1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Chuyền đề Quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường

19 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 784 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự suy thoái tài nguyên, ô nhiễm, thảm hoạ môi trường gây tác hại lớn đến phát triển kinh tế -xã hội, sức khoẻ thể chất tinh thần và mức độ hưởng thụ các quyền con người của cả nước nói

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I 2

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG 2

I.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 2

I.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 2

I.1.2 Hiện trạng môi trường 5

CHƯƠNG II 10

QUY HOẠCH QUẢN LÝ TỔNG HỢP BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 10

II.1 DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG 10

II.1.1 Nhiệt độ 10

II.1.2 Lượng mưa 11

II.1.3 Mực nước 11

II.1.4 Xâm nhập mặn 12

II.1.5 Hạn hán 13

II.1.6 Bão, áp thấp nhiệt đới 13

II.1.7 Các yếu tố thời tiết cực đoan 14

II.2 QUY HOẠCH TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 14

II.2.1 Mục tiêu 14

II.2.2 Các nội dung của quy hoạch tổng hợp 14

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Tài nguyên, môi trường là điều kiện và phương tiện hoạt động sống của con người, nó liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sức khoẻ, đến quyền sinh tồn và quyền phát triển của con người Mối quan hệ tương tác chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên, sức khoẻ và quyền con người là rất rõ ràng Sự suy thoái tài nguyên, ô nhiễm, thảm hoạ môi trường gây tác hại lớn đến phát triển kinh tế

-xã hội, sức khoẻ thể chất tinh thần và mức độ hưởng thụ các quyền con người của cả nước nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng

Trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu từ trước đến nay thực chất vẫn là hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường Với tình hình thời tiết khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn và không theo một quy luật nào, nó đang là mối hiểm họa mang tính chất toàn cầu, tác động trực tiếp đến tài nguyên và môi trường sống của người dân nơi đây Để bảo vệ và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học vừa đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vừa làm giảm nhẹ thiệt

hại và phòng chống thiên tai đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững, việc “Quy

hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường” là việc làm có tính cấp bách

và mang tính chiến lược

Trang 3

CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

I.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

I.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

I.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam cửa sông Hậu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Diện tích tự nhiên 3.311,76 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL Dân số trung bình năm 2009 là 1.293.165 người

Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thành phố Sóc Trăng và các huyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Trần Đề, trong đó thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa xã hội của tỉnh

Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 4 tỉnh trong vùng ĐBSCL:

- Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

- Phía Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long qua sông Hậu

- Phía Tây – Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 72 km

b) Đặc điểm địa hình, địa mạo

Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần đất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm ở phía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 – 2m so với mực nước biển, vùng nội đồng có cao độ trung bình từ 0,5 – 1,0m Địa hình của tỉnh

có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong,

từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông, biển

Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:

- Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vào mùa mưa

- Vùng địa hình cao ven sông Hậu và ven biển, gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề, Long Phú, Cù Lao Dung, cao trình từ 1,2 – 2 m, giồng cát cao đến 2m

- Vùng địa hình trung bình: gồm có thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách Với địa hình thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất là vào mùa khô

Trang 4

Địa hình vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng có sự phân bậc rõ rệt ở 3 mức độ sâu:

- Độ sâu từ 0 – 10m nước: nhìn chung địa hình khá thoải và bằng phẳng Khu vực cửa sông có địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sông biển, có nhiều cồn và doi cát ngầm đan xen với các luồng lạch

- Độ sâu từ 10 – 20m nước: địa hình có dạng sườn dốc Địa hình khu vực cửa sông (phía Đông Bắc) dốc hơn phía Tây Nam Đây là giới hạn ngoài của khu vực lắng đọng trầm tích hiện đại và vì thế địa hình thường thay đổi theo thời gian

- Độ sâu 20 – 30m nước: địa hình khá thoải và rộng, có nhiều sóng cát, một số khu vực phân bố các cồn ngầm thoải

c) Đặc điểm địa chất

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000 m ở gần bờ biển Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau:

- Tầng Holocene: nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát Thành phần hạt từ mịn tới trung bình

- Tầng Pleistocene: có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển

- Tầng Pliocene: có chứa sét lẫn cát hạt trung bình

- Tầng Miocene: có chứa sét và cát hạt trung bình

I.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

a) Tài nguyên đất

Phân loại đất toàn tỉnh có 6 nhóm đất chính:

- Đất cát: diện tích 8.491 ha chiếm 2,65% diện tích tự nhiên, phân bố theo các giồng cát chạy dọc ven biển thuộc Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên Đất có thành phần cơ giới nhẹ, sử dụng trồng rau màu

- Đất phù sa: diện tích 6.372 ha, chiếm 2% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung

ở các huyện Kế Sách, Mỹ Tú Đất có thành phần cơ giới từ thịt pha sét đến sét pha thịt, thích hợp cho trồng lúa tăng vụ, cây ăn trái đặc sản

- Đất gley: diện tích 1.076 ha chiếm 0,33% diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng trũng, ngập nước mùa mưa thuộc các xã phía Bắc huyện Kế Sách Đất có thành phần

cơ giới lớp mặt là sét, lớp dưới là thịt pha sét, hiện được sử dụng để trồng lúa một vụ

và nuôi thả thủy sản

- Đất mặn: diện tích 158.547 ha, chiếm 49,5% diện tích tự nhiên, phân bố ở tất cả các huyện trong đó tập trung với diện tích lớn ở các huyện Vĩnh Châu, Long Phú và Mỹ Xuyên Đất mặn từ nhiều đến ít, thành phần cơ giới từ thịt đến thịt pha sét và thịt pha cát, hiện đang được sử dụng trồng lúa, rau màu, cây ăn trái và chủ yếu cho nuôi trồng thủy sản

- Đất phèn: diện tích 75.823 ha, chiếm 23,7% diện tích đất tự nhiên, phân bố rải rác ở các huyện, tập trung thành diện tích lớn ở các huyện Mỹ Tú, Ngã Năm, Mỹ Xuyên và một phần ở Thạnh Trị, Vĩnh Châu Đất chua có hàm lượng mùn thấp, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Hiện đất được sử dụng chủ yếu để trồng lúa, cây

Trang 5

ăn trái và nuôi trồng thủy sản

- Đất nhân tác: diện tích 46.146 ha, chiếm 21,82% diện tích đất tự nhiên, phân

bố ở tất cả các huyện, tập trung nhiều nhất ở Kế Sách và Long Phú Đất phát triển trên nền đất phù sa cũ do canh tác lâu đời nên bạc màu, độ phì thấp, hiện phần lớn được sử dụng để trồng lúa 2- 3 vụ và rau màu

Đặc điểm địa hình, đất đai của vùng đồng bằng ven biển cửa sông Hậu tạo cho Sóc Trăng tiềm năng thế mạnh về phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Hạn chế chủ yếu là địa hình bị chia cắt khá mạnh bởi sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, phần nào gây trở ngại cho xây dựng kết cấu hạ tầng và giao thông đi lại đường bộ, đất đai phần lớn là đất bãi bồi ven sông và ven biển, nhiều nơi bị nhiễm mặn mùa khô, một số nơi bị úng ngập mùa mưa để đáp ứng yêu cầu sản xuất phải đầu tư nhiều cho công trình thủy lợi

b) Tài nguyên nước

Mạng lưới dòng chảy sông ngòi, kênh rạch (có thể lưu thông tàu, thuyền qua lại) có mật độ dày bình quân hơn 0,2 km/ km2 trong đó quan trọng nhất là sông Hậu chảy ở phía Bắc tỉnh ngăn cách Sóc Trăng với Trà Vinh và sông Mỹ Thanh chảy ở phía Đông Nam tỉnh là nguồn cấp nước chủ yếu cho sản xuất đồng thời là tuyến đường sông ra biển của tỉnh Phần lớn mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chịu ảnh hưởng xâm mặn vào mùa khô và do tác động của chế độ thủy triều lên xuống ngày 2 lần với mực nước dao động trung bình 0,4 - 1 m Lưu lượng nước sông Hậu mùa mưa trung bình khoảng 7000- 8000 m3/s vào mùa khô giảm xuống chỉ còn 2000- 3000 m3/s làm nước mặn xâm nhập sâu vào khu vực bên trong đất liền (Long Phú, Mỹ Tú), tương tự vào mùa khô nước mặn xâm nhập qua sông Mỹ Thanh theo kênh rạch vào tới vùng phía Tây (Thạnh Trị ) của tỉnh gây khó khăn về nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt

Nguồn nước ngầm khá dồi dào, nước ngầm mạch sâu từ 100- 180 m, chất lượng nước tốt để sử dụng cho sinh hoạt, nước ngầm mạch nông từ 5- 30 m thường bị nhiễm mặn vào mùa khô

c) Tài nguyên rừng

Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sóc Trăng, diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng tính đến 31/12/2009 là 10.397,5 ha chiếm 3,2 % diện tích của tỉnh, chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển phân bố tập trung ở Vĩnh Châu, Trần Đề và

Cù Lao Dung Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng đến phát triển bền vững của tỉnh chủ yếu là chống xói mòn, mặn hóa, cát hóa đất ven biển, bảo vệ cân bằng sinh thái các vùng cửa sông đồng thời phục vụ cho phát triển du lịch

d) Tài nguyên biển

Sóc Trăng có bờ biển chạy dài 72 km (chiếm 2,21% chiều dài bờ biển cả nước) với 3 cửa sông chính là cửa Định An, cửa Trần Đề (sông Hậu) và cửa Mỹ Thanh (sông

Mỹ Thanh) có điều kiện để phát triển kinh tế biển nhất là về khai thác, nuôi thủy sản, vận chuyển đường biển và du lịch biển Nguồn lợi thủy sản, vùng biển là nơi trú ngụ của nhiều loại thủy, hải sản nước lợ và nước mặn có giá trị kinh tế Qua điều tra xác định có 661 loài cá, 35 loài tôm trong đó có cả các loài tôm hùm, tôm rồng, 23 loài mực gồm các họ mực nang, mực ống và mực sim, ngoài ra còn có nhiều loài cua, ghẹ

và nhuyễn thể khác Khả năng khai thác hải sản gần bờ có thể được trên 20 nghìn tấn/năm, ngoài ra còn có điều kiện vươn ra khai thác xa bờ để tăng sản lượng và hiệu quả khai thác lên hơn nữa

Trang 6

I.1.2 Hiện trạng môi trường

I.1.2.1 Hiện trạng môi trường đất

Phân tích các mẫu đất tại các vị trí khác nhau trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng trong năm 2010, kết quả như sau:

Chất lượng đất

- Độ phì nhiêu

Nhìn chung các mẫu quan trắc có độ chua (pHKCL) tương đối thấp và dao động trong khoảng 3,59 – 7,87 Điều này cho thấy độ chua của đất từ chua nhiều đến kiềm yếu (mùa khô pH thấp hơn mùa mưa)

Hữu cơ tổng số của các mẫu đất phân tích rất thấp: từ 0,216 – 1,992 % (từ thấp đến trung bình) Chất hữu cơ của đất là chỉ tiêu số một về độ phì và ảnh hưởng đến nhiều tính chất đất, như vậy các loại đất ở đây hạn chế cho mục đích trồng trọt Kali trao đổi cao, dao động từ 0,67 – 68,9 mg/100gr đất

Ô nhiễm đất

- Độc tố, kim loại nặng

Qua kết quả phân tích cho thấy hầu hết các mẫu đất phân tích đều có sự xuất hiện của các độc tố như SO42-, Fe tổng tự nhiên nhưng hàm lượng không đáng kể Môi trường đất chỉ có thể coi là bị ô nhiễm khi toàn bộ phản ứng môi trường có SO42- > 0,1%

Như vậy, qua kết quả phân tích cho thấy môi trường đất tỉnh Sóc Trăng đất bị chua ít đến trung bình là phổ biến, vào mùa khô giá trị pH đất thấp hơn mùa mưa do tình trạng khan hiếm nước ngọt và gia tăng xâm nhập mặn vào nội đồng Ngoài ra, cũng do yếu tố phèn, mặn trong môi trường đất nên độ phì đáp ứng cho mục đích nông nghiệp tại các mẫu vùng ven biển rất thấp, chỉ dùng cho các mục đích nuôi trồng thủy sản là chính

I.1.2.2 Môi trường nước

a Môi trường nước mặt

Qua kết quả quan trắc phân tích chất lượng môi trường nước mặt do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện từ năm 2006 đến năm 2009 cho thấy: Giá trị BOD5, COD trong nước khá cao, tăng dần từ năm 2006 đến năm 2009 Hầu hết đều cao hơn

so với giới hạn cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008 (loại B1) Trong đó giá trị cao nhất đối với BOD5 là 6 lần, đối với COD là 28,4 lần

Trang 7

Biểu đồ 1: Biểu diễn nồng độ BOD 5 trong nước mặt các huyện từ năm 2006 - 2009

0

20

40

60

80

100

QCVN 08:2008 (B1)

