1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình

52 406 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA SINH – KTNN --- CHU THỊ HOA NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA NHỆN ARANEAE HOẠT ĐỘNG TRÊN MẶT ĐẤT TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, TỈNH QUẢNG BÌNH KHÓA LUẬN TỐT N

Trang 1

KHOA SINH – KTNN -

CHU THỊ HOA

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI

VÀ PHÂN BỐ CỦA NHỆN (ARANEAE) HOẠT ĐỘNG

TRÊN MẶT ĐẤT TẠI VƯỜN QUỐC GIA

PHONG NHA - KẺ BÀNG, TỈNH QUẢNG BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Động vật học

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM ĐÌNH SẮC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập tại trường cho đến khi hoàn thành khóa luận này em đã nhận được sự giúp đỡ từ các thầy cô, bạn bè và gia đình rất nhiều

Để có được kết quả như hôm nay, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

TS Phạm Đình Sắc công tác tại phòng Sinh thái môi trường đất – Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn tận tình, cung cấp nhiều tài liệu, kiến thức quý báu, kinh nghiệm, phương pháp cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Sinh - KTNN - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh Đạo Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, các anh chị Phòng Sinh thái môi trường đất đã tạo điều kiện và giúp

đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ở bên động viên, chia sẻ những khó khăn giúp em yên tâm hoàn thành và đạt được kết quả trong quá trình học tập của mình

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do điều kiện hạn hẹp về thời gian và

do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không tránh khỏi những thiếu sót khi hoàn thành bài khóa luận Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp

ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để Đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 04 năm 2016

Sinh viên thực hiện

CHU THỊ HOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Phạm Đình Sắc

Các mẫu nghiên cứu được lấy tại Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

và được chúng tôi phân tích đúng phương pháp như trong khóa luận đã đưa

ra Mọi số liệu và kết quả trong nghiên cứu khóa luận này là hoàn toàn chính

xác, trung thực Các thông tin được trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn

chính xác, nó được lấy ra từ các tài liệu có nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm nếu có sai sót

Hà Nội, tháng 05 năm 2016

Sinh viên

CHU THỊ HOA

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới 4

1.2 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Đối tượng nghiên cứu 9

2.1.1 Giới thiệu về nhện 9

2.1.2 Đặc điểm hình thái học của nhện 10

2.1.3 Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện 11

2.2 Thời gian nghiên cứu 15

2.3 Địa điểm nghiên cứu 15

2.4 Nội dung nghiên cứu 19

2.5 Phương pháp nghiên cứu 20

2.5.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 20

2.5.2 Phương pháp xử lý và lưu trữ mẫu 21

2.5.3 Xử lí và phân tích số liệu 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Thành phần loài của nhóm nhện hoạt động trên mặt đất ở khu vực VQG Phong Nha - Kẻ Bàng 23

3.1.1 Danh sách thành phần loài 23

3.1.2 Sự đa dạng thành phần loài nhện ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng 25

Trang 5

3.2 Sự phân bố của nhện theo sinh cảnh ở khu vực VQG Phong Nha

- Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình 263.3 Sự phân bố của nhện hoạt động trên mặt đất theo mùa ở khu vực VQG Phong Nha Kẻ Bàng – Tỉnh Quảng Bình 32

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

TrangBảng 3.1 Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện hoạt động trên

mặt đất thu được tại khu vực VQG Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình 23 Bảng 3.2 Phân bố của các loài nhện hoạt động trên mặt đất theo sinh

cảnh ở khu vực VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình 26 Bảng 3.3 Số lượng loài của các họ nhện thu được tại 3 sinh cảnh nghiên

cứu 30 Bảng 3.4 Phân bố của nhện theo mùa ở khu vực VQG Phong Nha Kẻ

Bàng, tỉnh Quảng Bình 32

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang Hình 1.1 Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lưng) 10

Hình 2.1 Phương pháp bẫy hố 20

Hình 3.1 Số giống và số loài của các họ nhện thu được ở trên mặt đất tại

VQG Phong Nha - Kẻ Bàng 26

Hình 3.2 Tỉ lệ % số lượng cá thể nhện thu được ở 3 sinh cảnh 29

Hình 3.3 Số loài nhện thu được ở 3 sinh cảnhtại VQG Phong Nha - Kẻ

Bàng 31

Hình 3.4 Tỉ lệ (%) số lượng cá thể thu được theo mùa 34

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có tính đa dạng sinh học cao, đã được ghi nhận xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng 400 triệu năm Nhện phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế về số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện Nhện không chỉ

đa dạng về số lượng thành phần loài mà nơi cư trú cũng rất phong phú, chúng được tìm thấy ở mọi nơi, như trong nhà, trong rừng, vườn cây, công viên, bụi cây, hang động, sa mạc,

Nhện còn được coi như sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Clause, 1986 [16], Foelix, 1996 [15]

Các loài Nhện lớn góp phần tích cực vào việc hạn chế sự phát triển của côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp Con mồi của nhện là nhiều loài côn trùng và sâu hại như rệp, rầy các loại, ruồi đục quả, bọ nhảy, châu chấu ăn lá, sâu non và trưởng thành các loài thuộc bộ Cánh vảy, (Song, và Zhu, Chen, 1999) [30]

Bộ nhện (Araneae, Arachnida) được xếp vào trong nhóm động vật có

sự biến động mật độ cao và độ đa dạng đứng thứ bảy thế giới (Barrion and Litsinger, 1995) [12] Các nghiên cứu hệ ĐVKXS nói chung và nhện nói riêng ở các khu bảo tồn, VQG đang ngày trở nên quan trọng dù chỉ mới phát triển bước đầu và tiến hành ở mức kiểm kê Những khảo sát khu hệ nhện Việt Nam của nhiều tác giả trong nước và ngoài nước còn khá hạn chế và chủ yếu tập trung vào liệt kê danh sách thành phần loài, công bố loài mới (Phạm Đình Sắc, 2005) [5] Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung trên một số cây trồng

