MỤC LỤCTrang MỞ ĐẦU---1 CHƯƠNG I---2 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỒI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ LƯU VỰC SÔNG TỈNH SÓC TRĂNG---2 I.. Sóc Trăng là tỉnh vùng hạ lưu châu thổ sô
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU -1
CHƯƠNG I -2
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỒI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ LƯU VỰC SÔNG TỈNH SÓC TRĂNG -2
I ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH SÓC TRĂNG 2
II TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ LƯU VỰC SÔNG 2
1 Tác động đến tài nguyên nước 2
2 Tác động đến lưu vực sông 6
CHƯƠNG II -9
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ LƯU VỰC SÔNG -9
I SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN NƯỚC TƯỚI 9
1 Tính cấp thiết phải sử dụng hợp lý nước tưới tại tỉnh Sóc Trăng 9
2 Các biện pháp sử dụng hợp lý nước 9
II GIẢI PHÁP ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ MÔI TRƯỜNG 10
III HỢP TÁC LIÊN VÙNG TRONG QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC 11
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ -12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba đồng bằng dễ tổn thương nhất trên trái đất do biến đổi khí hậu, những diễn biến thời tiết ngày càng xấu đi đã và đang tác động ngày càng nặng nề lên khu vực này
Đối với ĐBSCL, biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt xảy ra với tần suất ngày càng lớn hơn Những yếu tố đó sẽ làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác Khắc phục những vấn
đề này chính là giải quyết được một phần rất lớn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với đồng bằng sông Cửu Long Một trong những mối quan tâm tại vùng là sự tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới tài nguyên nước Thời tiết rất khô trong lưu vực sông Mêkông là nguyên nhân gốc rễ của nước chảy tràn giảm và mức nước sông Cửu Long Ngoài ra, việc sử dụng nguồn nước vùng thượng nguồn đã và đang tác động sâu sắc tới tình hình sử dụng tài nguyên nước vùng hạ lưu
Sóc Trăng là tỉnh vùng hạ lưu châu thổ sông Mêkông, những tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã và đang ảnh hưởng đến tình hình sử dụng và quản lý
tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Do đó, việc “Quản lý tài nguyên nước và lưu vực”
là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Trang 3CHƯƠNG I TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỒI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN
DÂNG ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ LƯU VỰC
SÔNG TỈNH SÓC TRĂNG
I ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH SÓC TRĂNG
Mạng lưới dòng chảy sông ngòi, kênh rạch (có thể lưu thông tàu, thuyền qua lại) có mật độ dày bình quân hơn 0,2 km/ km2 trong đó quan trọng nhất là sông Hậu chảy ở phía Bắc tỉnh ngăn cách Sóc Trăng với Trà Vinh và sông Mỹ Thanh chảy ở phía Đông Nam tỉnh là nguồn cấp nước chủ yếu cho sản xuất đồng thời là tuyến đường sông ra biển của tỉnh Phần lớn mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chịu ảnh hưởng xâm mặn vào mùa khô và do tác động của chế độ thủy triều lên xuống ngày 2 lần với mực nước dao động trung bình 0,4 - 1 m Lưu lượng nước sông Hậu mùa mưa trung bình khoảng 7000 - 8000 m3/s vào mùa khô giảm xuống chỉ còn 2000 - 3000 m3/s làm nước mặn xâm nhập sâu vào khu vực bên trong đất liền (Long Phú, Mỹ Tú), tương tự vào mùa khô nước mặn xâm nhập qua sông Mỹ Thanh theo kênh rạch vào tới vùng phía Tây (Thạnh Trị ) của tỉnh gây khó khăn về nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt
Nguồn nước ngầm khá dồi dào, nước ngầm mạch sâu từ 100 - 180 m, chất lượng nước tốt để sử dụng cho sinh hoạt, nước ngầm mạch nông từ 5 - 30 m thường bị nhiễm mặn vào mùa khô
II TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ LƯU VỰC SÔNG
1 Tác động đến tài nguyên nước
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước tỉnh Sóc Trăng Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong mùa mưa gây ngập úng Nguồn nước ngầm bị suy giảm dẫn đến cạn kiệt do khai thác quá mức và thiếu nguồn bổ sung
1.1 Các yếu tố tác động đến tài nguyên nước tỉnh Sóc Trăng do biến đổi khí hậu
a) Lượng nước đầu nguồn sông Hậu
Các tính toán phân tích thống kê cho thấy mực nước trên dòng chính sông Tiền
và sông Hậu phụ thuộc cơ bản vào hai yếu tố: thủy triều biển Đông và mực nước thượng lưu sông Mekong Sông Hậu là nguồn nước ngọt chính cung cấp nước cho các hoạt động phát triển kinh tế cũng như nước sinh hoạt cho tỉnh Sóc Trăng, chế độ thủy văn sông Hậu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của lưu lượng thượng nguồn và thủy triều biển Đông, do đó cạn kiệt nguồn nước sông thượng nguồn tác động trực tiếp đến nguồn nước ngọt trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
b) Các yếu tố thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa, chu trình thủy văn)
- Nhiệt độ: gia tăng nhiệt độ không khí trong thời gian tới làm quá trình bốc hơi bề mặt tăng nhanh hơn Nguồn nước bề mặt tại các sông, kênh rạch và bề mặt đất bị bốc hơi nhanh, ảnh hưởng đến sự suy giảm nguồn nước mặt và ngay cả nước dưới đất
Trang 4Nhiệt độ trong không khí tăng kết hợp độ ẩm tương đối thấp, có tác động đến lượng nước có sẵn để bổ sung nguồn cung cấp nước ngầm Kết hợp với bốc hơi nước tăng và nhu cầu thủy lợi tăng dự kiến sẽ dẫn đến sự suy giảm nguồn nước ngầm
- Lượng mưa đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt tại tỉnh Sóc Trăng Sự biến đổi lượng mưa trong tương lai, đặc biệt là mưa bất thường vào mùa mưa và giảm lượng mưa trong mùa khô ảnh hưởng đến các mục đích sử dụng nguồn nước trên địa bàn tỉnh, là nguyên nhân chính gây xâm nhập mặn mở rộn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Đồng thời, lượng mưa cũng là nguồn cung cấp bổ sung cho nguồn nước dưới đất tại tỉnh Sóc Trăng Cùng với nhiệt độ, lương mưa thấp có thể gây ra hạn hán trên diện rộng
- Chu trình thủy văn: việc thay đổi chế độ thủy văn trong tương lai đều dẫn đến các hiện tượng bất thường về thời tiết, điều này chi phối lượng mưa trong lưu vực sông Mekong, qua đó nguồn nước vùng hạ lưu ảnh hưởng theo
c) Xâm nhập mặn và triều cường
Tài nguyên nước và chế độ dòng chảy trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng bị chi phối chủ yếu bởi nguồn nước sông Hậu và thủy triều biển Đông Sự chi phối này gây ra những khó khăn trong việc sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt, đặc biệt là vào mùa khô khi lưu lượng dòng chảy kiệt trên sông Hậu ít kết hợp với triều cường mạnh ở biển Đông và gió chướng làm cho quá trình xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đồng Nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) bị nhiễm mặn gây ra quá trình thiếu nước sinh hoạt cho dân cư vùng ven biển, nước tưới cho hóa màu vào mùa khô hạn
