Nho giáo được khởi nguồn từ Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, được “Việt Nam hoá” trong suốt một chặng đường lịch sử, góp phần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hoá Việt Nam. Nho giáo hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến kéo dài cho đến thế kỷ XIX, từng là hệ tư tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng Việt Nam. Nho giáo ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội, chính trị và văn hoá, cuộc sống và lẽ sống, hệ tư tưởng và phong tục tập quán Việt Nam. Nho giáo đã trở thành một bộ phận của truyền thống dân tộc, dù muốn hay không muốn thì Nho giáo vẫn đang chi phối đời sống xã hội ở Việt Nam ngày nay. Những dấu ấn của Nho giáo vẫn còn đang tồn tại ở Việt Nam như: sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tập quán mang sắc thái Nho giáo vẫn còn lưu giữ. Văn miếu với 82 tấm bia tiến sĩ đã để lại một nền văn hoá truyền thống được người Việt Nam trân trọng và tự hào. Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nền cơ chế thị trường có sự điều tiết và quản lý của nhà nước đã đẩy nhanh sự tăng trưởng về kinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội. Tuy nhiên bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường cũng đang tạo ra nhiều xáo trộn trong quan hệ xã hội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân, trong cán bộ, nhân dân đã có những biểu hiện tiêu cực, nó được biểu hiện trong cả nhận thức và hành động như: tư tưởng thực dụng, chạy theo đồng tiền, làm cho một bộ phận xa rời lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác.
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo đợc khởi nguồn từ Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam từ
thời Bắc thuộc, đợc “Việt Nam hoá” trong suốt một chặng đờng lịch sử, góp
phần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hoá Việt Nam
Nho giáo - hệ t tởng chính thống của chế độ phong kiến kéo dàicho đến thế kỷ XIX, từng là hệ t tởng thống trị trong kiến trúc thợngtầng Việt Nam Nho giáo ảnh hởng sâu sắc đến con ngời và xã hội,chính trị và văn hoá, cuộc sống và lẽ sống, hệ t tởng và phong tục tậpquán Việt Nam Nho giáo đã trở thành một bộ phận của truyền thốngdân tộc, dù muốn hay không muốn thì Nho giáo vẫn đang chi phối đờisống xã hội ở Việt Nam ngày nay Những dấu ấn của Nho giáo vẫn còn
đang tồn tại ở Việt Nam nh: sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tậpquán mang sắc thái Nho giáo vẫn còn lu giữ Văn miếu với 82 tấm biatiến sĩ đã để lại một nền văn hoá truyền thống đợc ngời Việt Nam trântrọng và tự hào
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng, nền cơ chế thị tr-ờng có sự điều tiết và quản lý của nhà nớc đã đẩy nhanh sự tăng trởng vềkinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội Tuy nhiên bên cạnh đó mặt tráicủa cơ chế thị trờng cũng đang tạo ra nhiều xáo trộn trong quan hệ xãhội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân, trong cán bộ, nhân dân đã cónhững biểu hiện tiêu cực, nó đợc biểu hiện trong cả nhận thức và hành
động nh: t tởng thực dụng, chạy theo đồng tiền, làm cho một bộ phận xarời lý tởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, nạn tham nhũng, buôn lậu,làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác
Những chủ trơng biện pháp khắc phục tình trạng nói trên khôngthể không đụng chạm đến nhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo VìNho giáo đã tồn tại hàng ngàn năm ở nớc ta, nó đã để lại những cănbệnh trầm trọng nh: bệnh bảo thủ, quan liêu, giáo điều, chủ nghĩa bìnhquân, chủ nghĩa cá nhân…
