1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Trang phục của người Pu Péo Cao Nguyên Đá Đồng Văn –Hà Giang

15 837 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng Văn có sông Nho Quế và các dòng suối nhỏ ở Lũng Táo, Phó Bảng, Phố Là chảy qua 1.1.4Dân số và phân bố dân cư Theo số liệu cuộc tổng điều tra Dân số và Nhà ở toàn Quốc ngày 1/4/1999

Trang 1

Môn: Văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Trang phục của người Pu Péo Cao Nguyên

Đá Đồng Văn –Hà Giang

1 Những nét khái quát về điều kiện tự nhiên và dân cư người pu péo Đồng Văn Hà Giang

1.1 Điều kiện tự nhiên.

1.1.1 Vị trí địa lí.

Đồng Văn là huyện miền núi biên giới của tỉnh Hà Giang nằm ở điểm cực Bắc của Tổ quốc, đây là điểm nhô ra cao nhất trên bản đồ Việt Nam Đồng Văn cách thành phố Hà Giang 155km, nơi đây có cột cờ Lũng Cú là biểu trưng cho chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Đồng Văn là huyện nằm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Van

Huyện Đồng Văn có vị trí địa lý trong tọa độ từ 23o06’06’’ đến 23o

21’17’’ vĩ độ Bắc, 105o 07’35’’ đến 105o 24’40’’ kinh độ Đông Phía Bắc và Tây giáp Trung Quốc; phía Nam giáp huyện Yên Minh, phía Đông giáp huyện Mèo Vạc Huyện có đường biên giới quốc gia là 52,5km

1.1.2 Khí hậu

Khí hậu ở Đồng Văn mang tính ôn đới và phân ra nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau Một năm chia ra thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), thường có sương mù, sương muối, thời tiết khô hanh Lượng mưa trung bình khá cao,

Trang 2

khoảng 1.600 - 2.000mm/năm Ở một vài tiểu vùng nhiệt độ có lúc xuống tới 40-50C như ở Lán Xì, Phố Bảng… thời tiết khí hậu khắc nghiệt vào mùa đông

1.1.3.Đất đai

Diện tích tự nhiên là 44,666ha, trong đó 11.837ha là đất sản xuất nông nghiệp Diện tích núi đá chiến 73,49% Địa hình phức tạp, có nhiều núi cao, vực sâu chia cắt Nhiều ngọn núi cao như Lũng Táo 1.911m Độ cao trung bình 1.200m so với mực nước biển Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Đồng Văn có sông Nho Quế và các dòng suối nhỏ ở Lũng Táo, Phó Bảng, Phố Là chảy qua

1.1.4Dân số và phân bố dân cư

Theo số liệu cuộc tổng điều tra Dân số và Nhà ở toàn Quốc ngày 1/4/1999 ,dân tộc Pu Péo chỉ có 705 nhân khẩu( nam 346, nữ 359) là một trong những người có số dân thấp nhất ơ nước ta hiên nay Tại Ha Giang Pu péo có 487 nhân khẩu (nhâ khẩu nam 236,nữ 251 ) phân bố chủ yếu ở các xã Phố Là ( huyện Đồng Văn ) Sung Tráng và Phố Lung (huyện Yên

Minh).ngoài ra còn một số gia đình sinh sống rải rác trong hai huyện trên và huyện Mèo Vạc

2.Đặc điểm về văn hoá mưu sinh

Người Pu Péo lấy nông nghiệp trồng trọt,có sự hỗ trợ của chăn nuôi thủ công nghiệp gia đình và hái lượm, ngoài ra người Pu Peo biết buôn bán

vùng biên giơi hai Quốc Gia Việt – Trung

2.1Đăc điểm về văn hóa vật chất

I Tập quán cư trú và nhà ở

Do rừng bị tàn phá nhiều việc tìm kiếm nguyên liệu làm nhà rất khó khăn, vì vậy họ đã chuyển sang ở nhà đất ,việc xây dựng nhà đất băt đầu từ hai dòng

họ Củng và họ Tráng

Hiện nay người Pu Péo sinh sống trong những ngôi nhà có nhiều dạng thức khác nhau tùy thuộc vào vị thế đất đai của ngôi nhà cũng như khả năng kinh tế của từng hộ Gia đình