Thực tế tại tỉnh đã cho thấy, do ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu, quá trình xâm nhập mặn vào lục địa diễn ra ngày càng nghiêm trọng hơn Cuối tháng 2 năm 2010, độ mặn đo được tại cảng Trần Đề (xã Trung Bình, huyện Long Phú) là 22,9
‰, tại Đại Ngãi (huyện Long Phú) 3 ‰, tại xã Thạnh Phú (huyện Mỹ Xuyên) 4,6‰, tại TP Sóc Trăng là 2,3 ‰ Cao gấp từ 2 đến 10 lần so với cùng kỳ năm 2009 và sâu vào đất liền có nơi đã đến 30km Nước mặn xâm nhập mạnh chủ yếu theo sông Hậu và sông Mỹ Thanh
Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho rằng nhiệt độ, lượng mưa và dòng chảy hàng năm sẽ tăng cũng như mực nước biển sẽ dâng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đồng bằng sông Cửu Long Dự báo cho thấy khoảng 30% toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập trong nước biển nếu mực nước biển tăng lên 1m vào khoảng năm 2100 Mực nước biển trung bình dâng cao, nhất là mực nước đỉnh triều sẽ làm cho những vùng trũng ngập và đẩy nước mặn từ biển vào sâu trong đất liền Xâm nhập mặn gia tăng, hạn hán kéo dài trong thời gian tới sẽ tác động mạnh mẽ tới tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
1.2 Suy giảm tài nguyên nước tỉnh Sóc Trăng do biến đổi khí hậu
a) Suy giảm tài nguyên nước mặt
Biến đổi khí hậu gây ra những hiện tượng thời tiết bất thường gây tác động đến tài nguyên nước tỉnh Sóc Trăng trong đó hạn hán và xâm nhập mặn là 2 quá trình có ảnh hưởng hơn cả
Sự phân bố của lượng mưa trong không gian và thời gian là rất không đồng đều, dẫn đến biến đổi to lớn về tài nguyên nước trên toàn khu vực, trong đó có tỉnh Sóc Trăng Hiện nay, lượng mưa trung bình hàng năm khá cao 1800- 2200 mm, nhưng
Trang 5chênh lệch lớn theo mùa Mùa mưa chiếm 86- 88% tổng lượng mưa hàng năm, lượng mưa trung bình tháng cao nhất trên 350 mm, tháng thấp nhất hầu như không có mưa
Độ ẩm trung bình cả năm 83,4%, cao nhất 96% vào mùa mưa và thấp nhất 62% vào mùa khô Tình trạng mùa khô không có mưa hoặc lượng mưa rất thấp sẽ gia tăng trong thời gian tới dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
Hạn hán có thể được thể hiện trong việc thâm hụt lượng mưa, độ ẩm đất thâm hụt, thiếu dòng chảy trong một dòng sông, mức nước ngầm thấp, hoặc cấp hồ chứa thấp Nhiệt độ cao hơn, đặc biệt là trong mùa hè, giảm tiềm năng về lượng mưa mùa
hè có thể làm tăng nguy cơ hạn hán Tần suất và cường độ của hạn hán có thể tăng, ngay cả trong cùng một khu vực Điều này gây hạ thấp mực nước sông Hậu đầu nguồn, nguồn nước mặt trở nên hạn chế trong mùa khô, gây thiếu hụt nguồn nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Sóc Trăng nằm ở hạ lưu của sông Mêkong So với hiện nay, đến năm 2070, dòng chảy năm của sông Mê Kông biến đổi từ + 4,2 đến -14,5%; dòng chảy mùa cạn của sông của sông Mê Kông biến đổi từ -2,0 đến -24%; dòng chảy lũ biến động +5 đến +7,0% Như vậy, trên sông Mêkong tác động của BĐKH làm cho dòng chảy năm của sông Cửu Long giảm đi Điều đó có nghĩa là khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn (chưa tính đến khả năng khai thác nước ở thượng nguồn các sông này tăng lên do BĐKH)
Hình: Xây đập ngăn nước vùng thượng lưu sông Mekong ảnh hưởng nghiêm trọng đến