Đờng lối đổi mới ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó khôngthể tách rời việc khắc phục những ảnh hởng tiêu cực của Nho giáo và
Trang 2sau đó kế thừa và phát huy những nhân tố tích cực để biến thànhtruyền thống Việt Nam trên nhiều lĩnh vực đời sống Nho giáo là vấn
đề quá khứ nhng cũng là vấn đề hiện tại Nghiên cứu t tởng chính trịNho giáo để nhìn nhận, đánh giá rõ hơn về sự ảnh h ởng của đạo đứcNho giáo trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay Vì chế
độ phong kiến Việt Nam, cùng với nó là đạo đức phong kiến Việt Nam
đã từng tồn tại gần 2000 năm trong lịch sử của dân tộc Nó đã có tác
động nhiều mặt đến con ngời, xã hội Việt Nam và cho đến nay nhiềumặt tàn d của nó vẫn còn tồn tại Tuy chế độ xã hội nay khác trớc nhng
đạo đức phong kiến vẫn còn ảnh hởng đậm nét, điều đó đặt ra chochúng ta trách nhiệm tìm hiểu, phân tích, nhận định để có thái độ xử lýthích hợp
Tuy vậy, nó cũng còn có những nhận thức khác nhau về vấn đềnày, có ngời cho đạo đức phong kiến là đạo đức của giai cấp thống trị,nay đã hoàn toàn lỗi thời phải đợc thay thế và phê phán mạnh mẽ Cóngời lại cho rằng, đạo đức phong kiến chứa đựng nhiều giá trị tích cực,góp phần giáo huấn loài ngời Nhiều yếu tố tốt đẹp của dân tộc còn rấtcần cho con ngời và xã hội ngày nay tiếp tục tiếp thu và phát huy Vìvậy, nhiệm vụ quan trọng, bức xúc trong công tác t tởng, lý luận hiệnnay là cần nhận thức rõ hơn những yếu tố không còn phù hợp, nhữngphản giá trị cần gạt bỏ, đồng thời kế thừa những tinh hoa
của nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những vấn đề lý luận t tởng đã đặt ra em quyết định
nghiên cứu đề tài “ảnh hởng đạo đức Nho giáo trong cán bộ lãnh
đạo, quản lý của Việt Nam hiện nay”.
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nho giáo là đề tài đợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nớcquan tâm, chú ý nghiên cứu nhng cho đến nay nhiều vấn đề của họcthuyết này còn đang đặt ra, đòi hỏi có sự đi sâu tìm hiểu và khám phá
ở Việt Nam đã có một số bài viết và một số tác phẩm nghiên cứu
về vấn đề Nho giáo đợc ấn hành Nó cung cấp cho ngời đọc những hiểubiết về Nho giáo, cụ thể ở một số sách sau:
Trang 3- Tác phẩm “Nho giáo” của Trần Trọng Kim Xuất bản trớc năm
1930 và từ đó đến nay đợc tái bản rất nhiều lần
- Tác phẩm “Khổng Học Đăng” của Phan Bội Châu, đợc soạn
thảo vào năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, xuất bản năm 1957 và đ
- “ảnh hởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản
lý của Việt Nam hiện nay ” do TS Nguyễn Thế Kiệt chủ biên, xuất bản2001
- ở nớc ngoài trong tác phẩm “Nho giáo với Trung Quốc ngày nay” của Vi Chính Thông đã vạch rõ những mặt tích cực và hạn chế
của Nho giáo trong xã hội Trung Quốc thời hiện đại
Ngoài ra còn có bài giảng của thầy giáo ThS Hoàng Quốc Bảo
và một số bài viết khác đề cập đến Nho giáo
Trong kiến thức còn hạn chế, song em cũng cố gắng tổng hợpcác bài viết cùng với kiến thức hiểu biết của bản thân, trình bày một
cách có hệ thống về lịch sử hình thành và “ảnh hởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ quản lý, lãnh đạo của Việt Nam hiện nay”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trang 4phục những yếu tố tiêu cực trong t tởng đạo đức Nho giáo trong đờisống xã hội nớc ta hiện nay.
