1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khai thác những giá trị của nho giáo trong việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay (tiểu luận cao học)

16 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 59,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Nhiều năm qua trên thế giới nói chung và việt nam nói riêng đã có những chuyển biến về cả lĩnh vực kinh tế cũng như chính trị và xã hội . Trong lĩnh vực chính trị , các quốc gia tự lựa chọn cho mình con đường phát triển. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các nước Đông Âu, xu hướng hợp tác phát triển mọi lĩnh vực càng được quan tâm và mở rộng. Mà vấn đề trọng tâm quan trọng đặt ra đối với mỗi quốc gia chính là xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, củng cỗ hệ thống chính trị làm nền tảng cho sự hội nhập và phát triển về kinh tế – xã hội . Để đạt được điều đó thì mỗi nước phải tìm cho mình một hướng đi đúng sao cho phù hợp và đẩy nhạnh tốc độ phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Bên cạnh đó phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc vốn có của mình. Xuất phát từ cơ sỏ đó, Việt Nam là một quốc gia đang thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa theo cơ chế thị trường và làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước,từng bước đi lên thông qua con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Muốn vậy, chúng ta phải xây dựng một nhà nước vững mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị để phát triển. Cùng với sự thực hiên chính sách kinh tế mới cũng có những mặt tích cực và tiêu cực đan xen nhau, trong đó mặt tích cực là cơ bản nhất đang quyết định chiều hướng phát triển của xã hội và đất nước, là nhân tố tạo nên những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới. Tuy vậy những biểu hiện về suy thoái về chính trị, tư tưởng, về đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ đảng, nhân dân vẫn là nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến sự sống còn của đảng và nhà nước ta. Việt nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống Á Đông, đặc biệt là Nho giáo. Nho giáo có một ý nghĩa tích cực tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị nói riêng và cuộc sống nhân dân nói chung đến các nước trong khu vực, nhất là đối với nước ta. Ở Việt Nam cho đến nay nhìn chung bộ máy của hệ thống chính trị còn biểu hiện nhiều yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện việc vận động quần chúng . Nhất là bộ máy nhà nước còn cồng kềnh nhiều đầu mối trung gian , chất lượng hoạt động chưa cao, hiệu quả còn thấp. Tình trạng tham nhũng quan liêu , mất đoàn kết nội bộ, xẩy ra những việc có vi phạm nghiêm trọng về kỷ cương, phép nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trong các bộ phận của hệ thống chính trị còn chồng chéo, sự phân định chức năng, thẩm quyền của các cơ quan chưa thật sự rõ ràng và còn có biểu hiện trong cơ chế vận hành là không hợp lý ; hơn nữa đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế cả về năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm ; chế độ tiền lương ,thu nhập bộc lộ rõ những điểm bất hợp lý , không phát huy ý nghĩa làm vai trò đòn bẩy để kích thích người lao động làm việc hết khả năng của mình .Tình hình đó đã làm giảm hiệu quả công tác lãnh đạo của đảng , hiệu lực quản lý của nhà nước chưa cao , tệ quan liêu , lãng phí và tham nhũng tăng lên rất nghiêm trọng, trật tự kỷ cương bị vi phạm , sự tin cậy gắn bó của nhân dân đối với hệ thống chính trị bị giảm sút. Vậy thông qua những mặt còn hạn chế và yếu kém trong tổ chức và quản lý của nhà nước nói chung và biểu hiện của hoạt động mang tính tư tưởng và chính trị nói riêng , Đảng và Nhà nước ta cần có những biện pháp , đề ra những phương hướng giải quyết nhằm khắc phục mặt còn yếu kém và phát huy những điểm mạnh để củng cố hệ thống chính trị làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế , hợp tác về các lĩnh vực mà vẫn giữ vững con đường xã hội chủ nghĩa mà nước ta đã chọn . Muốn thúc đẩy sự phát triển đó cần nghiên cứu và hiểu sâu hơn về những nhân tố có tác động mạnh mẽ đến hoạt động lĩnh vực đó.