nguồn nước và xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tình hình hạn hán hiện nay và trong những năm tới khả năng hạn hán có thể cao hơn trong cùng điều kiện nguồn nước do nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp toàn lưu vực sông Mekong tăng nhanh, nhất là vùng đông bắc Thái Lan và phía Campuchia hoặc rừng trên lưu vực bị phá, việc xây đập ngăn nước vùng thượng lưu sông Mekong sẽ tác động mạnh mẽ và quyết định đến nguồn nước và tình hình xâm nhập mặn vùng hạ lưu Tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị tại tỉnh Sóc Trăng
Vùng ven biến và một số vùng bên trong tỉnh Sóc trăng sẽ tiếp tục bị nước mặn xâm nhập ngày càng sâu Các vùng bị nhiễm mặn gần như không canh tác nông
Trang 6nghiệp được Tình hình cung cấp nước ngọt sẽ rất khó khăn Người dân sẽ gặp nhiều khó khăn trong sử dụng nguồn nước
b) Hạ thấp mực nước ngầm
Hiện nay, do nguồn nước mặt bị ô nhiễm và nhiễm mặn nên hầu hết người dân tại tỉnh Sóc Trăng đều khai thác nước ngầm sử dụng Trên toàn tỉnh theo ước tính có khoảng trên 75.000 giếng nước ngầm đang được khai thác sử dụng, trong đó có trên 59 ngàn giếng là do người dân tự ý khai thác, kế đến là các công trình do Nhà nước và Quốc tế tài trợ khoan giếng cho người dân với hơn 16.000 điểm Nguồn nước ngầm tại tỉnh đang được khai thác một cách tràn lan (từ đầu những năm 1990-1995), thiếu thiết
kế, quy hoạch hợp lý dẫn đến sự suy giảm mực nước ngầm trên toàn tỉnh, nghiêm trọng nhất là mạch nước ngầm tại huyện 3 huyện ven biển như Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu (dọc theo đường Nam Sông Hậu qua huyện Vĩnh Châu có hơn 2.000 giếng nước ngầm) Nguồn nước ngầm ngoài mục đích khai thác sử dụng cho sinh hoạt còn được người dân khai thác sử dụng phục vụ cho mục đích sản xuất công nghiệp (chiếm
đa số với hơn 13 triệu m3/ngđ), nông nghiệp (trồng Hành, Cải tại Vĩnh Châu), nuôi trồng thủy sản
Hình: Sử dụng nước ngầm tưới Cải tại
Vĩnh Châu Hình: Một trạm cấp nước vùng ven biển huyện Vĩnh Châu
Việc khai thác nước ngầm với số lượng lớn như trên đã dẫn đến tình trạng sụt giảm mạch nước ngầm của tỉnh, giảm áp lực nước Điều này làm gia tăng khả năng thẩm thấu, xâm nhập nước mặn từ bên ngoài vào các tầng rỗng, gây ra hiện tượng nhiễm mặn tầng nước ngầm Theo kết quả nghiên cứu động thái nước, bình quân mỗi năm mực nước ngầm của Sóc Trăng giảm từ 0,5 – 1 m ở tầng 90, giảm từ 3 – 4 m ở tầng nước sâu hơn
Trong thời gian tới do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các yếu tố gây ảnh hưởng đến mực nước ngầm là sự biến đổi lượng mưa, nước biển dâng và gia tăng nhiệt độ tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long Các yếu tố này ảnh hưởng đến nước ngầm tầng nông là chủ yếu Trong khi, nước ngầm tầng sâu chịu sự tác động của quá trình khai thác quá mức bởi hoạt động của con người
Biến đổi về lượng mưa cao do tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm gia tăng áp lực đối với nguồn tài nguyên nước dưới đất Nhu cầu nước ngầm có khả năng tăng trong tương lai, lý do chính là tăng cường sử dụng nước trên địa bàn toàn tỉnh Sóc Trăng Một lý do nữa có thể là việc bù đắp nguồn mặt nước đang suy giảm do biến đổi lượng mưa vào mùa khô nói chung Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến lưu lượng bổ
Trang 7sung nước ngầm, nghĩa là, nguồn nước ngầm tái tạo, trong nhiều tầng chứa nước có thể lượng nước mặt bổ sung nguồn nước dưới đất vào mùa mưa với việc gia tăng tần suất và cường độ của lượng mưa và giảm bổ sung vào mùa khô