Trang 3

Tại xã Phố Là và xã Phố Lúng ,cấu trúc vật chất ngôi nhà của người pu Péo hiện nay có hai dạng, một dạng có nhiêu nét tương đồng với người hoa , một dạng tương tự như nhà của người việt dạng nhà thứ nhất phổ biến từ những gia đình làm từ trước năm 1990 ,còn dạng thứ hai chỉ xuất hiện sau nay Dó

là kết quả của xu thế tiếp biến văn hóa trong những thời gian khác nhau

Dạng nhà theo kiểu người hoa là nhà trình tường hai mái không có trái

và số gian khong cố định ,phổ biến hơn là nhà ba gian.các ngôi nhà đều được xây to, bề thế nhưng chỉ được bố chí một cửa ra vào,rất ít cửa sổ ,kết cấu khung cửa dựa trân các vì kèo gỗ ba cột và những biến thể trực tiếp như dạng ba cột trôn cột giữa; năm cột; trốn cột giữa :năm cột; trốn cột giữa và cột hiên phần tường giầy 40 cm dến 50 cm, bao giờ cũng được trình bằng đất cứng, có pha lẫn sỏi cuội hoặc các dăm đá nên có sức chịu lực lớn và độ bền cao Xưa kia mái nhà chủ yếu dược lập bằng cỏ ranh, ngày nay được lập bằng ngối máng (ngói âm dương) hoặc ngói tây

Không gian sinh hoạt của người Pu Péo tương đối đa dạng.Muỗi gia đình thường cố một khuôn viên trong đó có các kiến trúc như nhà ở ,truồng gia xúc sát nhà ở và vườn nhà Phần lớn các ngôi nhà đều nhà nhà khép kín

có hai tầng tầng dưới là nhà ở của gia đình, bếp nấu ăn chỗ tiếp khách, tầng trên là kho chữa lương thực dự trữ, để các loại công cụ sản xuất nhỏ, đôi khi còn dành một chỗ cho khách nghỉ lại qua đêm mặt bằng sinh hoạt của ngôi nhà thường được bố cục theo chiều ngang phụ thuộc theo số gian,cấu trúc ngôi nhà ba gian là loại nhà phổ biến hơn cả, người Pu Péo lai khong coi gian giữa là quan trọng nhất như nhiêu dân tộc khác Đây là nơi đồng bào ăn

cm hàng ngay, dể cối xay ngô và các loai đò đạc Chỉ nhưng gia đình làm nghề mộc,rèn ,ngói ,mới thờ bàn thờ tổ nghề ở đây Phía sâu của gian bên trái là chỗ ngủ của chủ nhà, phía trên giường là bàn thờ tổ tiên,được làm theo kiêu giá treo băng một tấm gỗ nhỏ giữa nhà là một bếp lửa ,đây là nơi

Trang 4

tiếp khách cũng là nơi sinh hoạt thường xuyên của gia đình.Đối diện với giường của chủ nhà ,qua bếp là giường của các con trai lớn chưa xây đựng gia đình Khi nhà có khách nam có thể bố trí cho khách ở chiếc giường này Đây chính là không gian được côi là quan trọng nhất của muoix gia đình thông thường nhà của nguồi Pu Péo thường qupay vè hướng nạm và gian này bao già cũn nằm ở hướng đông, hướng mặt trời mọc Gian bên trái dành cho phụ nữ, bếp lò nấu ăn hàng ngày Phía sau cua gian nhà nay thường được ngăn cach bởi một gian buồng buồng nhỏ gianh cho các cô gái lớn chưa chồng,còn phía trước là bếp lò Một điều dặc biệt mặc dù bếp lò là nơi nấu ăn hàng ngày,nhưng người Pu Péo cung coi là bếp phụ còn bếp kiềng mới là bếp chính người ta quan niệm rằng, đó là nơi ngụ chú của các thổ thần và cất giữ hồn của chủ nhà

