với bối cảnh các quốc gia trên thế giới ngày càng mở rộng và hợptác trên tất cả các lĩnh vực, do đó đòi hỏi đảng và nhà nước ta phải có chính sách đốingoại phải phù hợp với tình hình thực tiễn Để đáp ứng tình hình thực tiễn đó ngày17/10/1989 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Về ký kết và thực hiện điềuước quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa tạiNghị định 182-HĐBT ngày 25/5/1992 Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Về ký kết

và thực hiện điều ước quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đâyđược xem là hai văn bản đầu tiên quy định cụ thể về việc ký kết và thực hiện điều ướcquốc tế điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ ngoại giao nói chung

và trong quá trình ký kết nói riêng

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2005

Ngày 15/4/1992, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 được ban hành Tại đây các quy định về ký kết gia nhập và thực hiện điều ướcquốc tế vẫn được quy định và có sự tiến bộ vượt bậc, dựa trên việc thực hiện Hiếnpháp năm 1992, ngày 20/08/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh kýkết và thực hiện điều ước quốc tế và nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh năm 1998 về ký kết vàthực hiện điều ước quốc tế, tháng 10/1999 Chính phủ ban hành Nghị định 161/NĐCPquy định chi tiết một số điều của pháp lệnh năm 1998 Sau khi ra đời Pháp lệnh năm

16 Chu Mạnh Hùng, Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, Tạp chí Luật

học, số 2, 2006, tr.25-30, tr 26

Trang 26

1998 đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc ký kết thực hiện điều ước quốc tế.Ngày 25/12/2001, Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10của Quốc hội đã làm thay đổi thẩm quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của Quốchội, Chủ tịch nước và Chính phủ được quy định trong Pháp lệnh năm 1998 Một sốquy định trong Hiến pháp đã được áp dụng thay cho Pháp lệnh 1998 do đó pháp lệnhnày không còn phù hợp Vào thời điểm năm 2001 một sự kiện có tính chất quan trọng

và một lần nữa đã đánh dấu bước phát triển cho việc ký kết và thực hiện điều ước quốc

tế là Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước viên 1969 về luật điều ước quốc

tế Để phù hợp với Công ước viên 1969 về các quy định liên quan đến việc ký kết vàthực hiện điều ước quốc tế, ngày 14/6/2005 Quốc hội đã ban hành Luật ký kết, gianhập và thực hiện điều ước quốc tế từ đây cho thấy rõ sự hoàn thiện về mặt pháp lýcũng như sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với Công ước viên 1969 về luật kýkết điều ước quốc tế

1.4.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Sau khi Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 ra đời và

có hiệu lực vào ngày 01/01/2006 đã dần đi vào cuộc sống và mang lại nhiều hiệu quảthiết thực trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế Năm 2007 Pháplệnh số 33/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ký kết và thựchiện thỏa thuận quốc tế ra đời và có hiệu lực ngày 06/4/2007 đã quy định về nhữngvấn đề ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế như: Thẩm quyền ký kết và thực hiệnthỏa thuận quốc tế, quản lý nhà nước về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế…Mặc

dù những thỏa thuận quốc tế không phải là điều ước quốc tế mà chỉ là nhưng cam kếtbằng văn bản về hợp tác quốc tế được ký kết nhân danh cơ quan nhà nước ở trungương, cơ quan cấp tỉnh, cơ quan trung ương của tổ chức…,17 nhưng những định trên là

cơ sở pháp lý quan trọng để trở thành một điều ước quốc tế đồng thời những thỏathuận quốc tế còn được xem là những cam kết về hợp tác ban đầu để đi đến việc ký kếtmột điều ước quốc tế Như vậy pháp luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ướcquốc tế đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm một cách đáng kể ngay từ giai đoạn làmột thỏa thuận quốc tế, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan Nhà nước ở Trungương, các cơ quan cấp tỉnh, cơ quan Trung ương của tổ chức có điều kiện ký kết vàthực hiện những thỏa thuận quốc tế qua đó tạo điều kiện dễ dàng trong việc hợp tácquốc tế và có những hướng khắc phục những hạn chế thúc đẩy sự phát triển của Phápluật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế trong thời gian tới

