32 Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HẢI HÀ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC .... Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
PHẠM THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG THCS
HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
PHẠM THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG THCS
HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ chương trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Thái Nguyên, ngày tháng 8 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn, tác giả nhận được
sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo, các thầy, cô giáo, anh chị và các bạn đồng môn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, Khoa Tâm lý – Giáo dục, các thầy cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu chương trình học cao học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự động viên, tạo điều kiện giúp đỡ của lãnh đạo và chuyên viên phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hải Hà về những góp ý bổ trợ cho luận văn, đặc biệt trong việc cung cấp các số liệu thống kê phục vụ cho việc phân tích trong luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Sơn người đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ trong quá trình hình thành, triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của của các thầy, cô giáo
và các bạn đồng môn để luận văn được hoàn thiện hơn và có thể áp dụng trong thực tiễn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Các từ viết tắt trong luận văn iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp của luận văn 6
9 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 12
1.2.2 Phương pháp, PPDH, đổi mới PPDH, đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực, quản lý đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực 13
1.3 Sự cần thiết quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS theo hướng phát triển năng lực người học 17
Trang 61.4 Nội dung quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển
năng lực người học 18
1.4.1 Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực 18
1.4.2 Quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học 19
1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học 27
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 27
1.5.2 Các yếu tố khách quan 29
1.6 Kinh nghiệm của một số trường trong nước và quốc tế trong quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học 30
1.6.1 Ở các trường THCS Việt Nam 30
1.6.2 Ở trường THCS các nước 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HẢI HÀ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 33
2.1 Khái quát về giáo dục đào tạo và giáo dục THCS huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh 33
2.1.1 Khái quát về giáo dục đào tạo ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 33
2.1.2 Khái quát về giáo dục THCS huyện Hải Hà 35
2.2 Tổ chức điều tra khảo sát về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 43
2.2.1 Mục đích, nội dung khảo sát 43
2.2.2 Đối tượng khảo sát 43
2.2.3 Phương pháp khảo sát 43
2.2.4 Quy trình và kết quả khảo sát 44
2.3 Thực trạng đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải Hà 44
Trang 72.3.1 Nhận thức của CBQL, giáo viên về sự cần thiết phải đổi mới PPDH
môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực 45
2.3.2 Công tác chỉ đạo đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh 46
2.3.3 Công tác kiểm tra, đánh giá dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học 47
2.4 Thực trạng về quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải Hà 49
2.4.1 Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học 49
2.4.2 Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học 50
2.4.3.Thực trạng quản lý phân công giảng dạy cho giáo viên 52
2.4.4 Thực trạng về quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên môn Ngữ Văn 53
2.4.5 Thực trạng về quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên 55
2.4.6 Thực trạng về quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo định hướng tiếp cận năng lực người học 58
2.4.7 Thực trạng về quản lý giáo viên soạn bài, chuẩn bị giờ lên lớp 60
2.4.8 Thực trạng về quản lý CSVC, thiết bị dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải Hà 63
2.4.9 Thực trạng về kiểm tra đánh giá kết quả dạy học môn Ngữ Văn theo định hướng phát triển năng lực người học 66
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ ở các trường THCS huyện Hải Hà 68
2.5.1 Ưu điểm 68
2.5.2 Những tồn tại, hạn chế 69
Kết luận chương 2 71
Trang 8Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI
HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 73
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 74
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học tại các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 75
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL, giáo viên về sự cần thiết phải đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học 75
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch quản lý giáo viên đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực 79
3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức bồi dưỡng giáo viên đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS theo hướng phát triển năng lực 82
3.2.4 Biện pháp 4: Quản lý khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS 84
3.2.5 Biện pháp 5: Động viên, khen thưởng và tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực người học 87
3.4.6 Biện pháp 6: Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS theo hướng phát triển năng lực người học 89
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 92
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 94
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 94
Trang 93.4.2 Nội dung khảo nghiệm 94
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iv
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH : Ban chấp hành CBQL : Cán bộ quản lý
TNCS : Thanh niên cộng sản
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô, mạng lưới trường lớp cấp THCS huyện Hải Hà 35
Bảng 2.2: Đội ngũ cán bộ giáo viên THCS huyện Hải Hà năm học 2014 - 2015 37
Bảng 2.3: Cơ cấu độ tuổi giáo viên THCS năm học 2014 - 2015 37
Bảng 2.4: Đội ngũ CBQL cấp THCS huyện Hải Hà 39
Bảng 2.5: Đội ngũ giáo viên Ngữ văn THCS huyện Hải Hà năm học 2014-2015 40
Bảng 2.6: Cơ cấu độ tuổi giáo viên Ngữ văn THCS năm học 2014-2015 41
Bảng 2.7: Chất lượng giáo dục cấp THCS huyện Hải Hà 42
Bảng 2.8: Chất lượng học sinh giỏi lớp 9 môn Ngữ văn cấp THCS huyện Hải Hà 42
Bảng 2.9: Nhận thức về mức độ cần thiết đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS của CBQL và giáo viên 45