Tầng hai của ngôi nhà dạng này được coi là không gian phụ và chỉ được lát ván một phần Ở nửa phía phía bếp người ta cất giữ lương thực và các loại nôn cụ sản xuât như khun dệt, dao phát, liềm hái, thùng đập lúa, phần xàn phía trươc thường sáng sủa hơn, có thể coi là một dạng không gian

dự phòng Với nhưng gia đình đông con các con của họ có thể ngủ ở đây Khi nhà đông khách,cũng có thể bố trí làm nơi ngủ cho khách qua đêm

Các ngôi nhà làm theo kiểu người việt gần đây thường chỉ có một tầng nhưng các kiến trúc đã tương đối chuyên biệt Ngôi nhà chính chỉ để ngủ nghỉ và thờ tự, bếp nấu được tach riêng thành mọt kiến trúc khác Trên nhà chính cách bố cục chung không khác nhiều so với kiểu nhà người Hoa Chỉ

có bếp lò lương thực dự trữ được chuyển xuống nhà phụ

Trước kia nhà của người Pu Péo là những kiến trúc đơn lập, ngoài nhà

ở và truồng gia súc, không thấy có vườn tược đó cũng là tình trạng chung của hiều dân tộc, đang sinh sống trên vùng đất cực bắc của Tổ Quốc Hiện nay quan niêm về chỗ ở của họ đã có những thay đổi đáng kể trông cả hai

Trang 5

dạng nhà ở của người Pu Péo mà chúng tôi đề cập tới ở trên, đều có những bóng dáng của những khuôn viên, dù mới chỉ ở dạng tiền khởi Nhiều gia đình đã có những mảnh vườn dung để trồng rau xanh, hay một số cây ăn quả lưu niên như Đào hoặc Lê

Làm nhà là một trong những công việc lớn của đời người, người ta quan niệm rằng sự thành bại của mỗi gia đình, phụ thuộc rất nhiều vào việc điền trạch, chính vì thế có rất nhiều tín ngưỡng xung quanh ngôi nhà của người Pu Péo, từ việc chọn đất tới qua trình xây cất và nghi thức về nhà mới

Nhà của người Pu Péo thường được dựng ở sườn đồi tựa lưng vào đồi

và nhìn ra ruộng Khi chọn chỗ đất làm nhà muốn biết chỗ đất có ở được hay không, chỗ đất tốt hay xấu Người Pu Péo thường bói bằng ngũ cốc , bằng cách đào một hỗ ở miếng đất dự kiến cho chỗ làm nhà Người ta bỏ xuống mấy hạt ngô, gạo và mạch ba góc rồi úp một chiếc bát lên trên sau ba ngày mới mở bát ra nếu hạt ngũ cốc nguyên vị là đất tốt, nếu hạt ngũ côc bị chuyển vị hoặc bị sâu ăn là đất xấu phải tìm chỗ khác làm nhà

Vào nhà mới là lễ thức quan trọng nhất trong hệ thống tín ngưỡng liên quan tới ngôi nhà của người Pu Péo Thời gian vào nhà mới thường được tổ chức luc sang đêm , từ khi gà mới gáy lần thứ nhất Trước khi chuyển sang nhà mới, thầy cũng phải thắp hương cũng tổ tiên ở nhà cũ để xin về nhà mới Sau đó cúng các vị thần linh xung quanh nhà rồi thắp hương bếp sưởi, bếp lò

và của ra vào Sau đó thầy cúng và chủ nhà muỗi người đốt một bố đuốc ở bếp sưởi nhà cũ rồi cả nhà dẫn nhau tới nhà mới, mang theo một nia gạo,một nia mèn mén, một gánh nước, một chiếc nồi, một con gà trống Khi đến nhà mới, thầy cúng vào trước, vung đuốc khắp nhà để đuổi tà ma rồi đem bó đuốc ra ngoài cửa, tiếp đến chủ nhà dùng bó đuốc của mình, nhóm một đống lủa ở gian “thoang phi” cạnh nơi đặt bếp sưởi và đào một hố bếp vuông sâu 20cm đến 25cm muỗi chiều rộng 50cm ở giữa nhà, chiếu thẳng với bàn thờ

