TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN ---o0o---- NGUYỄN THỊ VÂN ANH THÀNH PHẦN SÂU HẠI TRÊN CÂY ĐẬU TƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI BỌ ĐUÔI KÌM BẮT MỒI Euborellia ann
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
-o0o
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THÀNH PHẦN SÂU HẠI TRÊN CÂY ĐẬU TƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA
LOÀI BỌ ĐUÔI KÌM BẮT MỒI (Euborellia
annulipes Lucas) TRÊN VỤ ĐÔNG XUÂN Ở VĨNH
YÊN, VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
-o0o -
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THÀNH PHẦN SÂU HẠI TRÊN CÂY ĐẬU TƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA
LOÀI BỌ ĐUÔI KÌM BẮT MỒI (Euborellia
annulipes Lucas) TRÊN VỤ ĐÔNG XUÂN Ở VĨNH
YÊN, VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS TRƯƠNG XUÂN LAM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản khóa luận này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của giáo viên hướng dẫn, cơ sở đào tạo, các thầy cô giáo
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trương Xuân Lam đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giảng dạy tại Khoa sinh kỹ thuật nông nghiệp , Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cán bộ nghiên cứu tại phòng côn trùng thực nghiệm của Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật trong thời gian qua đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nhiệt tình góp ý và chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý trong nghiên cứu giúp em thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được sử dụng từ bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố Các tài liệu trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2016 Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 8
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9
1.2.1 Các nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây đậu tương 9
1.2.2 Các nghiên cứu về thành phần loài bọ đuôi kìm 11
1.2.3 Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh vật học của bọ đuôi kìm 13
1.2.4 Vai trò của thiên địch trong phòng trừ tổng hợp sâu hại trên cây đậu tương 16 1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.3.1 Các nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây đậu tương 17
1.3.2 Các nghiên cứu về thành phần loài bọ đuôi kìm 18
1.3.3 Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh vật học của bọ đuôi kìm 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng 22
2.4.2 Phương pháp theo dõi trong phòng thí nghiệm 27
2.4.3 Điều tra thành phần loài bọ đuôi kìm bắt mồi và vật mồi của chúng trên cây đậu tương 29
2.5 Nghiên cứu diễn biến mật độ của một số loài bọ đuôi kìm phổ biến 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
Trang 63.1 Thành phần sâu hại trên đậu tương vụ đông xuân tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc 33
3.1.1 Thành phần và mức độ phổ biến sâu hại trên đậu tương vụ đông xuân tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc 33
3.1.2.Các loài sâu hại phổ biến trên cây đậu tương vụ đông xuân tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc 37
3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm bắt mồi (Euborellia annulipes Lucas) 38
3.2 1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài bọ đuôi kìm bắt mồi (Euborellia annulipes Lucas) 38
3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài bọ đuôi kìm bắt mồi (Euborellia annulipes Lucas) 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC
Trang 8DANH LỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Thành phần và mức độ phổ biến sâu hại đậu tương vụ đông xuân 2015 – 2016 tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Bảng 3.2 Tỷ lệ sâu hại theo Bộ trong sinh quần ruộng đậu tương vụ đông xuân 2015 – 2016 tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Bảng 3.3 Thời gian phát dục của trứng loài bọ đuôi kìm đen
Euborellia annulipesLucas ở 25 o C và nhiệt độ phòng
Bảng 3.4 Tỷ lệ nở của trứng loài bọ đuôi kìm đen Euborellia annulipesLucas ở 25 o C và nhiệt độ phòng
Bảng 3.5 Thời gian phát dục của thiếu trùng loài bọ đuôi kìm đen
Euborellia annulipesở 25 o
C Bảng 3.6 Khả năng ăn một số vật mồi của các tuổi thiếu trùng của
loài bọ đuôi kìm đen E annulipes Lucas trong phòng thí nghiệm (Nhiệt
độ trung bình: 26,7- 29.3 o
C - Ẩm độ trung bình: 83.3-79.2%) Bảng 3.7 So sánh tỷ lệ sống của bọ đuôi kìm ở giai đoạn thiếu trùng nuôi bằng thức ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo
Bảng 3.8 Số lượng trứng đẻ của trưởng thành loài bọ đuôi kìm đen
Euborellia annulipes Lucas ở 25o C
Bảng 3.9 Thời gian sống của trưởng thành loài bọ đuôi kìm đen
Euborellia annulipesLucas ở 25 o
C Bảng 3.10 Khả năng ăn mồi trung bình của trưởng thành loài bọ đuôi
kìm đen Euborellia annulipesLucas
Bảng 3.11 Vòng đời của bọ đuôi kìm đen Euborellia annulipes
Lucas ở nhiệt độ 25 o C, ẩm độ 85%
Bảng 3.12 Diễn biến mật độ của loài bọ đuôi kìm đen tại địa điểm điều tra
Trang 9Bảng 3.13 Mật độ vật mồi (sâu cuốn lá) và của bọ đuôi kìm
Euborellia annulipes Lucas tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thuốc hóa học đối với tỷ lệ nở trứng của loài bọ đuôi kìm bắt mồi Euborellia annulipes Lucas
Trang 10DANH LỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham.)
Hình 3.2: Bọ xít dài (Leptocorisa acuta T.)
Hình 3.3: Bọ phấn trắng (Parabermisia myricae Kuwana.)
Hình 3.4: Sâu đục quả (Maruca vitrata Geyer.)
