Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Triệu Đức Hạnh
THÁI NGUYÊN, NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình./
Thái Nguyên, tháng11 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lương Thế Đồng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh
doanh, Phòng Đào tạo đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học
tập tại đây
Tôi xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện Định Hóa, Đảng
ủy, Phòng Tài chính-KH huyện Định Hóa là nơi tôi công tác trong thời gian
qua, đã giành cho tôi những điều kiện tốt nhất để tôi có thể học tập và hoàn
thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Tiến sĩ Triệu Đức Hạnh, người
thầy hướng dẫn đã giúp tôi có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, nhìn nhận
vấn về một cách khoa học, logic qua đó giúp cho đề tài của tôi có ý nghĩa
thực tiễn và khả thi
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người đã luôn ở bên
tôi động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng11năm 2016
Tác giả
Lương Thế Đồng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài 4
5 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 6
1.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới 6
1.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 6
1.1.2 Sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới 9
1.1.3 Nội dung đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới 24
1.2.1.Kinh nghiệm của huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang 24
1.2.2 Kinh nghiệm của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên 26
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 27 Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 30
Trang 52.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 31
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 34
Chương 3: THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN 40
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40
3.1.1 Vị trí địa lý 40
3.1.2 Đặc điểm địa hình 40
3.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết, thuỷ văn 41
3.1.4 Đặc điểm và tình hình sử dụng tài nguyên đất đai 42
3.1.5 Dân số và lao động 45
3.1.6 Tình hình phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2013-2015 46
3.2 Tình hình hoạt động của các HTX tại huyện Định Hóa 48
3.2.1 Số lượng 48
3.2.2 Lĩnh vực hoạt động 49
3.2.3 Quy mô hoạt động 53
3.3 Thực trạng sự tham gia của các HTX trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 54
3.3.1 Sự tham gia trực tiếp của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu 54
3.3.2 Đánh giá một số tác động đa chiều của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới vùng nghiên cứu 65
3.4 Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa 67
3.4.1 Đánh giá của người lao động tại các hợp tác xã 67
Trang 63.4.2 Đánh giá của cán bộ quản lý các hợp tác xã và cán bộ quản lý địa phương 69 3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của các HTX trong xây dựng
nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 72 3.5.1 Yếu tố chủ quan 72 3.5.2 Yếu tố khách quan 79 3.6 Thành tựu và hạn chế về sự tham gia của các HTX trong xây dựng
nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 83 3.6.1 Thành tựu 83 3.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 84
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN 92 4.1 Định hướng và mục tiêu tăng cường sự tham gia của các HTX trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 92 4.1.1 Định hướng tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây
dựng nông thôn mới của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 92 4.1.2 Mục tiêu tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 92 4.2 Giải pháp tăng cường sự tham gia của các HTX trong xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 94 4.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, mở rộng sự tham gia của các bên
liên quan 95 4.2.2 Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chỉ đạo của các
cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội đối với khu vực kinh
tế tập thể 96
Trang 74.2.3 Hoàn thiện cơ chế chính sách, giám sát thực hiện, khuyến khích xây
dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới và nhân rộng các điển hình tiên
tiến 98
4.2.4 Mở rộng liên doanh liên kết đối với hợp tác xã, ứng dụng khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh liên kết tiêu thụ sản phẩm 99
4.2.5 Đào tạo kinh nghiệm quản lý, kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ quản lý hợp tác xã và người lao động 99
4.2.6 Mở rộng sự tham gia đối với các hình thức BHXH, BHYT, BHTN 101
4.2.7 Mở rộng sự tham gia của người lao động đối với các các tổ chức chính trị, đoàn thể, hiệp hội 101
4.2 Kiến nghị 103
4.2.1 Đối với Nhà nước 103
4.2.2 Đối với chính quyền địa phương 103
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 108
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Xác định cỡ mẫu nghiên cứu 30 Bảng 2.2: Mức độ tham gia của các HTX trong bộ tiêu chí nông thôn mới 36 Bảng 2.3: Đánh giá mức độ tham gia của các HTX trong bộ tiêu chí về
xây dựng nông thôn mới 37 Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu đánh giá sự tham gia trực tiếp của HTX trong
xây dựng nông thôn mới 38 Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu đánh giá tác động đa chiều của HTX trong xây
dựng nông thôn mới 39 Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Định Hoá giai đoạn 2013-
2015 44 Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Định Hóa năm 2015 45 Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu huyện Định Hóa giai đoạn
2013-2015 46 Bảng 3.4 Lĩnh vực hoạt động của các HTX huyện Định Hóa năm
2015 49 Bảng 3.5 Bảng tổng hợp phân loại kết quả phân loại, đánh giá hoạt động
của các HTX năm 2015 51 Bảng 3.6 Quy mô hoạt động của các hợp tác xã trên địa bàn huyện Định
Hóa giai đoạn 2013-2015 53 Bảng 3.7 Tình hình tham gia trực tiếp của các hợp tác xã thuộc nhóm Quy
hoạch (tiêu chí số 1) 55 Bảng3.8:Tình hình tham gia trực tiếp của các hợp tác xã thuộc nhóm Hạ
tầng kinh tế - xã hội (Tiêu chí số 2-9) 57 Bảng 3.9 Tình hình tham gia trực tiếp của các hợp tác xã thuộc nhóm