Trang 10

nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn, vải Trong danh sách 275 loài đã được ghi nhận ở Việt Nam hiện nay, có 68 loài mới cho khoa học

Nghiên cứu về nhện ở khu vực vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn ít đặc biệt là nhóm nhện hoạt động trên mặt đất Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường tại các vùng nghiên cứu Nghiên cứu của tôi nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của chúng trong các sinh cảnh đặc thù của khu vực Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, góp phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng trong các hệ sinh thái và bảo vệ môi trường ở khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói

chung Vì vậy tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố

của Nhện (Araneae) hoạt động trên mặt đất tại Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình”

2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhóm nhện hoạt động trên mặt đất ở khu vực nghiên cứu

2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

a Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đưa ra những dẫn liệu mới về đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhóm nhện hoạt động trên mặt đất ở một số sinh cảnh điển hình của khu vực Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

Trang 11

2.3 Điểm mới của đề tài

Cho đến nay có rất ít các nghiên cứu về thành phần loài nhện ở Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Đề tài này lần đầu tiên nghiên cứu về nhóm nhện hoạt động trên mặt đất của khu vực nghiên cứu Đề tài sẽ khám phá, phát hiện các ghi nhận mới về nhóm nhện cho khu vực nghiên cứu nói riêng

và Việt Nam nói chung

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới

Nhện được bắt đầu nghiên cứu và đặt tên từ năm 1757, tác giả Ovid đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae, Clerek cũng đã đưa ra tên của bộ nhện là Aranei Đến năm 1801, Latreille đặt tên bộ nhện là Araneida Năm 1862, Dalllas cũng nêu ra tên của bộ nhện là Araneida Năm 1938, Bristowe đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng tới ngày nay (Platnick, 2012) [25]

Nhận thức rõ tầm quan trọng của các loài nhện trong khoa học cũng như trong thực tiễn đời sống, năm 1965 một tổ chức với tên gọi là Hội nhện Quốc tế (International Society of Arachnology) đã được thành lập, cho tới nay

đã có hàng nghìn thành viên từ trên 70 quốc gia khác nhau trên thế giới Với

sự phát triển không ngừng của các công trình nghiên cứu về nhện, môn khoa học mới đã được ra đời là Arachnology - Nhện học từ sau hội nghị nhện quốc

tế lần thứ XV năm 2001

Được bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 18 (theo tác giả Barrion & Litsinger, 1995) [12] nhưng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 mới là giai đoạn có hàng loạt các nghiên cứu chi tiết cũng như các công trình công bố loài mới ngày càng nhiều, được đánh giá là thời kỳ hoàng kim của phân loại học về nhện

Dofour – tác giả người Pháp, được cho là người đầu tiên sử dụng các hình vẽ chi tiết về hình thái học của nhện để mô tả so sánh, ghi nhận loài mới với 12 bài báo có giá trị công bố loài mới từ năm 1820 đến 1831

Blackwall, một trong những cha đẻ của ngành nhện học, có nhiều công trình quan trọng đến họ Araneidae, một họ lớn của bộ nhện có nhiều đại diện

ở vùng nhiệt đới Đặc biệt vào năm 1841, ông là người đầu tiên đề nghị sử dụng mắt nhện để định loại đến loài, đặc điểm phân loại mà những nhà khoa học trước đó chưa có ai đề cập đến

Trang 13

Trên thế giới hiện nay đã ghi nhận được 44.906 loài thuộc 3.935 giống của 114 họ nhện (Platnick, 2014) [24]

Ở khu vực Đông và Đông Nam Á, từ năm 1841, Walokenaer đã mô tả

chi tiết 22 loài nhện chăng lưới thuộc 2 giống: Epeira (11 loài) và Plectanna (11 loài) của 2 họ Araneidae và Tetragnathidae ở Philippine trong 2 quyển

của bộ “HistorieNaturelle des Insects Aptères” Tiếp theo đó các công trình

nghiên cứu khu hệ nhện ở các quốc gia khác: Nhật Bản (Karsch 1897, Kishida

1913-1914); Malaysia (Pocock 1892, Thorell 1890s)

Trong những năm gần đây, số lượng các loài nhện được ghi nhận ở khu vực này gia tăng Murphy & Murphy đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài), Myanma (455 loài), Philipine (426 loài), Singapo (308 loài), Việt Nam (230 loài), Thái Lan (156 loài) (Murphy & Murphy, 2000) [18]

Hai tác giả Y Norma - Rashid và Daiqin Li đã tổng hợp 3 danh sách thành phần loài nhện (gồm danh sách của Murphy & Murphy 2000[20], Platnick

2006 and Song et al.2002) và đưa ra danh sách chỉ còn 425 loài thuộc 42

họ và 238 giống được ghi nhận ở bán đảo Malaysia (Y Norma-Rashid và Daiqin Li, 2009) [31]

Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798 Năm 1999, Song và Zhu đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ nhện đã ghi nhận được ở nước này (Song và Zhu,1999) [30] Cho đến nay, Trung Quốc đã xuất bản được 5 tập sách Động vật chí của 6 họ nhện bao gồm các họ Araneidae (năm 1997 với 286 loài, 33 giống), họ Thomicidae (năm 1997 với