Bảng 2.10: Thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học 49
Bảng 2.11: Thực trạng quản lý thực hiện đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh 51
Bảng 2.12: Đánh giá sự phân công và cách thức phân công giảng dạy 53
Bảng 2.13: Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên 54
Bảng 2.14: Thực trạng quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên 56
Bảng 2.15: Thực trạng quản lý PPDH, hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn 58
Bảng 2.16: Thực trạng các biện pháp quản lý giáo viên soạn bài, chuẩn bị giờ lên lớp 61
Bảng 2.17: Thực trạng các biện pháp quản lý CSVC, thiết bị dạy học 64
Bảng 2.18: Thực trạng về quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn 66
Bảng 3.1: Đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
Trang 12vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập [24]
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan
và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết của Trung ương cũng chỉ rõ nội dung của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, là: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm cả đào tạo nghề [1]
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng khẳng định sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu:
Trang 13Một là, giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việc hiệu quả, thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước
Hai là, xây dựng nền giáo dục mở, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu
và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng Hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trong công tác giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và
đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung cách dạy học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ dạy học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [1, tr 4]
Chương trình Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển
từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh được học cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất người học
Cùng với sự phát triển chung của giáo dục phổ thông, hoạt động đổi mới PPDH đã được quan tâm tổ chức và thu được những kết quả bước đầu cả trong
Trang 14công tác quản lý, hoạt động của giáo viên và việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Đặc biệt, để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng bộ PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học
1.2 Về mặt thực tiễn
Hải Hà là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Quảng Ninh, 20% dân số
là người dân tộc thiểu số Do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nên đa phần người dân chưa quan tâm đến việc học của con em Hơn nữa, người dân tộc thiểu
số có nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nhận thức chưa đúng đắn, nhất là nhận thức về việc học chưa đầy đủ nên có nhiều ảnh hưởng đến giáo dục
Đại hội Đảng bộ huyện Hải Hà lần thứ XX khẳng định: nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ giải pháp chủ yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, theo đó trong giai đoạn này giáo dục - đào tạo của huyện phấn đấu đứng vào tốp đầu khu vực miền Đông tỉnh Quảng Ninh [26, tr 12]
Đứng trước những yêu cầu đổi mới, ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Hà không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục Đặc biệt, vấn đề đổi mới PPDH các trường THCS huyện Hải Hà đã triển khai từ nhiều năm nay Mặc dù vậy, hiệu quả của việc đổi mới chưa thực sự rõ nét Nhiều thầy cô giáo vẫn quen với phương pháp giảng dạy truyền thụ một chiều Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc kết hợp sử dụng các PPDH truyền thống với PPDH tích cực còn ít Dạy học các môn khoa học xã hội vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết Việc rèn kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông và sử dụng các phương tiện dạy học ở các trường THCS trên địa bàn chưa được rộng rãi và hiệu quả chưa cao
Cùng đặc điểm chung trong quá trình đổi mới dạy học các môn học, Ngữ văn - môn học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật càng đòi hỏi
Trang 15cần có sự đổi mới mạnh mẽ hơn song cũng uyển chuyển, phức tạp hơn nhằm phát triển năng lực người học Bởi vì, tác phẩm văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người “gần người” hơn Rõ ràng yếu tố đầu tiên quyết định chất lượng dạy và học văn trong nhà trường THCS là người thầy với những phương pháp giảng dạy phù hợp
Qua thực tế cho thấy, tại huyện Hải Hà, để tìm được những học sinh THCS có năng lực văn chương không phải chuyện quá hiếm nhưng bên cạnh
đó còn rất nhiều học sinh học yếu, chán học môn Ngữ văn, chưa phát huy được những năng lực cần thiết, tối thiểu cần trang bị theo mục tiêu môn học Một trong những nguyên nhân cốt yếu đó là PPDH còn theo “lối mòn”, giáo viên ngại áp dụng các PPDH mới theo định hướng phát triển năng lực người học
Với vai trò là một cán bộ phụ trách bộ môn Ngữ văn của phòng Giáo dục
và Đào tạo Hải Hà, tôi vô cùng trăn trở, mong muốn nghiên cứu tìm được những biện pháp cần thiết, phù hợp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ
môn Ngữ văn Từ các lý do trên tôi chọn đề tài “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng tiếp cận năng lực người học tại các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS theo hướng phát triển năng lực người học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: biện pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải
Hà, tỉnh Quảng Ninh
Trang 164 Giả thuyết khoa học
Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Những năm học vừa qua, các trường THCS huyện Hải Hà đã quan tâm đến việc đổi mới PPDH môn học này và đã đạt được kết quả nhất định Tuy nhiên, việc quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng tiếp cận năng lực người học ở các trường THCS trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn, bất cập vì chưa
có biện pháp quản lý hữu hiệu Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi và thực hiện đồng bộ thì sẽ quản lý tốt việc đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS theo hướng phát triển năng lực người học
5.2 Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo hướng phát triển năng lực người học
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo hướng phát triển năng lực người học
6 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian có hạn, đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản
lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2014 đến năm 2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