Bên cạnh đó, nồng độ Nitơ tổng và Photpho tổng trong nước là rất cao, tất cả đều vượt ngưỡng giới hạn cho phép là 1,0 mg/l (đối với Nitơ tổng) và 0,1 mg/l (đối với Photpho tổng) Đây là ngưỡng giới hạn cho phép gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa, do Cục bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) quy định Điều này chứng tỏ, nguồn nước tại các kênh rạch đã có dấu hiệu của hiện tượng phú dưỡng hóa

Biểu đồ 2: Diễn biến nồng độ N tổng và P tổng trong nước mặt tại các huyện từ

năm 2008 – 2009

Nhận xét: Chất lượng nước tại hầu hết các kênh rạch dẫn nước tại các huyện

trên địa bàn tỉnh hiện đang có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (năm 2009 BOD5 vượt từ 1,02 – 5,6 lần; COD vượt từ 1,05 – 4,56 lần), chất rắn lơ lửng, kim loại (nước mặt sông Hậu tại khu vực Đại Ngãi (NM12) có nồng độ Cu trong nước vượt giới hạn cho phép đến 41,6 lần) và đặc biệt là nước đã có dấu hiệu bị phú dưỡng hóa (N tổng vượt từ 2,3 – 22,9 lần và P tổng vượt 43 – 180 lần vào năm 2009)

Tại các khu vực nông thôn, nguồn nước bị ô nhiễm chủ yếu là do nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (đây là 2 nguồn chủ yếu làm gia tăng thành phần hữu cơ, chất dinh dưỡng có trong nước)

Tại các khu vực thị trấn, thị tứ, nước thải đô thị và công nghiệp, chất thải rắn là các nguồn chủ yếu gây ảnh hưởng đến chất lượng nước tại các nhánh kênh rạch trong nội thị Một số kênh rạch nhỏ hiện đang dần dần trở nên ô nhiễm nặng (kênh Nước Mắm, kênh Giồng Chùa, kênh Bến Bạ ), nước thải không được xử lý thải trực tiếp vào lòng kênh, ngay cả chất thải rắn cũng được người dân vứt bỏ bừa bãi gây cản trở dòng chảy, làm thay đổi chất lượng nước mặt và đặc biệt là dẫn đến tình trạng ngập úng vào những thời điểm nước lớn hoặc mưa to

Tiêu biểu cho trường hợp này là kênh Nước Mắm chảy qua khu vực thị trấn huyện Vĩnh Châu hiện đang bị ô nhiễm nặng, nguyên nhân được xác định là do ảnh hưởng bởi nước thải sinh hoạt của người dân và chất thải rắn Hiện nay, địa phương đã

có dự án cải tạo dòng kênh trở thành đường dẫn nước thải cho cả thị trấn

Trang 8

Hiện trạng môi trường nước 2010

Qua kết quả phân tích chất lượng nước mặt trong 2 mùa tỉnh Sóc Trăng do

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường thực hiện (kết quả ở phần phụ lục) cho thấy: nguồn

nước mặt có hàm lượng SS khá cao (mẫu cao nhất vượt 21 lần), nguồn nước đang có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ Trong đó giá trị BOD5 vượt từ 1,1 – 2,5 lần; COD vượt từ 1 – 2,3 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT(loại B1)

Biểu đồ 3: Biểu diễn nồng độ BOD 5 và COD trong môi trường nước mặt tỉnh Sóc

Trăng

0

5

10

15

20

25

30

35

40

Mùa khô Mùa mưa QCVN 08: 2008/BTNMT

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Mùa khô Mùa mưa QCVN 08: 2008/BTNMT

Ngoài ra, nguồn nước mặt tỉnh Sóc Trăng cũng đang có dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng cục bộ và bị nhiễm mặn, đặc biệt là vào mùa khô, cụ thể: hàm lượng Nitrit vượt quy chuẩn cho phép từ 1,25 – 13,1 lần; hàm lượng Amoni vượt từ 1 – 4,2 lần; Clorua vượt từ 2 – 23,3 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT(loại B1)

Biểu đồ 4: Biểu diễn nồng độ Nitrit, Amoni và Clorua trong môi trường nước mặt

tỉnh Sóc Trăng

0

0.1

0.2

0.3

0.4

0.5

0.6

Mùa khô Mùa mưa QCVN 08: 2008/BTNMT (B1)