115 loài, 29 giống), họ Tetragnathidae (năm 2003 với 111 loài, 20 giống), họ Therididae (năm 1998 với 223 loài, 27 giống), họ Gnaphosidae (năm 2004 với

166 loài, 34 giống), họ Philodromidae (năm 1997 với 30 loài, 3 giống) (Song

Trang 14

et al, 1999) Nghiên cứu nhện ở các trang trại trồng cây ăn quả ở Trung Quốc, Chen và Gao (1990) [ 13] đã ghi nhận được 332 loài nhện

Trong số các loài nhện đã ghi nhận được trên thế giới hiện nay, có 15 loài được ghi vào sách đỏ của IUCN (2002)

1.2 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam

Những loài nhện xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam được biết đến qua các công trình của Simon (1886, 1896, 1903, 1904, 1906, 1908) và Hogg (1922) (Trích dẫn theo tài liệu của Phạm Đình Sắc, 2015[7]) Tất cả các loài nhện (bao gồm 20 loài) được phát hiện ở Việt Nam bởi 2 tác giả trên đều là loài mới cho khoa học (Zabka, 1985) [34]

Năm 1985 Zabka đã công bố kết quả chuyến khảo sát của mình về phân loại và phân bố của họ nhện nhảy Salticidae ở Việt Nam (Zabka, 1985) [34] Tác giả đã ghi nhận được 100 loài Nhện nhảy, trong đó có 51 loài và 8 giống mới cho khoa học Phân tích các mẫu vật thu được ở Việt Nam, Ono (1997,

1999, 2002, 2003) [19, 20, 21, 22, 23] đã phát hiện 7 loài nhện mới cho khoa học thuộc các họ Zodaridae và Liphistidae

Năm 2001, Phạm Đình Sắc và Khuất Đăng Long đã công bố thành phần loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9 họ nhện (Phạm Đình Sắc, Khuất Đăng Long, 2001) [8]

Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã được công bố Năm 2002, Phạm Đình Sắc đã ghi nhận được 34 loài nhện trên cây vải thiều ở Sóc Sơn - Hà Nội [6], năm 2002, Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn đã ghi nhận 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh – Vĩnh Phúc [10] Năm 2005, Thái Trần Bái và CS đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải thiều ở Thanh Hà, Hải Dương (Thái Trần Bái và CS, 2005) [1]

Kết quả nghiên cứu nhện trên cánh đồng lúa ở Việt Nam đã có nhiều công trình công bố Trên đồng lúa ở Nghệ An đã phát hiện được 26 loài thuộc

Trang 15

18 giống của 8 họ nhện (Phạm Bình Quyền và CS, 1999) Theo Phạm Văn Lầm và cộng sự, cho đến nay đã thu thập và xác định được 52 loài nhện trên đồng lúa ở Việt Nam (Phạm Văn Lầm và CS, 2004) [3]

Trong vòng hai năm 2004 – 2005, Phạm Đình Sắc và CS đã cho công

bố danh sách và phân bố của 113 loài nhện nhảy họ Salticidae cho khu hệ nhện Việt Nam

Gần đây khi nghiên cứu nhện tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, tác giả Phạm Đình Sắc đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới lạ, cần khám phá (Phạm Đình Sắc và CS, 2011)

Khu hệ nhện rừng ngập mặn mới chỉ được nghiên cứu trong một vài năm gần đây, giới hạn trong một vài địa điểm rừng ngập mặn phía Nam Việt Nam (Cồn Trong – Cà Mau, Cù Lao Dung – Sóc Trăng, VQG Tràm Chim) (Nguyễn Trần Thụy Thanh Mai và CS, 2013) [4]

Năm 2009, sáu loài nhện mới được phát hiện tại hai VQG Cúc Phương tỉnh Ninh Bình và Cát Bà tỉnh Hải Phòng (Lin et al 2009) [32] Năm 2010, thêm 1 loài nhện mới được phát hiện tại VQG Cát Bà Hải Phòng (Liu et al 2010) [17]

Trước đó, năm 2003, tại Vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc bước đầu đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ nhện Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện có nọc độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) [10]

Cho đến năm 2005, Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của 30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005) [5] Năm 2007 bổ sung thêm 45 loài, 15 giống, 1 họ cho khu hệ nhện Việt Nam (Phạm Đình Sắc và CS, 2007)

Trong giai đoạn từ 2009 đến 2013, tác giả Phạm Đình Sắc phối hợp với các chuyên gia nước ngoài tiến hành các đợt khảo sát nhện ở miền Bắc Việt

Trang 16

Nam, đã công bố 36 loài nhện mới cho khoa học (Lin et al 2009 [32]; Liu et

al 2010 [17]; Zha et al 2012 [35]; Yao et al 2012) [33]

Mới đây nhất, Phạm Đình Sắc và CS (2015) đã công bố 19 loài nhện mới cho khoa học thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các - tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh Bình và Quảng Bình [7]

Trang 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu nhóm nhện hoạt động trên mặt đất thuộc bộ Nhện (Araneae), lớp Hình nhện (Arachnida), ngành Chân khớp (Arthropoda) tại một số sinh cảnh của Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

2.1.1 Giới thiệu về nhện

Tên khoa học: Araneae

Tên tiếng Anh: Spider

Tên Việt Nam: Nhện

Bộ Nhện (Araneae) thuộc lớp hình nhện (Arachinida), ngành động vật Chân đốt (Arthropoda) Bộ nhện chiếm ưu thế về số lượng loài và số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện (bao gồm: Acarina, Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida, Scopionoides, Solifugae, Thelyphonida)

Nhện được chia làm hai phân bộ dựa vào số đôi phổi sách (book-lungs) thuộc cơ quan hô hấp và số cặp núm nhả tơ (spinnerets) thuộc bộ phận nhả tơ