Trang 1

mục lục

1. tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4. phơng pháp nghiên cứu

5. Cấu trúc tiểu luận

nội dung

chơng I : Nho giáo và những t tởng của nho giáo về vấn đề chính trị

1.1 Quá trình du nhập của nho giáo vào việt nam

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và cơ sơ xã hội của s tồn tại và phát triển của nho giáo 1.1 2 Sự du nhập của nho giáo vào việt nam

1.2 T tởng chính trị trong học thuyết nho giáo

Chơng II: khai thác những giá trị của nho giáo trong việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị

2.1 Khai thác những yếu tố tích cực của t tởng nho giáo trong việc xây dựng và

củng cố hệ thống chính trị

2.2 Khác phục những hạn chế của t tởng nho giáo trong chính trị và ảnh hởng

của nó đến việt nam

A mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nhiều năm qua trên thế giới nói chung và việt nam nói riêng đã có những chuyển biến về cả lĩnh vực kinh tế cũng nh chính trị và xã hội Trong lĩnh vực chính trị , các quốc gia tự lựa chọn cho mình con đờng phát triển Đặc biệt, sau

sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các nớc Đông Âu, xu hớng

Trang 2

hợp tác phát triển mọi lĩnh vực càng đợc quan tâm và mở rộng Mà vấn đề trọng tâm quan trọng đặt ra đối với mỗi quốc gia chính là xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nớc, củng cỗ hệ thống chính trị làm nền tảng cho sự hội nhập và phát triển về kinh tế – xã hội Để đạt đợc điều đó thì mỗi nớc phải tìm cho mình một hớng đi đúng sao cho phù hợp và đẩy nhạnh tốc độ phát triển trên tất cả các lĩnh vực Bên cạnh đó phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc vốn có của mình

Xuất phát từ cơ sỏ đó, Việt Nam là một quốc gia đang thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa theo cơ chế thị trờng và làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nớc,từng bớc đi lên thông qua con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Muốn vậy, chúng ta phải xây dựng một nhà nớc vững mạnh về kinh tế, ổn

định về chính trị để phát triển Cùng với sự thực hiên chính sách kinh tế mới cũng có những mặt tích cực và tiêu cực đan xen nhau, trong đó mặt tích cực là cơ bản nhất đang quyết định chiều hớng phát triển của xã hội và đất nớc, là nhân tố tạo nên những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới Tuy vậy những biểu hiện

về suy thoái về chính trị, t tởng, về đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ đảng, nhân dân vẫn là nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến sự sống còn của đảng và nhà nớc ta

Việt nam là nớc nằm trong khu vực Đông Nam á, chịu ảnh hởng sâu sắc của truyền thống á Đông, đặc biệt là Nho giáo Nho giáo có một ý nghĩa tích cực tác động mạnh mẽ đến t tởng chính trị nói riêng và cuộc sống nhân dân nói chung đến các nớc trong khu vực, nhất là đối với nớc ta

ở Việt Nam cho đến nay nhìn chung bộ máy của hệ thống chính trị còn biểu hiện nhiều yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện việc vận động quần chúng Nhất là bộ máy nhà nớc còn cồng kềnh nhiều đầu mối trung gian , chất lợng hoạt động cha cao, hiệu quả còn thấp Tình trạng tham nhũng quan liêu , mất đoàn kết nội bộ, xẩy ra những việc có vi phạm nghiêm trọng về kỷ cơng, phép nớc, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trong các bộ phận của hệ thống chính trị còn chồng chéo, sự phân định chức năng, thẩm quyền của các cơ quan cha thật sự rõ ràng và còn có biểu hiện trong cơ chế vận hành là không hợp lý ; hơn nữa đội

Trang 3

ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế cả về năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm ; chế độ tiền lơng ,thu nhập bộc lộ rõ những điểm bất hợp lý , không phát huy ý nghĩa làm vai trò đòn bẩy để kích thích ngời lao động làm việc hết khả năng của mình Tình hình đó đã làm giảm hiệu quả công tác lãnh đạo của đảng , hiệu lực quản lý của nhà nớc cha cao , tệ quan liêu , lãng phí và tham nhũng tăng lên rất nghiêm trọng, trật tự kỷ cơng bị vi phạm , sự tin cậy gắn bó của nhân dân

đối với hệ thống chính trị bị giảm sút

Vậy thông qua những mặt còn hạn chế và yếu kém trong tổ chức và quản

lý của nhà nớc nói chung và biểu hiện của hoạt động mang tính t tởng và chính trị nói riêng , Đảng và Nhà nớc ta cần có những biện pháp , đề ra những phơng h-ớng giải quyết nhằm khắc phục mặt còn yếu kém và phát huy những điểm mạnh