Trang 177.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: khái quát thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia, lấy ý kiến các nhà quản lý, các giáo viên trực tiếp giảng dạy, tổng kết kinh nghiệm, điều tra thông qua phát phiếu thăm dò
7.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ: Thống kê, toán học, bảng biểu
8 Đóng góp của luận văn
8.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học
8.2 Đánh giá thực trạng của hoạt động đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo đinh hướng phát triển năng lực người học nhằm có biện pháp quản lý tốt hơn cho dạy và học Ngữ văn ở trường THCS hiện nay
8.3 Đề xuất được các biện pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo đinh hướng phát triển năng lực người học tại các trường THCS huyện Hải Hà
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực người học
Chương 2: Thực trạng về quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ
văn ở trường THCS huyện Hải Hà theo hướng phát triển năng lực người học
Chương 3: Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
ở các trường THCS huyện Hải Hà theo hướng phát triển năng lực người học
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đổi mới PPDH là vấn đề được quan tâm ngay từ thời cổ đại Trước công nguyên, Socrate (469-390 Tr.CN) - Hy Lạp đã từng khẳng định “Anh hãy tự biết lấy anh”, ông nêu phương pháp, trong đó người dạy chỉ giữ vai trò hướng dẫn, giúp đỡ, còn người học tự mình tìm ra tri thức Ông gọi phương pháp này là “Phép
đỡ đẻ” Khổng Tử (551-479 tr.CN) quan tâm đến việc kích thích tư duy của học sinh Ông nói “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa”
Đến thế kỷ XVI trở đi, có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra những tư tưởng tiến bộ Monteque (1533-1592) được mệnh danh là ông tổ sư phạm của Châu Âu đã chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với các sự vật trong đời sống hàng ngày Muốn giảng dạy tốt “Phải cho học sinh chạy trước mà nhận xét” chứ không bắt buộc trẻ em nhắm mắt theo những nhận định chủ quan của người thầy
Comensky (1592-1670) đã cho rằng người thầy phải dạy thế nào để cho học sinh thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn” [dẫn theo 10]
John Dewey (1859-1952) chủ trương phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ em Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết kế vừa là người cố vấn [dẫn theo10]
Vấn đề đổi mới PPDH không phải là những phát hiện mới mẻ mà vốn đã
có từ lâu Ở nước ta, những năm 1960 phong trào cải tiến PPDH đã xuất hiện
Trang 19nhiều trường phổ thông Từ đó đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều sách viết về đổi mới PPDH nhằm phát huy năng lực sáng tạo, nghệ thuật sư phạm trong quá trình giảng dạy của người giáo viên để đạt hiệu quả cao nhất Bởi vậy, đổi mới PPDH không phải là lớn lao vĩ đại mà đó là sự sử dụng hợp lý, sáng tạo cách dạy, cách truyền thụ để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nhất từ đó giúp người học vừa nắm chắc kiến thức, vừa có kỹ năng thực hành Ở Việt Nam có nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu PPDH phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong các giáo trình giáo dục học hoặc trên tạp chí nghiên cứu giáo dục như Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Thái Duy Tuyên, Đặng Thành Hưng,…
Song song với đổi mới PPDH là vấn đề quản lý Từ cuối thế kỷ XIV vấn
đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ này là: Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ
mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất
kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh (vừa sức); dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt…
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856- 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841- 1925), Pháp; Max Weber (1864- 1920), Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội [dẫn theo 10]
Các nhà khoa học Việt Nam đều tiếp cận QLGD, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh Bằng sự tổng hoà các tri thức của QLGD, Giáo dục
Trang 20học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học…, tiếp thu lý luận giáo dục và dạy học hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu một cách khoa học Trong nước, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học:
Tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành khi nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” đã khẳng định: “Tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chuyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” [12, tr 56]
Tác giả Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học Giáo dục học đã xác định: “Quản lý hoạt động dạy học là quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ”.[14]
Các cách tiếp hiện đại vận dụng vào QLGD như tiếp cận: “Quản lí chất lượng tổng thể trong giáo dục”; Quản lý dựa vào nhà trường; cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu và vận dụng Các thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước là những tri thức làm tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học trong các trường học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia nhập WTO năm 2006 là một bước đi quan trọng trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới Nền kinh tế hơn bao giờ hết rất cần đến nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trong thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông
Trang 21Trả lời phỏng vấn báo Dân trí, ngày 25/8/2015 về “Đổi mới sách giáo khoa sau 2015 như thế nào”, tác giả Nguyễn Vinh Hiển (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) khẳng định: chương trình mới tiếp cận theo hướng hình thành
và phát triển năng lực cho người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi học sinh làm, vận dụng được gì hơn là học sinh biết những gì Tránh tình trạng biết rất nhiều nhưng làm, vận dụng không được bao nhiêu, biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc rất thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật… Nội dung dạy học ưu tiên những kiến thức cơ bản, hiện đại nhưng gắn bó, thiết thực với những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, tránh hàn lâm/kinh viện Ưu tiên thực hành/vận dụng, tránh lý thuyết suông; tăng cường hứng thú, hạn chế quá tải
Theo đó, PPDH thay đổi, dạy cách học, cách tìm kiếm và vận dụng, cách phát hiện và giải quyết vấn đề; đề cao sự hợp tác và sáng tạo… không nhồi nhét, chạy theo khối lượng kiến thức Kiểm tra - đánh giá cũng thay đổi theo hướng: xác nhận đúng năng lực của người học; đánh giá khả năng và hiệu quả vận dụng tổng hợp… do vậy phải coi trọng đánh giá trong suốt quá trình dạy - học và bằng nhiều
hình thức; tập trung đổi mới thi - công nhận tốt nghiệp và tuyển sinh đại học