Cụ thể Platnick (2014) [24] đã chia hai phân bộ nhện là:

• Mygalomorphae: có 2 đôi phổi sách và 2 cặp núm nhả tơ

• Araneomorphae: có 1 đôi phổi sách và 3 cặp núm nhả tơ

Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid

và Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và Aranei Đến năm 1801,

Latreille đưa ra tên bộ nhện là Araneida Năm 1862, Dallas cũng nêu ra tên

của bộ nhện là Araneida Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick, 2014) [24]

Trang 18

2.1.2 Đặc điểm hình thái học của nhện

Đặc điểm nổi bật của nhện là có 4 đôi chân (trong khi côn trùng có 3 đôi chân), cơ thể Nhện được chia ra hai phần: Phần giáp đầu ngực

(Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng, phần giáp đầu ngực bao gồm tấm lưng ngực (carapace) và tấm bụng ngực (sternum) Phía trên đầu của giáp đầu ngực có miệng (môi trên và môi dưới) và một đôi chân kìm (chelicera), bên cạnh chân kìm là một đôi chân xúc giác (Palp) Cuối đôi chân kìm của nhện có đôi răng lớn và khỏe dùng để

bắt giữ và giết con mồi Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường có 8 mắt đơn xếp thành 2 hay 3 hàng Bộ phận sinh dục của con cái nằm ở phần giữa mặt dưới của bụng Cuối bụng có một đến bốn đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ)

Giáp đầu ngực Mắt Chân kìm

Chân xúc giác

Trang 19

Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực, xếp dọc hai bên

ức theo thứ tự từ trước ra sau là I, II, III và IV Mỗi chân gồm bảy đốt: háng

(coax) nối liền với ngực, chuyển (trochanter), đùi (femur), gối (patella), cẳng hay ống (tibia), bàn trong hay đốt bàn (metatasus) và bàn ngoài hay đốt cổ chân (tarsus) Thông thường đốt bàn ngoài mang hai hoặc ba móng vuốt (mấu nhọn) (claws) tùy theo loài, nếu có ba vuốt thì hai trong số ba vuốt tạo thành

một đôi và vuốt còn lại nằm ở giữa Các vuốt có thể không có răng lược hoặc

có răng lược để kéo tơ

Việc phân loại nhện chỉ tiến hành trên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ bản nhất sử dụng trong phân loại là xúc biện của con đực và bộ phận sinh dục của con cái

2.1.3 Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện

Nhện phát triển biến thái không hoàn toàn qua 3 giai đoạn: trứng – con non – nhện trưởng thành (Foelix, 1996) [15] Nhện non phải qua nhiều lần lột xác mới trưởng thành và hình thành bộ phận sinh dục đực và cái Về kích thước cơ thể thì nhện cái thường lớn hơn nhện đực Vòng đời của nhện có thời gian phát dục khác nhau tuỳ từng loài Nhện đực khi đến tuổi thành thục thường ngừng tìm kiếm thức ăn và chuyên tâm vào việc tìm kiếm bạn đời Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực Nhện đực chuyển túi tinh cho nhện cái và bị chết do chính nhện cái ăn thịt Sau giao phối nhện cái đẻ trứng thành ổ và bao bọc ổ trứng bằng tơ nhện do chính mình tạo ra Trứng của mỗi loài có sự khác nhau về số lượng và kích thước Bọc trứng thường được treo trên lưới nhện, dính chặt vào bờ tường, hốc cây, phiến lá (họ Clubionidae), hoặc được nhện mẹ mang gần cuối bụng (một số loài thuộc họ nhện sói Lycosidae) Nhện mẹ canh giữ trứng và con mới nở cho đến khi chúng đủ cứng cáp, có khả năng phân tán Nhện con mới nở thường tập trung trong ổ trứng Khi thời tiết lạnh, các loài nhện trong vườn

Trang 20

cây ăn quả thường tìm nơi trú ẩn để qua đông ở các vị trí ít bị tác động của các yếu tố môi trường như khe hở tách ra từ vỏ của thân cây hoặc vỏ cành cây (Foelix, 1996) [15]

Dựa trên tập tính săn mồi, nhện được chia làm hai nhóm lớn: nhện chăng lưới bắt mồi và nhện săn mồi tự do không chăng lưới (Nguyễn Văn Huỳnh (2002) [2]

Nhện chăng lưới bắt mồi, vào ban ngày thường săn mồi hay rình mồi trên lưới nhện Khi con mồi vướng vào lưới, nhện nhả tơ để cuốn chặt con mồi rồi tiêm nọc độc giết chết con mồi Thường thì nhện sẽ treo con mồi trên lưới để dành ăn khi đói Các loài nhện chăng lưới ban đêm thì hoạt động vào lúc chiều tối Chúng chăng lưới khi trời bớt gió và cuốn lưới lại và mang con mồi bắt được về nơi trú ẩn (một số loài thuộc họ Araneidae và Tetragnathidae) Những loài nhện săn mồi tự do, chúng rình và vồ con mồi sau đó nhanh chóng tiêm nọc độc, dùng hàm nghiền nát con mồi; tiết nước bọt tiêu hóa và hút hết dịch chất của con mồi rồi bỏ lại xác khô (Foelix, 1996) [15]