để củng cố hệ thống chính trị làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế , hợp tác về các lĩnh vực mà vẫn giữ vững con đờng xã hội chủ nghĩa mà nớc ta đã chọn Muốn thúc đẩy sự phát triển đó cần nghiên cứu và hiểu sâu hơn về những nhân tố

có tác động mạnh mẽ đến hoạt động lĩnh vực đó

Qua những năm qua , ta thấy rằng vai trò của Nho giáo rất lớn , nó góp phần tích cực trong quá trình xây dựng và quản lý nhà nớc Nh Hồ chủ Tịch đã nói : “ Tuy Khổng Tử là phong và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng , song những điều hay trong đó chúng ta nên học”

Vậy nớc ta đã có những giải pháp nh thế nào ? cần quan tâm đúng mức

nh thế nào đối với Nho giáo và vai trò của nó trong các hoạt động công tác t tởng lãnh đạo chính trị của Đảng và Nhà Nớc Sự cần thiết trong việc khai thác những giá trị của Nho giáo để biến nó thành một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nớc Đó là tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

2 lịch sử nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây , một số nớc trong khu vực đẫ tích cực phát huy những ảnh hởng của Nho giáo và đã có những bớc chuyển biến nhanh chóng về kinh tế – chính trị , văn hoá , xã hội

Một số nhà khoa học cho rằng : Nho giáo là một trong những nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của đất nớc Do đó khi nghiên cứu những ảnh hởng của Nho giáo tới sự phát triển ở việt nam hiện nay đòi hỏi phải có sự áp

Trang 4

dụng thực tiễn nhằm phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng , Nhà nớc phục vụ công cuộc xây dựng đất nớc xã hội chủ nghĩa ở nớc ta qua các giai

đoạn lịch sử khác nhau , trong công cuộc đấu tranh dựng nớc và giữ nớc cho đến bây giờ , Nho giáo đã và đang có những ảnh hởng đến những thành quả cách mạng đó của dân tộc

Xuất phát từ tình hình thực tiễn nh vậy đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đa ra nhiều tác phẩm và xuất bản rộng rãi nhằm đa ra những mặt tích cực

và phân tích cả mặt tiêu cực của Nho giáo Nội dung các tác phẩm đều mang ý nghĩa thiết thực cả về phơng diện lý luận và thực tiễn nh:

ảnh hởng của Nho giáo đối với xã hội việt nam (Đào Duy Anh) ; Nho học

ở việt nam (Nhà xuất bản khao học - xã hội - Hà nội 1997) Nho giáo xa và nay (Vũ khiêu - nhà xuất bản khao học xã hội) ; Một số vấn đề về Nho giáo ở Việt Nam ( Phan Đại Doãn , nhà xuất bản chính trị quốc gia)

3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi hẹp , đề tài đã bắt đầu tìm hiểu một số nét trong quá trình phát triển của Nho giáo nói chung và hoàn cảnh du nhập của Nho giáo nói riêng

Đề tài nghiên cứu sự chi phối của Nho giáo với vấn đề xây dựng và củng cố hệ thống chính tri xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu ảnh hởng t t-ởng của Nho giáo đến Việt Nam là một phạm vi rộng, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một mảng vấn đề, đó là khai thác mặt tiêu cực và tích cực của Nho giáo ảnh hởng tới việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở Việt Nam

4 Phơng pháp nghiên cứu

Theo phơng pháp lịch sử - lôgic

Tiếp cận trực tiếp lý luận đến thực tiễn để đánh giá dựa trên sự tổng hợp và phân tích Dựa trên t tởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận ra tiểu luận gồm có hai chơng