- Nhiệm vụ :
Làm rõ t tởng chính trị của Nho giáo đối với giáo dục đạo đứctrong xã hội Việt Nam hiện nay Chỉ rõ những giá trị tích cực của Nhogiáo cần đợc kế thừa, phê phán những hạn chế những tàn d của Nhogiáo còn rơi rớt trong đời sống xã hội ở Việt Nam và đa ra một số ph-
ơng hớng và giải pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa và từng bớc khắc phục
ảnh hởng đạo đức Nho giáo trong cán bộ lãnh đạo quản lý ở n ớc tahiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đây là vấn đề lý luận về Nho giáo đợc nhiều tài liệu đề cập đến,lịch sử nghiên cứu lâu đời Do đó để làm sáng tỏ và đầy đủ một cách hệthống và toàn diện, sâu sắc vấn đề này đòi hỏi phải có trình độ nhận thứccao, thời gian nghiên cứu lâu dài Vì vậy với thời gian và kiến thức cho
phép em chỉ chú ý đi sâu phân tích “ảnh hởng của đạo đức Nho giáo
trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay”.
5 Phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta phải đứng trên lập tr ờngquan điểm lịch sử khách quan toàn diện Tiểu luận đ ợc thực hiện dựatrên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh nhữngquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phê phán và vận dụngnhững giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại
- Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phơng pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử và kết hợp với các phơng pháp khác; phơngpháp lịch sử kết hợp với lôgic, phơng pháp phân tích và tổng hợp, ph-
ơng pháp khách quan và thực hiện, phơng pháp mô tả và phơng pháp
kế thừa
6 Kết cấu của đề tài
Trang 5Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo, tiểu luận còn có phần nội dung gồm 3 chơng với 7 tiết.
nội dung
Chơng 1: Nho giáo - sự ra đời và quá trình
phát triển
1 Quá trình hình thành về t tởng, đạo đức của Nho giáo
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ VIII trớc Công nguyên Các yếu tố đầutiên của hệ t tởng Trung Quốc đã xuất hiện Nổi rõ nhất của t tởngTrung Quốc vào thời Xuân Thu - Chiến quốc gắn liền với tr ờng pháiNho gia, Mặc gia, Pháp gia, Đạo gia, Âm dơng gia, Nông gia, Tunghoành gia, Tạp gia
Trong đó Nho gia và Đạo gia có ảnh hởng lớn trong sự hìnhthành và phát triển t tởng ở Trung Quốc đạo Nho xuất hiện sớm nhất(thế kỷ VI trớc Công nguyên)
Ngời sáng lập ra đạo nho là Khổng Tử (551 - 479 TCN) ng ời kếtục nổi tiếng của Khổng Tử là Mạnh Tử (372- 289 TCN) và Tuân Tử
(298-238 TCN) “Khổng Tử hệ thống hoá những tri thức, t tởng đời
trớc cùng những quan điểm của ông tạo thành một học thuyết đạo đức chính trị nổi tiếng gọi là Nho gia” [12 tr 57].
-Hệ t tởng chính trị Nho giáo đợc thể hiện một cách cơ bản, có hệthống trong t tởng của ngời khởi xớng - Khổng Tử, một học giả ở vàothời Xuân Thu của Trung Quốc
- Khổng Tử (551 - 478 TCN)
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, ông đợc sinh ra ở ấp Trâu,quận Xơng Bình, nớc Lỗ (nay thuộc miền Sơn Đông phía Bắc TrungQuốc), ông là ngời thuộc dòng dõi quý tộc bị sa sút ở nớc Tống, dochiến tranh mà lu lạc sang nớc Lỗ Năm 19 tuổi Khổng Tử lấy vợ vàsinh con trai tên là Lý, tự là Bá Ng