Hình 3.5: Ổ trứng của loài E annulipes Lucas
Hình 3.6: Ổ trứng đang đẻ của loài E annulipes Lucas
Hình 3.7: Thiếu trùng tuổi 1 mới nở
Hình 3.8: Thiếu trùng tuổi 2
Hình 3.9: Trưởng thành loài E annulipes Lucas
Hình 3.10: Con cái loài E annulipes đang đẻ trứng
Hình 3.11: Mật độ bọ đuôi kìm (con/m2) trên cây đậu tương tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Hình 3.12: Quan hệ giữa tập hợp các loài bọ đuôi kìm với vật mồi trên cây đậu tương tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân số là làm nông nghiệp nên năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp là vấn đề cốt lõi Hiện nay tình hình sâu bệnh gây hại cho cây trồng đã làm đau đầu người nông dân cũng như các nhà khoa học nông nghiệp Để bảo vệ cây trồng, đầu tư chăm sóc cho cây trồng đạt năng suất cao nhất, thuốc trừ sâu được người nông dân sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thuốc hóa học lại có tác dụng tiêu cực là gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng có hại đến sức khỏe con người Tình trạng ngộ độc thực phẩm do thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên rau xanh đang ở mức nghiêm trọng, được cả xã hội quan tâm Các ngành chức năng đã và đang vào cuộc nhưng tình trạng trên vẫn không hề thuyên giảm Nhu cầu được sử dụng thực phẩm an toàn tăng cao nhưng những sản phẩm thực sự an toàn, được sự tin tưởng của người tiêu dùng vẫn chưa có nhiều Quan trọng hơn thuốc trừ sâu còn có thể làm cho thành phần, số lượng các loài thiên địch giảm sút nghiêm trọng, tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích, một mắt xích quan trọng của các hệ sinh thái dẫn đến sự đảo lộn làm mất những mối cân bằng sinh thái trong tự nhiên, tạo ra tính kháng thuốc của nhiều loài dịch hại, gây ra hiện tượng tái phát quần thể của một số loài sâu hại dẫn đến một số loài sâu hại thứ yếu trở thành chủ yếu Muốn xây dựng, thực hiện và phát triển biện pháp quản lý dịch hại một cách có hiểu quả thì trước hết chúng ta phải có hiểu biết nhất định về mối quan hệ giữa cây trồng – sâu hại mà đặc biệt là sự hiểu biết về những kẻ thù tự nhiên của chúng
Trên nhiều cây trồng ở miền Bắc Việt Nam, các loài côn trùng bắt mồi
mà đặc biệt là các loài bọ đuôi kìm có vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng của nhiều loài sâu hại nguy hiểm Ngày nay, cây đậu tương là loài cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng Sản phẩm từ cây đậu tương được
Trang 12sử dụng rất đa dạng như trực tiếp lấy hạt thô hoặc ép thành dầu đậu nành, làm bánh kẹo đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc Ngoài ra, trong cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng khác
Biện pháp phòng trừ dịch hại hiện nay hầu hết nông dân áp dụng là sử dụng thuốc BVTV.Vì vậy, vấn đề đang được quan tâm nhiều hiện nay ở vùng này là việc duy trì, bảo vệ và lợi dụng các loài thiên địch trong phòng chống sâu hại rau màu Trong những kẻ thù tự nhiên của sâu hại trên cây rau màu,
bọ đuôi kìm được coi là thiên địch quan trọng
Ở Việt Nam, cho đến nay, những nghiên cứu về các loài bọ đuôi kìm là tương đối ít Nên việc nghiên cứu về loài này là hết sức cần thiết, nó không những cho phép chúng ta bổ sung thêm các loài bắt mồi quan trọng, mà còn chỉ ra được đầy đủ hơn về tính đa dạng và vai trò của nhóm này trong hệ sinh thái nông nghiệp Hơn nữa những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài phổ biến, nhất là những nghiên cứu nhân nuôi để sử dụng chúng
ở trên cánh đồng chưa được chú trọng và quan tâm Vì vậy, việc điều tra nghiên cứu sinh học, sinh thái của các loài bọ đuôi kìm có ý nghĩa trên một số
hệ sinh thái nông nghiệp ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc sẽ góp phần cho việc bảo vệ
và lợi dụng chúng trong phòng trừ sâu hại cây đậu tương, duy trì tính đa dạng sinh học, sự cân bằng các hệ sinh thái và bảo vệ môi trường
Nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết và góp phần làm phong phú dẫn liệu khoa học cho những vấn đề nói trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Thành phần sâu hại trên cây đậu tương và đặc điểm sinh học của loài
bọ đuôi kìm bắt mồi (Euborellia annulipes Lucas) trên vụ đông xuân ở
Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc”.
Trang 13và nghiên cứu sau này
3 Phạm vi nghiên cứu
Trên cây đậu tương, vụ đông xuân ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Xác định thành phần loài sâu hại trên cây đậu tương ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc nhằm tăng hiểu biết trong phòng chống sâu hại cây đậu tương Cung cấp những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài bọ
đuôi kìm bắt mồi kìm Euborellia annulipes Lucas trên cây đậu tương để lợi
dụng chúng trong phòng trừ sinh học
4.2.Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu thành phần bọ đuôi kìm bắt mồi, đặc điểm sinh
học và sinh thái của loài bọ đuôi kìm bắt mồi E annulipes xây dựng biện pháp sử dụng bọ đuôi kìm E annulipes trong quản lý tổng hợp sâu hại cây
đậu tương
Đề xuất qui trình nhân nuôi số lượng lớn bọ đuôi kìm bắt mồi
E annulipes trong phòng thí nghiệm và thả ra đồng ruộng phòng chống sâu
hại cây đậu tương Qui trình dễ thực hiện, dụng cụ đơn giản và rẻ tiền giúp nông dân có thể chủ động nhân nuôi bọ đuôi kìm bắt mồi ngay tại nông hộ
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong hệ sinh thái đồng ruộng, mối quan hệ cây trồng và sâu hại gắn kết chặt chẽ với nhau Trong điều kiện nguồn thực ăn dồi dào các loài dịch hại thường phát sinh gây hại mạnh vì vậy người sản xuất có xu hướng gia tăng sử dụng thuốc BVTV để giữ năng suất cây trồng Thói quen canh tác ấy đã diễn
ra hàng chục năm, hậu quả là thành phần và số lượng các loài ký sinh thiên địch giảm sút nghiêm trọng, không kiểm soát được dịch hại nữa Dịch hại càng phát sinh mạnh, nông dân lại càng sử dụng thuốc BVTV nhiều hơn Nhiều biện pháp phòng chống sâu hại trên cây đậu tương không sử dụng thuốc hóa học đã được nghiên cứu và được đưa vào sử dụng như sử dụng giống kháng , luân canh, xen canh với cây trồng khác để giảm nguồn dịch bệnh, ngắt quãng thời gian tích lũy số lượng của dịch hại; sử dụng nguồn thiên địch để kìm hãm sự gia tăng số lượng dịch hại ngay từ đầu vụ Tuy nhiên việc nông dân sử dụng thuốc trừ sâu trong thời gian dài làm suy giảm nguồn thiên địch trên đồng ruộng, các biện pháp sinh học phòng chống sâu hại ít được nông dân áp dụng Đã đến lúc cần phải bảo vệ, khích lệ và nhân thả những loài thiên địch có ý nghĩa để dần lập lại cân bằng sinh thái trên đồng ruộng