Trang 5

B- nội dung

Chơng i: Nho giáo và những t tởng của Nho giáo về

vấn đề chính trị 1.1 Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam

1.1.2 Hoàn cảnh ra đời và cơ sở xã hội của sự tồn tại và phát triễn của Nho giáo

Khi nghiên cứu lịch sử t tởng chính trị phơng đông, chúng ta thấy phần nổi trội nhất mang tính tri phối là lịch sử t tởng chính trị Trung Quốc Do vậy việc nghiên cứu lịch sử t tởng Trung Quốc có thể cho ta thấy những yếu tố tiêu biểu và qua đó làm sáng tỏ đặc trng chung các t tởng chính trị phơng đông Các trờng phái t tởng Trung Quốc xuất hiện chủ yếu trong thời xuân thu-chiến Quốc(770- 221 trớc công nghuyên) Đây là giai đoạn với những biến động to lớn,

có ý nghĩa vạch đờng, đặt nền móng cho t tởng Trung Quốc phát triển

Thời kỳ này Trung Quốc đang nằm trong thời kỳchuyển giao hình thái kinh tế – xã hội, chiếm hữu nô lệ sang phong kiến Sự thống trị của chế độ Tông pháp nhà chu đang suy tàn , Chu Thiên Tử trên danh nghĩa thống trị toàn Trung Quốc nhng đã mất hết thực quyền Các nớc ch hầu vốn đợc nhà chu lập nên đến lúc nay quay sang chế độ cắt cử, thôn tính lẫn nhau, tranh giành quyền bá chủ để thống trị các ch hầu khác Chiến tranh nổ ra liên miên , đạo đức, trật tự xã hội bị suy thoái tình trạng “tôi giết vua , con giết cha, anh giết em” dần trở nên phổ biến Nhân dân bị đói khổ vì chiến tranh, vì áp bức, bóc lột nặng nề Một nhu cầu xã hội bức thiết đợc đặt ra là phải có học thuyết chính trị phản ánh đợc xu thế của thời cuộc, thoả mãn đợc lợi ích của các giai cấp , các tầng lớp khác nhau Vì vậy, những ngời có học họ đua nhau đa ra học thuyết của mình nhằm tìm nguyên nhân của sự loạn lạc và đa ra các phơng án giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội Họ đi du thuyết khắp nơi với hi vọng đợc các nhà cầm quyền sử dụng để cứu vãn tình trạng là đất đơng thời Từ đó tạo nên cao trào t tởng “trăm hoa đua nở,

Trang 6

trăm nhà đua tiếng” Nho giáo cũng đợc ra đời từ đó và có ý nghĩa rất quan trọng

đối với xã hội, cùng với một số trờng phái khác nh: Mặc gia, pháp gia

1.1.2 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam

Nho giáo vốn gốc từ Trung Quốc nhng đã xâm nhập vào nớc ta suốt hàng nghìn năm Bắc thuộc Nó đã giữ vị trí quan trọng trong kiến trúc thợng tầng của xã hội phong kiến Việt Nam và do đó đã chi phối đời sống t tởng và tâm linh của nhân dân ta trong nhiều thế kỷ ảnh hởng của nó không chỉ dừng lại trong phạm

vi hoạt động của bộ máy nhà nớc, trong lĩnh vực giáo dục, học thuật và văn nghệ

mà còn đi sâu vào phong tục, nếp sống, niềm tin và khát vọng của con ngời Đến năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng văn miếu ở Thăng Long, đắp tợng chu công của Khổng Tử và bảy mơi hai vị hiền tài khác thờ chính thức đa việc học Nho giáo vào học đờng qua những buổi học, kỳ thi Việc Nho giáo chiếm u thế ở Triều đình đã ảnh hởng không nhỏ trong hàng ngũ trí thức, quý tộc phong kiến lúc bấy giờ Đến cuối đời Trần, Nho giáo chiếm u thế hơn so với phật giáo Từ thời nhà Lê trở đi, Nho giáo trở thành Quốc giáo của chế độ phong kiến ở Việt Nam Đến thời Quang Trung t tởng của vua lúc này muốn vực dậy chữ Nôm để thoát dần nếp nghĩ Hán Nho và Tống Nho nhng bởi trong thời gian ngắn, không thực hiện đợc kế hoạch của Quang Trung Nhà Nguyễn đánh thắng Tây sơn , lập nền thống trị từ Bắc vào Nam trên cơ sở t tởng của Nho giáo sau hiệp ớc Patơnôt (1884) kí với triều đình Mãn Thanh, thực dân pháp dần biến nớc ta thành thuộc