Trước những đổi mới đó ngành Giáo dục nói chung, bộ môn Ngữ văn đã quan tâm chỉ đạo nghiên cứu đổi mới PPDH, công trình nghiên cứu nổi bật có
thể kể đến là “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn”
của Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho, xuất bản năm 2007 [9]
Ngày 05/01/2014, tại Trường ĐH Sư phạm Huế (thành phố Huế) đã diễn
ra “Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, thu hút hàng trăm nhà khoa học, giáo viên, nghiên cứu về văn đến tham dự Tại Hội nghị đã có nhiều kiến giải
về quản lý và đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học
Trang 22Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống, Ngữ văn là môn học có “tuổi thọ” cao nhất
ở nhà trường phổ thông Suốt hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, khái
niệm “đến trường”, “đi học” chủ yếu là học Ngữ văn Trước hết là học lễ nghĩa và sau đó là để biết đọc, biết viết, từ đó mà học đạo lý, luân lý, hình luật, chính trị, triết lý … Có 3 vấn đề cần chú ý trong xác định một chiến lược dạy
học nói chung và dạy Ngữ văn nói riêng, là: Người giáo viên cần biết tự thay đổi liên tục để thích nghi với những biến động của xã hội Tự học và học suốt đời là một yêu cầu thực sự đối với mọi người, nhất là trí thức - những người thầy đứng trên bục giảng [21]
Dạy học Ngữ văn cần tập trung hình thành cho học sinh phương pháp học và học phương pháp học PPDH phải tạo cho học sinh tính hiếu kỳ, tò mò
và sự đam mê để họ tự đi tìm và lý giải, qua đó mà hình thành năng lực Không nhồi nhét kiến thức, không bắt nhớ máy móc, cần biết quên cái cụ thể, chi tiết; chỉ nhớ cách làm, cách xử lý vấn đề … giúp học sinh tự học, tự khám phá, tự kích thích sáng tạo Giờ văn học trước hết hãy giúp học sinh niềm yêu thích, say mê văn chương, mong muốn tìm tòi, tìm hiểu cái hay, cái đẹp của thế giới nghệ thuật rồi sau đó mới là những yêu cầu khác [11]
Nhà trường phổ thông trong giai đoạn tới không chỉ chú ý khả năng tư duy logic, biện chứng … mà cần lưu ý hình thành “khả năng suy tưởng, sự mẫn cảm”, những “vẻ đẹp thẩm mỹ và xúc cảm” Trong thế giới hiện đại, điều đó còn quan trọng hơn cả tư duy phân tích - lôgic Yêu cầu này là hết sức đúng với bản chất của môn Ngữ văn
Cùng với những chuyển mình của ngành Giáo dục, đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về quản lý đổi mới PPDH nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu cho giai đoạn phát triển mới Đã có một số đề tài nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn ở tỉnh Quảng Ninh và một số tỉnh khác Tuy nhiên đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về các giải pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Trang 231.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp
và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
- Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Ở Việt Nam, khái niệm "quản lý" cũng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đó là:
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: "Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung, là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [dẫn theo 10]
- Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ cho rằng: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn" [dẫn theo 10]
Từ những quan niệm nêu trên có thể nhận thấy mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về quản lý, nhưng những đặc trưng chính của quản lý đều được các tác giả đề cập bao gồm:
+ Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm nhiều yếu tố cấu thành Các yếu tố cơ bản của hệ thống quản lý là: chủ thể quản lý, đối tượng
Trang 24quản lý, mục tiêu quản lý và cơ chế quản lý Yếu tố mục tiêu quản lý có ý nghĩa rất quan trọng Mục tiêu có thể do xã hội đặt ra, hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể và đối tượng quản lý từ đó làm nảy sinh quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý hệ thống giáo dục có thể các định nghĩa là tác động của hệ thống
có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em
Qua khái niệm trên ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là những tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng tới đích của chủ thể QL lên đối tượng QL mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các trường học
1.2.2 Phương pháp, PPDH, đổi mới PPDH, đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực, quản lý đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực
1.2.2.1 Phương pháp:
Thuật ngữ “phương pháp” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Metodos” có nghĩa chung nhất là con đường, cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã định
Trang 25Như vậy ta có thể định nghĩa: PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
1.2.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới PPDH được quy định rõ ở Điều 28, Luật Giáo dục số 38/2005/QH11: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”; [15]
Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành ngày 5/5/2006 theo Quyết định số 16/QĐ-BGDĐT thì PPDH ở trường phổ thông “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng, tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [4, tr 10]
1.2.2.4 Năng lực
Năng lực là một khái niệm cơ bản của tâm lí học Nó có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn Năng lực được hiểu là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một loại hoạt động nhất định, đảm
bảo cho hoạt động đó có hiệu quả
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của
người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là
các năng lực chung, cốt lõi [19]
Trang 26Có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập)
để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống
1.2.2.5 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
PPDH theo định hướng phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và
kỹ năng riêng lẻ các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp [4]
1.2.2.6 Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực
Đổi mới PPDH theo định hướng tiếp cận năng lực người học tức là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh; đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các môn học; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý
việc tổ chức dạy học phân hóa phù hợp các đối tượng học sinh khác nhau 1.2.2.7 Quản lý đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực
Quản lý đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng tới đích của nhà quản lý đến việc vận dụng các PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học
Đối với môn Ngữ văn, việc quản lý đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học cần lưu ý quản lý đổi mới PPDH và các hình thức tổ chức dạy học Cụ thể, quản lý việc:
Trang 27* Kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại, lưu ý thực hiện phương pháp đặc thù theo phân môn
- Các giờ lí thuyết Tiếng Việt, Làm văn phương pháp chung là từ phân
tích mẫu đến luyện tập, thực hành
- Giờ Đọc hiểu: Chú ý việc đọc đáp ứng yêu cầu đọc đúng, đọc hay, đọc gắn với hiểu văn bản Phần chú thích chỉ nên giảng những chú thích khó, những chú thích quan trọng liên quan đến nội dung chính của văn bản Khi phân tích cần
quán triệt nguyên tắc đối thoại để giúp học sinh phát hiện chỗ không hiểu, chỗ mâu thuẫn, phi lôgíc trong văn bản để tạo thành vấn đề kích thích hứng thú tìm hiểu của học sinh; không được cung cấp ngay kết quả đọc - hiểu cho học sinh
* Chú ý yêu cầu phát triển các năng lực cơ bản
- Năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh thể hiện ở:
+ Việc nắm được các thông tin chính của văn bản như đề tài, chủ đề, nhân vật, sự kiện, nội dung tường minh, nội dung hàm ẩn; cách trình bày, thể hiện thông tin của người viết có gì cần chú ý (tiêu đề, từ ngữ, biện pháp tu từ, hình ảnh, chấm câu ); thái độ, tình cảm của người viết qua văn bản (thể hiện qua/bằng/ở chỗ nào trong văn bản) và tác động của văn bản đối với người đọc
+ Biết cách đọc hiểu văn bản: văn bản nghệ thuật và văn bản thông tin
- Năng lực viết - tạo lập văn bản thể hiện ở khả năng:
+ Có ý tưởng, tìm được ý (ý đúng, ý đủ, ý hay, ý sáng tạo)
+ Biết cách trình bày ý theo một bố cục, kết cấu chặt chẽ, hợp lý
+ Biết diễn đạt rõ ràng, trong sáng từ đúng đến hay
- Ngoài ra cần chú ý rèn luyện năng lực nói và trình bày một vấn đề trước tập thể sao cho tự tin, rõ ràng, phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp
* Thực hiện tích hợp các nội dung dạy học cần tuân thủ nguyên tắc lồng ghép các nội dung một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài học; việc tích hợp làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn và không gây quá tải
* Hình thức tổ chức dạy học: căn cứ vào đặc trưng bài học, đặc điểm, trình độ học sinh, điều kiện cụ thể của lớp, trường, địa phương, giáo viên cần
Trang 28đa dạng hóa các hình thức giảng dạy như: ứng dụng công nghệ thông tin, dạy học trực tuyến, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các hoạt động bổ trợ (sinh hoạt chuyên đề, thành lập câu lạc bộ Văn học trong nhà trường, ngoại khóa Văn học,…), nghiên cứu khoa học, dạy học theo dự án,…
1.3 Sự cần thiết quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS theo hướng phát triển năng lực người học
PPDH là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Một phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giáo viên,
và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy, làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của người học
Đổi mới PPDH sẽ cung cấp những cơ hội đặc biệt để nhận thức rõ những giá trị quan trọng, thực chất trong cuộc sống Điều đó làm tăng khả năng mà thực ra là yêu cầu giáo viên không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết Vì vậy, vai trò mới của người giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tò mò của học sinh, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức,
sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo Việc áp dụng các PPDH mới đòi hỏi phải có những tài liệu dạy - học mới Những tài liệu này phải gắn với các phương pháp kiểm tra mới nhằm khuyến khích không chỉ khả năng nhớ mà cả khả năng hiểu, các kỹ năng thực hành và sáng tạo của học sinh
Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học bắt đầu được triển khai thực hiện nhằm đạt được hiệu quả giảng dạy Với phương pháp này yêu cầu người giảng không chỉ nắm vững những vấn đề cần trình bày mà còn phải rất năng động nhạy bén và sáng tạo ngay trong giờ giảng, trên cơ sở
đó người giảng có thể truyền thụ những vấn đề cần thiết cơ bản đến người học một cách tự nhiên, sinh động và hứng thú Bên cạnh đó giáo viên cần nâng cao chất lượng giảng dạy Chất lượng giảng dạy có thể được đánh giá từ kết quả học tập của người học, từ những đánh giá dành cho giáo viên
Trang 29Để đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học ở môn Ngữ văn, mỗi giáo viên phải thực hiện tốt các yêu cầu: Nắm vững nguyên tắc đổi mới PPDH, cách thức hướng dẫn học sinh lựa chọn phương pháp học tập, coi trọng tự học và biết xây dựng các tài liệu chuyên môn phục vụ đổi mới phương pháp dạy học; biết những giáo viên dạy giỏi có phương pháp dạy học tiên tiến ở địa phương và giáo viên giỏi cùng môn để học hỏi kinh nghiệm ở trong trường và trường bạn; nắm chắc điều kiện của trường để có thể khai thác giúp bản thân đổi mới phương pháp dạy học (cơ sở vật chất, phương tiện, thiết
bị dạy học, tài liệu tham khảo ); biết và tranh thủ được những ai có thể giúp đỡ mình trong việc đổi mới PPDH (đồng nghiệp, lãnh đạo tổ chuyên môn, lãnh đạo trường có tay nghề cao); biết cách tiếp nhận những thông tin phản hồi từ sự đánh giá nhận xét xây dựng của học sinh về PPDH và giáo dục của mình; kiên trì phát huy mặt tốt, khắc phục mặt yếu, tự tin, không tự ti hoặc chủ quan thỏa mãn; hướng dẫn học sinh về phương pháp học tập và biết cách tự học, tiếp nhận kiến thức và rèn luyện kĩ năng, tự đánh giá kết quả học tập; tự giác, hứng thú học tập; biết ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội [20]
Tất cả những đòi hỏi trên ở mỗi giáo viên khi thực hiện đổi mới PPDH nói chung không thể không có công tác quản lý, hơn nữa, đổi mới giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực người học - một vấn mới với giáo viên
càng cần đến công tác quản lý
1.4 Nội dung quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học
1.4.1 Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực
Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông được thực hiện theo hướng:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh
- Phù hợp với cơ sở vật chất, điều kiện dạy học của nhà trường
Trang 30- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy – học
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin [4]
Theo đó, đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh cần:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi, chép, tìm kiếm thông tin …) trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện, Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
- Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức
tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp
… cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn lyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiến, nâng cao hứng thú cho người học
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị môn học tối thiểu đã quy định
Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thất cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.4.2 Quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học
1.4.2.1 Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học
Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, là căn cứ pháp lý để tiến hành chỉ đạo, giám sát hoạt động của
Trang 31các nhà trường Với các trường THCS, phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo căn
cứ vào khung phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường chủ động xây dựng lại phân phối chương trình của đơn vị sao cho phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt thực hiện theo Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT, ngày 25/6/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông, các trường tổ chức phát triển chương trình tại đơn vị Vì vậy, cán bộ chỉ đạo chuyên môn phòng Giáo dục và Đào tạo cũng như cán bộ chỉ đạo các trường, giáo viên giảng dạy phải nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của cấp học và từng khối lớp
Để quản lý được hoạt động giảng dạy CBQL phải có biện pháp chỉ đạo quản lý toàn bộ hoạt động: soạn bài, lên lớp, ôn tập, kiểm tra thực hành, ngoại khoá và tổ chức các hình thức học tập ngoài lớp học của giáo viên Trong đó khâu quan trọng và thiết yếu là quản lý giáo viên dạy đủ và đúng chương trình của Bộ, tổ chức quản lý tốt một số nội dung:
- Kiểm tra việc giáo viên xây dựng chương trình dạy học môn học do mình phụ trách
- Quản lý huy động các thành viên trong bộ máy quản lý nhà trường theo dõi nắm tình hình thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng
- Chỉ đạo quản lý tốt việc sử dụng các hồ sơ, sổ sách
- Chỉ đạo xây dựng thời khóa biểu
1.4.2.2 Tham mưu điều động, phân công đội ngũ giáo viên
Năng lực giảng dạy (năng lực chuyên môn) của từng giáo viên chính là căn cứ quan trọng nhất để phân công giảng dạy cho giáo viên Do đó CBQL từ phòng Giáo dục và Đào tạo đến các trường cần nắm chắc năng lực của mỗi giáo viên để có thể điều động, luân chuyển đến những đơn vị công tác phù hợp: vùng trung tâm, vùng giáp ranh, vùng cao, đặc biệt khó khăn
Trong quá trình điều động, cần quan tâm năng lực hiện tại thực tế của từng người, triển vọng phát triển của người giáo viên cũng như hạn chế yếu kém hiện tại của họ để lựa chọn phương án tối ưu Ngoài năng lực giảng dạy là
Trang 32căn cứ chính người quản lý còn phải lưu ý tâm tư nguyện vọng cá nhân từng giáo viên, cũng như sở trường cá nhân của từng giáo viên, hoàn cảnh gia đình hiện tại của họ
Sau khi tham mưu luân chuyển, điều động, cần quan tâm đến phân công giáo viên tại đơn vị sao tất cả giáo viên ngoài số giờ giảng dạy trên lớp có thể tham gia các hoạt động khác để gắn bó họ với tập thể sư phạm và có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với học sinh, phụ huynh Việc phân công nhiệm vụ cần đúng khả năng, đúng nguyện vọng cá nhân mới tạo điều kiện cho họ phát huy hết năng lực vốn có của mình, khắc phục những non kém của bản thân, vượt lên hoàn cảnh
cá nhân hiện tại làm tốt công tác giảng dạy đã được phân công Ngược lại, sẽ sinh nhiều vấn đề về tư tưởng tình cảm hay tạo ra sức ỳ của cá nhân họ, ảnh hưởng không tốt đến các mặt hoạt động của nhà trường, của ngành
1.4.2.3 Giao chỉ tiêu chất lượng giảng dạy
Căn cứ kết quả thực tế tại đơn vị, hàng năm, phòng Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chung cho toàn ngành, đề ra các chỉ tiêu phấn đấu cụ thể Chỉ tiêu này sẽ tác động đến kế hoạch dạy học của các trường và từng giáo viên
Kế hoạch giảng dạy của mỗi giáo viên phải dựa trên việc xác định mục tiêu công tác giảng dạy trong năm học của họ, cụ thể là chỉ tiêu của từng lớp được giao phụ trách giảng dạy Từ đó nhà trường tìm ra các biện pháp đạt được chỉ tiêu đã đề ra trong năm học thông qua hội nghị cán bộ, viên chức lao động các trường hàng năm để trở thành chỉ tiêu chung của nhà trường và có tính pháp quy, định hướng cho mọi cán bộ, giáo viên, nhân viên toàn ngành phấn đấu theo
Trong công tác quản lý ngành nói chung, quản lý chất lượng bộ môn nói riêng, phòng Giáo dục và Đào tạo lấy việc thực hiện kế hoạch giảng dạy là quan trọng để đảm bảo chỉ tiêu năm học của toàn ngành đề ra Vì vậy cán bộ chỉ đạo chuyên môn phòng Giáo dục và Đào tạo phải biết sử dụng nhiều biện pháp thích hợp với tình hình đội ngũ giáo viên, học sinh và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, có sự điều chỉnh phương thức hành động, biện pháp cụ thể cho năng
Trang 33động, mềm dẻo phù hợp với tình hình thực tế đang diễn ra, giúp đội ngũ giáo viên hoàn thành kế hoạch của từ đầu năm học, hoàn thành kế hoạch từng trường và ngành sẽ đạt được chỉ tiêu
1.4.2.4 Quản lý việc giáo viên soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp
Để chuẩn bị cho một tiết lên lớp có hiệu quả tốt người giáo viên phải làm tốt từ khâu chuẩn bị kế hoạch giảng dạy bộ môn mình phụ trách cho toàn năm học, cho từng học kỳ, từng tháng, từng tuần, từng chương và từng tiết học:
- Chuẩn bị kế hoạch giảng dạy cho cả năm học và từng học kỳ: Giáo viên phải dựa trên cơ sở nghiên cứu chương trình dạy học của Bộ ấn định, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trình độ thực tế của học sinh qua khảo sát chất lượng đầu năm Trong khi xây dựng kế hoạch giảng dạy giáo dục cần đến điều kiện
cơ sở vật chất cụ thể của nhà trường phục vụ cho hoạt động học và dạy như phòng thí nghiệm, thực hành, thư viện, nguồn kinh phí cho hoạt động ngoại khoá, giáo dục ngoài giờ lên lớp v.v và xác định khả năng tự đóng góp của bản thân mình như làm đồ dùng dạy học, cải thiện đồ dùng dạy học, lựa chọn phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp, biện pháp tổ chức quản lý tiết học sao cho có hiệu quả nhất
- Yêu cầu thống nhất trong tổ nhóm chuyên môn mục đích yêu cầu, nội dung cơ bản trọng tâm bài giảng, phương pháp giảng dạy chính thể hiện các loại bài giảng cụ thể, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ nhóm
- Tổ chức các buổi hội thảo theo chuyên đề cải tiến PPDH bộ môn, phương pháp sử dụng sách giáo khoa, sử dụng đồ dùng dạy học hay cải tiến, làm mới đồ dùng dạy học
Phòng Giáo dục và Đào tạo muốn quản lý tốt cần có mạng lưới các giáo viên cốt cán của từng trường tổ chức triển khai tại đơn vị; các trường cần có sự phân công cụ thể cho lãnh đạo trường, các tổ theo dõi nắm bắt tình hình soạn bài của giáo viên qua các thông tin: thảo luận tổ, kiểm tra giáo án, biên bản sinh hoạt tổ nhóm, báo cáo thống kê của tổ nhóm tổng hợp đánh giá theo tháng, học kỳ và đưa ra các biện pháp phù hợp với đơn vị; cuối mỗi kỳ, căn cứ vào
Trang 34báo cáo các trường, phòng Giáo dục và Đào tạo thống kê và tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm trong toàn ngành