Trang 6Thời đại của Khổng Tử là thời đại “vơng đạo” suy vi “bá đạo” nổi
lên, chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý, nhân luân suy đồi
Khổng Tử đem tài sức của mình ra giúp vua, Khổng Tử từng giữcác chức quan: làm lại nhà họ Quý, một dòng họ quý tộc lớn ở n ớc Lỗ.Ngoài 50 tuổi đợc vua Lỗ Định Công phong chức T Không rồi Đại TKhấu trông coi pháp luật, suốt thời gian làm quan chăm lo chính trị, làmcho nớc Lỗ ổn định, nớc Tề lập kế hoạch để vua Lỗ mải vui chơi, quênviệc triều đình, ông can gián nhng vua không nghe, bèn cùng học trò bỏnớc Lỗ mà đi đến các nớc ch hầu khác, mang lý tởng cải tạo xã hội củamình ra giúp nớc, trị dân, cuối đời nhng đến đâu cũng không đợc trọngdụng Cuối đời nhận thấy sự bất lực trong chính trị, Khổng Tử quay vềnớc Lỗ mở trờng dạy học và viết sách, ông giảng dạy kinh th , kinhdịch, kinh lễ, soạn kinh Xuân Thu đến ngày 18/2/479 TCN Khổng Tửmất, ông thọ 73 tuổi
“Lý thuyết Khổng Tử không đợc ngời đơng thời chấp nhận, nên
ông đã than rằng “Biết là không thể mà vẫn làm” nhng đến đời Hán, giai
cấp phong kiến đã lấy Nho giáo làm hệ t tởng thống trị, đặc biệt đến đời
Đổng Trọng Th Nho giáo đã trở thành cơ sở của đạo đức phong kiến ởTrung Quốc” [10, tr.7]
Trong lịch sử t tởng Trung Quốc, đạo đức rất đợc các nhà t tởng coitrọng, Khổng Tử là nhà t tởng đầu tiên bàn đến những vấn đề nhân sinh, vấn
đề đạo đức
Khổng Tử đa ra 4 mẫu ngời cần đợc đào tạo là :
Một là kẻ sĩ: học để thi đỗ ra làm quan
Hai là: bậc đại học - học để tu nhân tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
Ba là: kẻ trợng phụ, là ngời thấy việc nghĩa thì dũng cảm lên, giàusang không thể khắc phục, nghèo khó không thể chuyển lay
Bốn là: ngời quân tử, một mẫu ngời lý tởng của giai cấp thống trị mà
ông nhấn mạnh phải có đủ: nhân, lễ, trí, dũng [12, tr 56]
Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông ở giai đoạn đầu Tần đợchai học trò phát triển: Mạnh Tử phát triển theo hớng duy tâm, Tuân Tử pháttriển theo hớng duy vật
Trang 72 T tởng cơ bản về đạo đức của con ngời trong Nho giáo
Nho giáo quan niệm đạo đức là sự biểu hiện cá tính, của thiên tính,của “đạo” nó chẳng những là tính riêng của con ngời mà còn là tính chungcho cả trời và đất, đạo đức cho Nho giáo là phơng châm, phơng hớng lớn đểtrị nớc, an dân Nhìn chung t tởng về đạo đức của Khổng Tử đợc phân chiathành hai mảng tơng đối rõ nét: đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân
- Thứ nhất là đạo đức về xã hội (chính danh)
Khổng Tử cho rằng nguồn gốc của mọi sự tai hoạ trong xã hội là do
“danh không chính, ngôn không thuận” theo ông: mỗi sự vật, mỗi con ngời
sinh ra đã có một vị trí xác định, một công dụng nhất định và tơng ứng với
mỗi vị trí công dụng ấy là một “cái danh , chính danh” “ ” hiểu theo ngữchung nhất là danh vị của mỗi ngời trong xã hội
“Chính danh” còn có nghĩa là làm mọi việc ngay thẳng, ngời nào có
danh vị, chức phận gì thì phải làm theo bổn phận của ngời ấy Thật sự nhờ
đó mà vẹn toàn, lòng ngời nhờ đó mà hội tụ đất nớc nhờ đó mà thịnh trị
Khổng Tử đã chỉ ra mối liên hệ giữa “chính danh” và chính trị và