điạ nửa phong kiến , tớc hết cơ sở tồn tại của Nho giáo Tiếp theo cách mạng tháng 8 năm 1945 là phong trào cải cách ruộng đất do Đảng ta lãnh đạo để xáo

bỏ một bớc cơ bản cơ sở của Nho giáo Trong những năm thực hiện chặng đờng

đầu tiên của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội , Nho giáo vẫn tiếp tục phê phán và những ảnh hởng của học thuyết Nho giáo vẫn còn tồn tại trong xã hội ta hiện nay đang là vấn đề cần nghiên cứu và khai thác

1.2 T tởng chính trị trong học thuyết của Nho giáo

T tởng Nho giáo chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử t tởng chính trị Trung Quốc Nó đã ảnh hởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc và các nớc láng giềng trong suốt hai nghìn năm lịch sử , trong đó có Việt Nam Hai nhân vật tiêu biểu cho phái Nho gia, đó chính là Khổng Tử và Mạnh Tử

Trang 7

Khổng Tử là ngời sáng lập ra trờng phái Nho gia Vậy t tởng chính trị của Khổng Tử trớc hết là vì sự bình ổn xã hội – một xã hội “thái bình thịnh trị “ Theo ông đạo của ngời làm chính trị phải ngay thẳng , phải lấy chính trị để dân dắt dân , nhà Nho phải tham chính Từ nhân thức đó , khổng tử cho rằng xã hội loạn lạc là do mỗi ngời không ở đúng vị trí của mình , Lễ bị xem nhẹ Để thiên hạ có “đạo “, quay về “Lễ” phải củng cỗ điều nhân , coi trọng Lễ nghĩa , mỗi ng

-ời phải hành động trong khuôn khổ của mình , từ đó xã hội sẽ ổn định Để thực hiên lý tởng chính trị của mình , ông đa ra học thuyết “ nhân -Lễ – chính danh”

Nhân: Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của khổng

tử nó là thớc đo , là chuẩn mực quyết định thành hay bại , tốt hay sấu của chính trị Nội dung của chính trị điều Nhân đợc thể hiện : thơng yêu ngời (ái nhân ), trong đó thơng yêu ngời thân của mình hơn (thân thân) và yêu ngời nhân đức hơn (thân nhân) Từ thơng ngời đi đến hai nguyên tắc “.Điều mình không muốn thì

đừng (đem ra) đối xử với ngời” ( kỷ sơ bất dục , vật thi nhân) và “Mình muốn thành đạt thì làm cho ngời thành đạt ” (kỷ dục lập nhi lập nhân , kỷ dục đạt nhi

đạt nhân ) Tu dỡng bản thân , sửa mình theo nghĩa là nhân (Khắc kỷ phục Lễ vĩ nhân )tôn trọng và sử dụng ngời hiền

Nh vây , nội dung của “nhân” là nhân đạo , thơng yêu ngời , coi ngời nh mình , giúp đỡ nhau , khi điều nhân đã bao trùm thì không còn mâu thuẫn , xung

đột , Lễ nhà Chu đợc phục tùng , xã hội sẽ ổn định Theo Khổng Tử , đạo “nhân” không phải để cho tất cả mọi ngời chỉ có ở ngời “quân tử”(quý tộc , giai cấp thuộc về giai cấp thống trị ) còn kẻ “tiểu nhân” (thuộc về ngời lao động, giai cấp

bị trị) thì không bao giờ có Để đạt đợc điều Nhân , cần phải có Lễ

Lễ: Lễ vốn là những quy định, nghi thức trong cúng tế Khổng Tử đã lý luận hoá, biến Lễ thành những quy định trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, đ

-ợc thể hiện trong phong cách sinh hoạt, hành vi, ngôn ngữ, trang phục, nhà cửa

Lễ là chuẩn mực đạo đức, là khuôn mẫu cho mọi ngời hành động của cá nhân và các tầng lớp trong xã hội Lúc này Lễ mang tính pháp lý, có tác dụng khống chế các hành động thái quá Ai ở địa vị nào thì dùng Lễ ấy, tuỳ vào tính chất công việc khác nhau mà dùng lế khác nhau Lễ là bộ phận của nhân; Lễ là ngọn, Nhân là gốc Ngời có đức nhân là ngời “không nhìn cái không hợp

Lễ ,không làm điều không hợp Lễ “ ( phi Lễ vật thị, phi Lễ vật thính, phi Lễ vật

Trang 8

ngôn, phi Lễ vật động ) Lễ tạo ra cho con ngời biết phân biệt trên dới, biết thân phận, vai trò, địa vị của mình trong xã hội; biết phục tùng, làm theo điều lành (hợp Lễ) và xa dời điều ác(trái Lễ)