Trang 6

tổ tiên cắm ba nén nhang vào đó Tiếp theo là nghi thức giết nhà cúng bếp.Tiếp theo là giết gà cũng bếp, sau khi cắt tiết vặt lông và mổ gà, người ta

đổ bát tiết cũng như lông gà,và nước làm thịt vào hố bếp lấy ba hòn đá kê làm ba ông đầu rau và châm lửa nhóm bếp vì vậy ngườ Pu Péo gọi ông đầu rau nhà mình là hòn đá của ông cậu Sau đó ông cậu dùng một mêngs vải đỏ

để xua đuổi tà ma, vừa làm ông vừa nói to những lời chúc gia chủ ,chỉ sau khi thực hiện song những nghi thức của bếp thiêng và cửa ra vào vào mới được nhóm bếp lò để nấu nướng lễ vật cũng ở bàn thờ tổ tiên Mọi nghi thức vào nhà mới phải được hoàn tất trước khi trời sáng, đến khi trời sáng anh em

họ hàng, hàng sóm sẽ sang mừng nhà mới người Pu Péo thường mang lễ vật là một con gà, một ít gạo một ít tiền mừng cho chủ nhà

2.1.1 Ăn, uống, hút.

-Cũng như bao dân tộc khác chế đọ ăn uống của người Pu péo, phản ánh rõ tập quán sản xuất cũng như,diện mạo kinh tế của họ, thường phụ thuộc vào lịch mùa vụ và sản phẩm có được từ sản suất kinh tế, săn bát hái lượm Chế độ ăn uống trong mùa vụ :

Bứa sáng : từ 5h-6h

Bứa chưa: 11h-12h

Bứa tối : 18h-19h

Vào vụ nông nhàn thì họ chỉ ăn hai bứa:

Bứa sáng : 10h-11h

Bứa tối : 18h-19h

- Nguồn lương thực chính được người Pu Péo sử dụng trong bứa ăn hàng ngày là gạo tẻ và ngô Gạo xưa kia bao giờ cũng được luộc qua một lần rồi mới đồ lên, nhưng ngày nay họ nấu cơm như cách làm của người việt Riêng với ngô người Pu Péo cũng say thành bột rồi hông bằng chõ Món này

Trang 7

phổ biến với nhiều dân tộc thiểu số phân bố ở biên giới Việt –Trung như Hmông, Lô Lô, Phù Lá, thường biết đến tên gọi chung là “mèn mén” Thức

ăn chủ yếu là rau, rau xào với canh Thịt cá hoặc thịt chất tươi chỉ xuất hiện mâm cơm khi nhà có khách, hay sau những buổi chợ phiên vùng cao thường được họp một tuần một lần Trong dịp tết lễ các gia đình Pu Péo thường mổ lợn, một phần để ăn tươi phần khác cất trữ ăn dần

2.2.Đặc điểm về văn hóa tinh thần

Người Pu Péo đã định cư tại khu vực đồng văn từ rất lâu, đây có thể coi là lớp cư dân bản địa

2.2.1 Làng bản.

Người Pu Péo thường gọi “làng bản” bằng tiếng Pu Péo là “gựa”