Một số Trung tâm BVTV vùng thuộc Cục BVTV đã bước đầu thử nghiệm nhân thả bọ kìm bắt mồi để phòng trừ sâu hại đậu đỗ, cây họ cà đã cho hiệu quả đáng khích lệ
Cây đậu tương là cây thực phẩm quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp nước ta, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc Vì vậy vấn đề nhân thả thiên địch ra đồng ruộng cũng cần được quan tâm nhiều hơn Ở Thái Lan, Philippin đã sử dụng bọ đuôi kìm bắt mồi để phòng trừ sâu hại ngô, mía thành
Trang 15công Ở Việt Nam, trường Đại học Cần Thơ, các Trung tâm BVTV vùng đã thành công với mô hình nhân nuôi bọ đuôi kìm bắt mồi để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa, sâu hại bắp cải Kết quả này mở ra một triển vọng sử dụng bọ đuôi kìm bắt mồi để phòng trừ sâu hại trên quy mô hộ nông
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Các nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây đậu tương
CC Cây đậu tương được biết đến từ rất lâu đời nhưng sau đại chiến thế giới thứ hai đậu tương mới thực sự được phát triển ở Mỹ, Canada, Trung Quốc và cũng từ đó diện tích và sản lượng đậu tương ngày một tăng, sản phẩm đậu tương được dùng trong thực phẩm, trong chăn nuôi, trong công nghiệp và trong y tế ngày càng tăng
Các nghiên cứu về cây đậu tương, các yếu tố hạn chế sự phát triển cây đậu tương và quan trọng là yếu tố sâu bệnh hại và côn trùng hại được nhiều nhà khoa học quan tâm
Theo Gazzoni và CTV [22] thì trên đậu tương vùng nhiệt đới , thành phần sâu hại rất phong phú: gây hại mầm và thân có 34 loài, gây hại lá có 25 loài, hại quả và hại lá có 25 loài, hại quả và hạt có 22 loài Tổng số các loài sâu hại trên đồng ruộng đậu tương là 81 loài Tùy theo vùng địa lý khác nhau
mà các sâu hại chính cũng khác nhau
Ở Bắc Mỹ có 33 loài, miền Trung và miền Nam Mỹ có 30 loài và các nước phương đông có 26 loài
Theo Hill và Waller ( 1985) [24] thì trên cây đậu tương ở vùng nhiệt đới
có 2 nhóm sâu nguy hiểm ảnh hưởng đến năng suất hạt là nhóm sâu đục quả thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera: Tortricidae, pyralidae) và nhóm sâu ăn hoa
do các loài ban miêu đen (Meloidae) thuộc bộ cánh cứng ( Coleoptera) Trong
số 29 loài gây hại, có 7 loài là sâu hại chính, trong đó sâu đục quả có 2 loài ( Etiella zinekenella và Maruca testulalis), ban miêu (Epicauta sp.), rệp (Aphis
Trang 16fabae), rầy xanh lá mạ (Empoasca), bọ rùa (Epilacuta sp.), và mọt hại (Callas bruchus spp.) và 22 loài sâu hại thứ yếu
Còn theo Campell và Reed [34], ở Đông Nam Á, trên cây đậu tương có
12 loài sâu hại và 1 loài nhện quan trọng đó là sâu xanh (Heliothis armigera),
giòi đục thân (2 loài), sâu xám, sâu khoang, sâu keo da láng, sâu cuốn lá (
Lamprosemaindicata Fabr.), (Archips micacaeana) sâu đục quả (Maruca vitrata Geyer) và nhện (Tetranychus urticae)
Waterhouse [33] cho thấy, ở 10 nước thuộc vùng Đông Nam Á, trên cây
đậu tương có 17 sâu hại chính, trong đó các loài đục quả (Maruca vitrata
Geyer), giòi đục thân(Melanagromyza) và sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) là rất phổ biến
Aphirat Arunin(1987) [17].cho thấy: Một trong những nguyên nhân giảm năng suất đậu tương là do sâu hại Có hơn 30 loài sâu hại tìm thấy trên đồng ruộng đậu tương, trong đó chỉ có 10 loài sâu hại quan trọng làm giảm năng suất
Còn ở Nhật Bản, theo Takashi Kobayashi [31] và Setokuchi [30] thì đậu
tương bị 25 loài sâu hại chính, trong đó có 4 loài sâu đục quả (Maruca vitrata
Geyer), 20 loài bọ xít, một loài muỗi đục quả Trong số đó có 7 loài gây hại
nghiêm trọng là sâu đục quả (Maruca vitrata Geyer), muỗi đục quả(Asphondylia sp)
Theo Turnipseed và Kogan [32] thì sâu bọ đã tấn công vào tất cả các bộ phận trên cây đậu tương như rễ, đốt sần, hạt nảy mầm, thân, lá, hoa, quả và hạt Khi cây đậu tương được đem trồng tới vùng đất lạ nào đó, thì chúng sẽ bị ngay các loài sâu hại gây hại Quần thể sâu hại rất phong phú, song tùy vào điều kiện sinh thái của từng vùng mà sự phát triển của sâu hại trên đồng ruộng
là khác nhau Thường ở những khu vực nóng ẩm thì sự phát triển và hoạt
Trang 17động của sâu mạnh hơn ở những khu vực lạnh và khô Sâu hại thường gây hại cho đậu tương ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nhiều hơn ở vùng ôn đới Michael và Irwi (1978) [26] đậu tương trồng chính ở vùng Bắc Mỹ trong
số các loài cây họ đậu Ngành côn trùng học trên đậu tương ở Mỹ phát triển mạnh từ những năm đầu của thập kỷ sáu mươi Đã có trên 14.000 bài báo về các loài chân đốt trên đậu tương và nhiều cuốn sách viết về các loài sâu hại nguy hiểm trên cây đậu tương, đặc biệt có nhiều tạp chí đăng các bài báo về sâu hại đậu tương
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sâu hại đậu tương cũng như kẻ thù tự nhiên của chúng Tuy nhiên, đối với mỗi loài sâu hại thì mức độ gây hại khác nhau, bên cạnh các loài côn trùng có hại còn có một lực lượng đáng kể các loài côn trùng có ích Chúng có khả năng hạn chế được lượng sâu hại mà không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sức khỏe con người
1.2.2 Các nghiên cứu về thành phần loài bọ đuôi kìm
Bọ đuôi kìm nằm trong một số bộ côn trùng cổ còn sinh tồn đến ngày nay Đã phát hiện nhiều mẫu hóa thạch từ đầu kỷ Jura, một số ít các hóa thạch giống các hình thái hiện tại của bọ đuôi kìm họ Labiduridae và Forficulidae ngày nay (Riek, 1970) [29] Tên gọi bọ đuôi kìm bắt mồi có nguồn gốc thần thoại liên quan đến loài côn trùng này có thể chui vào tai người khi đang ngủ
và xâm nhập vào não; hình dạng cặp kìm trông giống như cặp dùi được sử dụng để đục thủng tai người hay cặp cánh sau khi mở rộng ra giống hình dạng tai con người
Theo Flether (1891)[20] đã ghi nhận ở Anh có 48 loài thiên địch của sâu
tơ, 20 loài thiên địch của sâu khoang, trong đó Diptera có 5 loài, Hymenoptera có 15 loài Goodwin (2002), cho biết có 90 loài sử dụng trứng, sâu non, nhộng của sâu tơ làm vật mồi Tại Châu Âu, thành phần thiên địch
Trang 18của các loài sâu hại cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Fao (1993), đã cho biết thành phần thiên địch trên rau thập tự ở Anh gồm 41 loài ong, 6 loài nấm và 6 loài virus Morallo và Sayaboc (1992), đã phát hiện tại Rumani tập đoàn ong bắt mồi là sâu tơ gồm 25 loài thuộc họ Ichneumonidae
và Braconidae Theo Diana Roll (2004), sâu hại rau có 500 loài thiên địch, trong đó 70% là loài đa thực, 20% là loài đa hẹp
Gullan và Cranston (2000) [21] đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng
trên rau ít phun thuốc trồng trong nhà kính gồm Chrysoperla carnea, C rufilabris, Chysopa spp., ruồi ăn rệp Aphidius matricariae và họ bọ rùa bắt
mồi Hippodamia convergens
Hoffman (1987) [23] đã đưa ra thành phần bọ đuôi kìm ở Mỹ gồm 6 họ
Theo Hoffman vị trí phân loại của bọ đuôi kìm bắt mồi Euborellia annulipes Lucas và loài bọ đuôi kìm bắt mồi Euborellia annulata Fabricius trong lớp
côn trùng (Insecta) như sau:
James (2006)[25] đưa ra nhận xét rằng bọ đuôi kìm là những loài côn trùng có nguồn gốc nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, thành phần bọ đuôi kìm phong phú nhất là ở các khu rừng nhiệt đới ẩm ướt trên thế giới Ngoài một vài loài có tính phân bố rộng trên thế giới thì mỗi loài có xu hướng bị giới hạn trong mỗi khu vực, khu hệ động vật đặc hữu
Trang 191.2.3 Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh vật học của bọ đuôi kìm
Mô tả đặc điểm hình thái, sinh vật học của các loài bọ đuôi kìm bắt mồi
đã được nhiều nhà khoa học công bố
Theo Esaki Teiso et al (1952)[18] bộ đuôi kìm Dermaptera còn gọi là
Euplexoptera, Euplecoptera, Dermoptera, Labiduroida hay Forficulida; Tên
tiếng Anh là Earwigs Cơ thể kéo dài, kiểu đầu nhô về phía trước, hàm kiểu miệng nhai với râu đầu nhiều đốt, mắt kép phát triển Hầu hết các loài trong
bộ Dermaptera cánh ngắn, cánh ngoài biến thái, gân cánh mịn, cánh trong dạng màng, hình bán nguyệt, gân cánh xếp hình dẻ quạt Các chân gân bằng nhau với 3 đốt bàn Bụng 10 đốt, đốt bụng cuối cùng kéo dài như cái kìm (kẹp) Hầu hết bọ đuôi kìm có màu nâu hoặc màu đen, đôi khi màu nâu sáng hoặc màu vàng nâu
Theo Richard Leung (2004)[27], bụng bọ đuôi kìm có 10 đốt ở con đực (kể cả đuôi kìm, con cái có 8 đốt bụng) Máng đẻ trứng của con cái ngắn hoặc tiêu biến tùy theo loài Bọ đuôi kìm được phát hiện ở hầu khắp các nơi trên thế giới trừ những vùng băng giá, rất phổ biến ở những vùng khí hậu nóng ẩm Bộ Dermaptera có khoảng 1.200 loài đã được miêu tả, hầu hết chúng đều sống tự do, ăn tạp, một số loài ăn chồi non thực vật nhưng khi xuất hiện con mồi thì chúng lại chuyển sang ăn động vật ngay Bọ đuôi kìm thường sống ẩn nấp, chạy nhanh, mặc dù có cánh nhưng rất ít khi thấy chúng bay Các loài bọ đuôi kìm thường hay chỉ tìm kiếm thức ăn trên cây, thức ăn của chúng là các loài côn trùng nhỏ Trưởng thành cái đẻ trứng vào trong ổ làm dưới đất, chúng có biểu hiện chăm sóc, bảo vệ trứng thậm chí đến bảo vệ con 1-2 tuần sau nở Trong điều kiện ấm áp thiếu trùng phát triển nhanh, trong điều kiện mùa hè bọ đuôi kìm ít khi đẻ trứng, vào mùa đông lạnh chúng có thể đình dục cho đến mùa xuân lại tiếp tục hoạt động Mỗi năm bọ đuôi kìm thường có 7 lứa
Trang 20Pobham (1965) cho thấy phân loại bọ đuôi kìm bộ Dermaptera theo kiểu hình giải phẫu bên trong, theo cơ quan sinh dục ngoài và đã nghiên cứu sự phân bố của chúng theo vùng địa lý đã chia ra các loài bọ đuôi kìm bắt mồi
tập trung ở bộ phụ Forficulina bao gồm:
- Tổng họ Pygidicranoidea chủ yếu sống trong các kho chứa ở các nước
Asian, Australia, Nam Phi và Nam Mỹ
- Tổng họ Karschielloidea rất lớn tập trung ở Nam Phi chủ yếu là bọ
đuôi kìm ăn kiến
- Tổng họ Labioidea có 3 họ là Labiidae, Carcinophoridae và Arixeniidae, họ Labiidae phổ biến hơn, họ Arixeniidae gồm các loài sống
trong hang dơi
- Tổng họ Forficuloidae có 3 họ là Chelisochidae, Labiduridae, Forficuloidae trong đó họ Labiduridae phân bố rộng, giống Labidura và Euborellia phổ biến nhất
Theo Gullan, P.J and P.S Crranston (2000) [21] có khoảng 1.800 loài bọ đuôi kìm với 10 họ phân bố trên thế giới
Theo Hoffman (1987) [23], bọ đuôi kìm E annulipes là loài hoạt
động về đêm Giao phối diễn ra 1-2 ngày sau khi lột xác hóa trưởng thành và thời kì tiền đẻ trứng khoảng 10-15 ngày sau khi giao phối lần đầu Trưởng thành tạo một ổ nhỏ trong đất để đẻ trứng và trứng được đẻ gọn thành ổ Con cái chuẩn bị ổ trước khi đẻ trứng, chúng bảo vệ các ổ trứng khỏi nhện ăn thịt, nấm bệnh, và những sinh vật khác xâm nhập; chúng làm sạch và di dời trứng nếu cần thiết Hoạt động chăm sóc giảm ngay sau khi thiếu trùng nở và không còn sau khoảng 10 ngày Những con cái sẽ không chấp nhận sự hiện diện của thiếu trùng là con của mình một khi nó bắt đầu đẻ ổ trứng tiếp theo
James (2006) [25] quan sát và cho rằng bọ đuôi kìm sống quan hệ chặt chẽ với đất, sự lựa chọn làm tổ phụ thuộc chủ yếu lớp đất hoặc các vật
Trang 21liệu khác, độ ẩm rất quan trọng với bọ đuôi kìm Một phần của tổ hở ra để con cái có thể tấn công bất kỳ đối tượng nào di chuyển đến gần tổ, kể cả con đực Hoạt động đẻ trứng sẽ kích thích con cái đưa ra 2 phản ứng cần thiết là liếm trứng và thu thập các quả trứng lại thành tổ nếu những quả trứng nằm rải rác Tác dụng liếm là để lọai bỏ bào tử nấm hoặc những vật không liên quan đến
vỏ trứng; trứng sẽ bị mốc nếu con cái không chăm sóc Thiếu trùng lột xác lần đầu tiên và lần 2 có thể diễn ra trong tổ khi thiếu trùng vẫn còn sống thành bầy Trưởng thành cái chăm sóc trứng có thể kéo dài nếu cho trứng mới vào ổ thay thế trứng ban đầu đã nở; hoạt động chăm sóc này cũng bị mất nếu trứng được gỡ bỏ khỏi tổ và không cung cấp trứng khác Nếu đặt trứng trở lại trong vòng một vài ngày con cái sẽ chấp nhận chăm sóc trứng nhưng nếu lâu hơn thì con cái sẽ ăn trứng Con đực có hành động ăn trứng khi bắt gặp trứng mà không được con cái bảo vệ
Theo Richard Leung (2004) [27], bọ đuôi kìm sống tự do, ăn tạp, một
số loài ăn chồi non thực vật nhưng khi xuất hiện con mồi thì chúng lại chuyển sang ăn động vật ngay Bọ đuôi kìm thường sống ẩn nấp, chạy nhanh, mặc dù
có cánh nhưng rất ít khi thấy chúng bay, chỉ tìm kiếm thức ăn trên cây, ăn côn trùng nhỏ vào ban đêm Trưởng thành cái đẻ trứng vào trong ổ làm dưới đất, chúng có biểu hiện chăm sóc, bảo vệ trứng, thậm chí có hành động bảo vệ con 1-2 tuần sau nở Trong điều kiện ấm áp chúng đẻ nhiều, mùa hè bọ đuôi kìm ít khi đẻ trứng, vào mùa đông lạnh chúng sinh dục hoàn toàn cho đến màu xuân lại tiếp tục hoạt động, mỗi năm bọ đuôi kìm thường có 7 lứa
Kết quả nghiên cứu của Situmocang và Gabriel (1988) cho thấy pha thiếu trùng của bọ đuôi kìm Euborellia annulata có 4 tuổi, tuy nhiên khi gặp
điều kiện khác có thể tới 5 tuổi Một trưởng thành cái có thể đẻ được trung bình 320,74 quả trứng Pha thiếu trùng và trưởng thành thường tìm ăn ổ trứng sâu đục thân mình hồng trên ruộng mía hoặc sâu đục thân ngô trên ruộng ngô,
Trang 22ngoài ra chúng còn ăn thịt một số loài sâu hại trên một số cây trồng khác như
cây bắp cải, cây đậu tương và cây đậu rau Trong đó, loài E annulipes thường
đẻ trứng thành ổ, mỗi ổ khoảng 500 quả, thời gian phát dục của pha trứng kéo dài từ 6 – 17 ngày Pha thiếu trùng có 5 tuổi, đôi khi cũng thấy 6 tuổi và rất
khó phân biệt giữa các tuổi sâu non, thời gian phát dục pha thiếu trùng kéo dài
99 ngày ở điều kiện nhiệt độ 21 – 23 oC (Eharadwaj,1966) Trưởng thành của
bọ đuôi kìm E annulata có chiều dài 12 -16 mm (con cái lớn hơn con đực),
sau khi vũ hóa từ 1 - 2 ngày, trưởng thành tiến hành ghép đôi, giao phối và đẻ trứng sau đó 10 - 15 ngày Trưởng thành sống được rất lâu, có khi vượt quá
200 ngày (Capinera,1999)
Kết quả của các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc sản xuất nội tiết tố liên quan mật thiết đến hành vi giao phối, đẻ trứng và chăm sóc con của bọ đuôi kìm mẹ
1.2.4 Vai trò của thiên địch trong phòng trừ tổng hợp sâu hại trên cây đậu tương
Theo FAO (2011) việc xem xét cẩn thận tất cả các kỹ thuật kiểm soát dịch hại có sẵn sau đó tổng hợp các biện pháp thích hợp mà không khuyến khích sử dụng thuốc trừ sâu và các biện pháp can thiệp để giữ cho sự phát triển của dịch hại dưới gây hại ngưỡng kinh tế, giảm bớt hoặc giảm thiểu rủi
ro đối với sức khỏe con người và môi trường
Roy et al (2008) cho rằng trong hệ sinh thái nông nghiệp có rất nhiều loài thiên địch của sâu hại Chúng có thể chia thành các nhóm loài như côn trùng ký sinh, côn trùng BMAT và các loài không phải là côn trùng như nhện
lớn bắt mồi, chuột, động vật có xương sống…
Về biện pháp sinh học , Weriser (1958) cho rằng: “ Ngày nay biện pháp sinh học ngày càng nổi bật với vấn đề bảo vệ thực vật vì nó là một đặc tính tự nhiên, không độc và an toàn cho sinh vật quần” Sâu hại không có ý thức biên
Trang 23giới chính trị, cũng như thế đối với kẻ thù tự nhiên của sâu hại Vấn đề phòng chống sâu hại thành công hay không chính là ở vấn đề chú ý hay không nhập nội kẻ thù tự nhiên từ các nước khác
Bên cạnh biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại đậu tương thì biện pháp chọn, tạo ra các dòng, giống chịu với loài sâu hại cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Ngoài biện pháp kỹ thuật canh tác, biện pháp sinh học, giống chống chịu thì biện pháp sử dụng thuốc hóa học là cần thiết để ngăn ngừa sự phát triển của dịch hại và bảo vệ năng suất cây trồng
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 Các nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây đậu tương
Nhiều kết quả nghiên cứu về đậu tương của thế giới đã chứng minh rằng đới khí hậu từ 100
C – 200C Bắc bán cầu là khu vực có tiềm năng suất đậu tương cao nhất trên toàn cầu, với năng suất trung bình đạt trên 1600kg/ha Nằm trong đới khí hậu trê nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng diện tích và năng suất đậu tương với hiệu quả kinh tế cao.Tuy vậy cũng có không ít khó khăn gây trở ngại trong sản xuất đậu tương ở Việt Nam như kiến thức canh tác đậu tương của người nông dân còn hạn chế, chưa xác định rõ vị trí của cây đậu tương trong cơ cấu cây trồng; giá bán sản phẩm, chưa có hệ thống dịch vụ chế biến tiêu thụ ổn định
Theo kết quả điều tra cơ bản năm 1967 -1968 của Viện Bảo vệ thực vật
về thành phần sâu hại đậu tương cho thấy trên cây đậu tương có 88 loài sâu hại, trong đó thường xuyên xuất hiện có 43 loài, sâu hại chính có trên 10 loài( chiếm 12,5% số loài)
Trần Đình Chiến (1997) đã tiến hành điều tra trên cây đậu tương tại 3 điểm: Gia Lâm(Hà Nội), Tiên Sơn(Bắc Ninh) và Quốc Oai(Hà Tây) đã thu được tổng số 46 loài côn trùng và nhênh lớn bắt mồi, chúng thuộc 8 bộ và 17
Trang 24họ Trong đó có 7 bộ côn trùng và một bộ nhện lớn bắt mồi Trong tổng số 8
bộ côn trùng và nhện lớn bắt mồi thu được thì có 3 bọ có số lượng loài phong phú và mức phổ biến hơn đó là bộ cánh nửa (Hemiptera) – 6 loài (chiếm 13,04%), bộ cánh cứng (Coleoptera) – 27 loài (chiếm 58,69%), bộ nhện lớn –
7 loài (chiếm 15,22%) Còn lại các bộ khác với số lượng loài ít, chỉ có một đến 2 loài ( chiếm 13,07%)
Theo Lương Minh Khôi, qua 2 năm 1983 – 1984, điều tra trên tập đoàn
600 giống đậu tương của VIR chưa thấy giống đậu tương nào kháng sâu cuốn
lá( Lamprosema indicata Fabr.) Vụ đậu tương xuân 1986 đã tiến hành đánh
giá tập đoàn 7 giống có triển vọng, kết quả cho thấy giống AKO2 có thời gian
sinh trưởng ngắn hơn, bị sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) đậu tương
hại nhẹ hơn các giống khác
1.3.2 Các nghiên cứu về thành phần loài bọ đuôi kìm
Bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da (Dermaptera), là bộ côn trùng biến thái không hoàn toàn, có phần phụ miệng kiểu nghiền, mắt kép phát triển, chân bò Phần cuối bụng có phần đuôi dạng kìm rất khỏe dùng để tự vệ, tấn công kẻ thù hoặc giúp việc gấp cánh Đôi cánh trước ngắn, kitin hóa, cánh da, đôi cánh sau mỏng trong suốt Đã thống ở Việt Nam khoảng 200 loài Bộ đuôi kìm ăn tạp phế thải động vật, thực vật, côn trùng nhỏ, cá thể cái có hoạt động
Trang 25Tác giả đã xác định được là loài Anisolabis annulipes Lucas (Carcinophoridae: Dermaptera) Vòng đời A annulipes trung bình 98,8 ngày;
Thời gian trứng trung bình 7,7 ngày; Thời gian ấu trùng trung bình 75,4 ngày; Trưởng thành từ vũ hóa đến đẻ quả trứng đầu tiên trung bình 11,9 ngày Giai đoạn sâu non có 6 tuổi với 5 lần lột xác, tuổi 6 thời gian phát dục trung bình 16,8 ngày Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái trung bình 24,8 quả, cao 50,6 quả; Tỷ lệ nở của trứng đạt 84,4% trong điều kiện nhiệt độ 29,20C, ẩm
độ 71,5% Kết quả điều tra cũng chỉ ra rằng đỉnh cao mật độ bọ đuôi kẹp sọc thường xuất hiện sau đỉnh cao mật độ sâu đục thân
Các tác giả cũng thử nghiệm ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu đến bọ đuôi kẹp sọc, kết quả cho thấy sau 2 ngày phun thuốc Cartap bọ đuôi kẹp chết 50%, sau 3-4 ngày chết 70-100% nhưng thuốc trừ cỏ Gramoxone và Roundup không ảnh hưởng đến bọ đuôi kẹp sọc
Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Xuân Niệm (1999) [3] đã tìm thấy trên cây dừa ở các tỉnh phía Nam có 5 loài bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da Dermaptera trong đó có 2 loài phổ biến và có khả năng khống chế bọ cánh
cứng hại dừa Loài bọ đuôi kìm màu vàng Chelisoches variegatus tìm thấy ở
hầu hết các vườn dừa ở Đồng bằng sông Cửu Long còn loài bọ đuôi kìm màu
đen Chelisoches morio chỉ tìm thấy trên đảo Phú Quốc, cả 2 đều thuộc họ Chelisochidae và có khả năng khống chế hiệu quả bọ cánh cứng hại dừa Kết
quả nhân nuôi bằng thức ăn nhân tạo đã tạo ra số lượng lớn bọ đuôi kìm và lây thả trên một số diện tích vườn dừa, bước đầu nhân nuôi loài bọ đuôi kìm
màu vàng Chelisoches variegatus bằng thức ăn là ấu trùng ngài gạo Đã mở ra
một triển vọng chuyển giao cho nông dân nhân nuôi bọ đuôi kìm bằng thức ăn
là ấu trùng ngài gạo để thả trên vườn dừa, để diệt bọ cánh cứng hại dừa Bọ đuôi kìm màu vàng có vòng đời khoảng 70 ngày, nên có thể nhân số lượng khá nhanh, hơn nữa bọ đuôi kìm này từ trưởng thành đến ấu trùng đều ăn sâu
Trang 26non của bọ dừa, đây là ưu điểm để khống chế mật số của bọ cánh cứng hại dừa trên vườn dừa
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Xuân Niệm và nnk [3] cho thấy tập tính của bọ đuôi kìm thường ẩn nấp, khả năng chạy rất nhanh nhưng ít khi bay Khả năng bắt gặp rất cao Con cái chăm sóc
và bảo vệ trứng, thời gian sống của bọ đuôi kìm khá dài Nghiên cứu loài
Chelisoches morio nhận thấy thời gian phát triển pha trứng trung bình là 6,57
ngày, pha thiếu trùng có 4 tuổi, tuổi 1 là 8,92 ngày, tuổi 2 là 9,05 ngày, tuổi 3
là 12,58 ngày, tuổi 4 là 17,97 ngày, tuổi thọ của trưởng thành là 26,8 ngày
Vòng đời bọ đuôi kìm Chelisoches morio trung bình là 80,8 ngày Loài Chelisoches variegatus có thời gian phát dục ở các pha ngắn hơn, vòng đời là 72,3 ngày Khả năng đẻ trứng của con cái loài Chelisoches morio là 144,5 quả (trung bình 28,7 quả/ổ); Khả năng đẻ trứng của con cái loài Chelisoches variegatus là 243 quả (55 quả/ổ) cao hơn loài Chelisoches morio Cả 2 loài
này có khả năng ăn tất cả các pha của bọ cánh cứng hại dừa nhưng thích ăn ấu trùng tuổi 1-2 nhất Các thí nghiệm cho thấy bọ đuôi kìm còn ăn sâu non sâu khoang, rệp, mối… Khả năng nhân nuôi bọ đuôi kìm rất cao, có thể dễ dàng nhân nuôi bọ đuôi kìm với nhiều loại thức ăn khác nhau, chi phí nuôi lại rất thấp bởi dụng cụ nuôi rất đơn giản, dễ kiếm như thùng, xô, chậu, hộp nhựa Trung tâm BVTV miền Trung ( 2008) [12] đã điều tra tại Quảng Ngãi năm 2008 ghi nhận có 4 loài bọ đuôi kìm hiện diện trên cây dừa là loài
Chelisoches variegatus (đuôi kìm màu vàng), loài Chelisoches morio (đuôi
kìm màu đen), loài đuôi kìm cỡ vừa (chưa xác định tên), loài đuôi kìm cỡ nhỏ (chưa xác định tên) Trong đó loài đuôi kìm màu vàng rất phổ biến trên các vườn dừa Quảng Ngãi, hai loài còn lại chưa định danh được có kích cỡ nhỏ, xuất hiện với mật độ rất thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy vòng đời của loài
Chelisoches variegatus khoảng 67 ngày, trong đó giai đoạn trứng trung bình
Trang 276,9 ngày, Ấu trùng trung bình 40,7 ngày, thiếu trùng trải qua 3 lần lột xác với 4 tuổi Tuổi 1 trung bình 7,4 ngày, tuổi 2 trung bình 7,7 ngày, tuổi 3 trung bình 10,3 ngày, tuổi 4 trung bình 15,4 ngày, từ thành trùng đến khi đẻ trứng trung bình là 19,9 ngày Số trứng trung bình là 72,5 quả/ổ, số ấu trùng nở trong một
ổ trung bình là 56,7 con Tỷ lệ sống sót trong khi nuôi ở thiếu trùng tuổi 1 trung bình 85,0 %, ấu trùng tuổi 2 trung bình 90,6 %, ấu trùng tuổi 3 trung bình 95,4 %, ấu trùng tuổi 4 trung bình 97,8% Khả năng nhân nuôi tập thể đối
với loài Chelisoches variegatus khá tốt, tỷ lệ nuôi đạt 16,64-27,75 lần Tỷ lệ
nuôi cao nhất với thùng nuôi 10 cặp bọ đuôi kìm/thùng 15 lít Khả năng ăn mồi
loài Chelisoches variegatus mạnh nhất ở tuổi 4 và trưởng thành (đạt từ
12-15,7con ấu trùng bọ dừa tuổi 1-2/ngày) Sau phóng thích 100% cây dừa có bọ đuôi kìm và xuất hiện ấu trùng bọ đuôi kìm, như vậy chứng tỏ bọ đuôi kìm đã tồn tại và thích ứng tạo quần thể mới trên cây dừa
Trung tâm đã chuyển giao quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm cho các hộ tham gia Việc nhân nuôi bọ đuôi kìm bằng thức ăn tổng hợp + sâu non bọ dừa hoặc sâu non ngài gạo rất thuận lợi, có thể nhân ra số lượng lớn bọ đuôi kìm rất nhanh Hai tháng nuôi thì cứ 2 tuần/lần chọn bọ đuôi kìm trưởng thành để phóng thích ra các vườn dừa, mỗi cây dừa phóng thích 20 cặp bọ đuôi kìm
Nghiên cứu của trung tâm BVTV khu 4 (2008) [15] cho thấy loài bọ
đuôi kìm màu đen Euborellia sp trên cây cà và cây cải bắp năm 2008 ở Nghệ
An xuất hiện trên cây lạc, cây cà tím, cây mướp đắng, cây rau họ hoa thập tự Kết quả nuôi bọ đuôi kìm tại đây đạt hệ số nhân 8,1-8,8 lần còn tại hộ nông dân chỉ đạt 6,3-6,5 lần Trong các loại thức ăn cho bọ đuôi kìm là rệp rau, sâu
tơ, sâu khoang (tuổi nhỏ), thức ăn cá cảnh và cơm mốc thì bọ đuôi kìm ưa thích nhất là rệp rau, ăn thức ăn cá cảnh ít ưa thích nhất Mỗi bọ đuôi kìm ăn
trung bình 75-112 rệp/ngày Vòng đời của bọ đuôi kìm màu đen Euborellia
Trang 28sp trung bình 66-108 ngày trong đó pha trứng 7-10 ngày, pha thiếu trùng
38-63 ngày, pha trưởng thành 21-35 ngày trong điều kiện nhiệt độ trung bình
19-320C, ẩm độ trung bình 71-89%, vòng đời của bọ đuôi kìm màu đen
(Euborellia sp.) biến động từ 66 - 108 ngày, trong đó thời gian bọ non kéo dài
hơn so với thời gian trứng và trưởng thành Trưởng thành đẻ trứng thành từng
ổ trung bình 45 quả, cao nhất 60 quả, thấp nhất 27 quả Chúng tạo các lỗ (hang) ở trong đất để đẻ trứng, trứng mới đẻ có màu trắng sữa, sau đó chuyển sang màu trắng đục, khi trứng sắp nở xuất hiện một chấm đen bằng đầu kim ở giữa Ấu trùng mới nở rất nhỏ, màu đen, hoạt động rất nhanh nhẹn, thường sống trong các kẽ của những đoạn cây thân thảo đã đặt sẵn trong hộp hoặc chui xuống đất
Trong điều kiện tự nhiên bọ đuôi kìm tồn tại trên đồng ruộng nhưng mật
độ không cao Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thời điểm thả bọ đuôi kìm tốt nhất khi sâu hại bắt đầu xuất hiện trên đồng ruộng, số lượng bọ đuôi kìm phóng thích từ 1-2 c/m2 Thuốc trừ sâu ảnh hưởng lớn đến bọ đuôi kìm trên đồng ruộng
Qua thí nghiệm Trung tâm hạch toán hiệu quả kinh tế của mô hình trên cây cà tím cho thấy năng suất ruộng mô hình và ruộng nông dân tương đương nhau, ruộng mô hình chi phí ít hơn ruộng nông dân (do giảm số lần phun thuốc trừ sâu)
Trung tâm xây dựng quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm màu đen Euborellia
sp gồm 5 bước: chuẩn bị hộp nuôi, làm ẩm giá thể, thả bọ đuôi kìm, cung cấp thức ăn, thu hoạch Vật liệu là các hộp nhựa kích thước 10x15x15 cm, trên khoét lỗ rộng, dán lưới li cỡ nhỏ, nếu nuôi bằng chậu thì trên miệng bịt bằng vải màn để bảo đảm độ thông thoáng, không cho bọ đuôi kìm chui ra ngoài Thức ăn để nuôi bọ đuôi kìm là rệp, sâu tơ, sâu xanh tuổi nhỏ, mật ong Định
kỳ thay thức ăn 2 -3 ngày/lần, trong trường hợp không có thức ăn tươi sống thì
Trang 29thay bằng cám mèo Thường xuyên đảm bảo độ ẩm hỗn hợp trong hộp nuôi 70
- 75 %, sau 2 - 2,5 tháng thu hoạch bọ đuôi kìm và thả ra ngoài đồng ruộng để trừ sâu hại
Trung tâm BVTV phía Bắc (2008) [14] điều tra thành phần và mức độ phổ biến của bọ đuôi kìm trên ruộng cải bắp, su hào sau thu hoạch, ruộng cà chua hoa - quả non, ruộng lúa đã thu hoạch, ruộng ngô giai đoạn 3 - 4 lá cho thấy bọ đuôi kìm có 2 loài màu đen và màu nâu (chưa định danh), loài bọ đuôi kìm mầu nâu phổ biến hơn loài màu đen Chúng xuất hiện tất cả các hệ sinh thái trên nhưng trên ruộng rau cải bắp, su hào nhiều hơn Vì là loài ăn đêm nên ban ngày rất ít điều tra thấy chúng trên rau, ban ngày bọ đuôi kìm ẩn nấp dưới đất, dưới các đống lá già tàn dư trên ruộng
1.3.3 Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh vật học của bọ đuôi kìm
Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học bước đầu tại Trung tâm BVTV phía Bắc cho thấy thời gian pha trứng của bọ đuôi kìm đen 12-13 ngày, bọ đuôi kìm nâu 15-18 ngày Pha ấu trùng bọ đuôi kìm đen 55-63 ngày, bọ đuôi kìm nâu 65-68 ngày Pha trưởng thành bọ đuôi kìm đen sống 21-25 ngày, bọ đuôi kìm nâu 25-27 ngày
Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm tại Trung tâm BVTV phía Bắc hệ số nhân đạt cao nhất 8,9 lần Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm của nhóm nông dân Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc hệ số nhân thấp hơn (6,3 lần) Thí nghiệm phòng trừ sâu đục quả đậu đũa bằng bọ đuôi kìm cho kết quả rất tốt, tỷ lệ hại ở công thức thả bọ đuôi kìm và tuốt hoa 2,4% trong khi ở công thức phun thuốc Tập
kỳ 1,8 EC là 4,2% còn ở công thức đối chứng 30,7% sau xử lý 14 ngày Kết quả cũng cho thấy có thể sử dụng bọ đuôi kìm để trừ rệp và sâu tơ, sâu xanh bướm trắng hại rau, sâu đục quả đậu đũa khi tuổi còn nhỏ
Trung tâm cũng bố trí thí nghiệm sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu hại trên cây đậu tương Mật độ thả bọ đuôi kìm 1,4-2 c/m2
trừ rệp, sâu tơ hại
Trang 30súp lơ, cải ngọt tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc kết quả tỷ lệ, chỉ số hại thấp hơn nhiều so đối chứng Bọ đuôi kìm có khả năng ăn 52 rệp rau, 43 sâu khoang,
50 sâu tơ tuổi nhỏ/ngày với mỗi loại thức ăn Chúng có khả năng ăn cám công nghiệp như cám mèo, cám cá cảnh nhưng thích ăn cám mèo hơn
Quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm do Trung tâm đề nghị cũng tương tự như của Trung tâm BVTV miền Trung nhưng thức ăn sử dụng để nuôi là trứng, sâu non sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, rệp muội… thức ăn công nghiệp
là cám mèo Nếu nuôi bằng hộp thì thả vào mỗi hộp 20-25 cặp bọ đuôi kìm trưởng thành, nếu nuôi bằng chậu thì thả vào mỗi chậu 45-50 cặp bọ đuôi kìm trưởng thành
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bọ đuôi kìm bắt mồi thuộc bộ Dermaptera và loài bọ đuôi kìm bắt mồi
Euborellia annulipes Lucas
- Sâu hại trên cây đậu tương vụ đông xuân 2015- 2016 tại địa điểm nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Tại vùng trồng đậu tương ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
- Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm: Tại phòng Côn trùng học Thực nghiệm- Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Viện Hàn Lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần sâu hại trên cây đậu tương tại địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài bọ đuôi kìm Euborella annulipes Lucas
- Nghiên cứu diễn biến mật độ của một số loài bọ đuôi kìm phổ biến
(Euborellia annulipes Lucas ) trên cây đậu tương tại địa điểm nghiên cứu
- Bước đầu đề xuất khả năng bảo vệ, khích lệ loài Euborellia annulipes
Lucas trong phòng trừ sâu hại cây đậu tương
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng nghiên cứu là những phương pháp thường quy trong việc điều tra côn trùng như: Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng, giáo trình phương pháp thí nghiệm ngoài đồng rộng, phương pháp điều tra phát hiện và dự tính dự báo, quy trình
Trang 32và kỹ thuật sưu tầm, xử lý và bảo quản côn trùng và các phương pháp thông dụng khác bao gồm
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
Tại điểm nghiên cứu tôi tiến hành điều tra trên cây đậu tương tại địa điểm nghiên cứu Trước tiên chúng tôi quan sát từ xa, điều tra sơ bộ bằng mắt thường để đánh giá chung tình hình trong khu vực điều tra Sau khi đã điều tra
sơ bộ thì tiến hành xác định và chọn lựa các điểm nghiên cứu có vị trí ngẫu nhiên, có tính chất đại diện cho toàn bộ vùng nghiên cứu Có thể điều tra 10 điểm hoặc nhiều hơn, điểm điều tra là ngẫu nhiên hoặc nằm ngẫu nhiên trên đường chéo của khu vực điều tra Điểm nghiên cứu phải cách bờ ít nhất 2 m
Để xác định thành phần loài của nhóm bọ đuôi kìm tôi sử dụng vợt côn trùng có đường kính từ 35 – 40 cm bắt trưởng thành và thiếu trùng bọ đuôi kìm trên cây, dưới đất có bắt bằng tay, còn có thể thu bắt bằng bẫy hố
Để thu trứng tiến hành bới đất xung quanh gốc cây khoảng 10 cm, sâu 2-5 cm hoặc lật các lá rau tàn dư để tìm trứng
Thu bắt toàn bộ các loài bọ đuôi kìm bắt gặp trên cây trồng ở điểm
đã chọn Mẫu bọ đuôi kìm thu được cho vào hộp nuôi để ở nơi khô và thoáng mát theo dõi trong phòng thí nghiệm; một phần được bảo quản trong các ống nghiệm nhựa nhỏ có nút và được bảo quản trong cồn 70o Tất cả các mẫu đều được ghi nhãn đầy đủ theo tiêu chuẩn phân loại quy định
Tiến hành quan sát, theo dõi ngoài tự nhiên và ghi chép để xác định vật mồi của chúng và những tập tính sinh học, sinh thái của các loài bọ đuôi kìm có ý nghĩa để từ đó đưa ra các phương pháp và điều kiện thích hợp khi nuôi chúng trong phòng thí nghiệm
Để xác định được diễn biến mật độ của một số loài bọ đuôi kìm trên rau họ hoa thập tự, tôi tiến hành điều tra định kỳ 5 – 7 ngày/1 lần tại các điểm
đã chọn theo tính ngẫu nhiên trong từng vụ cây trồng Đơn vị điều tra là 1
Trang 33m2/điểm ( với cây có mật độ < 50 cây/m2) hoặc 1 khung/điểm (với cây có mật
độ > 50 cây/m2), điều tra các điểm lần sau không trùng với các điểm lần trước, tại mỗi công thức đã chọn tiến hành điều tra 50 m2
cho một lần điều tra Đơn vị tính mật độ của các loài bọ đuôi kìm là con/m2
Điều tra bằng bẫy hố: Điều tra 10 điểm ngẫu nhiên trên đường chéo góc của khu vực điều tra Mỗi điểm một bẫy hố (kích thước 20x20x5 cm), hố được làm bằng cách trộn tàn dư cây rau, cỏ dại với đất ẩm
Bọ đuôi kìm sẽ được bắt tại địa điểm nghiên cứu: vùng trồng rau màu của Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc Vật mồi sử dụng được lấy từ phòng Côn Trùng học Thực nghiệm
2.4.2 Phương pháp theo dõi trong phòng thí nghiệm
Cách bố trí thí nghiệm
Chuẩn bị vật liệu thí nghiệm: đối tượng thí nghiệm là cây đậu tương tại địa điểm nghiên cứu, bọ đuôi kìm và vật mồi của chúng; đĩa Petri, hộp nhựa, môi trường nuôi cấy, vật liệu nuôi cấy…
Theo dõi thí nghiệm: theo dõi các đặc tinh sinh học, đặc điểm hình thái; xác định vòng đời, khả năng ăn con mồi của bọ đuôi kìm trong một ngày và trong cả vòng đời, xác định thời gian nở và tỷ lệ nở của trứng bọ đuôi kìm, xác định số tuổi của ấu trùng (thiếu trùng) trong điều kiện nhiệt độ phòng và trong tủ nuôi nhiệt độ cố định là 25o
Trang 34Nghiên cứu vòng đời của bọ đuôi kìm theo phương pháp nuôi cá thể bằng thức ăn là sâu non tuổi 1 – 3 của vật mồi như: sâu tơ, ấu trùng ngài gạo, rệp… trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ phòng và trong tủ nuôi nhiệt
độ 25o
C)
Thử nghiệm khả năng ăn trung bình trong ngày của một cá thể bọ đuôi kìm với từng pha phát dục của chúng theo phương pháp sau: thả bọ đuôi kìm (theo từng pha: trưởng thành , thiếu trùng) vào các đĩa Petri (đường kính
7 cm) có sẵn vật mồi (sâu non của ấu trùng ngài gạo hoặc sâu tơ), ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm Số lượng con mồi được cung cấp là: từ 3 – 6 cá thể Thí nghiệm trong 7 ngày liên tục, hàng ngày đếm số lượng vật mồi bị bọ đuôi kìm ăn
Để xác định được thời gian nở và tỷ lệ của trứng của bọ đuôi kìm chúng tôi tiến hành theo dõi trứng (trong các hộp thí nghiệm) từ khi trứng mới
nở cho đến khi trứng nở ra ấu trùng tuổi 1
Xác định thời gian phát dục cũng như số lượng trứng và thời gian sống của 1 con cái trưởng thành (1 con đực + 1 con cái), (1 con đực + 2 con cái) và theo dõi thời gian từ khi cá thể cái đẻ ổ trứng đầu tiên cho đến khi cá thể chết vì sinh lý Các thí nhiệm được nhắc lại ít nhất là 3 lần
Thức ăn chủ yếu của bộ đuôi kìm là ấu trùng tuổi nhỏ của ngài gạo được nhân nuôi tại phòng Côn trùng học thực nghiệm và cám mèo
Tiếp đó chúng tôi nuôi tập thể thiếu trùng tuổi 1 (mới nở từ trứng) trong một hộp thí nghiệp để xác định khả năng sống trong tập thể của bọ đuôi kìm phục vụ cho quá trình nhân nuôi bọ đuôi kìm Hàng ngày theo dõi thức
ăn, bông thấm nước, theo dõi thời gian lột xác của thiếu trùng, thu xác đẵ lột (để xác định tuổi) và thường xuyên ghi lại nhiệt độ, ẩm độ ở trong phòng
Trang 352.4.3 Điều tra thành phần loài bọ đuôi kìm bắt mồi và vật mồi của chúng trên cây đậu tương
a) Điều tra thu thập mẫu côn trùng Tại mỗi điểm điều tra tiến hành điều tra sơ bộ để xác định và chọn lựa các điểm điều tra có tính chất đại diện cho cùng nghiên cứu Chọn cấc điểm ngẫu nhiên tại các khu vực điều tra Tiến hành thu mẫu theo cùng một phương pháp trong tất cả các điểm điều tra Tiến hành thu nhập sâu hại, côn trùng bắt mồi, kí sinh ở tất cả các giai đoạn phát triển của chúng (trứng, thiếu trùng, trưởng thành) trên lá, thân cây, dưới đất và khu vực xung quanh Ghi chép các thông tin và chụp ảnh các nơi thu mẫu cũng như sinh cảnh sống của chúng Việc thu bắt mẫu theo phương pháp thu mẫu côn trùng thông thường gồm: thu mẫu bằng tay, sử dụng ống hút côn trùng và sử dụng vợt cô trùng ( đường kính: 40 cm, dài: 2m) để thu bắt Tiến hành thu thập mẫu côn trùng bắt mồi và vật mồi trên cây đậu tương vào thời điểm nhất định trong ngày từ 5h30 – 8h30, từ 17h – 19h Trước khi thu bắt quan sát hoạt đọng bắt mồi, gây hại và các hoạt động khác trên đồng ruộng
Điều tra chi tiết:
- Chọn ruộng điều tra
- Thu mẫu bằng tay hoặc bằng dụng cụ như panh, kẹp: Quan sát trên thân, lá, gốc của cây đậu tương và dưới đất Ghi chép các thông tin: Ngày tháng điều tra, vụ mùa, cây điều tra, giai đoạn phát triển cây, thời gian phun thuốc, loại thuốc được phun, phun lần thứ mấy Số lượng loài bọ đuôi kìm bắt mồi, số lượng vật mồi, loài sâu…vv
Số điểm điều tra là 25m2 cho một công thức điều tra Điều tra số lượng cây trong m2, điều tra tất cả cây/m2 Sử dụng vợt cô trùng (đường kính: 40cm, dài: 2m) thu mẫu: Dùng vợt trên cây, ở bờ bụi, trên các cây xung quanh, cây trồng xen Vợt 20 vợt cho 1 lần thu mẫu Điều tra tại 25 điểm Mỗi điểm (20