17 Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế, 2007, Khoản 1, Điều 2

Trang 27

Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc

tế gắn liền với các quá trình phát triển của đất nước, từ một số quy định trong các bảnHiến pháp trở thành những quy định trong các văn bản riêng biệt Đảng và nhà nước ta

đã có sự quan tâm có hiệu quả đến việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế,điều đó sẽ tạo bước tiến quan trọng trong việc giao lưu, hội nhập quốc tế trong thời kỳhiện đại Tuy nhiên quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiệnđiều ước quốc tế luôn gặp nhiều khó khăn và thách thức bởi lẽ trong thời kỳ hiện đạipháp luật quốc tế luôn phát triển và có sự thay đổi mạnh mẽ, phụ thuộc vào nhận thứccủa các chủ thể Luật quốc tế, điều đó đòi hỏi pháp luật trong nước về ký kết, gia nhập

và thực hiện điều ước quốc tế của các quốc gia trong đó có Việt Nam phải phù hợp với

xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới

1.5 Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

Trong quan hệ ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế các nguyên tắc điềuchỉnh quan hệ ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế giữ vai trò quan trọng,được pháp luật quốc tế thừa nhận và có những nguyên tắc có giá trị bắt buộc chung đốivới mọi chủ thể tham gia vào điều ước quốc tế Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việccác quốc gia tôn trọng nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kýkết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế là cơ sở quan trọng để thúc đẩy quá trìnhhợp tác diễn ra thuận lợi và mạnh mẽ hơn Những nguyên tắc về quan hệ ký kết gianhập và thực hiện điều ước quốc tế là những nguyên tắc cơ bản thể hiện được đặctrưng mang tính chỉ đạo, bắt buộc và phổ biến trong Luật điều ước quốc tế, dưới đây lànhững nguyên tắc thể hiện được những đặc trưng đó

1.5.1 Nguyên tắc tự nguyện bình đẳng trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

Nguyên tắc tự nguyện bình đẳng trong quá trình ký kết, gia nhập điều ước quốc

tế được ghi nhận trong Công ước Viên 1969 Nhằm đảm bảo việc thực thi tận tâm điềuước quốc tế mà các bên tham gia ký kết đòi hỏi sự thỏa thuận ý chí giữa các bên phải

có sự thống nhất Trên cơ sở đó nguyên tắc tự nguyện bình đẳng trong quá trình kýkết, gia nhập và cả thực hiện điều ước quốc tế thể hiện được đặc điểm của quan hệpháp luật quốc tế là không có một cơ quan lập pháp, việc xây dựng luật quốc tế chỉđược thực hiện bởi các chủ thể của luật quốc tế thông qua quá trình ký kết, gia nhập và

Trang 28

thực hiện điều ước quốc tế Chính từ những đặc điểm này khi ký kết, gia nhập và thựchiện điều ước quốc tế các bên phải hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện và bình đẳng, mọiđiều ước mà việc ký kết đạt được bằng sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trái với nhữngnguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốcđiều không có giá trị.18 Như vậy từ quy định trên vậy việc đe dọa, ép buộc, dùng vũ lựchay các biện pháp làm ảnh hưởng đến việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế nhằm đạtđạt được kết quả ký kết sẽ vi phạm luật quốc tế và sẽ không có hiệu lực Hay tại điều