Theo Khổng Tử, Lễ quy định chuẩn mực cho các mối quan hệ cơ bản: Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè Các quan hệ này điều có hai chiều phụ thuộc vào nhau “Vua sai khiến bề tôi phải theo Lễ, bề tôi thờ vua theo đạo trung; cha đối với con phải nhân từ, con thờ cha phải hiếu thảo ” Nhng ông cũng coi Lễ dới lật đổ bề trên là hợp lý, khi bề trên không xứng đáng với danh vị của mình nữa Việc vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thơng bị lật đổ là mệnh trời, vì

đó là những ông vua ác, thất nhân tâm

Khổng Tử xem Lễ nh luật lệ, “Một ngày xửa mình theo Lễ thì thiên hạ sẽ theo về” Lễ không phải là cái dùng cho tất cả mọi ngời mà nó chỉ đem lại áp dụng đối với những ngời có Nhân vi

“ ngời không có nhân thì Lễ làm sao đợc” “kẻ tiểu nhân mà có Lễ thì cha

hề có”

Chính danh : Đây là phạm trù cơ bản của học thuyết chính trị của Khổng

Tử Chính danh là xác định và phân biệt quan hệ danh phận, đẳng cấp giữa các giai cấp , thực chất là khẳng định tính hợp lý của giai cấp quý tộc trong việc thực thi quyền lực của mình Nó vừa là điều kiện , vừa là mục đích chính trị Chính danh thể hiện ở các nội dung sau nội dung sau đây:

Xác định danh phận và đẳng cấp, và vị trí của từng cái nhân, tầng lớp trong xã hội Ai ở vị trí nàothì làm tròn bổn phận ở vị trí ấy “ quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (vua phải giữ đúng đạo vua, tôi phải giữ đúng đạo tôi, cha phải giữ

đúng đạo cha, con phải giữ đúng đạo con” Không đợc “việt vị”, làm vợt quá chức năng, bổn phận của mình (Bất tại kỳ vị ,bất mu kỳ chính) “Danh” phải phù hợp với “thực”, nội dung phải phù hợp với hình thức Trong chính trị , lời nói phải đi đôi với việc làm đặt con ngời vào đúng vị trí và chức năng Phải xác định

“danh” (tên gọi) trớc khi có “thực” (thực tài) vì “danh” là điều kiện để thi hành

“thực”, khi có danh thì thực mới có ý nghĩa “danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành ” Giữa chính danh và Lễ có mối

Trang 9

quan hệ chặt chẽ với nhau: muốn “danh” đợc “chính”(đúng đắn, phù hợp với thực) thì phải thực hiện Lễ Chính danh là điều kiện để thực hiện , trau dồi Lễ

“Chính danh” là biện pháp quy định và giúp mọi ngời thực hiện rõ cơng vị, quyền hạn và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với đẳng cấp và chức vụ tơng ứng Có xác định đợc danh phận thì mới điều hoà đợc các mối quan hệ Đây là vấn đề cơ bản của cách c xử chính trị

Học thuyết chính trị của Khổng Tử đợc xây dựng dựa trên ba phạm trù cơ bản: nhân – lễ -chính danh Nhân là cốt lõi của vấn đề, vừa là điểm xuất phát nhng cũng là mục đích cuối cùng của hệ thống Do vây, có thể gọi học thuyết chính trị của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm gốc hay “nhân trị” (chính trị dùng điều nhân) Điều nhân đợc biểu hiện thông qua lễ, chính danh là con đ-ờng để đạt đợc chính nhân Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, tạo nên tính chặt chẽ của học thuyết Về bản chất chính trị của Khổng Tử là duy tâm và phản động , vì nó không tính đến các yếu tố vật chất của xã hội mà chỉ khai thác yếu tố tinh thần (đạo đức) Mục đích của học thuyết là bảo vệ chế độ đẳng cấp, củng cố địa vị của giai cấp quý tộc đã lỗi thời , đa xã hội trở về thời Tây Chu

Mạnh Tử

Ông đã kế thừa và phát triển sáng tạo những t tởng của Khổng Tử , xây dựng học thuyết “Nhân chính” của mình