Sự suy giảm của lượng nước ngầm bổ sung sẽ làm trầm trọng thêm tác động của mực nước biển tăng lên Trong nội địa, tầng chứa nước giảm quá trình bổ sung trong nước ngầm có thể dẫn đến xâm nhập mặn của nước lân cận tầng chứa nước mặn, đặc biệt là các khu vực ven biển các huyện Vĩnh Châu, Long Phú và huyện Cù Lao Dung và tăng quá trình thoát hơi nước tại các khu vực khô hạn có thể dẫn đến tăng tính mặn của tầng chứa nước nông Đối với các giếng khoan của người dân ven biển, chất lượng nước có thể sẽ bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn, hoặc tăng hàm lượng muối trong nguồn nước Cùng với nhu cầu nước đang tăng lên thì sự tăng mực nước biển trong thời gian tới sẽ làm tăng hàm lượng muối trong nước ngầm tầng nông Ngoài ra,
sự nóng lên làm tăng tốc tỷ lệ bề mặt khô, để lại ít nước di chuyển trong lớp gần bề mặt của đất Ít độ ẩm đất dẫn đến phong trào giảm nguồn nước bổ sung nước ngầm tầng nông
2 Tác động đến lưu vực sông
a) Biến đổi khí hậu và lưu vực sông
Biến đổi khí hậu làm gia tăng nhiệt độ bề mặt có thể tác động đến các chu trình thủy văn của một hệ thống lưu vực sông Theo dự báo, biến đổi khí hậu có thể có những ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy, tải trọng trầm tích và chất dinh dưỡng (Nitơ và Phospho) trong lưu vực sông Biến đổi khí hậu cũng có những ảnh hưởng tới thời điểm và quy mô của nước chảy tràn và số lượng trầm tích Sự thay đổi có thể xảy
ra đối với dòng chảy có tầm quan trọng đến việc sử dụng nguồn nước, khối lượng nước và hệ thống thủy sinh của một lưu vực sông Những tác động tiềm tàng của sự thay đổi bao gồm: sự thiếu hụt nguồn nước lên đỉnh điểm do nhu cầu tăng, gia tăng phú dưỡng tiềm tàng và những tác động đến sự di cư của cá Biến đổi khí hậu có tác động tới lưu vực sông tại các hoạt động sau:
- Thay đổi mục đích sử dụng đất
- Xói mòn đất mãnh liệt tại hầu hết diện tích lưu vực sông
- Thay đổi hoạt động dòng chảy của sông
Hiện nay, lưu vực các dòng sông đang chịu áp lực từ các hoạt động của con người làm suy giảm và biến đổi nguồn nước trên lưu vực như: phá rừng, xây đô thị, đất công nghiệp làm suy giảm thảm phủ bề mặt gây ra lũ lụt, trượt lở đất, Biến đổi khí hậu làm căng thẳng thêm tình trạng suy thoái tại lưu vực sông Những tác động đến lưu lượng dòng chảy bao gồm:
+ Biến đổi thể tích và dòng chảy
+ Gia tăng các thiên tai lũ lụt và hạn hán thủy văn
+ Làm tăng xói mòn đất, trượt lở đất
Ngoài những tác động đến lưu lượng dòng chảy của sông, biến đổi khí hậu còn gây nên những tác động đến chất lượng nước và nhu cầu sử dụng chúng:
+ Làm trầm trọng thêm ô nhiễm nguồn nước (ấm lên, vi khuẩn, carbon hữu cơ, trầm tích, chất rắn lơ lửng)
Trang 8+ Làm cho phí sử dụng nước căng thẳng thêm do tăng nhu cầu từ dân số và kinh tế phát triển
+ Dâng cao mực nước biển và gia tăng nước mặn xâm nhập vào tầng nước ngầm
b) Tác động của biến đổi khí hậu gây ra đối với lưu vực sông trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
• Biến đổi khí hậu tác động đến lưu vực sông tỉnh Sóc Trăng, trước hết là ảnh hưởng từ lượng nước thượng nguồn sông Mekong
Tại khu vực đầu nguồn sông Mekong, nơi có môi trường nhạy cảm về những thay đổi xảy ra, sẽ có sự mở rộng của các vùng phát triển cho ngành công nghiệp và đô thị trong tương lai, điều này sẽ có tác động đến số lượng và chất lượng của các dòng chảy mặt của sông Việc sử dụng đất có vai trò tái tạo nguồn tài nguyên nước dự trữ như rừng phát triển đất công nghiệp và đô thị hóa, trong khi đất nông nghiệp giảm xuống, gây ra suy giảm số lượng nước dưới đất và tổng số lượng nước về vùng hạ lưu
Nhiệt tăng sẽ gây ra các biến thể của nhiệt độ và khí hậu, hạn hán và mưa lớn gây lũ lụt nhiều hơn nữa Mưa lớn lên sẽ gây ra sự gia tăng của số lượng nước mặt, ảnh hưởng tới việc truyền tải các chất dinh dưỡng và trầm tích trong khu vực đầu nguồn, chuỗi các chất dinh dưỡng, xói mòn và di dời các lớp trầm tích trên lưu vực xuống dòng sông Quá trình này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và chất lượng nước vùng hạ lưu tỉnh Sóc Trăng
Báo cáo đánh giá lần 4 của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2007 và tài liệu kỹ thuật của IPCC về khí hậu và nước năm 2008 đã nhận định những thay đổi về thời tiết ảnh hưởng đến nhiệt độ, lượng mưa và gió ở khía cạnh tần suất, cường độ, quãng thời gian Trong thời gian 20-30 năm tới, sự thay đổi của Mekong sẽ diễn ra mạnh mẽ
• Biến đổi khí hậu tác động đến lưu vực sông Hậu
Sông Hậu là con sông chính cung cấp nguồn nước ngọt và phù sa bồi đắp cho đồng ruộng Hệ thống sông Hậu chi phối sâu sắc đến chế độ thủy văn của tỉnh Chính vì vậy, tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng có liên quan trực tiếp đến nguồn nước trên lưu vực sông Hậu
Sự gia tăng về nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và gió với tần suất, cường độ khác nhau do biến đổi khí hậu có tác động lớn đến lưu vực sông Hậu Dưới tác động của biến đổi khí hậu, nhiệt độ không khí trong lưu vực sông chảy trở nên khô nóng hơn, làm gia tăng bốc hơi và gia tăng nhu cầu sử dụng nước ở các khu vực trên lưu vực sông Mekong vào mùa khô, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sông Hậu Khí hậu ấm hơn với sự gia tăng nhiệt độ do biến đổi khí hậu, làm gia tăng nguy cơ
lũ lụt và hạn hán Lũ lụt phụ thuộc vào cường độ mưa, khối lượng, thời gian, đặc điểm thủy văn và các lưu vực thoát nước.Hạn hán xảy ra khi có lượng mưa dưới mức trung bình, những tác động của hạn hán đến tình hình kinh tế xã hội trên lưu vực phát sinh từ tương tác giữa điều kiện tự nhiên tại vùng và yếu tố con người, chẳng hạn như việc thay đổi mục đích sử dụng đất tại tỉnh Sóc Trăng, nhu cầu sử dụng đất, nước, sử dụng nguồn nước quá mức có thể làm trầm trọng thêm tác động của hạn hán
- Thay đổi lượng mưa trên lưu vực
Trang 9Khí hậu ấm lên, làm cho sự tăng lên của lượng mưa trong khí hậu ấm là rất dễ xảy ra Điều này ảnh hưởng đến lũ trên sông và ngập lụt tại khu vực đô thị Từ đó,
hệ thống thoát nước tại địa phương phải được điều chỉnh đề phù hợp với cường độ này càng tăng của lượng mưa do biến đổi khí hậu, chủ yếu vào mùa mưa Tăng lượng mưa khu vực đồng bằng sông Cửu Long kết hợp với nước lũ dâng cao từ thượng nguồn Mekong đổ về làm gia tăng tình trạng ngập úng, nhất là tại các địa phương nội đồng tỉnh Sóc Trăng Theo dự báo, trong giai đoạn 2030 – 2040:
+ Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 – 15/5) sẽ giảm chừng 10 – 20% và có thể bắt đầu trễ hơn khoảng 2 tuần lễ so với hiện nay
+ Vào tháng 9 – 10, lượng mưa có khuynh hướng gia tăng hơn kết hợp với lũ thượng nguồn làm biên của vùng ngập ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ gia tăng
xuống vùng bán đảo Cà Mau (TS Lê Anh Tuấn, Đại học Cần Thơ, năm 2009).