Kinh tế và tổ chức sản xuất (tiêu chí số10-13) 59
Trang 10Bảng 3.10 Tình hình tham gia trực tiếp của các hợp tác xã thuộc nhóm
Văn hóa- Xã hội- Môi trường (tiêu chí 14-17) 61 Bảng 3.11 Tình hình tham gia trực tiếp của các hợp tác xã thuộc nhóm
Hệ thống chính trị (tiêu chí số 18-19) 64 Bảng 3.12: Một số tiêu chí đánh giá tác động đa chiều của hợp tác xã trong
xây dựng nông thôn mới vùng nghiên cứu 65 Bảng 3.13: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định độ tin cậy các chỉ tiêu nghiên
cứu - Đối tượng người lao động 68 Bảng 3.14: Kết quả đo lường thang đo Likert Scale người lao động tại các
hợp tác xã địa bàn nghiên cứu 68 Bảng 3.15: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định độ tin cậy các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đối tượng cán bộ quản lý HTX và cán bộ quản lý địa phương 70 Bảng 3.16: Kết quả đo lường thang đo Likert Scale cán bộ quản lý tại các hợp tác
xã và cán bộ quản lý địa phương địa bàn nghiên cứu 70 Bảng 3.17: Phân tích SWOT sự tham gia của các hợp tác xã trong xây
dựng nông thôn mới vùng nghiên cứu 90
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Phát triển kinh tế địa phương theo LED 13
Sơ đồ 1.2: Các bên tham gia thực thi chương trình phát triển kinh tế -
xã hội cấp huyện 14
Sơ đồ 1.3: Các bên tham gia thực thi chương trình xây dựng nông thôn
mới cấp huyện 15
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ trương CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn được quán triệt tại Nghị quyết 26/NQ- TW hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Hướng tới xây dựng nông thôn có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, ở nước ta có trên 20.000 hợp tác xã, 150.000 tổ hợp tác, gần
50 liên hợp tác xã, 1.148 quỹ tín dụng nhân dân và 43 quỹ hỗ trợ và phát triển hợp tác xã, các tổ chức kinh tế này đã đóng vai trò không nhỏ đối với nền kinh
tế quốc dân Lĩnh vực kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã đã được Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng.Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn triển khai hoạt động này Ngày 04/6/2010, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về “Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020” chỉ rõ mục tiêu của chương trình: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch”
Chủ trương xây dựng nông thôn mới được tiếp tục triển khai trong giai đoạn hiện nay Ngày 12/11/2015, tại Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng lần
Trang 13thứ XII (2016) của Chính phủ đã nhận định rõ: “xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh”tuy nhiên “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới còn chậm Các ngành dịch vụ chất lượng cao chậm phát triển Báo cáo Kinh tế - xã hội trình Đại hội Đảng lần thứ XII (2016):Giai đoạn 2016-2020 tiến hành "Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới Phấn đấu đến năm 2020 khoảng 40 -50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc thù từng vùng”
Hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm trên thế giới, sự ra đời của các HTX là công cụ đắc lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân ở nhiều nước Ở Việt Nam hợp tác xã là chủ thể kinh tế tiêu biểu của thành phần kinh tế tập thể Từ Đại hội V(1981), Đảng ta đã khẳng định 5 thành phần kinh tế trong đó bao gồm thành phần kinh tế XHCN (Khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể) Đến năm
2013, cả nước có 19.800 HTX và gần 380 nghìn tổ hợp tác với 13,5 triệu xã viên, tổ viên Lực lượng lao động này chiếm 25,4% tổng số lao động cả nước (53,25 triệu người) nhưng chỉ đóng góp khoảng 5% GDP cả nước Theo Liên minh HTX Việt Nam, lợi nhuận bình quân của một HTX năm 2014 là 246 triệu đồng/năm
Đặc điểm nổi bật của hợp tác xã ở Việt Nam là hình thành chủ yếu ở khu vực nông thôn, thành phần tham gia chủ yếu là lao động nông thôn và là chủ thể tham gia thực thi các chương trình kinh tế xã hội tại địa phương nói chung
và chương trình xây dựng nông thôn mới nói riêng Ngoài ra, hợp tác xã còn tạo ra việc làm tại chỗ, giải quyết tình trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, mở rộng độ bao phủ của các hình thức bảo hiểm xã hội và cải thiện an sinh xã hội tại nông thôn
Định Hóa là huyện Miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, việc phát triển các ngành nghề truyền thống, các ngành sản xuất tiểu thủ công
Trang 14nghiệp, dịch vụ đã thúc đẩy tình hình kinh tế - xã hội huyện Định Hóa dần đi vào ổn định và có chiều hướng tăng trưởng tốt trong những năm gần đây Chương trình xây dựng NTM đã được triển khai sâu rộng trên địa bàn huyện,
cơ sở hạ tầng đã được cải thiện Số lượng hợp tác xã trên địa bàn tuy ít nhưng
đã đóng góp tích cực vào chương trình xây dựng nông thôn mới không chỉ là các hoạt động cụ thể mà còn trực tiếp tạo ra việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho người dân địa phương Mô hình này cần tạo điều kiện hoạt động và nhân rộng
để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương Tuy nhiên chưa
có nghiên cứu nào đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương để đánh giá hiện trạng và xây dựng giải pháp phù hợp
Do vậy, việc đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã vào chương trình xây dựng nông thôn mới là rất thiết thực
Là cán bộ đang công tác tại Phòng tài chính - kế hoạch huyện Định Hóa,
tôi nhận thấy được vấn đề như vậy nên cần phải: “Đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”, đây sẽ là nghiên cứu cần thiết có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao,
mong rằng những kết quả của việc nghiên cứu sẽ góp phần phục vụ cho công việc của bản thân và cho các cơ quan, các cấp chính quyền đang triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM tại huyện Định Hóa cũng như trong tỉnh Thái Nguyên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu đánh giá sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới gắn với các đối tượng và lĩnh vực liên quan Phân tích đánh giá mức độ tham gia và tác động kinh tế xã hội, xây dựng giải pháp phù hợp để tăng cường vai trò và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng nông thôn mới của hợp tác xã tại địa phương