Thức ăn chủ yếu của nhện là các động vật chân khớp nhỏ, thậm chí chúng còn ăn thịt lẫn nhau Trong các loại côn trùng thì ruồi, muỗi, bọ nhảy là nguồn thức ăn chủ yếu của nhện Tuy nhiên, cũng có những nhóm côn trùng

mà nhện phải kiêng dè như ong bắp cày, một số loại kiến, hay một số loại sâu bướm và bọ cánh cứng Những côn trùng này thường tiết ra mùi khó chịu hoặc chất độc để bảo vệ bản thân (Foelix, 1996) [15] Song song đó, nhện được ghi nhận giữ vai trò chủ đạo và là một trong những nhóm ăn thịt quan trọng nhất trong hầu hết các hệ sinh thái Chúng là nguồn thức ăn cho một số nhóm động vật như: chim, rắn, ong và nhiều loài động vật khác (Peterson et

al, 1989) [26] Đặc biệt, những nhóm nhện sống trong và trên mặt đất giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa năng lượng trực tiếp từ mảnh vụn thức

Trang 21

ăn bên dưới bề mặt đất đến mạng lưới thức ăn trên bề mặt đất cho nhiều họ chim, bò sát, lưỡng cư và thú (Johnston, 2000) [16]

Nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài nhện Pardosa birmanica tại Ấn

Độ, cho thấy 1 nhện cái trưởng thành tiêu diệt 28,4 sâu xanh hại cây bông trong 1 ngày đêm, 1 nhện đực trưởng thành tiêu diệt 14,1 sâu xanh trong 1 ngày đêm Năm 2002, Sebastian và Sudhikumar đã thử nghiệm sức ăn rệp

Aphis craccivora của một số loài thuộc họ nhện nhảy Saticidae (Sebastian và Sudhikumar, 2002) [29] Nhện đực trưởng thành loài Phidipus pateli tiêu diệt 6,4 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện cái trưởng thành loài Phidipus pateli tiêu diệt 6,6 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện đực trưởng thành loài Plexippus paykulli tiêu diệt 10,2 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện cái trưởng thành loài Plexippus paykulli tiêu diệt 12,4 con rệp trong 1 ngày đêm Điều này cho thấy

khả năng săn mồi của nhện không chỉ phụ thuộc vào loại thức ăn mà còn chịu ảnh hưởng của số lượng con mồi Khi số lượng con mồi tăng cao, nhện có thể

ăn nhiều hơn bình thường nhằm hấp thụ đầy đủ năng lượng, đẩy nhanh và rút ngắn quá trình tăng trưởng của nhện Ngoài ra, việc ăn nhiều cũng giúp cho nhện dự trữ năng lượng lớn phòng khi gặp điều kiện bất lợi về thức ăn chúng vẫn có thể duy trì sự sống Việc khan hiếm thức ăn là một trong những nguyên nhân làm giảm thành phần loài nhện Loài nhện nào có kĩ năng săn mồi tốt hoặc dự trữ và tích lũy được nhiều năng lượng để chịu đói được trong thời gian dài thì sẽ sống sót và ngược lại Rod & Ken cho rằng: khi săn mồi nhện tiêu tốn rất nhiều năng lượng nhưng chúng lại có khả năng nhịn đói trong suốt một tuần (Rod & Ken, 1998) [28] Điều này giúp chúng có thể sống được ở những nơi có môi trường sống khắc nghiệt Đây cũng chính là lí

do nhện phân bố rộng khắp trên nhiều hệ sinh thái Bổ sung thêm dẫn liệu cho những nghiên cứu về vai trò của nhện trong việc phòng trừ tổng hợp sâu hại trên cây trồng nông nghiệp, Song và Zhu đã đưa ra nhận xét, so với côn trùng

ký sinh và các loài thiên địch khác nhện có nhiều ưu thế hơn (Song an Zhu,

Trang 22

1999) [30] Thứ nhất, nhện có kích thước quần thể lớn Thứ hai, nhện là loài phàm ăn Thứ ba, nhện xuất hiện trên cây trồng sớm hơn các loài thiên địch khác Thứ tư, trong điều kiện thiếu thức ăn nhện vẫn có thể tồn tại trong thời gian dài Thứ năm, khả năng sinh sản của nhện cao

Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất lượng môi trường sống, điển hình là nhóm nhện thuộc họ nhện cuốn tổ

Clubionidae rất mẫn cảm với các kim loại nặng như chì và kẽm Các kết quả

nghiên cứu cho thấy thuốc trừ sâu hại ảnh hưởng lớn tới nhện Năm 1990, Chen và Gao đã chỉ rõ: việc sử dụng thuốc trừ sâu trên vườn cây ăn quả làm giảm đáng kể số lượng nhện sống ở trên đó (Chen and Gao, 1990) [13] Tác giả cho rằng nhện rất mẫn cảm với thuốc hoá học, thuốc hoá học là nhân tố xua đuổi nhện ra khỏi nơi hoạt động và cư trú đặc biệt là thời điểm nhện tìm nơi ẩn nấp qua mùa đông

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sinh học sinh thái nhện còn rất rải rác

Kết quả nghiên cứu của Bùi Hải Sơn cho thấy: loài nhện Pardosa pseudoannulata giai đoạn con non có 8 tuổi; thời gian phát dục của nhện non

đực từ 76,2 - 155,7 ngày; của nhện non cái từ 92,6 - 167,7 ngày; vòng đời của

nhện từ 122,9 - 219 ngày Loài nhện Oxyopes javanus giai đoạn con non có 9

tuổi; thời gian phát dục của nhện non đực từ 152,9 - 204,0 ngày; của nhện non cái từ 159,6 - 223,7 ngày; vòng đời của nhện từ 185,0 - 238,5 ngày Nhện