0

0 5 1

1 5 2

2 5

0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000

M1 M2 M3 M4 M5 M6 M7 M8 M9 M1 M1 M1 M1 M1 M1 M1 M1 M1 M1 M2 M2 M2

M ùa khô M ùa mưa QC VN 08: 2008/ B TNM T (B 1)

Tóm lại, từ kết quả phân tích các mẫu nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng cho thấy: nguồn nước có độ đục tương đối cao, có dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng, hữu cơ cục bộ Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt về hàm lượng các thông số ô nhiễm giữa 2 mùa trong năm: vào mùa khô các thông số ô nhiễm hữu cơ và độ mặn cao hơn so với mùa mưa Nguyên nhân chủ yếu do nguồn nước ngọt hạn chế, gia tăng

Trang 9

tình trạng xâm nhập mặn và triều cường vào mùa khô Trong khi đó, các chỉ tiêu ô nhiễm dinh dưỡng vào mùa mưa cao hơn mùa khô do các quá trình rửa trôi bề mặt

b) Môi trường nước ngầm

Để đánh giá chất lượng môi trường nước ngầm tỉnh Sóc Trăng, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường tiến hành lấy mẫu, phân tích các mẫu nước tại các vị trí khác nhau

trên địa bàn tỉnh trong năm 2010, kết quả như sau:

Giá trị pH trong nước ngầm dao động trong khoảng 6,36 – 8, môi trường nước mang tính chất trung tính đến kiềm yếu, nhìn chung nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09: 2008/BTNMT, đảm bảo dùng cho mục đích sinh hoạt Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm vi sinh tại các mẫu khá cao với hàm lượng dao động từ <3 – 2.400 MPN/100ml (mẫu cao nhất vượt quy chuẩn cho phép đến 800 lần) với sự hiện diện của coliform ở hầu hết các mẫu

Biểu đồ 5: Biểu diễn giá trị pH và tổng Coliform trong nước ngầm tỉnh Sóc Trăng

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

Mùa khô Mùa mưa QCVN 09: 2008/BTNMT QCVN 09: 2008/BTNMT

0 500 1000 1500 2000 2500 3000

Ngoài ra đã thấy sự hiện diện các kim loại nặng trong các mẫu nước ngầm như: tổng Sắt, Pb, As, Mn nhưng với hàm lượng không đáng kể và thấp hơn QCVN 09: 2008/BTNMT nhiều lần, riêng mẫu tại trạm cấp nước xã Lịch Hội Thượng có chứa hàm lượng các kim loại (tổng Sắt, Pb, Mn) vượt quy chuẩn cho phép

Tóm lại, tình trạng ô nhiễm vi sinh trong nước ngầm tỉnh Sóc Trăng là đáng báo động, điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là tình trạng khoan giếng tràn lan không kiểm soát với yếu tố không đúng kỹ thuật, giếng sau sử dụng không trám lấp đúng kỹ thuật gây nên tình trạng nhiễm vi sinh từ bề mặt đất xuống các tầng nước bên dưới

I.1.2.3 Hiện trạng môi trường không khí

Từ kết quả phân tích cho thấy: nồng độ bụi tổng dao động tại các mẫu từ 0,18 – 0,71 mg/m3, vượt quy chuẩn cho phép từ 1,1 – 2,4 lần so với QCVN 05:2009/BTNMT; độ ồn dao động từ 57,5 – 75,2 dBA Ngoài ra, qua kết quả phân tích còn phát hiện thấy hàm lượng các khí SO2, NO2, CO… trong môi trường không khí tuy

ở mức độ thấp và nhỏ hơn quy chuẩn cho phép nhiều lần

Trang 10

Biểu đồ 6: Biểu diễn nồng độ bụi tổng và độ ồn trong môi trường không khí tỉnh

Sóc Trăng

0

0.1

0.2

0.3

0.4

0.5

0.6

0.7

0.8

Mùa khô Mùa mưa QCVN 05:2009/BTNMT

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Nhìn chung, chất lượng môi trường không khí trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng còn khá tốt, hàm lượng các khí độc hại do các hoạt động kinh tế nói chung nằm trong giới hạn cho phép Riêng hàm lượng bụi tổng và độ ồn tại một số vị trí, chủ yếu tập trung tại các giao lộ giao thông, khu dân cư, nơi tập trung đông người và phương tiện giao thông vượt quy chuẩn/tiêu chuẩn cho phép

Ngày đăng: 17/03/2017, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w