Thuyết tính thiện : theo mạnh tử , bản tính tự nhiên của con ngời là thiện (nhân chi sơ tính bản thiện) Con ngời có lòng chắc ẩn thì tự nhiên có lòng tu ố (biết sấu hổ) , từ nhợng (nhợng nhịn) , thi phi (biết phải trái Lòng trắc ẩn là nhân , lòng tu ở là nghĩa , lòng tử nhợng là Lễ ,lòng thị phi là trí Nhân , nghĩa ,

lễ , trí là bốn “đầu mối” vốn có ở tâm ta con ngời có thể trở nên ác nếu không biết “tồn tâm” , “dỡng tính” để cho vật dục chi phối , chạy theo lợi ích cá nhân

Quan niện về vua – tôi , dân : Mạnh Tử cho rằng : thiên tử là mệnh trời trao cho thánh nhân và mệnh trời nhất trí với ý dân Trời ngấm ngầm trao quyền cho ngời có đức , hợp lòng dân Quan hệ vua - tôi là quan hệ hai chiều: “ vua coi bầy tôi nh chân tay thì bầy tôi coi vua nh ruột thịt , vua coi bầy tôi nh chó ngựa thì bầy tôi coi vua nh ngời dng , vua coi bầy tội nh cỏ rác thì bầy tôi coi vua nh cừu địch” Tiến thêm một bớc ông cho rằng: Nếu vua không ra vua thì phải loại

Trang 10

bỏ, vua mà tàn ác thì phải gọi là thằng:“Ta phải hiểu là giết thằng trụ chứ không nên hiểu là giết vua vậy”

Mạnh tử đề xuất t tởng “nhờng ngôi” (thiên nhợng) Thiên tử có thể nhờng ngôi cho vua ch hầu căn cứ vào đức hạnh và khả năng thực hành nhân chính của

ông ta

Mạnh tử là ngời đầu tiên đa ra luận điển tôn trọng dân “Dân là quý nhất , quốc gia là đứng thứ hai , vua là không đáng trọng” (dân vi quý , xã tắc thứ chi , quân vi khinh) Nhng dân ở đây chỉ là thần dân , kẻ phụ thuộc , bị thống trị Coi trọng dân chỉ là thủ đoạn chính trị để thống trị tốt hơn mà thôi

Quan niệm về quân tử - tiểu nhân : “Quân tử” là hạng ngời lao tâm , cai trị ngời và đợc ngời cung phụng “Tiểu nhân” là hạng ngời lao lực , bị cai trị và phải cung phụng ngời Mạnh tử đề xuất chủ trơng “thợng hiền”, dùng ngời hiền tài để thực hành “nhân chính” Trị nớc là nghề cao quý và quan trọng nhất , nên ngời cai trị phải đợc tuyển chọn công phu , chu đáo Nhng bất đắc dĩ mới để cho ngoại

lệ “kẻ hèn vợt ngời tôn quý”

Chủ trơng vơng đạo : Mạnh Tử kịch liệt phản đối “bá đạo” (chiến tranh bạo lực) , nguồn gốc của mọi rối ren , loạn lạc Chính trị “vơng đạo” là nhân chính , lấy dân làm gốc

“Vơng đạo” chỉ nhằm vào nhân nghĩa để mỗi ngời “tự nuôi lấy bản tính

mà chờ số mệnh” thì thiên hạ sẽ bình yên vô sự

Muốn cho tâm chí dân chúng ổn định không làm loạn (hằng tâm) thì phải tạo điều kiện cho họ có mức sống vật chất tối thiểu (hằng sản) Thực chất của

“v-ơng đạo” là ngời cai tri phải giáo dục dân tuyệt đối phục tùng bề trên , thực hiên

“tam cơng ,ngũ thờng”, trói buộc ý thức nông dân và luân lý Nho giáo để dễ bề cai trị họ

Học thuyết “nhân chính” của Mạnh tử có nhiều nhân tố tiến bộ hơn so với Khổng Tử Tuy vẫn còn đứng trên lập trờng của giai cấp thống trị , nhng ông đã nhìn thấy đợc sức mạnh của nhân dân , chủ trơng thi hành nhân chính , vơng đạo

Đó là những yếu tố dân chủ , tiến bộ Điểm hạn chế của ông là còn tin vào mệnh trời và tính thần bí trong lý giải vấn đề quyền lực

Ngày đăng: 17/03/2017, 16:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w