Người Pu Péo quan niệm có thần tạo lập sóm làng (sau đền, sau gựa) bảo họ cho cả bản luôn được thịnh vượng, phù hộ cho con cháu trong bản đông, không bị bệnh tật ốm đau, gia súc phát triển, vì thế trong những mâm cũng

tổ tiên,cũng cơm mới, tết lễ suống đồng người ta đều phải cũng vị thần này

Bản của người Pu Péo theo thế dựa lưng vào các sườn núi thấp, mặt hướng ra không gian thoáng ( thường là nhưng khoanh nương hoặc ruộng )

là những noi rộng rãi gần nguồn nước thuận tiên cho việc công tác, người Pu Péo quan niệm “Nơi dựng bản phải dựng theo dạng rừng núi rừng núi chảy đến nơi mình định làm nhà Mốc danh giới gữa các làng bản được phân định theo các đỉnh ngọn núi, theo một cây lâu năm, hòn đá eo núi,các lối mòn thửa ruộng Mốc ranh giới này cố định mang tính quy ước, song tương đối rõ ràng và không thay đổi ngay cả khi một số hộ của bản phát triển thì hướng phát triển ít không chồng lên ranh giới dã phân định của bản kia Bản Củng Chá và bản Trống Chải nằm ở hai bên triền một con núi thì đường ranh giới giữa hai bản được ngầm hiểu là đỉnh của ngọn núi phân thẳng ra

Trang 8

hai bên, các thành viên của hai bản có thể đi lại qua ranh giới này thông qua các đường dân sinh

Ngoài khu đất cư trú, muỗi một bản người Pu péo còn có một khu canh tác riêng của bản Khu rừng gia sau bản của người Pu Péo được coi là rừng thiêng cấm các thành viên trong ngoài chặt phá Đây là nơi thờ thần rừng của cả bản

Bản của người Pu Péo được hình thành chủ yếu theo ba cách:

Quan hệ huyết thống dòng họ, quan hệ hôn nhân và quan hệ làng xóm láng giêng

Ở người Pu Péo, việc cư trú theo huyết thống gia đình vấn còn rõ rệt, trước năm 1969 vấn còn một Gia Đình chung sống quần thể theo kiểu người Hoa, sau do sung đột biên giới và dân số phát triển nên các gia đình đã tách

ra song vẫn còn chung phạm vi một bản

2.2.2 Dòng họ, gia đình

Người Pu Péo bao gồm 16 họ, muỗi họ thường hình thành từ hai họ gốc theo cặp đôi Theo lời của các cụ già thì họ Củng, họ Chúng, họ Lùng là

ba anh trước họ Củng sau loan lạc thì chia ba ngả đi khắp nơi Người em thứ đổi thành họ Lùng, người em út đổi thành họ Chúng, ngày nay người Pu Péo vẫn cấm hôn giưa ba họ này Các gia đình trong một dòng họ thường sống tập chung trong một khu vực như họ Củng ở bản Củng Chá Người Pu Péo không có trưởng họ, mà người uy tín nhất, nhiều tuổi nhất sẽ đại diện cho họ của mình làm công việc ma chay,cưới xin việc lớn việc nhỏ đều tham gia ý kiến,cách tổ chức Việc tách nhập họ rất hiếm, các đồng họ người Pu Péo không có nơi thờ tự chung của cả họ không có đất đai riêng và vai trò kinh tế dòng họ Dòng họ của người Pu Peo có ý nghĩa rất quan trọng trong thể chế hôn nhân Tập quán quy định những thành viễn trong dòng họ không được phép kết hôn với nhau

Trang 9

Gia đình người Pu Péo có kết cấu thuộc loại gia đình nhỏ một vợ, một chồng, phổ biến dạng hai thế hệ gồm bố mẹ và các con, kết cấu gia đình ba thế hệ cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể, kết cấu gia đình 4 thế hệ và độc thân có nhưng rât ít

Hình thái gia đình của người Pu Péo mang tính phụ hệ rõ nét người chủ “ qua nhình” thường là ông hoặc bố điều khiển mọi việc trong gia đình

từ sản xuất cưới xin, giao tiếp làng xóm cả chi tiêu trong gia đình Người phụ nữ Pu péo it quền lợi và không được đối sử công bằng như nam giới Tính phụ quền thể hiện trong lời cúng người Pu Péo trong mâm cúng đật vị trí cúng tổ tiên là nam giới trước cũng như trong lới cũng bao giờ cúng ma tổ tiên là nam giới trước rồi mơi tới ma tiên là nữ giới Trong việc phân chia tài sản chỉ khi chia tài sản cho các con trai,con gái đi lấy chồng thì được coi

là người của nhà chồng, không có quền đòi hỏi quền lợi đối với bố mẹ, hay các anh em

2.2.3Về tín ngưỡng phong tuc tập quán.