49, Công ước Viên 1969 ghi nhận "Nếu một quốc gia đi đến quyết định ký kết một điều ước do việc xử sự dối trá của một quốc gia tham gia đàm phán khác, thì quốc gia đó

có thể nêu lên sự man trá này như là khiếm khuyết của sự đồng ý của mình chịu sự ràng buộc của điều ước", qua đó từ quy định trên đã thể hiện sự bình đẳng trong quá

trình ký kết, không để cho bất cứ quốc gia nào chiệu “thiệt thòi” về quyền cũng nhưnghĩa vụ mà quốc gia tham gia ký kết phải thực hiện Đối với vấn đề thực hiện điềuước quốc tế cũng vậy, trong quá trình thực hiện điều ước quốc tế cũng phải tự nguyệnbình đẳng, tức mọi quốc gia khi thực thi điều ước quốc tế đã được ký kết hoặc gianhập điều phải thực hiện như nhau về quyền và nghĩa vụ, không thực hiện do sự đedọa hay bắt buộc của quốc gia khác dẫn đến quá trình thực hiện điều ước không đúngvới nội dung cam kết

Pháp luật Việt Nam về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2007

đã ghi nhận tại điều 3, khoản 1, theo đó quy định việc ký kết, gia nhập và thực hiện

điều ước quốc tế phải “Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cấm

sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và những nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế” Như

vậy nguyên tắc tự nguyện bình đẳng đã được thừa nhận không chỉ trong quá trình kýkết mà bao gồm cả gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, cho thấy đây là trongnhững nguyên tắc giữ vai trò chủ đạo và được tất cả các quốc gia thừa nhận trong việc

ký kết điều ước quốc tế

Nguyên tắc tự nguyện bình đẳng trong quá trình ký kết gia nhập và thực hiệnđiều ước quốc tế góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể của Luật quốc tế,việc thực hiện tốt nguyên tắc này trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện điềuước quốc tế sẽ tránh được sự lệ thuộc hay sức ép của các chủ thể khác có tiềm lực vềkinh tế hay quân sự can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia tham gia ký kết

1.5.2 Nguyên tắc thực hiện các điều ước quốc tế đã được ký kết, gia nhập một cách có thiện chí

18 Điều 52, Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế

Trang 29

Nguyên tắc thực hiện các điều ước quốc tế một cách có thiện chí hay còn đượcgọi là nguyên tắc Pacta sunt servanda Trong pháp luật quốc tế nguyên tắc này đượcghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế như: Công ước viên 1969 về Luật điều

ước quốc tế cụ thể tại Điều 26 quy định “Mọi điều ước đã có hiệu lực ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành với thiện ý” hay tại khoản 2, điều

2, Hiến chương Liên hợp quốc 1945 quy định “Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đều phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo Hiến chương này để được đảm bảo hưởng toàn bộ các quyền và ưu đãi do tư cách thành viên mà có” Nguyên tắc thực hiện các điều ước quốc tế đã được ký kết, gia nhập một cách có

thiện chí được hiểu là một điều ước quốc tế được ký kết, gia nhập đã có hiệu lực ràngbuộc các bên thì các quốc gia phải thực hiện điều ước đó một cách tận tâm nhất đồngthời các bên tham gia điều ước không được diện dẫn những quy định trong nước đểlàm lý do không thực hiện điều ước đã ký kết hoặc gia nhập, chính vì vậy nguyên tắcnày đã trở thành nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế nói chung và Luật điều ướcquốc tế nói riêng Nguyên tắc này đảm bảo cho các chủ thể của luật quốc tế khi thamgia ký kết, gia nhập điều ước quốc tế không được diện dẫn bất cứ lý do nào để trốntránh trách nhiệm về nghĩa vụ mà mình đã cam kết trong điều ước đã được ký kết đồngthời đảm bảo việc thực thi điều ước có hiệu quả bằng chính sự tận tâm khi đã tham gia

ký kết Pháp luật Việt Nam về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế quy địnhNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời có quyền đòi hỏi thành viênkhác cũng phải tuân thủ điều ước quốc tế đó.19 Như vậy theo quy định trên pháp luậtViệt Nam đã thừa nhận nguyên tắc thực hiện các điều ước quốc tế một cách có thiệnchí bằng việc tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết trong đó có việc thựchiện điều ước quốc tế một cách tận tâm nhất theo đúng những gì mà pháp luật quốc tếquy định và nguyên tắc này đã trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng củacủa pháp luật Việt Nam về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

1.5.3 Nguyên tắc điều ước quốc tế phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc

cơ bản của luật quốc tế

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được thừa nhận là những “thước đo” giá

trị hợp pháp của các quy phạm của luật quốc tế khác.20 Các nguyên tắc của Luật quốc

tế được ghi nhận chủ yếu trong Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợpquốc ngày 24/10/1970 Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan

19 Khoản 5, Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

20 Lê Mai Anh, Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tr 84

Trang 30

hệ hữu nghị và hợp tác giữ các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.Theo Nghị quyết 2625 các nguyên tắc của Luật quốc tế gồm: Nguyên tắc bình đẳngchủ quyền giữ các quốc gia, Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lựctrong quan hệ quốc tế, Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, Nguyên tắckhông can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, Nguyên tắc dân tộc tự quyết,Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác, Nguyên tắc tận tâm thực hiện các camkết quốc tế Như vậy việc các quốc gia ký kết điều ước quốc tế mà các điều ước quốc

tế đó có nội dung không phù hợp một trong những nguyên tắc trên của Luật quốc tế thìđiều ước quốc tế đó sẽ được xem là vi phạm pháp luật quốc tế và đương nhiên sẽkhông được pháp luật quốc tế thừa nhận

Đối với nguyên tắc điều ước quốc tế phải có nội dung phù hợp với các nguyêntắc cơ bản của luật quốc tế vẫn được pháp luật Việt Nam thừa nhận như những nguyêntắc trước đó vừa nêu Những điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập và thựchiện điều ước quốc tế phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia,cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, bình đẳng, cùng có lợi và những nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế.21

Như vậy với nguyên tắc này pháp luật Việt Nam đã thừa nhận một cách rộng rãi, làmột quốc gia yêu chuộng hòa bình Việt Nam sẵn sàng chấp nhận những nguyên tắc cơbản của pháp luật quốc tế để trở thành những nguyên tắc cho pháp luật ký kết, gianhập và thực hiện điều ước quốc tế, điều đó góp phần bảo vệ hòa bình an ninh khu vực

và quốc tế, bên cạnh đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế dễ dàng vàthuận lợi hơn

21 Khoản 1, Điều 3 , Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ



2.1 Đề xuất gia nhập điều ước quốc tế

2.1.1 Quy định về trách nhiệm đề xuất gia nhập điều ước quốc tế

Tại điều 15 Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế quy định một quốc gia

có thể chấp nhận sự ràng buộc của một điều ước quốc tế bằng cách gia nhập điều ướcquốc tế

“a) Khi điều ước quy định rằng quốc gia này có thể biểu thị sự đồng ý của mình bằng việc gia nhập;

b) Khi có sự thể hiện bằng hình thức khác rõ ràng rằng những quốc gia tham gia đàm phán đã thỏa thuận là sự đồng ý có thể được biểu thị bằng việc gia nhập; hoặc c) Khi sau này tất cả các bên thỏa thuận là sự đồng ý của quốc gia có thể được biểu thị bằng việc gia nhập”

Với quy định trên thì Công ước Viên 1969 đã cho phép các quốc gia tham giađiều ước quốc tế bằng việc gia nhập trong các trường hợp khác nhau, tuy nhiên việcgia nhập điều ước quốc tế như thế nào sẽ tùy thuộc vào pháp luật của các quốc gia quyđịnh, qua đó theo pháp luật Việt Nam một điều ước quốc tế trước khi được gia nhậpthì bắt buộc phải có một cơ quan có trách nhiệm đề xuất, và việc đề xuất gia nhập điềuước quốc tế được xem là giai đoạn đầu tiên của quá trình gia nhập điều ước quốc tế.Tại khoản 1, điều 49, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

quy định: “Cơ quan đề xuất căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, yêu cầu hợp tác quốc tế chủ động đề xuất với Chính phủ về việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên” Từ quy định trên cho thấy trước khi gia nhập điều ước quốc tế

thì phải có cơ quan đề xuất, việc đề xuất gia nhập điều ước quốc tế phải chủ động theoyêu cầu hợp tác quốc tế và cơ quan đề xuất chỉ được đề xuất với một cơ quan duy nhất

đó là Chính phủ Tuy nhiên với quy định trên chỉ quy định chung về cơ quan đề xuấtgia nhập điều ước quốc tế chưa quy định cụ thể cơ quan nào có trách nhiệm đề xuất.Nhưng tại khoản 1, điều 9, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm

2005 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi là cơ quan đề xuất) căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật…” Qua quy định trên có

thể thấy rõ những cơ quan có trách nhiệm đề xuất gia nhập điều ước quốc tế phải là

Trang 32

những cơ quan mang tính quyền lực nhà nước, mang tính độc lập có chức năng nhiệm

vụ, thẩm quyền riêng biệt và chỉ thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo những gì màpháp luật quy định

Trên thực tế cơ quan đề xuất gia nhập điều ước quốc tế sẽ căn cứ vào nhiệm vụ

và quyền hạn sẽ đề xuất gia nhập một điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực mà cơ quanmình quản lý nếu xét thấy việc gia nhập điều ước quốc tế đó cần thiết, phù hợp vớitình hình thực tiễn của đất nước và có lợi cho lĩnh vực mà mình quản lý, tuy nhiênnhững cơ quan đề xuất gia nhập điều ước quốc tế sẽ không có quyền ký điều ước quốc

tế mà chỉ được ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế theo quy định tại Pháp lệnh Kýkết, thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội số33/2007/PL-UBTVQH trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình.Riêng đối với các điều ước quốc tế về hòa bình, an ninh biên giới, lãnh thổ, chủ quyềnquốc gia thì Bộ ngoại giao sẽ có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các cơ quan tổ chức

có liên quan sẽ đề xuất với Chính phủ về việc gia nhập điều ước quốc tế

2.1.2 Quy định về trách nhiệm kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế

Kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế là việc xem xét, đánh giá và kết luận

về tính hợp pháp của việc đề xuất gia nhập điều ước quốc tế, nhằm kịp thời phát hiệnnhững nội dung trái pháp luật, sau đó sẽ đánh giá, nhận xét đối với điều ước quốc tế vềmột số vấn đề như: Khả năng áp dụng vào trong nước, mức độ tương thích giữa phápluật quốc gia với điều ước quốc tế, sự cần thiết của điều ước quốc tế đó khi gia nhập…Quá trình kiểm tra điều ước quốc tế diễn ra trước khi đề xuất với Chính phủ về việcgia nhập điều ước quốc tế , 22 trước khi đề xuất gia nhập điều ước quốc tế cơ quan đềxuất phải lấy ý kiến kiểm tra bằng văn bản của Bộ Ngoại giao Như vậy qua quy địnhtrên chứng tỏ Bộ Ngoại giao sẽ là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra đề xuất gia nhậpđiều ước quốc tế Việc Bộ Ngoại giao kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế sẽđược áp dụng cho tất cả cho các cơ quan đề xuất gia nhập điều ước quốc tế tức mọi cơquan có trách nhiệm đề xuất gia nhập điều ước quốc tế khi đề xuất gia nhập điều ướcquốc tế với Chính phủ thì phải lấy ý kiến kiểm tra của Bộ Ngoại giao Trong trườnghợp nếu như Bộ Ngoại giao là cơ quan đề xuất gia nhập điều ước quốc tế thì trước khitrình Chính phủ chỉ cần lấy ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan và ýkiến thẩm định của Bộ Tư Pháp

Đối với nội dung kiểm tra về việc gia nhập điều ước quốc tế của Bộ Ngoại giao

sẽ bao gồm những nội dung kiểm tra đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế được ấn

22 Khoản 2, Điều 49, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 33

định tại khoản 2, điều 10, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm

2005 qua đó quy định những nội dung kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế gồm:

“a) Sự cần thiết, mục đích đàm phán, ký điều ước quốc tế trên cơ sở đánh giá quan hệ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bên ký kết nước ngoài; b) Đánh giá sự phù hợp của điều ước quốc tế với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế;

c) Đánh giá sự phù hợp của điều ước quốc tế với lợi ích quốc gia, đường lối đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

d) Đánh giá sự phù hợp của điều ước quốc tế đó với điều ước quốc tế về cùng một lĩnh vực mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

đ) Cấp ký, danh nghĩa ký, tên gọi, hình thức, ngôn ngữ, hiệu lực, kỹ thuật văn bản điều ước quốc tế;

e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế;

g) Rà soát, đối chiếu văn bản điều ước quốc tế bằng tiếng Việt với văn bản điều ước quốc tế bằng tiếng nước ngoài.”

Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm tra các đề xuất đàm phán, ký, gianhập điều ước quốc tế của các Bộ, ngành, cơ quan trước khi trình Chính phủ.23 Trướcnhững vấn đề trên có thể khẳng định Bộ Ngoại giao là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra

đề xuất gia nhập điều ước quốc tế Tuy nhiên Bộ Ngoại giao không chỉ là cơ quan cótrách nhiệm kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế mà còn là cơ quan kiểm tra các

đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế, từ đó cho thấy thẩm quyền kiểm tra đề xuấtcủa Bộ Ngoại giao tương đối rộng bao gồm: Kiểm tra đề xuất đàm phán, ký và gianhập điều ước quốc tế

2.1.3 Quy định về trách nhiệm thẩm định điều ước quốc tế

Thẩm định điều ước quốc tế là việc cơ quan có trách nhiệm thẩm định thực hiệncông tác rà soát về thủ tục pháp lý, xác định và đưa ra quyết định liên quan đến các nộidung được quy định tại điều 18, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tếnăm 2005:

“1 Tính hợp hiến;

2 Mức độ tương thích với các quy định của pháp luật Việt Nam;

3 Khả năng áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế;

23 Nghị định số 58/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/6/2013 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao, điểm b, khoản 2, điều 2

Trang 34

4 Yêu cầu sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

để thực hiện điều ước quốc tế”.

Việc quy định về cơ quan có trách nhiệm thẩm định điều ước quốc tế được thựchiện tại khoản 2, điều 49, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm

2005 như sau: “Trước khi đề xuất với Chính phủ về việc gia nhập điều ước quốc tế, cơ quan đề xuất phải lấy ý kiến kiểm tra bằng văn bản của Bộ Ngoại giao theo quy định tại Điều 10 của Luật này, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp theo quy định tại các điều

từ Điều 17 đến Điều 21 của Luật này và ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan”.

Với quy định trên có thể thấy Cơ quan đề xuất phải lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tưpháp trước khi đề xuất với Chính Phủ về việc gia nhập điều ước quốc tế Như vậy việc

cơ quan đề xuất gia nhập điều ước quốc tế lấy ý kiến kiểm tra của Bộ Ngoại giao và ýkiến thẩm định của Bộ Tư pháp trước khi trình Chính phủ sẽ diễn ra song song Nếunhư cơ quan có trách nhiệm kiểm tra đề xuất gia nhập điều ước quốc tế là Bộ Ngoạigiao thì Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định điều ước quốc tế.24 Như vậy tráchnhiệm thẩm định điều ước quốc tế sẽ thuộc về Bộ Tư Pháp

Tuy nhiên một điều đặt ra nếu như Bộ Tư pháp là cơ quan đề xuất gia nhập điềuước quốc tế thì việc thẩm định sẽ thuộc về ai?, theo khoản 2, điều 19, Luật ký kết, gia

nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định “Trong trường hợp Bộ Tư pháp đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế hoặc cơ quan khác đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế nhưng còn nhiều ý kiến khác nhau thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định điều ước quốc tế.” Như vậy với quy định trên

cho thấy nếu như Bộ Tư pháp là cơ quan đề xuất gia nhập điều ước quốc tế thì việcthẩm định sẽ thuộc về Hội đồng thẩm định và việc thành lập Hội đồng thẩm định nàycòn giải quyết được một vấn đề trong trường hợp khi các cơ quan đề xuất có các ý kiếnkhác nhau (có thể giữa hai hoặc nhiều cơ quan đề xuất) Hội đồng thẩm định sẽ có trách

nhiệm thẩm định điều ước quốc tế Về thành phần của Hội đồng thẩm định phải có sự

tham gia của đại diện Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan tổ chứckhác có liên quan

2.1.4 Quy định về trách nhiệm thẩm tra điều ước quốc tế

Việc thẩm tra điều ước quốc tế chỉ thực hiện trong trường hợp là điều ước quốc

tế trình Quốc hội để phê chuẩn, qua đó Chủ tịch nước sẽ trình Quốc hội phê chuẩn đốivới việc gia nhập điều ước quốc tế, văn phòng Chủ tịch nước phối hợp với cơ quan đề

24 Khoản 1, Điều 19, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Trang 35

xuất gửi hồ sơ đề nghị thẩm tra điều ước quốc tế đến cơ quan chủ trì thẩm tra và các cơquan tham gia thẩm tra…25

Cơ quan có trách nhiệm thẩm tra điều ước quốc tế được quy định tại điều 35,

Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 như sau “Uỷ ban đối ngoại của Quốc hội là cơ quan chủ trì thẩm tra điều ước quốc tế Hội đồng dân tộc,

Uỷ ban khác của Quốc hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực Hội đồng, Uỷ ban phụ trách hoặc theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.” Qua quy định trên có thể thấy cơ quan có trách nhiệm thẩm tra điều ước

quốc tế là Hội đồng dân tộc và các Ủy ban khác của quốc hội bên cạnh đó cơ quan chủtrì thẩm tra điều ước quốc tế là Ủy ban đối ngoại Khi tham gia thẩm tra có thể mộthoặc nhiều các Ủy ban của Quốc hội tham gia tùy theo mức độ liên quan của điều ướcquốc tế đến lĩnh vực mà các Ủy ban của Quốc hội quản lý sau đó sẽ quyết định sốlượng Ủy ban tham gia thẩm tra Hiện nay các Ủy ban của Quốc hội hiện nay gồm: Ủyban Pháp luật, Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách, Ủy banQuốc phòng và An ninh, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhiđồng, Ủy ban về các vấn đề xã hội, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Ủyban đối ngoại, Mục đích của việc thẩm tra nhằm xem xét một cách khách quan toàndiện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình gia nhập điều ước quốc tếnhư: Xác định tính hợp hiến và mức độ tương thích các văn bản quy phạm pháp luậtcủa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội,26 đánh giá khả năng áp dụng điều ước quốc

tế khi gia nhập và sự cần thiết của việc phê chuẩn đối với điều ước quốc tế…

2.2 Thẩm quyền quyết định gia nhập điều ước quốc tế

2.2.1 Thẩm quyền của Quốc hội

Trước đây Pháp lệnh số 07/1998/PL-UBTVQH10 Về ký kết và thực hiện điều

ước quốc tế tại khoản 2, điều 12 chỉ quy định “Chủ tịch nước quyết định việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên với danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế nhiều bên có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội hay Uỷ ban thường vụ Quốc hội và những điều ước quốc tế nhiều bên có quy định phê chuẩn, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định Chính phủ quyết định việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên khác” Qua quy định trên chỉ quy định

thẩm quyền của Chủ tịch nước và Chỉnh phủ mà không quy định rõ thẩm quyền củaQuốc hội trong việc gia nhập điều ước quốc tế, và không quy định những điều ướcquốc tế nào cần trình Quốc hội quyết định

25 Khoản 1, Điều 36, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

26 Khoản 3, Điều 34, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Ngày đăng: 18/03/2017, 05:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Mai Anh, Giáo trình luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật quốc tế
Tác giả: Lê Mai Anh
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2006
2. Đỗ Hòa Bình, Thuật ngữ pháp luật quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ pháp luật quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. Hoàng Ngọc Giao, Bàn về việc thực thi điều ước quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về việc thực thi điều ước quốc tế
Tác giả: Hoàng Ngọc Giao
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2005
4. Chu Mạnh Hùng, Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, Tạp chí Luật học, số 2, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
Tác giả: Chu Mạnh Hùng
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2006
5. Kim Oanh Na, Giáo trình Luật Quốc tế, Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Quốc tế
Tác giả: Kim Oanh Na
Nhà XB: Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2012
1. Đặng Hoàng Oanh, Bộ Tư pháp, Thực trạng và nhu cầu ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp của Việt Nam,http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2787, [ngày truy cập 3-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và nhu cầu ký kết, gia nhập các điềuước quốc tế về tương trợ tư pháp của Việt Nam
2. Hồng Nguyên, Việt Nam tham gia hầu hết các Công ước về quyền con người, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013,http://baodientu.chinhphu.vn/The-gioi-va-Viet-Nam/Viet-Nam-tham-gia-hau-het-cac-Cong-uoc-ve-quyen-con-nguoi/184765.vgp, [ngày truy cập 24-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tham gia hầu hết các Công ước về quyền con người
Tác giả: Hồng Nguyên
Nhà XB: Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
3. Phạm Khôi Nguyên, Biên phòng Việt Nam, Mấy vấn đề về tài nguyên và môi trường trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,http://www.bienphongvietnam.vn/cong-tac-bien-phong/54-tai-nguyen-moi-trng-/905- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về tài nguyên và môi trường trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Phạm Khôi Nguyên
4. Thành Luân, Bộ ngoại giao Việt Nam, Kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO: Bộn bề thách thức,http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns120222081429,[ngày truy cập 4-8-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO: Bộn bề thách thức
5. Tổng cục môi trường, Công ước quốc tế là gì? Việt Nam đã tham gia những công ước nào về bảo vệ môi trường?, http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/C%C3%B4ng%C6%B0%E1%BB%9Bcqu%E1%BB%91ct%.aspx, [ngày truy cập 19-9- 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế là gì? Việt Nam đã tham gia những côngước nào về bảo vệ môi trường
6. Trần Thị Minh Tuyết, Tạp chí Cộng Sản, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương: Những bài học kinh nghiệm, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2014/28210/Hiep-dinh-Gionevo-ve-Dong-Duong-Nhung-bai-hoc-kinh-nghiem.aspx, [ngày truy cập 30-9-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương: "Những bài học kinh nghiệm
7. Thái Linh, Thi hành 5 công ước cơ bản của ILO: Còn nhiều bất cập, Báo Lao Động, 2014, http://laodong.com.vn/vieclam-theo-dong-thoi-su/thi-hanh-5-cong-uoc-co-ban-cua-ilo-con-nhieu-bat-cap-222761.bld, [ngày truy cập 22-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành 5 công ước cơ bản của ILO: Còn nhiều bất cập
Tác giả: Thái Linh
Nhà XB: Báo Lao Động
Năm: 2014
4. Pháp lệnh số 33/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/ 04/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế Khác
5. Nghị định số 58/2013/NĐ-CP ngày 11/6/2013 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao. Danh mục sách, báo, tạp chí Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w