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới
Trang 15Đánh giá thực trạng tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới gắn với bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới hiện hành tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên gắn với các chủ thể và lĩnh vực kinh tế xã hội liên quan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian:Giai đoạn 2013-2015, một số số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2016
Phạm vi không gian: huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới gắn với bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới hiện hành và các chủ thể liên quan nhằm xây dựng giải pháp tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Luận văn xây dựng một số tiêu chí đánh giá sự tham gia của các hợp tác
xã trong xây dựng nông thôn mới và vận dụng một số công cụ nghiên cứu đo
Trang 16lường mức độ tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới như: SWOT, Likert Scale, kiểm định cronbach’alpha vv
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý các cấp, các
tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học, vv liên quan đến sự tham gia của các HTX trong XDNTM tại địa phương
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Chương 4 Giải pháp tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Trang 171.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.1.1.1 Nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Nông nghiệp là một ngành sản xuất chủ yếu có tầm quan trọng đặc biệt trong suốt lịch sử văn minh của nhân loại Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi gia súc Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời
kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội Nông dân Việt Nam chiếm trên 70% dân số cả nước cho nên còn là nguồn dự trữ lao động dồi dào cho các ngành kinh tế khác Đối với công cuộc xây dựng Nông thôn mới, nông dân có vai trò trung tâm, vừa là chủ thể vừa là đối tượng hưởng lợi [15]
Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó đất đai thường rộng lớn hơn với một cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân sống bằng nghề sản xuất nông lâm nghiệp, có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn, trình độ dân trí, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa và mức sống thường thấp hơn so với dân cư đô thị
Trang 18Nghị quyết số 26/NQ-TW hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương
khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ: “Nông nghiệp, nông
dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước”
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của tất
cả các thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế tập thể với hạt nhân
là các hợp tác xã Hợp tác xã là các chủ thể thực thi xây dựng nông thôn mới tác động cải tạo đến hai mặt chất và lượng của nông nghiệp,nông thôn và nông dân của đất nước ta hiện nay
1.1.1.2 Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người nông dân Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7, khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết xác định, đến năm 2015: 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020,: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên tổng số 9.121 xã của cả nước theo 19 tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16-4-2009 Nông thôn mới có
thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản: Thứ nhất, đó là làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao; Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; Thứ
năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc
gia về xây dựng nông thôn mới gồm 5 nhóm nội dung (nhóm quy hoạch, nhóm
Trang 19hạ tầng kinh tế - xã hội, nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm hệ thống chính trị)
Chính phủ đã ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg, ngày 04-6-2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp và chỉ rõ mục tiêu của chương trình:
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.”
Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2016 -2020 với mục tiêu: Thực hiện giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tăng thu nhập của người nghèo giai đoạn 2016-2020 Góp phần giảm tỷ lệ nghèo cả nước bình quân 1,0%-1,5%/năm; riêng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016-2020
Ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Trong đó, chuẩn cận nghèo là 1.000.000 đồng/người/tháng
ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị có gắn với 05 tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ XII (2016) của Chính phủ
đã nhận định rõ: “xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh” tuy nhiên “Công
Trang 20nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới còn chậm Các ngành dịch vụ chất lượng cao chậm phát triển
Báo cáo Kinh tế - xã hội trình Đại hội Đảng lần thứ XII (2016) "Chương trình xây dựng nông thôn mới được cả nước đồng tình, ủng hộ Đã rà soát, điều chỉnh các chính sách, tiêu chí phù hợp hơn với đặc thù từng vùng, thu hút được nhiều nguồn lực và sự tham gia đông đảo của người dân Đến hết năm 2015 có1.566 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 17,5% tổng số xã” Giai đoạn 2016-
2020 tiến hành "Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới Phấn đấu đến năm 2020 khoảng 40 -50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới
Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc thù từng vùng”
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng Với mục tiêu toàn diện và được Đảng và Nhà nước chú trọng quan tâm triển khai
1.1.2 Sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1 Khái niệm hợp tác xã
Theo định nghĩa của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: "Hợp tác xã là một tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một doanh nghiệp sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẽ lợi ích và rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản lý dân chủ"
Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì hợp tác xã được nhận biết như sau:"Hợp
tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất
07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã
Trang 21Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã".[9]
1.1.2.2 Mô hình hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay
Hợp tác xã kiểu mới: Hợp tác xã kiểu mới là loại hình hợp tác xã được
thành lập và hoạt động theo các quy định của pháp luật hiện hành, Luật hợp tác
xã năm 2012 quy định: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng
và dân chủ trong quản lý HTX”
Hợp tác xã kiểu mới có một số đặc trưng cơ bản sau:
Về thành viên tham gia HTX: Thành viên bao gồm cả cá nhân, hộ gia đình và
pháp nhân (người lao động, cán bộ, công chức, các hộ sản xuất kinh doanh…)
Về quan hệ sở hữu: Sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân của các thành viên
được phân định rõ ràng
Về quản lý trong HTX: Quan hệ HTX và các thành viên là quan hệ bình
đẳng, thoả thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong SX - KD Thành viên tham gia quyết định những công việc quan trọng của HTX như sửa đổi Điều lệ HTX, tổ chức lại HTX, quyết định cơ cấu tổ chức quản lý HTX, xác định phương án SX - KD, phương án phân phối thu nhập trong HTX… Nguyên tắc bầu cử và biểu quyết được thực hiện bình đẳng, mỗi thành viên một phiếu bầu, không phân biệt vốn góp ít hay nhiều
Về quan hệ phân phối: Hình thức phân phối được thực hiện trên nguyên tắc
công bằng, cùng có lợi, vừa theo lao động, vừa theo vốn góp và theo mức độ tham gia dịch vụ
Trang 22Về cơ chế quản lý đối với HTX: Là một tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ, có
đầy đủ tư cách pháp nhân trong cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động SX - KD, dịch vụ, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác, cũng như phân chia lỗ lãi, bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đối với thành viên Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động SX - KD, dịch
vụ của HTX, không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của HTX
Về quy mô và phạm vi hoạt động: Quy mô và phạm vị hoạt động trong
nông nghiệp không còn bị giới hạn như trước Mỗi HTX có thể hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, không giới hạn địa giới hành chính Các HTX có thể liên kết thành liên hiệp HTX Mỗi thành viên có thể tham gia nhiều HTX (HTX không cùng ngành nghề) nếu Điều lệ HTX không hạn chế Không giới hạn số lượng thành viên tham gia HTX
a Hợp tác xã chuyên ngành
HTX chuyên ngành là tổ chức của những người sản xuất cùng một sản phẩm, không phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính Mọi nông dân có cùng mục tiêu và điều kiện sản xuất một nông sản nào đó đều có thể liên kết xây dựng HTX chuyên ngành, hay áp dụng nguyên tắc này
b Hợp tác xã cổ phần (HTX- Doanh nghiệp)
Đây là một mô hình HTX phát triển ở mức cao hơn, chủ yếu là tự thân vận động Các thành viên trong HTX này góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được tính cổ phần Họ là những cổ đông trong HTX, đồng thời là những người nông dân và đất đai góp vốn vẫn thuộc về họ Trong khi đó Ban quản lý ở đây đòi hỏi phải là những người có trình độ, có chí đầu tư, năng động, sáng tạo mới
có thể đưa HTX phát triển và đủ sức cạnh tranh trên thị trường Thành viên HTX sẽ được hưởng: Thu từ đóng góp cổ phần bằng ruộng đất, từ công lao
động, từ lợi nhuận hằng năm của HTX, từ trích lãi theo từng vụ/năm
Trang 231.1.2.3.Sự tham gia của các hợp tác xã trong chương trình xây dựng nông thôn mới
Theo kinh nghiệm của ILO, để tạo việc làm và nâng cao dân trí các nước phát triển thường thực thi các chương trình Phát triển kinh tế địa phương thông qua các mô hình cụ thể và gọi tắt là LED (Local Economic Development)
Để triển khai LED, hiện nay trên thế giới đang có 2 xu hướng:
- Xu hướng từ trên xuống: Đây là việc thực thi các chương trình LED có sẵn triển khai từ trung ương xuống địa phương và chủ yếu áp dụng để tạo ra các cơ sở hạ tầng vật chất mới như giao thông, viễn thông, bất động sản, xây dựng các khu công nghiệp; xu hướng này có ưu điểm là gây dựng nguồn đầu
tư từ bên ngoài và hỗ trợ cho các khu vực kém phát triển và thiếu hụt cơ sở hạ tầng
- Xu hướng từ dưới lên: Thực thi các chương trình LED thông qua việc
hỗ trợ các hoạt động gắn liền với địa phương như: Các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, hỗ trợ phát triển nguồn lực con người, xây dựng hành lang pháp lý hỗ trợ các doanh nghiệp tại địa phương [24]
Thực tế cho thấy xu hướng từ dưới lên thường đạt được hiệu quả rất cao
do các hoạt động của chương trình LED thường phù hợp với xu thế, khả năng, nội lực và các nguồn lực sẵn có tại địa phương
Các hoạt động LED phải dựa trên sự khai thác và phát triển các nguồn lực địa phương Tính bền vững các hoạt động LED phụ thuộc vào các nguồn lực sẵn có
Trang 24Sơ đồ 1.1: Phát triển kinh tế địa phương theo LED
(Nguồn: GiancarloCanzanelli,2001, [24])
Theo giáo trình môn học Quản lý phát triển “Sự tham gia là thực hiện sự chia sẻ của các bên có liên quan về quan điểm, ý tưởng và nguồn lực đối với một hoạt động phát triển nào đó trên địa bàn sinh sống của họ”
Theo World Bank (2001), Sự tham gia được hiểu là sự tham gia của các bên liên quan đến một kế hoạch phát triển Sự tham gia của các bên liên quan là một quá trình mà thông qua đó các bên liên quan tham gia tư vấn ý kiến, thái độ
và những mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển nào đó trong quá trình lập kế hoạch, quy hoạch Đó là cơ hội các bên liên quan có thể bày tỏ ý kiến của mình, bằng cách nào đó họ có thể có ảnh hưởng đến việc ra quyết định Điều này
có thể có tác động đến những kế hoạch của một vùng (một thành phố) rộng lớn, hoặc chỉ là một dự án nhỏ (như các công trình xây dựng)
i Mối quan hệ và các bên tham gia thực thi chương trình phát triển kinh tế- xã hội cấp huyện
Trong việc thực thi các chương trình kinh tế - xã hội cấp quận huyện, các mối quan hệ được thực hiện theo tuyến dọc (từ trên xuống, từ dưới lên) và tuyến ngang
PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG (LED)
Trang 25a)Theo tuyến dọc: Gồm sự tham gia từ trên xuống và sự tham gia từ
dưới lên
Từ trên xuống: Là sự tham gia của các cơ quan cấp trên, đây là hoạt động
chỉ đạo phân cấp hiện hành
Từ dưới lên: Là sự đóng góp của các đơn vị cấp dưới vào quá trình; gồm