Người Pu Péo tin rằng có sự tồn tại của ba thế giới Ngoài thế giới thực còn có sự tồn tại của các thế giới khác ở trên trời mà co người không thể kiểm soát được, thế giới của các thần linh Trong thế giới đó ngoài các vị thần còn có những người trời có đặc điểm là mắt đỏ đeo dao gỗ ở cổ Thế giới thứ ba ở dưới mặt đất với những con người bé bằng ngón tay và thường đeo dao ở kheo chân thời gian ở thế giới của thế giới thực và hai thế giới kia luôn ngược nhau, trước kia ba thé giới thông vói nhau bởi một chiếc thang, người của hai thế giới kia xuống trần gian vào giữa đêm hoặc giữa

chưa, ngày 30/4 âm lịch hàng năm được coi là ngày quên là ngay châu mấn

huốc và chau mân bằng tràn đến thế giới loại người, trong ngày này mọi

người phải buộc cỏ ranh lên đầu để phân biệt là người của thế giới ta với người của thế giơi khác Đến ngày 5 tháng 5 hai giống người trên trở lại

Trang 10

trần gian, vì thế các gia đình phải cũng ho chúng ăn để chùng trở về với thế giới của mình

Theo quan niệm của người Pu Péo, mọi sự sinh tử của con người trần

gian đều do các vị thần trên trời quyết định Vi như;( Pe pớt, Mè cháo,) quyết định về sự sinh đẻ hoặc( nhện vàng) quyết định sự tái sinh.

Ngoài các vị thần, linh hồn tổ tiên cũng có tác động nhất định đến cuộc sống của muỗi gia đình Vì thế người Pu Péo nhất định phải thờ cũng tổ tiên Đối tượng thờ cũng trong phạm vi ba đời bố mẹ, ông bà, cụ ông, cụ bà Bàn thờ ngừơi ta không đặt bài vị, họ chỉ đặt các hú nhỏ, muỗi hú tượng chưng cho một đời,từ đời thứ năm trở đi có hú thờ riêng, nhưng khi cũng phải khấn đến

2.3 Quan niệm về trang phục.

Người pu péo coi y phục là những vật dụng không chỉ để che thân mà còn là thước đo phẩm giá, tài năng của người phụ nữ, những chủ nhân đã tạo

ra bộ trang phục Y phục còn gắn liền với những quan niệm về tín ngưỡng của người Pu Péo thể hiện rõ tâm lý thị hiếu của từng giới, của từng lứa tuổi,vì đồng bào trang sức là những đồ vật không chỉ dùng trang điểm cho con người trong các dịp lễ quan trọng như cưới xin, lễ hội mà còn có ý nghĩa giúp con người tránh được sự quấy nhiễu làm hại của tà ma, quái (nhất là đối với trẻ em người già yếu ) là thước đo điều kiện kh ả năng kinh tế của từng

cá nhân, từng gia đình trong xã hội

2.4Quá trình tạo nên trang phục

Người Pu Péo cư trú khá tập chung ở vùng ở vùng sâu vùng xa, điều kiên giao lưu kinh tế có hạn chế, đời s ống của đồng bào còn mang tính tự cung tự cấp tự túc

Xuất phát từ nền kinh tế tự cấp tự túc gắn với nương rẫy ruộng bậc thang việc tạo ra trang phục của người Pu Péo hoàn toan mang tính chất thủ

Ngày đăng: 17/03/2017, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w