1.4.2.5 Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Hoạt động dạy học hiện nay ở trường THCS tập trung chủ yếu vào các tiết lên lớp của giáo viên Chất lượng của giờ lên lớp quyết định chất lượng giảng dạy của giáo viên CBQL cần có biện pháp quản lý sát sao giờ lên lớp của giáo viên, qua kiểm tra đột xuất, định kỳ, dần tạo thành nếp, mỗi giáo viên ý thức được trách nhiệm trong quá trình lên lớp, có trách nhiệm với tiết dạy của mình
1.4.2.6 Xây dựng tiêu chuẩn xếp loại giờ lên lớp và phương pháp đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên
Việc đánh giá giáo viên qua dự giờ đã có tiêu chí chung do Bộ Giáo dục
và Đào tạo quy định song mỗi phòng Giáo dục và Đào tạo phải nghiên cứu kỹ
và vận dụng vào địa phương mình sao cho phù hợp và có tác dụng động viên, kích thích giáo viên thi đua dạy tốt, hăng say đổi mới phương pháp giảng dạy Nhưng những tiêu chí cơ bản cốt lõi thì không thể thay đổi được Dù ở đâu, điều kiện trường lớp ra sao thì tiết dạy vẫn phải đảm bảo tính chính xác khoa học của kiến thức truyền đạt cho trò Trên cơ sở đã có tiêu chí xếp loại của giáo viên, phòng Giáo dục và Đào tạo, CBQL các trường có thể tổ chức các hình thức dự giờ của giáo viên sao cho linh hoạt, phong phú, đa dạng nhiều hình thức khác nhau để có thể động viên giáo viên thi đua dạy tốt, tránh tình trạng
dự giờ đơn thuần có tính chất kiểm tra, gây không khí tiết dạy nặng nề, ức chế người dạy và người học Các hình thức dự giờ có thể linh hoạt tổ chức qua Hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp cụm trường, tổ chức thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tham gia các kỳ thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh hoặc chỉ đạo các trường tổ chức cho giáo viên đăng ký giờ dạy chất lượng cao để tổ nhóm đi dự trao đổi học tập lẫn nhau Ngoài ra, việc dự giờ có thể tổ chức dưới hình thức các chuyên đề có các tiết dạy mẫu để rút kinh nghiệm cải tiến phương pháp dạy học, cải tiến, làm mới đồ dùng dạy học
Trang 35Đánh giá giờ dạy trên lớp có thể coi là tiêu chuẩn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo viên Tuy nhiên, có thể thấy chất lượng giảng dạy của giáo viên còn được thể hiện qua minh chứng: sự chuẩn bị hồ sơ giảng dạy của giáo viên mà quan trọng nhất là giáo án, sổ điểm, chất lượng hiệu quả trên lớp việc tiếp thu của học sinh
Phòng Giáo dục và Đào tạo không trực tiếp đánh giá xếp loại giáo viên nhưng là cơ quan chỉ đạo, theo dõi sát các hoạt động chuyên môn của các trường Qua các hội thi cấp huyện, qua các đợt thanh – kiểm tra trường học, mỗi cán bộ phụ trách chuyên môn cần có biện pháp để có cơ hội được dự giờ, thăm lớp đối với môn học mình phụ trách Kết quả đánh giá giáo viên của mỗi trường
là một căn cứ song kết quả dự giờ, kiểm tra giáo viên của phòng Giáo dục và Đào tạo bằng việc sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán cũng là một kênh khác nhằm đánh giá giáo viên
1.4.2.7 Quản lý việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
CBQL cần có các biện pháp quản lý công tác kiểm tra đánh giá giáo viên linh hoạt:
- Thực hiện nghiêm túc, đúng chế độ kiểm tra, không kiểm tra dồn ép học sinh, chấm trả bài đúng kỳ hạn theo quy định Khi trả bài có lời phê cho từng bài học sinh, cũng như nhận xét chung bài làm học sinh biết ưu, nhược điểm rút kinh nghiệm cho bản thân mình
- Giáo viên phải vận dụng đúng thang điểm của Bộ quy định cho từng môn học và phải có sự thống nhất trong tổ nhóm chuyên môn về đề bài kiểm tra từ 1 tiết trở lên Cách làm đơn giản nhất là xây dựng ma trận đề chung cho các bài kiểm tra trong cùng một khối lớp
- Giáo viên phải có trách nhiệm báo cáo định kỳ hàng tuần, hàng tháng cho tổ trưởng chuyên môn về việc thực hiện chế độ kiểm tra, cho điểm của từng môn lớp mình dạy và có báo cáo tổng hợp cuối kỳ, cuối năm học của từng học sinh lớp mình giảng dạy Sau đó trường báo cáo kết quả về phòng Giáo dục
và Đào tạo
Trang 36Để có thể thu thập được đầy đủ thông tin kịp thời về tình hình thực hiện chế độ kiểm tra, cho điểm đánh giá xếp loại học tập của học sinh, phòng Giáo dục và Đào tạo phải có biện pháp tổ chức mạng lưới theo dõi thu thập, tổng hợp thông tin theo các biểu mẫu quy định
Qua các đợt kiểm tra hoặc kiểm tra chuyên đề, phòng Giáo dục và Đào tạo quan tâm kiểm tra sổ điểm, một số sổ đầu bài hay bài kiểm tra của học sinh
ở một số lớp Từ những thông tin thu thập được, phân tích đánh giá việc thực hiện chế độ cho điểm, đánh giá kết quả học tập của học sinh qua giáo viên giảng dạy để có điều chỉnh uốn nắn kịp thời và điều quan trọng là có được kết quả phản ánh trung thực với chất lượng giáo dục, đào tạo của các trường
1.4.2.8 Biện pháp tổ chức công tác thi đua khen thưởng
Thi đua là biện pháp quan trọng để huy động tính tích cực hoá hoạt động của cá nhân và tập thể khi đã có biện pháp tốt thích hợp lôi cuốn mọi người vào phong trào thi đua thì họ sẽ cảm thấy rõ ràng vị trí của mình và có ý thức trách nhiệm cao trong công việc mà tập thể giao cho họ Từ đó họ luôn có ý thức tìm tòi, cải tiến, tập trung suy nghĩ, trí tuệ, sức lực hoàn thành tốt công việc được giao
Cơ quan quản lý phòng Giáo dục và Đào tạo cần tạo được phong trào thi đua trong toàn ngành, chia cụm thi đua theo vùng miền để các đơn vị cùng phấn đấu Ở các trường, người Hiệu trưởng cần có biện pháp tối ưu cho công tác thi đua
Trong việc tổ chức phong trào thi đua thì việc tổ chức mạng lưới thu thập thông tin hoạt động của từng cá nhân, từng tập thể là rất quan trọng Nó sẽ giúp cho việc đánh giá thành tích từng cá nhân, tập thể chính xác, tạo điều kiện cho việc xét thi đua giữa cá nhân và tập thể công bằng, vô tư và thi đua sẽ có tác dụng kích thích mọi thành viên trong ngành cố gắng tập trung công tác, trí tuệ cho công việc mà mình đã được giao, chịu trách nhiệm hoàn thành trước tập thể Trái lại việc đánh giá thi đua thiếu chính xác do việc theo dõi thi đua không
có biện pháp quản lý khoa học, thu được những thông tin sai, không đúng sự
Trang 37thật sẽ dẫn đến đánh giá không công bằng, theo cảm tính, thiên vị sẽ biến phong trào thi đua thành ganh đua, thắc mắc không thúc đẩy hoạt động dạy học phát triển tốt mà có khi còn kìm hãm phong trào Vì vậy, vai trò trách nhiệm của mỗi cán bộ quản lý ngành trong việc quản lý tốt phong trào thi đua
sẽ có tác dụng rất lớn, nâng cao chất lượng dạy và học
1.4.2.9 Quản lý hoạt động học và hoạt động tự học môn Ngữ văn của học sinh
* Việc dạy tự học và quan hệ giữa dạy học và tự học
Trong quá trình dạy học, giáo viên còn thể hiện vai trò gián tiếp của mình trong hoạt động tự học của học sinh qua một số hoạt động:
+ Giáo viên giao bài tập, giao nhiệm vụ tình huống cho học sinh tự nghiên cứu, tự vận động
+ Giáo viên động viên hướng dẫn các em thực hiện và tạo điều kiện cần thiết cho việc tự học của các em như thời gian, nội dung, phương tiện Trong quá trình thực hiện học sinh tự kiểm tra đánh giá, giáo viên làm trọng tài, cố vấn, phân tích kết quả thực hiện của học sinh
Mối quan hệ giữa dạy và học cũng như mối quan hệ giữa dạy học và dạy
tự học không những phụ thuộc vào tính chất, nhiệm vụ dạy học mà còn phụ thuộc vào phương pháp và biện pháp sử dụng trong quá trình dạy học
Như vậy mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy tự học, thể hiện vai trò chủ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đánh giá của giáo viên và vai trò chủ thể tích cực, độc lập của học sinh qua việc tự học, tự nghiên cứu và tự kiểm tra đánh giá của học sinh
* Các yếu tố cơ bản để phát triển năng lực tự học:
Thứ nhất, người học phải có ý thức động cơ về tự học, tự bồi dưỡng Thứ hai, người học phải chăm học để có một trình độ tương ứng
Thứ ba, người học phải có phương pháp học và tự học phù hợp
Một vấn đề cũng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng đó là chọn lọc kiến thức tự học sao cho phù hợp với khả năng và vốn kinh nghiệm của bản thân
Trang 38* Quản lý hoạt động dạy môn Ngữ văn theo hướng dạy tự học:
Để quản lý hoạt động dạy môn Ngữ văn theo hướng dạy tự học, nhà trường phải kiểm tra những biện pháp mà giáo viên thực hiện trên lớp nhằm tăng cường hoạt động tự học của học sinh thông qua nội dung bài học như bài soạn, hệ thống câu hỏi, những tình huống dự kiến, phương pháp giảng dạy, hệ thống bài tập nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh
* Nội dung quản lý hoạt động tự học
- Quản lý việc xây dựng động cơ tự học cho học sinh
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch tự học và thực hiện kế hoạch tự học của học sinh
- Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh thực chất là kiểm tra nội dung kế hoạch
- Quản lý nội dung tự học của học sinh
- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của học sinh Ngoài ra, CBQL còn cần quản lý các hoạt động khác nhằm đảm bảo thời gian cho hoạt động tự học của học sinh
1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học
+ Năng lực, phẩm chất của CBQL: để có hiệu quả trong công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, người làm công tác quản lý phải hiểu rõ mục tiêu đổi mới, am hiểu sâu sắc về đổi mới PPDH, dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học Nắm được bản
Trang 39chất của vấn đề Người quản lý phải là nhà giáo có kinh nghiệm, có năng lực,
có uy tín chuyên môn, biết cách tổ chức các hoạt động đổi mới một cách có hiệu quả
+ Chất lượng đội ngũ giáo viên Ngữ văn: để thực hiện được đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học, giáo viên chính là lực lượng chủ lực để thực hiện các nhiệm vụ đề ra Nếu cán bộ giỏi, chỉ đạo thực hiện tốt công tác rõ ràng, có kế hoạch tốt mà người thực hiện là giáo viên không
đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu phẩm chất đạo đức thì hiệu quả giáo dục nói chung, hiệu quả đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực sẽ không thể đạt được như mong muốn Để giáo viên thực sự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ quản lý phải quan tâm thường xuyên tới việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, xây dựng được nếp sinh hoạt chuyên môn
Đội ngũ giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THCS hiện nay được đào tạo theo chuẩn đạt trình độ cao đẳng, theo xu thế, đã có nhiều giáo viên tốt nghiệp Đại học, một số ít có trình độ thạc sỹ với trình độ trên, đa số là những người có hiểu biết nhanh nhạy với những diễn biến của thời cuộc, ham hiểu biết, học hỏi Mội số có khả năng tự học, tự nghiên cứu, mỗi thầy dạy có một cách trình bày, có phương pháp độc đáo của mình, sử dụng các hình thức dạy học khác nhau Tuy nhiên bên cạnh đó có một số ít giáo viên an phận, tự bằng lòng với năng lực hiện tại, ít trau rồi chuyên môn nghiệp vụ, thiếu sự đầu tư cho chuyên môn (ngại sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học, không ứng dụng công nghệ thông tin, quen dạy chay, ngại tổ chức hoạt động cho học sinh ) hoặc chịu ảnh hưởng cơ chế thị trường, quan tâm làm việc khác không có thời gian để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy
+ Chất lượng học sinh: thực tế cho thấy nếu học sinh có chất lượng quá thấp thì việc quản lý hoạt động đổi mới PPDH sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, thời gian triển khai sẽ phải kéo dài và cần thực hiện nhiều biện pháp trong cùng một thời điểm
Trang 40Học sinh THCS trong lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổi “nổi loạn”, hầu hết các
em bước vào giữa hoặc cuối cấp học đã bước vào độ tuổi tuổi dậy thì có nhiều thay đổi, khác biệt về tâm lí, sinh lí So với các lứa tuổi ở cấp học khác (tiểu học hoặc THPT), ở lứa tuổi THCS có sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về mặt trí tuệ, đạo đức Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả biến đổi của cơ thể, của sự tự ý thức, của các kiểu quan hệ với người lớn, với bạn bè, của hoạt động học tập, của xã hội
Hoạt động học tập môn Ngữ văn ở cấp THCS khác nhiều so với hoạt động học tập ở học sinh tiểu học Tuy chưa yêu cầu cao như hoạt động học tập ở THPT nhưng cũng đã bắt đầu đi sâu vào những kiến thức cơ bản Do đó đòi hỏi học sinh THCS phải có tính năng động và tính độc lập tự học môn Ngữ văn
1.5.2 Các yếu tố khách quan
Chương trình và SGK hiện hành đã thực hiện trong một thời gian khá dài (12 năm đối với lớp 6) đủ để giáo viên và các cơ quan chỉ đạo dạy học nhìn thấy rõ hơn những ưu điểm cũng như hạn chế của nó Sau nhiều lần thay đổi, kinh nghiệm và trình độ xây dựng phát triển chương trình giáo dục của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ; một số phương diện đã cập nhật được với trình độ quốc tế và khu vực Lý luận phát triển chương trình và cơ sở vật chất đã có nhiều bước tiến so với các lần thay đổi trước, kể cả lần gần đây nhất Và sự mở rộng giao lưu quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội, điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận tư liệu dạy học - các phương pháp dạy học tiên tiến - khoa học đánh giá hiện đại và kinh nghiệm phát triển chương trình và SGK, từ đó là điều kiện quan trọng để tiếp cận các phương pháp dạy học mới - dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
- Sau khi có Nghị quyết 29 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
Đào tạo, các dự thảo đề án Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam và đề án Đổi mới chương trình và SGK sau 2015 cũng đã được soạn thảo
và tích cực hoàn thiện Đây chính là những cơ sở pháp lý và vững chắc cho việc chuẩn bị đổi mới, phát triển chương trình nói chung, môn Ngữ văn nói