Pardosa pseudonnulata có khả năng ăn 9,4 - 22,5 con rầy nâu trong một ngày; nhện Oxyopes javanus có khả năng ăn 0,32 - 0,48 sâu non cuốn lá nhỏ

trong một ngày (Bùi Hải Sơn, 1995) [11] Năm 2004, Phạm Văn Lầm đã tiến hành thí nghiệm tìm hiểu phổ vật mồi của một số loài nhện trên cánh đồng

lúa, cho rằng: các loài Pardosa pseudonnulata và Oxyopes javanus biểu hiện tính đa thực Loài Dyschiriognatha tenera và Theridium octomaculatum chỉ

sử dụng 4 loài rầy nâu hại lúa trong phòng thí nghiệm để làm thức ăn Còn

loài Myrmaracha elongata và Clubiona japonicola không ăn các loài bọ xít

Trang 23

hại lúa Nhện là nhóm có số lượng loài lớn, phân bố rộng, có vai trò trong nhiều lĩnh vực do đó các nghiên cứu về khu hệ bổ sung thành phần loài và sinh học sinh thái là việc làm cần thiết (Phạm Văn Lầm, 2004) [3]

2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 09/2015 đến tháng 04/2016

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực địa thu mẫu nhện trong 2 đợt:

- Đợt 1: giai đoạn mùa khô (tháng 10 - 11/2015)

- Đợt 2: giai đoạn mùa mưa (tháng 2 - 3/2016)

Thời gian còn lại chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu,

xử lý số liệu và viết báo cáo

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại các sinh cảnh điển hình của Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình Nhện được thu ở 3 sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng nhân tác và trảng cây bụi

Năm 2003, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo Ngày

3 tháng 7 năm 2015 được UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học, sinh thái

- Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có tọa độ 17°21′ - 17°39′ vĩ bắc và 105°57′ - 106°24′ kinh đông, nằm trong địa bàn các xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch và Sơn Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Cửa động Phong Nha - Kẻ Bàng có tọa độ 17°34'54.15"B và 106°16'58.83"T Phong Nha - Kẻ Bàng cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500

km về phía bắc Phía tây Vườn quốc gia này giáp khu vực bảo tồn Hin Namno, một khu vực carxtơ nằm ở tỉnh Khăm Muộn, Lào cách Biển Đông 42km về phía đông kể từ biên giới của hai quốc gia

Trang 24

- Địa hình: Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, khu vực lãnh thổ Lào tiếp giáp Vườn quốc gia này cũng có diện tích núi đá vôi khoảng 200.000 ha Diện tích vùng lõi của Vườn quốc gia là 85.754 ha và một vùng đệm rộng 195.400 ha Tháng 8 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định mở rộng Vườn quốc gia này lên 1233,26 km2 Vườn quốc gia này được thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng carxtơ lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam Đặc trưng của Vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động, các sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới Các hang động ở đây có tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các nhà thám hiểm hang động Anh và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong

đó 17 km ở khu vực Phong Nha và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng

Kiến tạo carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu năm trước, từ thời kỳ Đại Cổ Sinh do đó là carxtơ cổ nhất ở châu Á

- Thảm thực vật: VQG Phong Nha – Kẻ Bàng có hệ thảm thực vật với những kiểu thảm thực vật quan trọng là: Rừng kín nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi Có thảm thực vật với diện tích lớn nhất và phân bố thành mảng lớn ở phía Bắc và phía Tây của khu vực

Rừng thứ sinh sau khai thác trên núi đá vôi: Nó có nguồn gốc trực tiếp

từ kiểu thảm thực vật rừng nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi sau khi chịu tác động của con người Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên đất đá vôi: Kiểu rừng này phân bố ở các sườn dốc thoải hoặc các gò đống có đỉnh tròn bằng nằm bên khe suối Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đất: Do

có phần nền là những loại đất tương đối sâu, dày, ẩm nên rừng sinh trưởng tốt, cây gỗ có đường kính trên dưới 100cm chiếm số lượng nhiều

Trang 25

Thành phần chủ yếu ở đây là các loài thực vật đặc trưng như Sao đá, Nàng hai, Trai, Mùng quân, Nghiến, Lát hoa, Sên đào Thực vật hạt trần chỉ thấy xuất hiện lẻ tẻ trên các vách đá với loài Tuế núi đá và trong các hẻm đá

có đất bồi có loài Hoàng đàn giả

Rừng thứ sinh sau khai thác trên núi đá vôi: Kiểu phụ thảm thực vật này phân bố chủ yếu ở ven đường 20 và khu vực tiếp cận điểm quần cư phía Bắc Nó có nguồn gốc trực tiếp từ kiểu thảm thực vật rừng nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi sau khi chịu tác động của con người Với các loài cây tiên phong ưa sáng, mọc nanh có gỗ mềm như Ba soi, Ba bét, Thung, Màng tang, Hu bọ nẹt, Chẩn, Hèo đá

Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên đất đá vôi: Kiểu phụ thảm thực vật này chiếm một diện tích trung bình, tập trung ở khu vực trung tâm, phía Đông đường 20 và nằm kề bên điểm quần cư của xã Tân Trạch Kiểu rừng này phân

bố ở các sườn dốc thoải hoặc các gò đống có đỉnh tròn bằng nằm bên khe suối Những cây còn sót lại đa phần là những cây gỗ tạp như Đa, Trâm, Sảng, Mắn đỉa có phẩm chát xấu Các loài cây gỗ nhỏ và cây bụi phổ biến bao gồm: Sòi tía, Cò ke, Hu, Thầu tấu Mặt đất nhiều chỗ lộ trơn, chặt cứng và

có hiện tượng kết vón, khả năng tái sinh tự nhiên rất kém

Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đất: Kiểu thảm thực vật này có diện tích rộng lớn trong khu vực (11.038 ha), phân bố tập trung thành