ng-ời cầm quyền phải biết theo điều ngay chính để làm điều nhân thì việc gì
cũng thành Bởi vì “mình ngay chính thì không sai khiến ngời ta cũng làm, mình không ngay chính tuy có sai khiến cũng không ai theo” [12, tr
63]
Theo Nho giáo con ngời sống phải có quan hệ với nhau thì mới thànhxã hội Trong cuộc sống có nhiều mối quan hệ khác nhau nhng mối quan hệquan trọng hơn cả đó là mối quan hệ con ngời với con ngời Cho nên Nhogiáo hình thành tiêu chí đạo đức con ngời nh sau:
Xã hội có hai mối quan hệ cơ bản:
Quan hệ vua - tôi
Quan hệ cha - con
Sau này Mạnh Tử phát triển lên thành quan hệ Ngũ luân:
Vua - tôi, cha - con , chồng - vợ, anh - em, bạn bè
Đến thời kỳ nhà Hán, Đổng Trọng C đã đa ra khái niệm khác đó làtam cơng và ngũ thờng
- Thứ hai đạo đức cá nhân (tức là nhân, nghĩa, lễ, tín)
Trang 8Nhân - nghĩa:
Khổng Tử cho rằng do sự chi phối của “thiên lý” của đạo“ ” các sựvật hiện tợng trong vũ trụ luôn biến hoá không ngừng, sự sinh thành biến
hoá của vũ trụ bao giờ cũng nhờ sự “trung hoà” giữa âm dơng, trời đất, con
ngời là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm dơng mà trời đất hình thành tuân
theo “thiên lý” hợp với đạo “trung hoà” đạo sống của con ngời phải là
“trung duy , trung thứ” “ ”, nghĩa là sống đúng với mình, đúng với ngời đó là
nhân Nhân bao hàm cả “thân” và ái“ ” nh vậy nhân là đức tính hoàn thiện,
là cái gốc đạo đức của con ngời nhân chính là đạo làm ngời
Nghĩa: Khi nói đến “nhân” Khổng Tử luôn chú trọng đến hành vi, coi
“nhân” là chuẩn mực của hành vi Mạnh Tử nói “nhân” thì quan tâm đến thái độ trong nội tâm “nhân” là thái độ phải có trong nội tâm của con ngời.
“Nghĩa” là chuẩn mực mà hành vi của con ngời phải tuân theo Theo Mạnh Tử: điều không đúng thì không làm, điều đúng thì làm, đó chính là “nghĩa”.
- Lễ : để làm ngời có nhân thì phải tự sửa mình theo lễ
Lễ trớc hết là hiểu đợc những lễ nghi , những vi phạm đạo đức quy
định quan hệ giữa ngời với ngời Lễ đợc xem nh là một lẽ phải, là bổn phận
mà mọi ngời có nghĩa vụ phải tuân theo Nhng quan trọng hơn cả là xét trênlĩnh vực chính trị, lễ đó là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nớcphong kiến
“ Quân sử thần dĩ lễThần sử quân dĩ trung”
- Trí: Là trớc nói mà sau làm cho xứng đáng Phàm ngời ta lấy hết trítuệ cho hành vi mình muốn hay không muốn trớc khi làm
3 Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo đợc truyền đến Việt Nam vào thế kỷ I thời Vơng Mãn, cónhiều nhà nho Trung Quốc đến Việt Nam bằng nhiều con đờng khác nhau,nhng chủ yếu là lánh nạn Khi Sĩ Nhiếp đến Việt Nam đã mở trờng dạy chữHán, truyền bá Nho giáo đã đợc đa số nho sĩ Việt Nam tôn làm sĩ vơng.Trải qua nhiều thăng trầm, có lúc Nho giáo đã thành quốc giáo ở Việt Nam
Qua dòng lịch sử cho ta thấy Việt Nam trải qua 1117 năm bị nhà Hánxâm lựoc, chúng muốn đồng hoá dân tộc Việt Nam, coi Việt Nam là một
Trang 9huyện hoặc châu của Trung Quốc Nhng Việt Nam đã không bị đồng hoá
mà kế thừa và phát huy những gì tốt đẹp của Nho giáo, từ trớc đến naychúng ta đã phát huy t tởng Nho giáo nh:
Quan niệm về xã hội phải có lễ
Quan niệm về xã hội hoà