Vào mùa mưa, sự gia tăng lượng mưa vùng thượng lưu sông Mekong kết hợp với mưa nội đồng làm gia tăng nguồn nước tại lưu vực sông Hậu Điều này làm gia tăng diện tích ngập úng trên lưu vực sông, khu vực nội đồng tỉnh Sóc Trăng, quá trình tiêu thoát nước sẽ trở nên khó khăn hơn, tăng quá trình xói lở bờ sông
- Tăng hạn hán tại lưu vực
Vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau), quá trình tăng nhiệt độ, nâng cao quá trình bốc hơi, lượng mưa mùa khô hạn chế làm tăng quá trình khô hạn
bề mặt đất, theo dự báo nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 1 – 20C, mùa khô kéo dài sẽ gây ra tình trạng hạn hán nghiêm trọng hơn trong giai đoạn năm 2020 – 2040
Tháng 3 và 4 là hai tháng có dòng chảy cạn nhất Nguồn nước mùa kiệt hạn chế, xâm nhập mặn theo sông Mỹ Thanh, sông Hậu vào sâu trong nội đồng, với tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng càng làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm gia tăng tình trạng cạn kiệt nguồn nước trên lưu vực sông Hậu và hệ thống kênh mương nội đồng Gây khó khăn cho công tác tưới nước trong nông nghiệp Nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp tại các địa phương có hệ sinh thái nước ngọt vùng nội đồng
- Nước biển dâng
Biến đổi khí hậu gây ra hạn hán, cùng với nước biển dâng, dòng sông cạn kiệt
là tác nhân đưa nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào đất liền
Trang 10CHƯƠNG II
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
VÀ LƯU VỰC SÔNG
I SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN NƯỚC TƯỚI
1 Tính cấp thiết phải sử dụng hợp lý nước tưới tại tỉnh Sóc Trăng
Thực tế nguồn nước ngọt tại các vùng ven biển đã mang "tính thời sự" và cách giải quyết lâu nay theo hướng " tình thế", thiếu nước xảy ra lúc nào, vùng nào, thì tập
trung giải quyết lúc đó và vùng đó Thậm chí sau khi có mưa thì hạn mới chấm dứt và
bài học được rút ra là đã " chống đỡ kịp thời " Đó cũng là bài học muôn thuở Nói
đúng hơn là đã có kế hoạch để chống hạn khi đã có hạn xảy ra, đã phần nào hạn chế
được thiệt hại Nhưng do chưa có một"chiến lược chống hạn" toàn diện, hiệu quả, nên
hạn vẫn trở thành mối đe doạ thường xuyên Đặc biệt khi tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong thời gian tới thì hạn nặng, kéo dài là điều xảy ra trên quy mô lớn trên địa bàn tỉnh Việc xử lý lúng túng, gây tổn thất đối với sản xuất và đời sống trong vấn đề quản lý nguồn nước tưới là tất yếu
Qua thực tế cho thấy diện tích thiếu nước phần lớn (trên 50% tổng số diện tích
bị hạn) thuộc vùng ngoài hệ thống công trình thuỷ lợi (công trình kiên cố ) Hạn trong
hệ thống thuỷ lợi chủ yếu tập trung vào diện tích vùng cuối kênh
Thiếu nguồn nước tưới do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan ( thiếu nguồn nước tưới do chưa có công trình thuỷ lợi, hoặc có công trình thuỷ lợi, nhưng do quản lý yếu kém, công trình xuống cấp, không có chủ quản lý đích thực, phân phối nước chưa hợp lý, sử dụng nước lãng phí, qui hoạch cơ cấu cây trồng chưa phù hợp với khả năng nguồn nước ), khách quan ( rừng đầu nguồn bị phá hoại, nguồn sinh thuỷ cạn kiệt, biến đổi khí hậu, khô hạn ) Ngoài ra còn do "cơ chế " ( Nhà nước
hỗ trợ khi có hạn) nên đã "tạo ra hạn giả tạo" để được cấp kinh phí chống hạn Nguyên nhân này thường xảy ra ở những vùng thuận lợi, đã có công trình thuỷ lợi, nhưng quản
lý chưa tốt, tuy không phải là nguyên nhân phổ biến, nhưng nó cũng là một nguyên nhân "gây hạn" căng thẳng
2 Các biện pháp sử dụng hợp lý nước
a) Tưới tiết kiệm nước
Trong điều kiện nguồn nước thiếu, nhất là những vùng thường hay bị hạn thì biến đổi khí hậu tác động rất lớn đến nguồn nước tưới, cụ thể là gây nên tình tạng thiếu hụt nguồn nước Vì vậy, những khu vực hạn thì không nên trồng lúa nước, vì đó
là loại cây cần nhiều nước nhất (thường gấp 2-3 lần so với các loại cây khác )cần phải chuyển đổi thành loại cây yêu cầu nước ít hơn, gọi chung là cây trồng cạn
Để sử dụng nước tưới hiệu quả đối với cây trồng cạn, tỉnh Sóc Trăng cần áp
dụng công nghệ tưới tiên tiến như tưới phun, tưới nhỏ giọt thực hiện phân phối nước,
sử dụng nước hợp lý thông qua các thiết bị "đo đếm" bán nước theo m3… nhằm tiết kiệm nước tối đa Bao gồm các diện tích gieo trồng các loại rau, màu, cây công
nghiệp, cây ăn quả… nếu được tưới bằng các công nghệ tưới nói trên sẽ tiết kiệm được nhiều nước và đem lại hiệu quả lớn hơn.