2 khối lớn: một khối ở phía Đông kéo dài từ suối làng Va, ven theo lộ 20 tới tận Rào Thương Đặc trưng của khu vực này là nền đá mẹ khác nhau về chủng loại Tại đây rừng cấu trúc chủ yếu bởi các loài cây gỗ thường xanh Những cây gỗ rừng lá: Dầu ke, Chò nhai, Sâng, Sổ, Bằng lăng chỉ là những cá thể mọc rải rác Các loài lá rộng được xem là thành phần cấu tạo chính của các tầng rừng

Do có phần nền là những loại đất tương đối sâu, dày, ẩm nên rừng sinh trưởng tốt, cây gỗ có đường kính trên dưới 100cm chiếm số lượng nhiều

Trang 26

Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới với độ che phủ trên 90%, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi hội tụ của nhiều loài động thực vật phong phú và có tính đa dạng cao Cho đến nay, đã thống kê được 140 họ, 413 chi, 735 loài thực vật bậc cao phân bố theo các nhóm bao gồm các nhóm thực vật như quyết, thực vật hạt trần, thực vật hạt kín Hệ thực vật Phong Nha Kẻ Bàng thể hiện nơi giao lưu của 2 khu hệ thực vật phía Nam và phía Bắc với các loài thực vật đặc trưng như Nghiến, Chò nước, Dầu ke, Dầu đọt tím Đặc biệt cây Tàu đá gần đây mới được phát hiện và công bố Trong số các loài thực vật có

25 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam [37]

- Hệ động vật: Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi sinh sống của 140 loài thú thuộc 31 họ và 10 bộ, nổi bật nhất là hổ và bò tót, loài bò rừng lớn nhất thế giới, 302 loài chim, trong đó có ít nhất 43 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam

và 19 loài nằm trong Sách đỏ thế giới; 81 loài bò sát lưỡng cư (18 loài trong Sách đỏ Việt Nam và 6 loài Sách đỏ thế giới); 259 loài Bộ Cánh vẩy; 72 loài

cá, trong đó có 4 loài đặc hữu Việt Nam Năm 1996, ở đây có loài cá mới phát hiện ở Việt Nam Linh trưởng có 10 loài linh trưởng, chiếm 50% tổng số loài thuộc bộ linh trưởng ở Việt Nam, 7 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là voọc Hà Tĩnh, sao la, mang (thú) Phong Nha - Kẻ Bàng được đánh giá

là có hệ tự nhiên đa dạng nhất trong tất cả các Vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển quốc gia trên thế giới

Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi có cộng đồng linh trưởng phong phú bậc nhất Đông Nam Á Năm 2002, nhà khoa học Đức Thomas Zegler đã phát hiện

ra một loài thằn lằn tai mới có tên là Tripidophrus Nogei tại vùng núi Karst thuộc khu vực Chà Nòi Loài thằn lằn này đã được đăng trên số báo 114 (2) phát hành tháng 7 năm 2007 của tạp chí Revue Suise De Zoologie Các nhà khoa học đã đặt tên loài này là Thằn lằn Phong Nha - Kẻ Bàng (danh pháp khoa học: Cyrtodactylus phongnhakebangensis) Các nhà khoa học Đức đã

