Tình hình tài liệu quan trắc:...8 CHƯƠNG III: XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI ĐƯỜNG BỜ, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG, MẠNG LƯỚI CẢNH BÁO THIÊN TAI VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TẠI SÓC
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU, THỦY VĂN, HẢI VĂN TỈNH SÓC TRĂNG 2
I.1 ĐẶC KHÍ HẬU 2
II.2 ĐẶC ĐIỂM THỦY HẢI VĂN 4
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỈNH SÓC TRĂNG 6
II.1 TRẠM KHÍ TƯỢNG SÓC TRĂNG 6
II.1.1 Vị trí trạm : 6
II.1.2 Lịch sử trạm: 6
II.1.3 Tình hình tài liệu quan trắc: 6
II.2 CÁC TRẠM ĐO MẶN 6
II.2.1 Trạm Mỹ Thanh 6
II.2.2 Trạm Trần Đề 7
II.2.3 Trạm Đại Ngãi 7
II.2.4 Trạm Sóc Trăng _ Kênh Máspero 7
II.3 TRẠM THỦY VĂN ĐẠI NGÃI – SÔNG HẬU 7
II.3.1 Vị trí trạm : 7
II.3.2 Lịch sử trạm: 8
II.3.3 Tình hình tài liệu quan trắc: 8
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI ĐƯỜNG BỜ, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG, MẠNG LƯỚI CẢNH BÁO THIÊN TAI VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TẠI SÓC TRĂNG 9
III.1 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI ĐƯỜNG BỜ 9
III.2 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 9
III.3 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC NƯỚC BIỂN DÂNG 9
III.4 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI CẢNH BÁO THIÊN TAI VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG 10
KẾT LUẬN 12 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với công tác quan trắc và phân tích dự báo khí tượng là tích lũy, cung cấp số liệu quan trắc và phân tích các chỉ tiêu về khí tượng thủy văn cho các cơ quan quản lý môi trường, chính quyền và nhân dân trong nước, cũng như các tổ chức quốc tế, đồng thời cung cấp thông tin môi trường và cảnh báo cần thiết Số liệu đó phải đảm bảo độ chính xác và trung thực.đồng thời số liệu đó còn dùng để so sánh đánh giá diễn biến khí hậu thời tiết giữa các địa phương với nhau và trao đổi thông tin môi trường khu vực và quốc tế
Vì vậy, việc thực hiện xây dựng mạng lưới quan trắc biến đổi đường bờ, biến đổi
khí hậu và nước biển dâng, xây dựng mạng lưới cảnh báo thiên tai và sự cố môi trường là rất cần thiết nhằm ứng phó với tình trạng BĐKH và nước biển dâng, giảm nhẹ thiệt hại
do BĐKH và nước biển dâng
Trang 3CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU, THỦY VĂN,
HẢI VĂN TỈNH SÓC TRĂNG
I.1 ĐẶC KHÍ HẬU
I.1.1 Đặc điểm nhiệt độ
Vùng nghiên cứu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5-11 với gió mùa Tây-Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 với gió mùa Đông-Bắc Nhiệt độ trung bình nhiều năm cao (khoảng 26,7oC) Số ngày có nhiệt độ trung bình từ 26 – 28oC là 206 ngày/ năm
I.1.2 Độ ẩm không khí tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm từ 82,2 – 87,5% Tháng VII, VIII độ ẩm tương đối trung bình cao nhất: 86 – 89% Tháng I và tháng II độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất: 75,6% - 83,2 %
I.1.3 Chế độ gió
Trong năm có hai mùa: gió Đông Bắc (tháng XI ÷IV) và gió Tây Nam (tháng V
÷X) Gió mùa Đông Bắc (hay gió Chướng), hoạt động mạnh vào thời kỳ đầu mùa khô, gặp thời kỳ triều cường thường gây ra sóng lớn làm cho nước mặn tràn vào đồng ruộng Gió mùa Tây nam với thành phần chính là gió hướng Tây có tốc độ trung bình tháng lớn nhất 1,8 m/s, tốc độ gió tức thời lớn nhất là 27m/s
Thống kê tốc độ gió (max, min, trung bình) tại Sóc trăng trong thời kỳ 1985-2008
I.1.4 Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm khá lớn, đạt trên 1000 mm Mùa khô, do nắng nhiều và độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn (tháng IV lớn nhất: 100 – 150 mm) Mùa mưa, lượng bốc hơi giảm nhiều, tháng VII lượng bốc hơi thấp nhất (50 – 80mm)
I.1.5 Chế độ nắng
Số giờ nắng trung bình khá cao, bình quân cả năm 6,8 – 7,5 giờ/ ngày Tháng II –
IV, số giờ nắng cao nhất (8 – 10 giờ/ ngày) Tháng VII – IX, số giờ nắng thấp nhất (5 – 6 giờ/ ngày) Số giờ nắng cao trong ngày là đặc điểm thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng
và phát triển
I.1.6 Chế độ mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng V đến hết tháng XI, trùng với thời kỳ gió mùa Tây nam, lượng mưa chiếm từ 90 – 95% lượng mưa cả năm Mùa khô bắt đầu từ tháng XII và kết thúc tháng IV năm sau, trùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc
Điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển thực vật do nhiệt lượng dồi dào, ít có bão và hạn hán kéo dài
Trang 4Bảng: Các đặc trưng khí tượng tại trạm Sóc Trăng
Tháng
Nhiệt độ trung bình tháng nhiều năm ( o C)
Độ ẩm trung bình tháng nhiều năm (%)
Tốc độ gió trung bình tháng nhiều năm (m/s)
Lượng bốc hơi trung bình tháng nhiều năm (%)
Số giờ nắng trung bình tháng nhiều năm (giờ)
Đặc trưng
I.1.7 Đặc điểm khí áp
Biến trình của khí áp liên quan mật thiết đến nhiệt độ không khí, gió và ẩm Khí áp lớn các tháng mùa đông lớn hơn các tháng mùa hè Thống kê về khí áp tại sóc Trăng thời
kỳ 1985-2008
I.1.8 Bão
Vùng nghiên cứu gặp ít bão hơn so với các vùng biển phía Bắc Mùa bão thường xảy ra vào những tháng cuối năm Theo số liệu thống kê trong 50 năm trở lại đây (1949 -1998) ở vùng biển phía Nam Việt Nam đã xuất hiện 33 cơn bão, trong đó chỉ có 8 cơn bão đổ bộ vào vùng biển Sóc Trăng Tuy ít bão nhưng cũng có cơn bão gây ra thiệt hại lớn về người và tài sản như cơn bão số 5 - cơn bão Linda năm 1997 Bảng thống kê các trận bão đổ bộ vào khu vực từ Nam Trung Bộ (Khánh Hòa) đến Cà Mau (từ vĩ độ 7 oN đến 12oN) thời kỳ 18 năm gần đây (1991-2008)
Trang 5Bảng: Thống kê các trận bão đổ bộ vào khu vực (1991-2008)
Năm Tên cơn bão
Ngày hình thành
Ngày đổ
bộ Khu vực đổ bộ
Cấp gió mạnh (Beaufort)
1991
2001
2007
II.2 ĐẶC ĐIỂM THỦY HẢI VĂN
II.2.1 Đặc điểm thủy văn
Chế độ thuỷ văn vùng nghiên cứu có liên quan mật thiết với chế độ thuỷ văn sông Mekong, thuỷ triều biển Đông và mưa nội đồng Ngoài ra, chế độ thuỷ văn trong vùng còn chịu ảnh hưởng của hệ thống công trình kiểm soát mặn biển Đông, công trình thuỷ lợi nội đồng Hệ thống thủy văn tại các huyện ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều biển Đông với chế độ nước bán nhật triều, mặn quanh năm, truyền vào trong nội đồng theo cửa Định An và cửa Trần Đề Kết hợp với dòng chảy sông Hậu, đặc biệt vào mùa lũ, khi lũ cao tràn về kết hợp triều cường mực nước dâng cao có khả năng tràn vào nội đồng (mực nước lớn nhất đo được tại trạm Đại Ngãi năm 1997 là 2,19 m), nhờ có hệ thống đê
bờ bao chống lũ bảo vệ sản xuất và dân cư sinh sống trong vùng
Chế độ thủy văn về mùa khô: Chế độ thủy văn nội đồng bị chi phối bởi các yếu
tố:
+ Chế độ nước của nguồn sông Hậu qua Châu Đốc;
+ Chế độ thủy triều biển Đông qua cửa Trần Đề và cửa Định An;
+ Hệ thống kênh rạch, công trình nội đồng thuộc vùng Cù Lao
Chế độ thủy văn mùa lũ: Mùa lũ hàng năm bắt đầu từ trung tuần tháng 7, mực
nước trên sông MêKông tăng nhanh và dòng lũ chảy về phía hạ lưu kết hợp với triều cường, gió chướng mực thủy triều dâng cao, nếu không có đê bao thì toàn bộ diện tích
Trang 6nhiều vùng trong tỉnh bị ngập sâu dưới mực nước triều trung bình từ 0,3 – 0,5m đặc biệt
có nơi đến 1,0 – 2,0m
II.2.2 Đặc điểm hải văn
Thủy triều trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là bán nhật triều không đều Biên độ thủy triều ở cửa sông Hậu vào khoảng 3m (triều cường) và 1,80m (triều kém) Biên độ triều giảm dần theo khoảng cách lên thượng lưu
Hệ thống kênh rạch trong vùng đều có cửa thông với sông Hậu, cho nen chế độ thủy văn phụ thuộc vào chế độ thủy triều của biển Theo số liệu quan trắc tại trạm Vũng Tàu, đỉnh triều bình quân cao nhất là 443 cm (vào các tháng 10, 11), thấp nhất là 58 cm vào tháng 5, 8 Chân triều cao nhất – 24 cm (tháng 11), chân triều thấp nhất – 300 cm (tháng 6)
Thủy triều biển ven bờ vùng nghiên cứu có chế độ bán nhật triều không đều Tại trạm thủy văn Mỹ Thanh, cửa sông Mỹ Thanh, đặc trưng thủy triều tính toán dựa trên chuỗi số liệu quan trắc từ năm 1985-2008 Các giá trị đặc trưng triều kiệt được xác định như sau:
+ Mực nước triều kiệt nhiều năm: -2,49m (ngày 12/6/1987)
+ Mực nước trung bình triều kiệt nhiều năm: -2,22m
Dòng chảy biển
Chế độ độ thủy, hải văn ven biển phụ thuộc vào nguồn nước của sông Cửu Long
và chế độ thủy triều của biển Trong mùa hè dòng chảy các tầng nhìn chung có xu thế đi
từ Nam lên Bắc Ngoài khơi, dòng chảy ổn định hơn với tốc độ trung bình 0.4-0.5m/s Mùa đông dòng chảy thường có hướng từ Bắc xuống Nam và chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc Khu vực ngoài khơi, dòng chảy có hướng tương đối ổn định Ở gần
bờ, do ảnh hưởng của các cửa sông và kênh rạch đổ ra biển, cùng với dòng chảy của sông Hậu đã gây tác động đến hướng của dòng chảy
Sóng biển: chế độ sóng bị tác động bởi hai thời kỳ gió mùa với 2 hướng chính điểm là sóng theo hướng Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 (mùa khô) và sóng theo hướng Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 9 (mùa mưa)
Độ cao sóng cực đại trung bình trong năm là 3.5m
Trang 7CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG
THỦY VĂN TỈNH SÓC TRĂNG.
II.1 TRẠM KHÍ TƯỢNG SÓC TRĂNG
II.1.1 Vị trí trạm :
- Trạm thuộc lưới trạm điều tra cơ bản của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia
- Địa chỉ: 138 Trần Hưng Đạo, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Tọa độ địa lý:
Kinh độ: 105o58’ Đông
Vĩ độ : 9o36’ Bắc
II.1.2 Lịch sử trạm:
- Trạm được thành lập trước năm 1975 có số liệu quan trắc từ năm 1949 có tên trạm Sóc Trăng (Khánh Hưng)
- Từ tháng 10/1977 Đài Khí tượng Thủy văn Hậu Giang quản lý trạm
- Tháng 06/1993 Đài Khí tượng Thủy văn Khu Vực Nam Bộ được thành lập và quản lý trạm từ đó cho đến nay
II.1.3 Tình hình tài liệu quan trắc:
Chuỗi số liệu quan trắc liên tục từ 10/1977 đến nay
Trạm quan trắc các yếu tố sau:
- Nhiệt độ không khí
- Nhiệt độ mặt đất
- Ẩm độ không khí
- Lượng bốc hơi
- Lượng mưa
- Số giờ nắng
- Hướng và tốc độ gió
- Loại mây và độ cao
- Tầm nhìn ngang
- Các hiện tượng thời tiết
II.2 CÁC TRẠM ĐO MẶN
II.2.1 Trạm Mỹ Thanh
- Tọa độ địa lý:
Kinh độ: 105o10’15.3" Đông Vĩ độ : 09o25’29.2" Bắc
Trang 8- Trạm đặt bên bờ trái sông Mỹ Thanh (ngay cửa sông Mỹ Thanh), thuộc ấp Mõ
Ó, xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
- Cách trạm khoảng 200m về phía thượng lưu bên bờ trái có ngã ba giữa kênh bà Sáu Quế và sông Mỹ Thanh
- Chuỗi số liệu quan trắc liên tục từ năm 01/01/1981 đến 31/12/2007 Từ 01/01/2008 trạm dời về vị trí mới trên sông Hậu và có tên mới là trạm Trần Đề
II.2.2 Trạm Trần Đề
- Tọa độ địa lý:
Kinh độ: 105o10’00" Đông Vĩ độ : 09o00’00" Bắc
- Trạm đặt bên bờ phải sông Hậu, cách cửa biển khoảng 1 km, thuộc ấp Cảng, xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
- Cách trạm khoảng 3 km về phía thượng lưu bên bờ trái có ngã ba giữa sông Cồn Tròn và sông Hậu
- Ngày 01/01/2008, chính thức lấy số liệu quan trắc tại trạm Trần Đề Chuỗi số liệu quan trắc liên tục từ năm 2008 đến nay
II.2.3 Trạm Đại Ngãi
- Tọa độ địa lý:
Kinh độ: 106o 04’27.3” Đông Vĩ độ : 09o 44’04.4” Bắc
- Trạm đặt bên bờ phải sông Hậu, thuộc ấp Ngãi Hội 2, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
II.2.4 Trạm Sóc Trăng _ Kênh Máspero
- Tọa độ địa lý:
Kinh độ: 105o58’" Đông Vĩ độ : 09o36’" Bắc
II.3 TRẠM THỦY VĂN ĐẠI NGÃI – SÔNG HẬU
II.3.1 Vị trí trạm :
- Trạm thuộc lưới trạm điều tra cơ bản của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia
- Tọa độ địa lý:
Kinh độ: 106o 04’27.3” Đông Vĩ độ : 09o 44’04.4” Bắc
- Trạm đặt bên bờ phải sông Hậu, thuộc ấp Ngãi Hội 2, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
- Cách khoảng 300m về phía hạ lưu trạm bên bờ phải là nơi giao nhau giữa vàm Đại Ngãi và sông Hậu; cách 250m phía hạ lưu trạm bên cù lao Dung có ngã ba giao nhau
Trang 9giữa Rạch Miễu và sông Hậu; cách khoảng 800m phía thượng lưu trạm bên bờ phải có ngã ba giữa rạch RocLa và sông Hậu, trạm cách cửa biển Trần Đề khoảng 40 km
II.3.2 Lịch sử trạm:
- Trạm Đại Ngãi được xây dựng từ ngày 01/01/1909 (theo tài liệu của Cục Quản lý đường sông) Trạm bắt đầu thu thập số liệu từ năm 1912 nhưng không liên tục
- Từ ngày 27/06/1977 Cục Quản lý đường sông giao trạm cho Đài Khí tượng Thủy văn Hậu Giang quản lý
- Tháng 06/1993 Đài Khí tượng Thủy văn Khu Vực Nam Bộ được thành lập và quản lý trạm từ đó cho đến nay
II.3.3 Tình hình tài liệu quan trắc:
- Chuỗi số liệu quan trắc liên tục từ 1976 đến nay
- Các yếu tố đo đạc:
+ Mực nước: đo đạc bằng máy tự ghi mực nước, cho số liệu 24/24
+ Mưa: đo đạc mỗi ngày 2 lần vào lúc 7giờ và 19giờ
NHẬN XÉT: Hiện nay mạng quan trắc khí tượng thủy văn của tỉnh vẫn còn lạc hậu, các số liệu quan trắc theo lối thủ công vì thế việc dự báo khí tượng thủy văn và dự báo thiên tai không hiệu quả
Trang 10CHƯƠNG III XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI ĐƯỜNG BỜ, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG, MẠNG LƯỚI CẢNH BÁO THIÊN TAI VÀ SỰ CỐ
MÔI TRƯỜNG TẠI SÓC TRĂNG III.1 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI ĐƯỜNG BỜ
Hiện nay tại Việt Nam đã lắp đặt tại Hà Nội 01 trạm thu số liệu vệ tinh địa tĩnh GMS và vệ tinh quỹ đạo cực NOOA với độ phân giải cao Có thể sử dụng hình ảnh của
vệ tinh này để quan sát sự biến đổi đường bờ
Thực hiện quan trắc biến đổi đường bờ bằng công nghệ viễn thám Thành lập 1 trung tâm quan sát biến đổi đường bờ bằng công nghệ viễn thám Trung tâm này có thể đặt tại trạm khí tượng thủy văn Sóc Trăng Trung tâm có nhiệm vụ xây dựng các bản đồ biến đổi đường bờ dựa vào việc phân tích ảnh viễn thám Thường xuyên công bố các bản
đồ biến đổi đường bờ cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để có hướng khắc phục
Phương pháp thực hiện:
Ảnh vệ tinh sử dụng để hiệu chỉnh là ảnh vệ tinh SPOT 4 ( loại Panchromatic) Đối với thành lập bản đồ địa hình: dùng phương pháp hiệu chỉnh bản đồ địa hình
cũ theo ảnh vệ tinh SPOT 5, có chia mảnh lại cho phù hợp với lãnh thổ ven biển của tỉnh
Đối với thành lập bản đồ biến động đường bờ: dùng phương pháp bản đồ - viễn thám để xác định các đoạn bờ có hiện tượng bồi tụ, xói lở xen kẽ nhau Bản chất của phương pháp này là việc xác định và so sánh hiện trạng đường bờ biển có trên ảnh vệ tinh viễn thám đa thời gian (ảnh đã được nắn chỉnh hình học với độ chính xác cao) và trên bản
đồ, sau đó tích hợp chúng trên nền bản đồ địa hình chuẩn; từ đó tái lập trạng thái và vị trí không gian của chúng theo từng cặp thời gian kế tiếp nhau Trong quá trình phân tích ảnh cần phải sử dụng phương pháp nội suy theo mực nước triều tại thời điểm chụp ảnh với độ sâu đáy biển
III.2 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trong trạm khí tượng Sóc Trăng thành lập thêm một ban chuyên phân tích, đánh giá tình hình biến đổi khí hậu của tỉnh thông qua các yếu tố khí hậu được quan trắc là nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió Các yếu tố được quan tâm thường xuyên là nhiệt độ, lượng mưa và gió Hàng tháng thông báo biểu đồ thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, gió cho người dân và Sở Tài nguyên Môi trường biết để có biện pháp thích ứng với những biến đổi đó
III.3 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC NƯỚC BIỂN DÂNG
Hiện có 17 trạm khí tượng thủy văn biển quan trắc các yếu tố khí tượng và các yếu
tố hải dương: (hướng sóng và độ cao sóng, mực nước, nhiệt độ nước biển, độ mặn nước biển, trạng thái mặt biển v.v ) Ngoài ra, còn có 1 tàu nghiên cứu biển phục vụ điều tra khảo sát biển
Trang 11Tuy nhiên, có 3 trạm hải văn có số liệu nhiều năm là Hòn Dấu (Hải Phòng), Sơn Trà (Đà Nẵng), và Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu) Trạm có thời gian hoạt động dài nhất
là trạm Hòn Dấu (từ năm 1902 đến nay)
Dải ven biển của Sóc Trăng dài khoảng 72km, thuộc 3 huyện Cù Lao Dung, Long Phú và Vĩnh Châu nên việc lắp đặt thêm trạm quan trắc nước biển là cần thiết.Các thiết bị quan trắc trong trạm này đều tự động
Vị trí để lắp đặt 2 trạm quan trắc nước biển này có thể đặt tại cửa Định An và cửa Trần Đề (2 cửa sông lớn của Sóc Trăng và có diễn biến phức tạp)
Các thiết bị quan trắc trong trạm này đều tự động Quan trắc nhiệt độ Độ mặn nước biển, mực nước biển, sóng Các trạm sẽ tự động cập nhật liên tục số liệu thời gian thực bằng (qua) hệ thống đường truyền di động GMS về Trung tâm điều hành
III.4 XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI CẢNH BÁO THIÊN TAI VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG
Hiện nay tại các trạm quan trắc khí tượng thiết bị máy móc đều được trang bị từ nhiều năm về trước Cán bộ dù được đào tạo cơ bản nhưng ít có điều kiện tiếp xúc với các công nghệ mới, hiện đại nên năng lực chuyên môn còn nhiều hạn chế (chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi) Vì vậy, độ chính xác trong công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thuỷ văn còn nhiều hạn chế Hơn nữa phương pháp đo của các trạm này chủ yếu vẫn đo
là thủ công và chưa có các thiết bị truyền số liệu thời gian thực Với cách đo đạc thủ công theo ca như hiện nay từ 7 giờ sáng đến 19 giờ tối thì nếu bão, lũ xảy ra vào ban đêm thì không thể cảnh báo được
Vì vậy cần tăng cường công tác cảnh báo thiên tai và sự cố môi trường tại trạm quan trắc khí tượng Sóc Trăng bằng cách:
Trên cơ sở các mô hình cảnh báo thiên tai kết hợp với các công nghệ xử lý giải đoán ảnh vệ tinh MODIS, MTSAT, sẽ xây dựng, lắp đặt thêm các trạm đo mưa tự động, trạm đo gió tự động và 1 trung tâm tự động thu nhận, xử lý, phân tích số liệu và ra quyết định Thay vì phải làm thủ công như hiện nay khi các cán bộ khí tượng thuỷ văn phải trực tiếp cầm sổ sách đi đo (cập nhật) số liệu tại các trạm đo mưa, đo gió thì nay mọi thông tin
về lượng mưa, cường độ mưa, các ngưỡng có thể gây ngập lụt, lũ quét; sức gió; dự báo hướng, cường độ và tốc độ di chuyển của bão từ các trạm sẽ tự động cập nhật liên tục số liệu thời gian thực bằng (qua) hệ thống đường truyền di động GMS về Trung tâm điều hành Khi lượng mưa, lượng gió vượt ngưỡng và có khả năng xảy ra thiên tai (lũ quét) thì trạm cảnh báo sẽ tự động phát tín hiệu thành tiếng còi hoặc tiếng loa để người dân biết, chủ động phòng tránh.Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng điện thoại di động GSM hiện nay, đặc biệt là dịch vụ kết nối Internet, truyền data và tin nhắn, phủ sóng rộng khắp cho phép truyền thông tin, số liệu nhanh chóng, ổn định ngay cả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt Nhờ đó, Trung tâm điều hành hệ thống các trạm tự động đảm bảo thông suốt, ổn định, liên tục 24/24 giờ
Lắp các máy quan trắc địa chấn trên các trạm khí tượng thủy văn sẵn để kịp thời quan trắc nguy cơ sóng thần xuất hiện
Các thông tin sau khi xử lý sẽ nhanh chóng được chuyển trực tiếp tới các nhà quản lý (được phân quyền) Do đó, người quản lý dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời điểm nào đều có thể nhận được thông tin cảnh báo thiên tai để có các biện pháp xử lý và ứng cứu chủ động, kịp thời