Quan niệm về đào tạo con ngời cho xã hội
Quan niệm về con ngời
Đặc biệt chú trọng về vấn đề đạo đức: nhân - lễ - nghĩa - trí - tín.Nho giáo đã đáp ứng đợc điều mà trong thời đại nào cũng cần Chuẩnmực xã hội trật tự kỷ cơng, Nho giáo đề cao giá trị đạo đức, giáo dục conngời, đa con ngời vào cuộc sống nề nếp, lòng nhân nghĩa, trung hiếu, cầnkiệm
Trang 10Chơng 2: đạo đức Nho giáo ở Việt Nam và
ảnh hởng của nó đối với cán bộ lãnh đạo,
quản lý của nớc ta hiện nay
1 Đạo đức phong kiến ở Việt Nam
1.1 Nguồn gốc
Chế độ phong kiến ở Việt Nam cùng với nó là đạo đức phongkiến đã từng tồn tại gần 2000 năm trong lịch sử dân tộc Nó đã có tácdụng nhiều mặt đến con ngời, xã hội Việt Nam Cho đến nay nhiềumặt tàn d của nó vẫn còn tồn tại Trong xã hội ngày nay đã khác tr ớcnhng đạo đức phong kiến vẫn còn ảnh hởng đậm nét
Chế độ phong kiến Việt Nam hình thành gắn liền với sự xâm l ợc
và thống trị của phong kiến phơng Bắc Đế chế Hán sau khi chinh phục
đợc nớc ta ở thế kỷ II (TCN) dần dần biến xã hội ta thay vào đó là chế
độ phong kiến phơng Bắc
1.2 Điều kiện tồn tại của đạo đức phong kiến ở Việt Nam
Đạo đức phong kiến nớc ta xuất hiện do đấu tranh bền bỉ và củng
cố phát triển, chính do điều kiện lao động chống trọi với thiên nhiênkhắc nghiệt, nh vậy từ rất sớm nhân dân ta đã đề cao ý thức dũng cảm,tinh thần lao động, lòng yêu thơng lẫn nhau, lòng nhân ái xuất phát từlao động mà đợc hình thành nên và trở nên những nhân tố cấu thànhquan trọng trong đạo đức Việt Nam
1.3 Quá trình phát triển của đạo đức phong kiến ở Việt Nam
Từ trớc công nguyên đến năm 938
Trong các thiên niên kỷ trớc công nguyên vấn đề đạo đức củangời Việt cổ cũng nh mọi dân tộc khác còn rất đơn giản, trong xã hộithị tộc, đạo đức không có tầm vơn xa khỏi huyết thống Đến khi xã hội
có phân chia giai cấp, giá trị đạo đức của Việt Nam thời kỳ này bị thuhút vào t tởng dân chủ, các quan niệm về đạo đức đợc xây dựng giống
nh các quan niệm trong lĩnh vực chính trị, vấn đề yêu n ớc đợc đặt lênhàng đầu
Trang 11Phơng pháp giáo dục đạo đức phong kiến đã ảnh hởng sâu xa đến
đời sống tinh thần, xã hội Nhìn chung phơng pháp giáo dục này đã tạo
ra những con ngời khuôn mẫu, có ý thức chấp hành nhất nhất quy địnhcấp trên Trong gia đình nó tạo nên một lối sống gia tr ởng, không tôntrọng cá tính, tự do cá nhân nhng bên cạnh đó chúng ta biết khai thác,cải tạo, bổ sung các nội dung mới thì các phơng pháp giáo dục này cóthể đem lại kết quả tốt hơn cho việc gia đình, rèn luyện đạo đức đốivới con ngời Việt Nam ngày nay
Một là: phải tự rèn luyện, tu dỡng, tơng ứng với phơng pháp tu“
thân” trong xã hội phong kiến trớc kia.
Hai là: thực hiện tốt việc nêu gơng cán bộ, lấy gơng của các anh
hùng, hào kiệt, các bậc tiền bối, các thế hệ đi trớc để noi theo
- Học tập gơng ngời tốt, việc tốt, phấn đấu trở thành những cán
bộ mẫu mực, có năng lực, có phẩm chất đạo đức, phục vụ Tổ quốc,phục vụ nhân dân
Ba là: rèn luyện đạo đức cán bộ phải đi từ thấp đến cao, từ gia
đình đến xã hội
3 ảnh hởng của đạo đức Nho giáo trong cán bộ quản lý, lãnh
đạo của Việt Nam hiện nay
3.1 T tởng tu thân trong Nho giáo“ ”