Ngày đăng: 17/03/2017, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Phạm Đình Sắc, Khuất Đăng Long, 2001. “Nghiên cứu thành phần và vai trò của nhện lớn bắt mồi trên đậu tương”. Tạp chí Bảo vệ Thực vật, số 6/2001 (180), tr. 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần và vai trò của nhện lớn bắt mồi trên đậu tương
Tác giả: Phạm Đình Sắc, Khuất Đăng Long
Nhà XB: Tạp chí Bảo vệ Thực vật
Năm: 2001
9. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, 2002. “Một số kết quả nghiên cứu nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên nhãn vải vùng Mê Linh – Vĩnh Phúc”. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 4 . Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 406-410 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên nhãn vải vùng Mê Linh – Vĩnh Phúc
Tác giả: Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, 2005. “Loài nhện độc Ornithoctonus huwena (Araneae: Theraphosidae ) mới phát hiện ở Việt Nam”. Tạp chí Sinh học, tập 27, số 4: tr. 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loài nhện độc Ornithoctonus huwena (Araneae: Theraphosidae ) mới phát hiện ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn
Nhà XB: Tạp chí Sinh học
Năm: 2005
11. Bùi Hải Sơn, 1995. “Nghiên cứu Nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên ruộng lúa vùng ngoại thành Hà Nội”. Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên ruộng lúa vùng ngoại thành Hà Nội
12. Barrion, A.T & J.A. Litsinger (1995), Riceland Spider of South and Southeast Asia, Cab Internation, UK, 700 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Riceland Spider of South and Southeast Asia
Tác giả: A.T. Barrion, J.A. Litsinger
Nhà XB: Cab Internation, UK
Năm: 1995
13. Chen X. and Gao J., 1990. The Sichuan farmland spider in China. Publising house Chengdu China. 226 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Sichuan farmland spider in China
Tác giả: Chen X., Gao J
Nhà XB: Publising house Chengdu China
Năm: 1990
14. Clausen I.H.S., 1986. The use of spiders (Araneae) as ecological indicators. Bull. Br. Arachnol. Soc. 7, pp. 83-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bull. Br. Arachnol. Soc
15. Foelix R.F., 1996. Biology of Spider. Oxford University Press Georg Thieme verlag. New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology of Spider
Tác giả: Foelix R.F
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 1996
16. Johnston J.M. (2000). The contribution of microarthropods to aboveground food webs: A review and model of belowground transfer in a coniferous forest. Am. Midl. Nat., 143: pp. 226-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am. Midl. Nat
Tác giả: Johnston J.M
Năm: 2000
17. Jie Liu, Shuqiang Li ,Dinh – Sac Pham, 2010b. Caponiidae (Arachnida, Araneae), a newly recorded family from Vietnam, Acta Zootaxonomica Sinica 35 (1): pp. 20-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Zootaxonomica Sinica
18. Murphy F.M. and J.A. Murphy, 2000. An introdution to the spiders of South East Asia, 625 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduction to the spiders of South East Asia
Tác giả: F.M. Murphy, J.A. Murphy
Năm: 2000
19. Ono H., 1997. A new species of the Genus Heptathela (Araneae: Liphistidae) from Vietnam. Acta arachnologica, 46 (1), pp. 23-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new species of the Genus Heptathela (Araneae: Liphistidae) from Vietnam
Tác giả: Ono H
Nhà XB: Acta arachnologica
Năm: 1997
20. Ono H., 1999. Spiders of the genus Heptathela (Araneae, Liphistidae) from Vietnam with notes on their natural history. The Journal ofArachnoly, 27: pp. 37-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spiders of the genus Heptathela (Araneae, Liphistidae) from Vietnam with notes on their natural history
Tác giả: Ono H
Nhà XB: The Journal of Arachnology
Năm: 1999
21. Ono H., 2002. Occurrence of a Heptatheline spider (Araneae, Liphistidae) in Lam Dong province, Vietnam. Bull.Natn.Sci.Mus., Tokyo,ser.A, 28(3): pp. 119-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occurrence of a Heptatheline spider (Araneae, Liphistidae) in Lam Dong province, Vietnam
Tác giả: Ono H
Nhà XB: Bull.Natn.Sci.Mus., Tokyo,ser.A
Năm: 2002
22. Ono H., 2003. Four new species of the family Zodarridae (Arachnida, Araneae) from Vietnam. Bull.Natn.Sci.Mus., Tokyo,ser.A, 29(3): pp.131-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Four new species of the family Zodarridae (Arachnida, Araneae) from Vietnam
Tác giả: Ono H
Nhà XB: Bull.Natn.Sci.Mus., Tokyo,ser.A
Năm: 2003
23. Ono H., 2003. Three new species of the genus Mallinella (Araneae, Zodariidae) from Vietnam. Bull.Natn.Sci.Mus., Tokyo,ser.A, 29(3): pp.131-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Three new species of the genus Mallinella (Araneae, Zodariidae) from Vietnam
Tác giả: Ono H
Nhà XB: Bull.Natn.Sci.Mus., Tokyo,ser.A
Năm: 2003
24. Platnick N.I (2014). The World Spider Catalog, Version 15, The American Museum of Natural History Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Spider Catalog, Version 15
Tác giả: Platnick N.I
Nhà XB: The American Museum of Natural History
Năm: 2014
25. Platnick N.I.(2012),The world spider Catalog, version 13.0.American Musium of Natural History.http://research.amnh.org/iz/spiders/catalog Sách, tạp chí
Tiêu đề: The world spider Catalog, version 13.0
Tác giả: Platnick N.I
Nhà XB: American Museum of Natural History
Năm: 2012
26. Peterson A.T., Osborne D.R. and Taylor D.H. (1989). Tree trunk arthropod faunas as food resources for birds. Ohio Journal of Science, 89(1): pp. 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ohio Journal of Science
Tác giả: Peterson A.T., Osborne D.R. and Taylor D.H
Năm: 1989
36. Internet: http://phongnhakebang.vn/vi (http://phongnhakebang.vn/vi/he-dong-vat-vuon-quoc-gia-phong-nha-ke-bang) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lƣng) - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Hình 1.1. Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lƣng) (Trang 18)
Hình 2.1. Phương pháp bẫy hố - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Hình 2.1. Phương pháp bẫy hố (Trang 28)
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện hoạt động trên mặt  đất thu được tại khu vực VQG  Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện hoạt động trên mặt đất thu được tại khu vực VQG Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình (Trang 31)
Hình 3.1. Số giống và số loài của các họ nhện thu đƣợc ở trên mặt đất tại - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Hình 3.1. Số giống và số loài của các họ nhện thu đƣợc ở trên mặt đất tại (Trang 34)
Bảng 3.2. Phân bố của các loài nhện hoạt động trên mặt đất theo sinh cảnh - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Bảng 3.2. Phân bố của các loài nhện hoạt động trên mặt đất theo sinh cảnh (Trang 34)
Hình 3.2.  Tỉ lệ % số lƣợng cá thể nhện thu đƣợc ở 3 sinh cảnh - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Hình 3.2. Tỉ lệ % số lƣợng cá thể nhện thu đƣợc ở 3 sinh cảnh (Trang 37)
Bảng 3.3. Số lượng loài của các họ nhện thu được - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Bảng 3.3. Số lượng loài của các họ nhện thu được (Trang 38)
Hình 3.3. Số loài nhện thu đƣợc ở 3 sinh cảnh - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Hình 3.3. Số loài nhện thu đƣợc ở 3 sinh cảnh (Trang 39)
Bảng 3.4. Phân bố của nhện theo mùa ở khu vực VQG  Phong Nha Kẻ - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Bảng 3.4. Phân bố của nhện theo mùa ở khu vực VQG Phong Nha Kẻ (Trang 40)
Hình 3.4.  Tỉ lệ  số lƣợng cá thể thu đƣợc theo mùa. - Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của nhện (araneae) hoạt động trên mặt đất tại vườn quốc gia phong nha – kẻ bàng, tỉnh quảng bình
Hình 3.4. Tỉ lệ số lƣợng cá thể thu đƣợc theo mùa (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm