Các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Phù du ở châu Á tập trung ở một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á [9], [16].. Tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
PHẠM THỊ THỦY
ĐA DẠNG SINH HỌC BỘ PHÙ DU (EPHEMEROPTERA)
Ở Á ĐAI 1600-2600M TẠI VƯỜN QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYễN VĂN HIếU
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô những người đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân hòa, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Thủy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS.Nguyễn Văn Hiếu
Các số liệu, những nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân hòa, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu bộ Phù du trên thế giới 4
1.2 Tình hình nghiên cứu của bộ Phù du ở Việt Nam 8
1.3 Một số đặc điểm tự nhiên của VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai 13
1.3.1 Vị trí địa lý 13
1.3.2 Đi ̣a hình 14
1.3.3 Đi ̣a chất và thổ nhưỡng 14
1.3.4 Khí hậu 14
1.3.5 Thủy văn 15
CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂMVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Thời gian nghiên cứu 17
2.2 Địa điểm nghiên cứu 17
Trang 52.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.3 Chỉ số Đa dạng sinh học 21
2.3.4 Xử lý số liệu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đa dạng về loài của bộ Phù du ở á đai 1600-2600m tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai 23
3.2 Loài ưu thế và chỉ số đa dạng sinh học 29
3.3 Phân bố của bộ Phù du theo tính chất dòng chảy trong mùa mưa và mùa khô ở á đai 1600-2600m tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai 32
3.3.1 Phân bố của bộ Phù du theo tính chất dòng chảy ở mùa mưa tại địa điểm nghiên cứu 32
3.3.2 Sự phân bố của bộ Phù du theo tính chất dòng chảy ở mùa khô tại địa điểm nghiên cứu 35
3.4 Phân bố của bộ Phù du theo mùa ở á đai 1600-2600m tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai 37
KẾT LUẬN 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng loài và giống của bộ Phù du tại địa điểm nghiên cứu 23 Bảng 3.2 Loài ưu thế, chỉ số DI và H‟ ở mùa mưa tại khu vực nghiên cứu 29 Bảng 3.3 Loài ưu thế, chỉ số DI và H‟ ở mùa khô tại khu vực nghiên cứu 31 Bảng 3.4 Số lượng loài và số lượng cá thể bộ Phù du ở nơi nước chảy và
33
Bảng 3.5.Số lượng loài và số lượng cá thể bộ Phù du ở nơi nước chảy và nước
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1.Tỉ lệ % số loài theo họ thuộc bộ Phù du tại khu vực nghiên cứu 24 Hình 3.2.Mật độ phân bố số loài (loài/0,25m2) theo tính chất dòng chảy tại các điểm khảo sát ở mùa mưa 33
Hình 3.3 Mật độ phân bố số cá thể (cá thể/0,25m2) theo tính chất dòng chảy tại các điểm khảo sát ở mùa mưa 34
Hình 3.4.Mật độ phân bố số loài (loài/0,25m2) theo tính chất dòng chảy tại các điểm khảo sát ở mùa khô 36
Hình 3.5.Mật độ phân bố số cá thể (cá thể/0,25m2) theo tính chất dòng chảy tại các điểm khảo sát ở mùa khô 36
Hình 3.6.Số lượng loài bộ Phù du ở mùa mưa và mùa khô tại khu vực nghiên
cứu 39
Trang 8MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Côn trùng nước có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái các thủy vực cả nước đứng cũng như nước chảy So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, số lượng cá thể lớn…đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn Các loài côn trùng nước là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 đồng thời lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xương sống
Phần lớn Phù du đều có cấu tạo cơ thể thích nghi với đời sống bám hay bơi lội tự do Ngoài ra ấu trùng của một số loài có tập tính đào hang ở dưới nền đáy bùn hay cát của các thủy vực và sống ở đó cho đến khi vũ hóa thành giai đoạn trưởng thành Đặc biệt, có một số loài thích nghi với lối sống bám vào bề mặt của những khối hoặc viên đá trong thủy vực dạng suối Giai đoạn
ấu trùng của Phù du sống hoàn toàn trong nước, khi phát triển đầy đủ chúng chuyển lên mặt nước và vũ hóa bước vào giai đoạn trưởng thành Thời gian sống của giai đoạn trưởng thành ngắn hơn giai đoạn ấu trùng rất nhiều, có loài chỉ tồn tại 1- 2 giờ sau khi vũ hóa Con đực sẽ chết sau khi giao phối, còn con cái chết sau khi đẻ trứng và giai đoạn trưởng thành chủ yếu làm nhiệm vụ sinh sản
Thức ăn chủ yếu của ấu trùng Phù du là các chất mùn bã hữu cơ trong thuỷ vực hoặc các loài thực vật thuỷ sinh đặc biệt là các loài tảo Cũng có một
số loài Phù du ăn thịt tuy nhiên tỷ lệ các loài ăn thịt là không cao Mặt khác chúng lại là nguồn thức ăn của cá và nhiều nhóm động vật có xương sống ở nước Chính vì vậy, Phù du giữ một vị trí quan trọng trong hệ sinh thái Bên cạnh đó, do có đời sống chuyển từ nước lên cạn và vòng đời ngắn nên chúng được sử dụng là một đối tượng lý tưởng trong các nghiên cứu về sinh học tiến hoá Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây đã khẳng định Phù du là những sinh
Trang 9vật rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường nước nên chúng đang được
sử dụng làm sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước Với những ý nghĩa thực tiễn như vậy nên Phù du đang được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng nước,
từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa….Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu
Trong số các bộ thuộc côn trùng nước, bộ Phù du (Ephemeroptera) là
bộ thường gặp ở các dạng thủy vực nước ngọt, đặc biệt là thủy vực dạng suối Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai có hệ thống suối phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống, tồn tại và phát triển của các loài thuộc bộ Phù
du Á đai 1600-2600m là á đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi, đây là á đai chuyển tiếp từ khí hậu á nhiệt đới nên đai ôn đới Tuy nhiên, việc nghiên cứu bộ Phù du ở á đai 1600-2600m vẫn chưa được nghiên cứu rõ Vì vậy, tôi
lựa chọn hướng nghiên cứu “Đa dạng sinh học bộPhù du (Ephemeroptera)
ởá đai 1600-2600m tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”
2.Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu đa dạng về loài của bộ Phù du,phân bố của bộ Phù du theo tính chất dòng chảy và theo mùa tại á đai1600-2600m thuộc địa phận Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1.Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu đa dạng về loài, phân bố theo tính chất dòng chảy và theo mùa của bộ Phù du ở á đai 1600-2600m thuộc địa phận Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Trang 103.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu về bộ Phù du sau này tại địa phận Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Tình hình nghiên cứu bộ Phù du trên thế giới
Bộ Phù du là nhóm côn trùng có cánh cổ sinh Chúng là mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái và có mặt ở hầu hết các dạng thủy vực nước ngọt như:
ao, hồ, sông và đặc biệt là ở các dòng suối thuộc vùng núi cao Ấu trùng của
bộ Phù du được phân biệt với các ấu trùng của những bộ côn trùng khác sống
ở nước bởi sự có mặt của hàng lá mang ở hai bên phần bụng và cơ thể có 3 hoặc 2 tơ đuôi dài ở phía cuối cơ thể
Bộ Phù du (Ephemeroptera) là bộ côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm (Edmund, 1972) [14]
Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một
nhóm là Ephemera [23]
Vào thế kỷ XIX, Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892) đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu Phù du của mình, các công trình đã cung cấp những kiến thức cơ bản về Phù du như: mô tả các đặc điểm về mặt hình thái của cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, những kiến thức này rất hữu ích cho việc xây dựng khóa định loại đến họ và giống của bộ Phù du [23]
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự
Trang 12(1935) Edmunds (1963) đã xây dựng hệ thống phân loại đến họ thuộc bộ Phù
du trên toàn thế giới Ông đã đưa ra một bức tranh tổng thể về khóa phân loại bậc cao cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du
Theo Helen và cộng sự (2008), trên toàn thế giới đã xác định được khoảng 3046 loài thuộc 405 giống và 42 họ của bộ Phù du Trong đó ở Châu
Âu có khoảng 350 loài và Bắc Mỹ là 670 loài (Hubbard, 2008) Thành phần loài hay nói cách khác sự đa dạng về loài của Phù du ở các họ thể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có một loài như: Coryphoridae, Machadorythidae,
Ephemerythidae hay có những họ có tới hàng trăm loài như Baetidae, Heptageniidae, Leptophlebiidae Tuy nhiên những con số này chưa phản ánh hết mức độ đa dạng của Phù du vì còn nhiều khu vực trên thế giới vẫn chưa được khám phá hết, nhất là các khu vực nhiệt đới [15]
Trong các châu lục trên thế giới, nghiên cứu về bộ Phù du ở châu Á được các nhà khoa học rất quan tâm Những nghiên cứu đầu tiên về Phù du ở đây được thực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) [23].Những nghiên cứu này là cơ sở và nền tảng thúc đẩy việc nghiên cứu về Phù du ở khu vực Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc 18 họ của bộ Phù du (Hubbard, 1990; McCaffrty, 1991; McCaffrty & Wang, 1997, 2000; Dudgeon, 1999) [13] Các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Phù
du ở châu Á tập trung ở một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á [9], [16]
Trung Quốc là một trong số các quốc gia ở châu Á có sự đa dạng cao
về loài của bộ Phù du và được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Nghiên cứu
Trang 13về bộ Phù du ở Trung Quốc được tiến hành cách đây khoảng hơn 2000 năm Các ghi chép về Phù du có thể được tìm thấy trong “The book of Odes” [36].Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, hàng loạt các nghiên cứu về khu hệ
và phân loại học của bộ Phù du ở Trung Quốc được công bố, trong đó phải kể đến các nghiên cứu của Gui và cộng sự (1985, 1992, 1996, 1997, 1999) [36] Theo nghiên cứu của Bae (2001), tính đến năm 1999 đã xác định được 17 họ,
60 giống của khoảng 250 loài thuộc bộ Phù du ghi nhận được ở Trung Quốc [9] Nghiên cứu của Zhou (2013) cho thấy tính đến năm 2012 đã ghi nhận được 21 họ, 304 loài thuộc bộ Phù du ở quốc gia này [36] Như vậy, số lượng loài thuộc bộ Phù du ở Trung Quốc tăng gần 1,5 lần từ năm 1999 đến 2012
Ở Đài Loan, các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Phù du cũng khá chi tiết và tương đối đầy đủ Các nghiên cứu đầu tiên về bộ Phù du ở Đài Loan được nghiên cứu bởi Ulmer (1912), tiếp theo là các nghiên cứu của Edmunds (1978), sau này là các nghiên cứu của Liebenau (1985) Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây các nghiên cứu của Kang và Yang từ năm 1993 đến năm 1996 đã cho thấy một bức tranh khá chi tiết về đa dạng sinh học của bộ Phù du ở Đài Loan Dựa trên cơ sở các nghiên cứu được công bố trước đây và các nghiên cứu mới, Soldán và Yang (2003), đã ghi nhận được khu hệ Phù du
ở Đài Loan có 65 loài thuộc 28 giống và 9 họ (Baetidae, Ameletidae, Isonychiidae, Heptageniidae, Leptophlebiidae, Ephemeridae, Potamanthidae, Ephemerellidae và Canidae) Trong đó họ Baetidae có số lượng giống và loài nhiều nhất với 8 giống, 21 loài Trong 65 loài thu thập được có hai loài lần
đầu tiên ghi nhận cho khu hệ là Habrophlebiodea gilliesi và Uracanthella
rufa [35]
Thành phần loài Phù du ở Hàn Quốc lần đầu tiên được sắp xếp có hệ thống là vào năm 1994 bởi Yeon Jae Bae và cộng sự Đến năm 1997 danh sách này đã có sự sửa đổi và bổ sung, kết quả cho thấy có khoảng 74 loài
Trang 14thuộc 12 họ của bộ Phù du ở Hàn Quốc Đến năm 2010, dựa trên các kết quả nghiên cứu của Yeon Jae Bae và cộng sự, thành phần loài Phù du ở Hàn Quốc tiếp tục được bổ sung, nâng tổng số loài Phù du được phát hiện lên 80 loài [10].
Nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước ở Nhật Bản được bắt đầu khá sớm bởi một số nhà khoa học đến từ châu Âu như: McLachlan (1875); Ueno (1928) và đặc biệt trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1938, Imanishi là tác giả của nhiều côn trình nghiên cứu về khu hệ Phù du ở Nhật Bản Từ năm
1979 đến 1980, Gose đã xây dựng khóa định loại bộ Phù du ở cả giai đoạn ấu trùng và con trưởng thành Khóa định loại này vẫn được sử dụng ở Nhật Bản cho đến ngày nay Tính đến năm 2001, có khoảng 101 loài thuộc 12 họ của bộ Phù du được ghi nhận ở Nhật Bản [9]
Tại khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu của Hubbard và Pescador (1978), nghiên cứu này tập trung vào xác định sự đa dạng về loài của bộ Phù
du ở Philippin, qua đó các tác giả đã xác định được 20 loài thuộc 12 giống và
7 họ của bộ Phù du ở Philippin, bảy họ này gồm: Baetidae, Heptegeniidae, Ephemerellidae, Tricorythidae, Caenidae, Prosopistomatidae và Ephemeridae [18]
Trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 1997, Robert W Sites và cộng sự đã tiến hành thu thập mẫu vật Phù du ở 10 tỉnh miền Nam Thái Lan Kết quả cho thấy, tại khu vực nghiên cứu đã xác định được khoảng 52 loài thuộc 28 giống của 13 họ trong bộ Phù du Đồng thời các tác giả cũng đã xây dựng khóa định loại tới họ và giống của bộ Phù du tại khu vực này [34] Đặc biệt, từ năm 2000 trở lại đây hàng loạt các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của Phù du ở khu vực Đông Nam Á được công bố Trong đó đáng chú ý
là các nghiên cứu của Nguyen (2003), Nguyen và Bae (2003, 2004) [23],Hwang và Bae (2008) [16]; Braasch và Boosoong (2010) [11]
Trang 15Như vậy các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Phù du ở khu vực châu Á tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á nơi có
hệ thống các thủy vực đa dạng và phong phú đặc biệt là các thủy vực dạng suối, điều kiện khí hậu, thời tiết thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của
bộ Phù du
1.2.Tình hình nghiên cứu của bộ Phù du ở Việt Nam
Những nghiên cứu đầu tiên về Phù du ở Việt Nam được thực hiện vào đầu thế kỉ XX với các nhà khoa học nước ngoài Mở đầu là nghiên c ứu của nhà côn trùng họ c Lestage (1921, 1924), ông đã mô t ả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật được lưu giữ ở bảo tàng Pari (mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam) Tiếp đó, Navás (1922, 1925) đã công bố hai
thu được ở miền Bắc Việt Nam [23]
Đặng Ngọc Thanh (1980), xác định khu hệ Phù du ở Bắc Việt Nam bao gồm 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau Tuy nhiên trong số này chỉ có
13 loài là được định tên đầy đủ tên khoa học, số còn lại chỉ ở mức độ giống Trong nghiên cứu này, tác giả đã mô tả hai loài cho khoa học đó là
Thalerosphyrus vietnamensis và Neopheieridaecuaraoensis [2]
Braasch and Soldán (1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mới thuộc họ
Heptageniidae cho khu hệ Phù du ở Việt Nam, có 2 giống mới là Asionurus
và Trichogeniella [23]
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và
14 họ Phù du ở Việt Nam Trong đó, có 23 loài đã được biết đến trong các nghiên cứu trước, 30 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam, 37 loài mới cho khoa học và 12 loài dự đoán là loài mới cho Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài
Trang 16của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta [23]
Những nghiên cứu gần đây về bộ Phù du ở Việt Nam chủ yếu tập trung nghiên cứu đa dạng về loài dựa trên các mẫu vật thu được ở một số VQG và Khu Bảo tồn thiên nhiên của nước ta Cụ thể như sau:
Nguyễn Văn Vịnh, Hoàng Đức Huy, Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Xuân Quýnh và Bae Yeon Jae (2001) đã xác định được 39 loài thuộc 7 họ của bộ Phù du ở suối Thác Bạc thuộc VQG Tam Đảo Đó là các họ Baetidae, Caenidae, Ephemerellidae, Ephemeridae, Heptaheniidae, Isonychiidae và Leptophlebiidae Trong các họ thu được thì họ Baetidae, Heptageniidae và Leptophlebiidae có sự phân bố khá rộng, trong khi đó các loài thuộc họ Isonychiidae lại có sự phân bố tương đối hẹp [21]
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở VQG Tam Đảo
đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ So với nghiên cứu của chính tác giả trước đó (2001), trong nghiên cứu này tác giả đã bổ sung thêm một họ là họ Austremerellidae cho khu vực nghiên cứu Trong 32 loài đã định loại được có 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam cũng
như VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc là Choroterpes trifurcata,
Habrophlebiodes prominens thuộc họ Leptophlebiidae; Ephemera serica
thuộc họ Ephemeridae; Cincticistella boja, Serratella albostriata và Torleya
arenosa thuộc họ Ephemerellidae; Caenis cornigera thuộc họ Caenidae; Isonychia formosana thuộc họ Isonychiidae và 2 loài Baetiella trispinata, Platybaetis edmundsi thuộc họ Baetidae Bên cạnh việc nghiên cứu về loài,
tác giả còn nghiên cứu sự phân bố của các loài thuộc bộ Phù du theo độ cao [5]
Nguyễn Văn Vịnh, Bùi Thanh Vân, Phạm Đức Thắng (2007), trong kết quả nghiên cứu bước đầu điều tra thành phần loài Phù du tại VQG Bi Doup -
Trang 17Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, đã xác định được 48 loài thuộc 30 giống và 7 họ của
bộ Phù du Trong đó họ Heptageniidae chiếm ư thế với 10 giống và 16 loài,
họ Ephemerellidae có 5 giống với 12 loài, họ Baetidae 7 giống và 11 loài, họ Leptophlebiidae 4 giống và 5 loài, họ Caenidae 2 giống 2 loài và hai họ Ephemeridae và Teloganodidae mỗi họ có 1 giống và 1 loài [20]
Nguyễn Văn Vịnh (2008), trong nghiên cứu về thành phần loài của bộ Phù du (Ephemeroptera) ở VQG Bạch Mã, Thừa Thiên - Huế, đã xác định được 56 loài thuộc 33 giống và 11 họ đồng thời các tác giả cũng nhận xét về
sự phân bố của bộ Phù du theo độ cao tại khu vực nghiên cứu Trong đó loài
Roenanthus distafurcus lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam, loài này chỉ gặp ở
độ cao từ 66 - 74m [7]
Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) khi nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước ở VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ghi nhận được 37 loài thuộc 11 họ của bộ Phù du Trong đó họ Baetidae có số lượng loài nhiều nhất với 10 loài, các họ Austremerellidae, Isonychiidae, Polymitarcyidae và họ Teloganellidae mỗi họ chỉ thu được 1 loài [12]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2012) khi nghiên cứu đa dạng của nhóm côn trùng nước tạo VQG Ba Vì, Hà Nội đã ghi nhận được 31 loài thuộc bộ Phù du (chiếm 18,7% tổng số loài thu được) Bộ Phù du cũng là bộ có số lượng loài nhiều nhất trong các bộ côn trùng nước thu được ở khu vực nghiên cứu [31]
Nguyễn Văn Vịnh, Dương Văn Cường, Trần Anh Đức (2014) đã xác định được 49 loài thuộc 34 giống 12 họ của bộ Phù du tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Kết quả phân tích cho thấy họ Baetidae có số lượng giống và loài cao nhất với 8 giống và 11 loài; họ Heptageniidae có 8 giống và 10 loài;
họ Ephemerellidae có 5 giống, 7 loài; họ Leptophlebiidae với 4 giống, 9 loài;
Trang 18họ Potamanthidae có 2 giống, 2 loài; họ Ephemeridae có 1 giống, 3 loài; họ Caenidae với 1 giống, 2 loài Các họ Teloganodidae, Polymitarcyidae, Neoephemeridae, Isonychiidae và Austremerellidae mỗi họ chỉ có 1 giống, 1 loài [8]
Nguyễn Văn Vịnh, Lê Thùy Trang, Ngô Xuân Nam, Nguyễn Quốc Huy (2014) khi nghiên cứu khu hệ côn trùng nước tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa đã xác định được 40 loài thuộc bộ Phù du Trong đó,
họ Baetidae và họ Heptegeniidae có số lượng loài nhiều nhất, lần lượt là 11 loài và 9 loài Họ Polymitarcyidae và họ Potamanthidae có số lượng loài ít
nhất Mỗi họ chỉ thu được một loài là Polyplocia orientalis thuộc họ Polymitarcyidae và loài Rhoenanthus magnificus thuộc họ Potamanthidae Loài Polyplocia orientalis thu được ở các điểm thuộc đầu nguồn của suối, trong khi đó loài Rhoenanthus magnificus chỉ thu được ở các điểm thuộc cuối
nguồn của suối [32]
Các nghiên cứu của Mai Phú Quý, Hoàng Đình Trung, Lê Trọng Sơn (2011) đã cung cấp những dẫn liệu ban đầu về khu hệ phù du ở VQG Bạch
Mã [4] Lê Trọng Sơn, Hoàng Đình Trung, Tăng Thị Hương (2011) đã xác định được 32 loài thuộc 21 giống, 6 họ của bộ Phù du ở vùng Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên - Huế Tiếp theo các nghiên cứu trên, Hoàng Đình Trung, Lê Trọng Sơn, Mai Phú Quý (2011) đã ghi nhận được 27 loài thuộc 14 giống và
8 họ của bộ Phù du tại vùng ven VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên - Huế Hoàng Đình Trung (2012) đã cung cấp dẫn liệu tương đối đầy đủ về thành phần loài của bộ Phù du ở khu vực Bạch Mã - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên - Huế Theo nghiên cứu trên đã xác định được 68 loài thuộc 40 giống, 13 họ của bộ Phù du cho khu vực nghiên cứu [1]
Bên cạnh vệc nghiên cứu về khu hệ, các nhà khoa học còn đi sâu nghiên cứu về phân loại học của bộ Phù du Đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây
Trang 19hàng loạt các loài mới cho khoa học và loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ Phù du ở nước ta được các nhà khoa học trong và ngoài nước công bố Trong
đó phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Văn Vịnh, Yeon Jae Bae và Nisarat Tungpairojwong
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2003) đã công bố 5 loài mới thuộc
bộ Phù du cho khoa học dựa trên các mẫu vật thu được ở nước ta, bao gồm 1
loài thuộc họ Neoephemeridae là Potamanthelus unicutibius, 1 loài thuộc họ Polymitarcyidae là Polyplocia orientalis, 1 loài thuộc họ Leptophlebiidae là
Isca fascia và 2 loài là Afronurus meo và Afronurus mnong thuộc họ
Heptageniidae [22]
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2005) lần đầu tiên ghi nhận 2 loài
thuộc họ Heptageniidae ở nước ta là Compsoneuriella thienemanni và
Rhithrogena parva Đồng thời, các tác giả đã mô tả đặc điểm phân loại của
loài Isonychia formosana, mẫu vật của loài này thu thập được ở các tỉnh: Hà
Giang, Cao Bằng, Đắc Lắc, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng [6], [24]
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2006) đã hệ thống lại và xây dựng khóa định loại tới loài dựa trên giai đoạn ấu trùng của các loài thuộc họ Pothamanthidae ở nước ta Cũng trong thời gian này, các tác giả đã ghi nhận
thêm 3 loài thuộc họ Ephemerellidae ở nước ta là Cincticostella boja,
Cincticostella goseivà Cincticostella insolta, các đặc điểm để phân loại 3 loài
trên ở giai đoạn ấu trùng cũng được các tác giả mô tả cụ thể và chi tiết [25], [26] Tiếp tục các nghiên cứu về họ Ephemerellidae, Nguyễn Văn Vịnh và
Yeon Jae Bae (2007) đã công bố các nghiên cứu của mình về giống Torleya
và Ephacerella ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học quan trọng trong việc
nghiên cứu họ này ở nước ta [27], [28]
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) lần đầu tiên ghi nhận và mô
tả đặc điểm phân loại dựa vào giai đoạn trưởng thành của 2 loài thuộc họ
Trang 20Polymitarcyidae là Ephoron indicus và Povilla campodjensis ở Việt Nam
Mẫu vật của 2 loài trên đều thu được ở tỉnh Đắc Lắc Trong thời gian này, các tác giả cũng đã mô tả đặc điểm phân loại dựa vào giai đoạn ấu trùng của hai
loài Ecdyonurus landai và Ecdyonurus cervina thuộc họ Heptageniidae ở Việt
Nam [29], [30]
Bên cạnh các nghiên cứu của Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae, nghiên cứu của Nisarat (2006) cũng đã công bố 1 loài mới cho khoa học là
loài Procloeon spinosum thuộc họ Baetidae dựa trên mẫu vật thu được ở một
số tỉnh thuộc phía Bắc của nước ta [33]
So với nhiều bộ côn trùng nước khác, bộ Phù du ở Việt Nam đã được nghiên cứu một cách có hệ thống và khá đầy đủ Tuy nhiên, các nghiên cứu
về bộ Phù du ở nước ta mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu về khu hệ và phân loại học dựa vào hình thái ngoài của giai đoạn ấu trùng Các nghiên cứu
về sinh học, sinh thái học, phân loại học dựa vào giai đoạn trưởng thành và ứng dụng của bộ này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều
1.3.Một số đặc điểm tự nhiên của VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
1.3.1.Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Viê ̣t Nam , có
vị trí địa lý từ 22°9‟- 23°30‟ đô ̣ vĩ Bắc và 103°00 - 103°59‟ đô ̣ kinh Đông Về
đi ̣a giới hành chính gồm 6 xã: San Sản Hồ , Lao Chải , Tả Van , Bản Hồ , Mường Khoa, Thân Thuô ̣c thuô ̣c huyê ̣n Sa Pa và huyê ̣n Than Uyên , tỉnh Lào Cai Diện tích Vườn Quốc gia là 51.803 ha Trong đó vùng lõi là 29.848 ha, là phần cuối cùng của dãy Himalaya cha ̣y do ̣c sông Hồng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam [3]
Trang 211.3.2.Đi ̣a hình
hướng Tây Bắc - Đông Nam Đặc biệt ở Vườn Quốc gia có đỉnh núi
dần theo hướng Đông Bắc và Tây Nam ta ̣o thành hai sườn chính của dãy Hoàng Liên trong đó sườn Đông Bắc thuộc huyện Than Uyên Các dạng địa hình chủ yếu của Vườn Quốc gia Hoàng Liên gồm núi cao , thung lũng, sườn núi đồi [3]
1.3.3.Đi ̣a chất và thổ nhưỡng
Hoàng Liên được cấu tạo từ các loại đá nguồn gốc mắc - ma như granit, amphibolit, filit, đá v ôi, trong đó đá granit là phổ biến nhất (Vũ Tự Lập , 1999) Địa chất và đi ̣a hình, kết hợp với khí hâ ̣u làm nên thổ nhưỡng, quy luâ ̣t phân bố các loa ̣i đất đai ở Vư ờn Quốc gia Hoàng Liên theo đai đô ̣ cao được thể hiê ̣n khá rõ Nhìn chung, các loại đất ở đây có , hàm lượng mùn cao , phần lớn là da ̣ng viên nhỏ, quá trình xói mòn và rửa trôi yếu, đô ̣ tơi xốp cao, đô ̣ ẩm lớn, đô ̣ dầy tầng đất phổ biến là ở mức trung bình (từ 50 - 120cm), phần cơ giới thịt nhẹ, thịt trung bình, thịt nặng[3]
1.3.4 Khí hậu
Do ở phía Đông của dãy Hoàng Liên , có địa hình phức tạp nên khí hậu
ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên cũng bị phân hóa mạnh mẽ theo độ cao và hướng đi ̣a hình Mô ̣t đă ̣c trưng của khí hậu Hoàng Liên là hầu như quanh năm duy trì tình tra ̣ng ẩm ướt Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng trên 85%, tháng mưa ít nhất trung bình cũng đạt 20 - 30 mm Tổng bức xa ̣ mă ̣t trời có
/năm Nhiệt đô ̣ không khí trung bình năm từ 13 - 21°C, lớn ở sườn Tây , nhỏ ở sườn Đông Nhiê ̣t đô ̣ cao đa ̣t đỉnh vào tháng 6 - 7 có chỉ số 16 - 25°C Nhiê ̣t đô ̣ thấp nhất vào các tháng 12 và
Trang 22tháng 1, nhiều năm xuống dưới 5°C Vào mùa đông thường có băng giá và tuyết rơi đôi khi có thể xuống dưới -3°C Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm , đă ̣c biê ̣t vào các tháng mùa hè , lượng mưa tương đối
tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 (454,3mm) và tháng 8 (453,8mm) Vào mùa đông, do nhiê ̣t đô ̣ ha ̣ thấp , hạn chế lượng bay hơi nước , vì vậy, đây
là khoảng thời gian mưa ít nhất trong năm , lượng mưa trung bình trong tháng khoảng 50 - 100 mm, thấp nhất vào tháng 12 (63,6mm) nhưng do nhiê ̣t đô ̣ thấp nên thấy rằng khu vực Hoàng Liên không có tháng nào khô Lượng ẩm không khí ở khu vực Hoàng Liên tương đối cao, trung bình năm khoảng 86% Tháng có độ ẩm lớn nhất là tháng 9 và tháng 11 với giá tri ̣ 90%, tháng có độ
ẩm nhỏ nhất là tháng 4 có giá trị 82% (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [3]
1.3.5.Thủy văn
Do đă ̣c điểm đi ̣a hình của khu vực , Vườn Quốc gia Hoàng Liên được tạo thành từ hai sườn chính : sườn Đông Bắc dốc thoải về phía sông Hồng và sườn Tây Nam dốc thoải về phía sông Đà , vì vậy trong khu vực cũng tạo nên hai hê ̣ suối chính:
Hê ̣ thống suối thuô ̣c khu vực Đông Bắc gồm 3 suối chính: Mường Hoa bắt nguồn từ Phanxipan, Séo Trung Hồ bắt nguồn từ Tả Van, Tả Trung Hồ bắt nguồn từ Bản Hồ Ba suối này gă ̣p nhau ta ̣i khu vực Bản Dền ta ̣o thành ngòi
Bo đổ ra sông Hồng Vì địa hình dốc, chia cắt ma ̣nh, nên về mùa đông chúng chỉ là suối cạn song về mùa mưa , đă ̣c biê ̣t là vào các tháng có lượng mưa tâ ̣p trung (7,8,9) thườ ng có lũ và lũ quét[4]
Hê ̣ thống suối thuô ̣c khu vực Tây Nam dãy Hoàng Liên gồm hai suối chính: Suối Nâ ̣m Bé bắt nguồn từ Phansipan và suối Nâ ̣m Pao , Nâ ̣m Chăng
hai hệ thống suối chính thuô ̣c hai sườn của dãy Hoàng Liên, còn một con suối
Trang 23bắt nguồn từ lưu vực thuô ̣c xã Sa Pả và mô ̣t phần từ Sa Pa , chảy theo hướng Đông Bắc đổ vào sông Hồng tại thành phố Lào Cai [4]
Trang 24CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/2015đến tháng 05/2016 Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu được thực hiện ở hai đợt điều tra ngoài thực địa Các điểm điều tra thuộc khu vực VQG Hoàng Liên tỉnh Lào Cai
Đợt 1 được tiến hành từ ngày 27/05/2013 đến ngày 31/05/2013 (thuộc mùa mưa)
Đợt 2 được tiến hành từ ngày 24/10/2013 đến ngày 29/10/2013 (thuộc mùa khô)
Vật mẫu sau khi thu thập ngoài thực địa được bảo quản và định loại tại phòng thí nghiệm Đa dạng sinh học, Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội
và phòng thí nghiệm Động vật học, khoa Sinh-KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.2.Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 6 điểm nghiên cứu thuộc hệ thống suối chính của Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai và các điểm thu mẫu được đánh số thứ tự từ S1 đến S6 tại áđai1600-2600m là đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi
Dưới đây là một số đặc điểm chính của các điểm thu mẫu:
Trang 25Kí hiệu Điểm thu mẫu Độcao (m)/
1.901 (220 21,287‟;
1030 46,465‟)
Chiều rộng của suối nhỏ, hai bên suối có nhiều cây bụi nhỏ Nền đáy của suối chủ yếu là đá nhỏ và sỏi Suối ít mùn bã thực vật Độ che phủ 0-10%
S2
Trạm Tôn 1 (xã San Sả Hồ)
1.894 (220 21,023‟;
1030 46,294‟)
Chiều rộng của suối nhỏ, nước suối chảy khá mạnh Hai bên suối có nhiều cây bụi nhỏ Suối nhiều mùn bã thực vật Độ che phủ khoảng 80%
S3
Trạm Tôn 2 (xã San Sả Hồ)
1.884 (220 20,923‟;
1030 46,227‟)
Hai bên suối là rừng tre, nứa, cây gỗ nhỏ và trung bình Nước chảy khá mạnh và tương đối trong Suối nhiều mùn bã thực vật Lòng suối nhỏ Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ Độ che phủ lớn khoảng 90-95%
S4
Trạm Tôn 3 (xã San Sả Hồ)
1.879 (220 20,896‟;
1030 46,185‟)
Nước suối trong và chảy mạnh Nền đáy của suối chủ yếu là đá nhỏ và trung bình, ít
đá tảng lớn Hai bên bờ của
Trang 26Kí hiệu Điểm thu mẫu Độcao (m)/
S5
Suối Vàng (xã San Sả Hồ)
1.878 (220 20,915‟;
1030 46,187‟)
Nước suối trong, chảy mạnh Hai bên suối có nhiều cây gỗ lớn, ít cây bụi nhỏ Nền đáy của suối có nhiều đá có kích thước lớn, bên cạnh đó còn có nhiều đá nhỏ và trung bình
Độ che phủ khoảng 80-90%
S6
Thác Bạc (xã San Sả Hồ)
1.830 (220 21,846‟;
1030 46,570‟)
Khu vực thu mẫu là điểm du lịch Thác Bạc Nền đáy có nhiều đá tảng lớn Hai bên bờ suối có nhiều cây bụi, cây leo
và cây gỗ nhỏ Độ che phủ 80%
2.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu ở giai đoạn ấu trùng của các loài thuộc bộ Phù du thu được ở á đai 1600-2600mtạiVườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Trang 272.3.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Lấy mẫu theo các phương pháp nghiên cứu thường quy về côn trùng nước đã và đang thực hiện trên thế giới cũng như ở Việt Nam Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cmx50cm, kích thước mắt lưới 0,2 mm)
Thu mẫu định tính
Tiến hành thu mẫu được thực hiện theo phương pháp của Edmunds và cộng sự (1976), Mc Cafferty (1981), Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), Nguyen and Bae (2003,2005,2006) Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy, cũng như nơi nước đứng Khi thu mẫu, dùng vợt đưa qua các đám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ hoặc các đám lá trôi nổi trên bề mặt nước Đối với các loại côn trùng sống trên mặt nước, dùng vợt đưa nhanh lên mặt nước Đối với một số loài sống bám vào các tảng đá, dùng phương pháp đạp nước ở nền suối hoặc nhấc các tảng đá lên tìm kiếm và dùng panh mềm để nhặt mẫu (tránh làm nát mẫu), ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp thì việc thu mẫu được thực hiện bằng vợt tay
Trang 28phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Đa dạng sinh học, Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội và phòng thí nghiệm Động vật học, khoa Sinh-KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
* Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau
2.3.3 Chỉ số Đa dạng sinh học
Chỉ số Đa dạng sinh học (ĐDSH) được sử dụng trong đề tài là: chỉ số
Shannon - Weiner (chỉ số H‟)
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin
hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon-Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:
Trang 29s: số lượng loài N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
ni: số lượng cá thể của loài i
Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H‟ càng lớn và sự phân bố các
cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây:
Trong đó: n1: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ nhất
n2: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ hai
N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu
2.3.4 Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft office exel 2007 và phần mềm Primer
6
Trang 303.1.Đa dạng về loài của bộPhù du ởá đai 1600-2600m tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Kết quả phân tích mẫu vật thu được ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai ở
2 đợt đã xác định được 52 loài của 25 giống thuộc 8 họ của bộ Phù du Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng loài thu được tại khu vực nghiên cứu giữa các họ thuộc bộ Phù du có sự khác nhau rõ rệt về số lượng giống cũng như loài Kết quả cụ thể được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Số lƣợng loài và giống của bộ Phù du tại địa điểm nghiên cứu
Trang 31Hình 3.1 Tỉ lệ % số loài theo họ thuộc bộ Phù du tại khu vực nghiên cứu
Để làm rõ hơn tính đa dạng loài của bộ Phù du nước tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi phân tích kết quả:
Trước tiên ở mức độ giống, có thể nhận thấy họ Baetidae và Heptageniidae chiếm ưu thế với lần lượt là 8 giống chiếm (32%) và 7 giống chiếm (28%) Tiếp theo là họ Leptophlebiidaevà họEphemerellidaecùng có 3 giống chiếm (12%) mỗi họ, các họ Caenidae, Ephemeridae, Siphluriscidae và Vietnamellidaeđều có 1 giống duy nhất và mỗi họ chiếm 4% tổng số giống thu được tại khu vực nghiên cứu
Ở bậc phân loại cấp độ loài, cũng tương tự như ở bậc phân loại cấp giống, ở bậc phân loại cấp loài, họ Baetidae có số lượng loài nhiều nhất với
17 loài chiếm (32%) trên tổng số loài thu được tại khu vực nghiên cứu Tiếp đến, là họ Heptageniidae với 15 loài chiếm (28,3%), họ Ephemerellidae với 9 loài chi ếm (17%), họ Leptophlebiidae v ới 6 loài chi ếm (11,3%) Họ Ephemeridae có số lượng là 3 loài chiếm (5,7%) Các họ có số lượng loài ít
32
1.9 17
5.7 28.3
11.3
1.9 1.9
Baetidae Caenidae Ephemerellidae Ephemeridae Heptageniidae Leptophlebiidae Siphluriscidae Vietnamellidae