cấp xã, thôn bản
b) Theo tuyến ngang: Là sự tham gia của đơn vị cùng cấp và tương đương
Sơ đồ 1.2: Các bên tham gia thực thi chương trình phát triển
kinh tế - xã hội cấp huyện
UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN
Sự tham gia theo chiều ngang
Mối quan hệ chỉ đạo
CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, XH
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH CÁC SỞ, NGÀNH
CHUYÊN MÔN
Trang 26ii) Sự tham gia của các bên trong thực thi chương trình xây dựng nông thôn mới cấp huyện
Sơ đồ 1.3: Các bên tham gia thực thi chương trình xây dựng
nông thôn mới cấp huyện
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình triển khai tại nông thôn và người dân là người tham gia triển khai và trực tiếp hưởng lợi từ chương trình Do vậy mối quan hệ tham gia gồm các bên chủ yếu sau đây:
Cơ quan nhà nước: Là bên xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện, là đầu mối tiếp nhận sự tham gia của các bên liên quan
Cộng đồng dân cư: Tham gia xây dựng kế hoạch, tham gia triển khai độc lập hoặc phối hợp với các tổ chức cung ứng
Chương trình xây dựng nông thôn mới
SỰ THAM GIA CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN
Các tổ chức kinh tế (HTX, DN)
Các tổ chức
tư vấn
Cơ quan Nhà nước
Trang 27Các tổ chức cung ứng: Là các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân
có năng lực và tư cách pháp nhân Đây là nhóm trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện dựa trên sự phối hợp với các bên tư vấn và cộng đồng dân cư
1.1.3 Nội dung đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới
Nước ta đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, việc duy trì nền kinh tế nhiều thành phần mang tính khách quan trong đó thành phần kinh tế tập thể với chủ thể then chốt là các hợp tác xã được thừa nhận Thực thi các chương trình phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương nói chung và chương trình xây dựng nông thôn mới nói riêng luôn mở rộng sự tham gia của các hợp tác xã
Mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới rất đa dạng và bao gồm nhiều lĩnh vực:“Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Do vậy đánh giá sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới ngoài việc đánh giá sự tham gia trực tiếp còn phải xem xét các tác động kinh tế- xã hội- môi trường liên
quan
1.1.3.1 Hợp tác xã cung cấp nguồn lực thực hiện chương trình nông thôn mới
Trong những năm gần đây,gắn với chương trình tái cơ cấu nông nghiệp cáchợp tác xã đã đạt được nhiều hiệu quả tích cực trong việc điều hành sản xuất, kinh doanh, tìm kiếm thị trường đầu ra, tiêu thụ sản phẩm cho các thành viên và nông dân, ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường
Trang 28Nguồn lực thực hiện chương trình bao gồm nguồn lực về cơ sở vật chất
và nguồn nhân lực để thực thi các hoạt động của chương trình
i) Hợp tác xã cung cấp vốn cho xây dựng nông thôn mới
Hợp tác xã với lợi thế của mình về nguồn vốn, năng lực trang thiết bị,
nguồn nhân lực dồi dào là nguồn lực quan trọng để triển khai
ii) Hợp tác xã cung cấp lao động cho xây dựng nông thôn mới,
Vốn và lao động là 2 yếu tố cơ bản tham gia vào trong quá trình sản xuất Đặc điểm cơ bản của các chương trình xây dựng nông thôn mới là triển khai ở khu vực nông thôn và người hưởng lợi là người dân địa phương Do vậy nguồn nhân lực thực thi chương trình thu hút được sự tham gia của người dân trong
đó có lao động của hợp tác xã
iii) Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế trực tiếp thực hiện các dự án, các công trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình kinh tế -
xã hội tổng thể mở rộng sự tham gia của các bên liên quan Hợp tác xã với
tư cách là tổ chức kinh tế tại địa phương, có năng lực phù hợp để triển khai Hợp tác xã trực tiếp tham gia thực hiện các dự án, công trình xây dựng nông thôn mới
1.1.3.2 Hợp tác xã hỗ trợ các hộ gia đình, xã viên trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thực thi các chương trình xây dựng nông thôn mới
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ xã viên luôn gắn liền với hoạt động của các hợp tác xã Hợp tác xã có nhiều hoạt động hỗ trợ liên quan
i) Hợp tác xã là đầu mối, thay mặt các thành viên ký kết các hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp nhằm cung ứng cây, con giống, vật tư nông nghiệp với chất lượng cao, giá cả hợp lý cho các hộ thành viên, cung ứng dịch vụ thú
y, bảo vệ thực vật, chế biến,bao tiêu sản phẩm với giá cả hợp lý cho các hộ thành viên
Trang 29Hợp tác là tổ chức có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng
do vậy rất thuận lợi trong việc triển khai ký kết các hợp đồng kinh tế Thông qua hợp tác xã các hộ gia đình xã viên được cung cấp nguồn vật tư con giống tốt và các dịch vụ sản xuất kèm theo Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và năng suất lao động
ii) Hợp tác xã là đầu mối ký kết các dịch vụ chuyển giao công nghệ với các tổ chức KH-CN để chuyển giao các công nghệ sản xuất tiên tiến cho các
hộ thành viên
Tăng năng suất, chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Việc triển khai chuyển giao khoa học công nghệ thường được thông qua các tổ chức với sự phối hợp của chính quyền địa phương Hợp tác xã là đầu mối tiếp nhận khoa học công nghệ và chuyển giao lại cho hộ gia đình, xã viên và người dân địa phương
iii) Hợp tác xã là đầu mối giúp cho các hộ thành viên có thể được hưởng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho các hợp tác xã
Đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ gia đình, xã viên là quy mô sản xuất nhỏ, nguồn lực về vốn và lao động rất hạn chế Mặc dù Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ vay vốn sản xuất đến hộ gia đình, xã viên nhưng việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của hộ gia đình, xã viên còn nhiều hạn chế do trình
độ nhận thức và nhiều nguyên nhân khác Thông qua hợp tác xã là tổ chức có
tư cách pháp nhân, có tài sản đảm bảo và phương án sản xuất kinh doanh phù hợp việc vay vốn sẽ thuận lợi hơn Hộ gia đình, xã viên có thể tiếp cận được các nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất
iv) Hợp tác xã thay mặt các hộ thành viên để tiếp nhập và chuyển giao các chương trình hỗ trợ của nhà nước, của các tổ chức nước ngoài cho các hộ thành viên
Trang 30Các chương trình phát triển kinh tế địa phương thông thường là các chương trình lồng ghép đa mục tiêu kinh tế xã hội đan xen Việc chuyển giao công nghệ, chương trình hỗ trợ, tài trợ thường xuyên triển khai thông qua các tổ chức kinh tế tại địa phương, các tổ chức đó là nòng cốt mở rộng sự lan tỏa và tham gia của thành phần khác tại địa phương Hợp tác xã là đầu mối tiếp nhận các chương trình hỗ trợ, tài trợ và chuyển giao cho các hộ gia đình, xã viên
v) Hợp tác xã tiếp nhận các chỉ đạo định hướng của địa phương về chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường trong và ngoài nước
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường trong và ngoài nước trong nông nghiệp, nông thôn là chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước trong giai đoạn hiện nay Hợp tác xã là tổ chức kinh tế ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh còn tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội khác Hợp tác xã là đầu mối tiếp nhận các chỉ đạo của địa phương chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh và triển khai tới các hộ gia đình, xã viên
1.1.3.3 Tăng cường dịch vụ logistics giữa người sản xuất và người tiêu dùng góp phần thực hiện chương trình nông thôn mới
Trong xây dựng nông thôn mới, HTX nông nghiệp có vai trò rất quan trọng Điều này thể hiện rõ dưới góc độ HTX cung ứng các dịch vụ cho người dân
Với chức năng là người đại diện cho nhà sản xuất, là nơi tiếp cận thị trường để thu thập và phân tích các thông tin thị trường, Từ đó đưa ra các dự báo thời gian, số lượng, giá cả và xu hướng vận động của thị trường, đưa ra các định hướng sản xuất sát với nhu cầu thị trường nhằm cung ứng hàng hóa với hiệu quả cao nhất
Địa bàn sản xuất hàng nông sản thường xa thị trường trường tiêu thụ, lúc này HTX với vai trò là đầu mối đảm nhận khâu thu mua và đưa hàng hóa đến
Trang 31các thị trường sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông, do đó lợi nhuận mang lại cho người sản xuất sẽ cao hơn
Là trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng, HTX có đủ tư cách pháp nhân Sự am hiểu pháp luật, tiềm lực tài chính nhằm xây dựng và bảo vệ thương hiệu hàng nông sản Việt Nam Đồng thời HTX còn là tổ chức đứng ra bảo đảm ổn định được các nguồn cung nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến trên cơ sở quan hệ cùng có lợi
Là tổ chức trung gian có thể tập trung được một khối lượng hàng hóa lớn
để đáp ứng nhu cầu của thị trường Theo quy luật giá trị ai là người cung ứng đại bộ phận hàng hóa trên thị trường thì người đó có quyền định giá thị trường mặt khác, khi có một khối lượng hàng nông sản trong tay, các HTX có tiềm lực vật chất đủ mạnh để giành chiến thắng trong cạnh tranh
1.1.3.4 Hợp tác xã góp phần giải quyết việc làm, mở rộng độ bao phủ của các hình thức bảo hiểm, cải thiện an sinh xã hội khu vực nông thôn
i) Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Tình trạng thiếu việc làm đang là vấn đề thời sự đối với lao động nông thôn Khu vực nông thôn tập trung đại bộ phận lực lượng lao động của cả nước Tốc độ tăng khoảng hơn 2,5%/năm Thời gian lao động trung bình chưa
sử dụng của cả nước có xu hướng giảm xuống Nhờ triển khai thực hiện nhiều chính sách, cơ chế mới trong giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, trong 5 năm từ 2011-2015, cả nước đã tạo việc làm cho trên 7,8 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm xuống dưới 4%, góp phần giảm tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản từ 50% năm 2010 xuống còn 40 - 41% năm 2015, đạt chỉ tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI đã đề ra
Đặc điểm cơ bản của lao động nông thôn là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng
tỷ lệ thiếu việc làm rất cao tại các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc khoảng xấp
xỉ 19% thời gian lao động Hợp tác xã tham gia chương trình xây dựng nông
Trang 32thôn mới góp phần tạo việc làm, giải quyết việc làm tại chỗ, cải thiện tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông thôn tại địa phương
ii) Hợp tác xã thực hiện ký kết hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động ở nông thôn
Đặc điểm của lao động nông thôn ở Việt Nam phần lớn nằm trong khu vực kinh tế phi chính thức, tính ổn định không cao (95,7% không có hợp đồng lao động) Thu nhập của lao động nông thôn còn thấp, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không nhiều, rủi ro trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp rất lớn
Đối với các hợp tác xã, với cơ chế hiện hành Luật hợp tác xã 2012 quy định Nghĩa vụ của hợp tác xã, liên liên minh hợp tác xã khi ký kết và thực hiện hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách khác cho người lao động theo quy định của pháp luật Đây là tiền đề quan trọng để
mở rộng sự tham gia của lao động nông thôn đối với các hình thức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cải thiện an sinh xã hội tại địa phương
iii) Nâng cao thu nhập, cải thiện kỹ năng nghề nghiệp cho lao động nông thôn
Đặc điểm cơ bản của lao động nông thôn là phần lớn chưa qua đào tạo (>90%) dẫn đến không thể tiếp cận các công việc có thu nhập và chất lượng cao, mặt khác khả năng cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật, thị trường việc làm của lao động nông là không kịp thời làm giảm khả năng tự tạo việc làm
Thu nhập bình quân của lao động thuần nông luôn thấp hơn các ngành nghề khác Xu hướng dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang các lĩnh vực khác là xu thế hiện nay Hợp tác xã tham gia xây dựng nông thôn mới không những tạo ra việc làm tại chỗ mà còn tạo ra thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần cải thiện mức sống cho người dân địa phương
Trang 33Ngoài ra, trong quá trình thực thi chương trình nông thôn mới, để đáp ứng yêu cầu công việc hợp tác xã cần triển khai song song đào tạo kịp thời
kỹ năng nghề nghiệp, năng lực vận hành máy móc thiết bị cho lao động nông thôn Đây là yếu tố quan trọng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho lao động nông thôn tại địa phương
Bằng sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân khoảng 2% mỗi năm, từ 14,2% (cuối năm 2010) xuống dưới 4,5% (năm 2015); riêng các huyện nghèo giảm khoảng 6% mỗi năm, từ 58,3% xuống còn 28% Thành tựu về giảm nghèo của Việt Nam luôn là điểm sáng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao
HTX đóng góp rất lớn vào phát triển xã hội, đặc biệt khu vực nông thôn, góp phần giữ gìn ổn định xã hội ở nông thôn, góp phần quan trọng xây dựng nông thôn mới Hoạt động của các HTX đã thực sự có tác dụng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo ra mối liên kết, hợp tác giữa các hộ xã viên trong HTX và giữa xã viên với các
cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ và vừa khác, góp phần gia tăng sản lượng hàng hóa nông, lâm, thuỷ sản, lương thực Các HTX, thông qua tổ chức và hoạt động của mình, đã huy động có hiệu quả các nguồn lực của xã hội để mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt trong nông nghiệp, nông thôn
Không chỉ vậy, những đóng góp về mặt xã hội cũng có ý nghĩa hết sức
to lớn Với tính chất là tổ chức kinh tế - xã hội, các HTX đã tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, như: tạo việc làm, thu nhập cho người lao động (hiện nay, khu vực kinh tế hợp tác, HTX thu hút khoảng 12,5 triệu xã viên, hộ xã viên, người lao động) đặc biệt là các đối tượng xã hội, góp phần giúp nhiều hộ thoát khỏi đói nghèo, ổn định đời sống
Các HTX còn là nơi giáo dục ý thức cộng đồng, đề cao các giá trị văn hóa, đạo đức, phát huy tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết, hỗ trợ giúp đỡ nhau cùng làm giàu, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Các HTX
Trang 34ở các vùng, miền trong cả nước còn thể hiện rõ vai trò tích cực của mình trong việc góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an ninh quốc phòng, tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, đặc biệt trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế biển, góp phần vào bảo vệ chủ quyển biển và hải đảo của Đảng
sự tham gia của các HTX trong xây dựng nông thôn mới Có một số nguyên nhân chính như sau:
i) Yếu tố nội tại thuộc về hợp tác xã
Nguồn lực tài chính: Nguồn lực tài chính là yếu tố quan trọng tác động
trực tiếp đến sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới Nguồn lực tài chính của cáchợp tác xã chủ yếu hình thành từ các nguồn: Vốn góp của xã viên; Vốn vay, huy động từ các nguồn khác, vốn hỗ trợ của nhà nước; Tích lũy của HTX
Nguồn nhân lực: Bao gồm các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,
thái độ ứng xử của đội ngũ cán bộ hợp tác xã
Nguồn lực cơ sở vật chất, trang thiết bị: Nguồn lực cơ sở vật chất, máy
móc, trang thiết bị của hợp tác xã ảnh hương trực tiếp tới quy mô, chất lượng, khả năng tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới Nguồn lực cơ sở vật chất, trang thiết bị của hợp tác xã bao gồm: Tài sản của HTX (Trụ
sở, nhà kho, đất sản xuất và tài sản khác ); Phương tiện, trang thiết bị làm việc của HTX; Phương tiện, trang thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh.;
Trang 35ii) Yếu tố bên ngoài
Cơ chế chính sách: Cơ chế chính sách của nhà nước là công cụ quản
lý kinh tế vĩ mô quyết định sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới Cơ chế chính sách bao gồm: Các cơ chế, chính sách của Nhà nước dành cho HTX; Các cơ chế, chính sách của địa phương (tỉnh và huyện) dành cho HTX
Sự tham gia của người dân và các bên liên quan:Xây dựng nông thôn
mới là chương trình kinh tế xã hội toàn diện, do vậy sự tham gia của người dân
và các bên liên quan là rất quan trọng.Sự tham gia của người dân và các bên liên quan quyết định mức độ tham gia của các hợp tác xã
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới
1.2.1.Kinh nghiệm của huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang
Huyện Sơn Dương là huyện miền núi tỉnh Tuyên Quang,cách thành phố Tuyên Quang 30 km, cách thành phố Thái Nguyên 54 km Toàn huyện có 33 đơn vị hành chính cấp xã gồm 1 thị trấn và 32 xã Dân số năm 2016 khoảng
ha, chè hơn 1.500 ha, vùng nguyên liệu giấy trên 21.500 ha…
Huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên quang xác định rõ mục tiêu cơ bản, chủ yếu của xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn nên huyện luôn chú trọng tuyên truyền phổ biến, vận động nhân dân nhận thức đúng về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới huyện đã tập trung sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền,
Trang 36đồng thời, phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, tiếp tục huy động các nguồn lực từ nhân dân, các doanh nghiệp và tranh thủ các nguồn hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia khác đang triển khai trên địa bàn các xã
để lồng ghép thực hiện xây dựng nông thôn mới
Huyện chỉ đạo các địa phương rà soát, xác định lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, cân đối với nguồn lực thực hiện tại của các xã để lập kế hoạch cụ thể, quyết định ưu tiên lĩnh vực đầu tư Bên cạnh tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các xã tổ chức thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới theo
đồ án quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới được phê duyệt; huyện chú trọng công tác kiểm tra tiến độ giải ngân và đánh giá kết quả sử dụng nguồn vốn được giao thực hiện chương trình Có thể thấy rõ, với phương châm chỉ đạo từng bước đi vững chắc, dựa vào nội lực của dân và cộng đồng là chính Nhà nước hỗ trợ chủ yếu qua các Chương trình mục tiêu quốc gia; thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, huyện Sơn Dương đã và đang từng bước thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2015, toàn huyện có 1 xã đạt chuẩn quốc gia về xây dựng nông thôn mới; 100% xã đạt chuẩn 3 tiêu chí: quy hoạch nông thôn mới cấp xã, phát triển mạng lưới y tế, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; 60% số hộ dân có nhà ở đạt tiêu chuẩn
Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá thông tin,sự tham gia của các hợp tác
xã trên địa bàn trong mọi lĩnh vực thực thi chương trình xây dựng nông thôn mới, ưu tiên hợp tác với các tổ chức cung ứng dịch vụ có đầy đủ năng lực tại địa phương
Chú trọng thực hiện chương trình nông thôn mới ở các xã có nhiều di tích lịch sử, làm động lực lan tỏa đến các địa phương khác Tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương - 1 trong 3 xã đại diện cho 3 miền trong cả nước được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bảo trợ về huy động nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, người dân luôn tích cực tham
Trang 37gia phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới, chào mừng kỷ niệm
69 năm cách mạng tháng Tám Đến nay, Tân Trào đã đạt đủ 19/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới gồm: Quy hoạch, giao thông, thủy lợi, bưu điện, hình thức
tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, hệ thống chính trị, an ninh trật tự; đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới Năm 2014 thu nhập bình quân đầu người ở Tân Trào đã tăng gấp 2 lần so với năm 2012 khi mới triển khai xây dựng nông thôn mới,đạt bình quân thu nhập đầu người từ 8,2 triệu lên hơn 16 triệu đồng/ người/năm
1.2.2 Kinh nghiệm của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Phú Bình nằm ở phía nam của tỉnh Thái Nguyên Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 251,749km2 Dân số năm 2014 là 139.668 người Phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ; phía tây giáp Thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên; phía đông và phía nam giáp tỉnh Bắc Giang Huyện Phú Bình có 21 đơn
vị hành chính gồm thị trấn Hương Sơn và 20 xã (trong đó có 7 xã miền núi), với 318 xóm
Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình XDNTM, huyện Phú Bình
đã đạt được những kết quả quan trọng Bộ mặt nông thôn đã có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao Đến nay, số tiêu chí đạt được là 15 tiêu chí/ xã (tăng 10,6 tiêu chí/ xã so với năm 2011); có 2 xã đạt chuẩn NTM là Đồng Liên và Lương Phú; thu nhập bình người đạt 33 triệu đồng/người/năm (tăng 13 triệu đồng so với năm 2011); tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 10,6%; cải tạo, nâng cấp 213km đường giao thông nông thôn, kiên
cố hóa 35km kênh mương nội đồng, xây dựng 33 công trình trường học… Trong 5 năm, tổng nguồn lực huy động để thực hiện Chương trình trên địa bàn huyện là 1.248 tỷ đồng
Huyện phấn đấu đến hết năm 2015 sẽ có thêm 5 xã đạt chuẩn NTM.Trong giai đoạn 2016-2020, có từ 17-20 xã đạt 19 tiêu chí NTM; thu nhập bình quân
Trang 38đầu người đến năm 2020 đạt trên 50 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 5%
Tính đến hết năm 2015, toàn huyện Phú Bình có 24 hợp tác xã và tổ hợp tác với trên 1.500 thành viên, hoạt động trong các lĩnh vực: nông, lâm nghiệp, thủy sản…Thời gian qua, nhìn chung các hợp tác xã và tổ hợp tác trên địa bàn huyện hoạt động tuân thủ theo quy định của pháp luật, tích cực chuyển giao khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và tạo việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương
Mở rộng sự tham gia của các hợp tác xã trên địa bàn trong mọi lĩnh vực thực thi chương trình xây dựng nông thôn mới, ưu tiên hợp tác với các tổ chức cung ứng dịch vụ có đầy đủ năng lực tại địa phương
Điển hình có thể kể đến Hợp tác xã kinh doanh thuốc thú y, thức ăn gia súc, vật tư nông nghiệp và con giống (xã Tân Thành); Hợp tác xã ngựa bạch xóm Phẩm (xã Dương Thành); Hợp tác xã sản xuất rau an toàn (xã Nhã Lộng); Tổ hợp tác trồng táo xuân 21 (xã Đồng Liên)… Theo số liệu thống kê, doanh thu bình quân của mỗi hợp tác xã đạt trên 1 tỷ đồng/ năm, thu nhập bình quân của người lao động làm việc trong các hợp tác xã đạt khoảng 3,5 triệu đồng/người/tháng góp phần thực hiện tiêu chí thu nhập trong xây dựng nông thôn mới
Đảng bộ và Chính quyền huyện Phú Bình chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các xã triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình phát triển kinh tế
xã hội toàn diện Để thực hiện thành công mục tiêu của chương trình cần mở rộng sự tham gia của các bên liên quan Hợp tác xã là chủ thể thuộc thành phần kinh tế tập thể trong 5 thành phần kinh tế của nước ta trong thời kỳ quá độ tiến
Trang 39lên chủ nghĩa xã hội Việc tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới là tất yếu khách quan
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể Để thực hiện đạt kết quả tốt, mỗi cán bộ phải hiểu sâu sắc những nội dung cơ bản của Chương trình XD NTM, mục đích ý nghĩa, các cơ chế chính sách và trình tự thực hiện Chương trình XD NTM, trên cơ sở đó vận dụng vào điều kiện cụ thể ở địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đạt kết quả Các cấp chính quyền, các đoàn thể trên cơ sở Nghị quyết của Đảng phải cụ thể bằng kế hoạch thực hiện, phân công từng bộ phận, cá nhân phụ trách những nội dung công việc thật rõ và cụ thể
Thực hiện tốt quy chế dân chủ, công khai cơ chế chính sách và các nguồn lực nhà nước hỗ trợ Khơi dậy lòng tự hào, phát huy tinh thần tự lực, tự cường đoàn kết hợp tác, khát vọng vươn lên làm giàu, làm đẹp thôn (xóm) của mình đối với mỗi người dân ở khu vực nông thôn Thực hiện tốt công tác thi đua giữa các thôn, xã với tinh thần xã nào, thôn (xóm) nào thực hiện tốt thì nhà nước sẽ
ưu tiên hỗ trợ nhiều và ngược lại
Lồng ghép nguồn lực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn lực từ ngân sách địa phương để thực hiện các hạng mục công trình theo quy hoạch XD NTM, tuyên truyền vận động khơi dậy các nguồn lực to lớn trong nhân dân để chung sức xây dựng nông thôn mới Trong những năm tới cần ưu tiên nguồn lực từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân
Triển khai kế hoạch vận động “Chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020 để huy động nguồn lực từ các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn, tạo ra một phong trào mạnh mẽ để cổ vũ, động viên các
xã XD NTM và hỗ trợ nhân rộng mô hình xây dựng làng mới tại xóm; trong
Trang 40quá trình tổ chức, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và quản lý, sử dụng nguồn quỹ vận động
Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá thông tin,sự tham gia của các hợp tác xã trên địa bàn trong mọi lĩnh vực thực thi chương trình xây dựng nông thôn mới, ưu tiên hợp tác với các tổ chức cung ứng dịch vụ có đầy đủ năng lực tại địa phương