Thành phần loài Oribatida ở đất trồng cải củ có phân và không phân Urê tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.... Các loài Oribatida ưu thế ở đất trồng cải c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐÀO DUY TRINH
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của thầy cô, gia đình, bạn bè Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới:
Ban Chủ nhiệm khoa, Ban quản lý vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Các thầy cô trong khoa luôn tận tụy dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức khoa học quý báu
Tự đáy lòng mình , tôi xin chân thành gửi lời cám ơn TS Đào Duy
Trinh - ngườ i đã tận tình hướng dẫn , chỉ bảo tôi thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn trong nhóm nghiên cứu, gia đình tôi, nơi mà tôi nhận được sự hỗ trợ, chia sẻ, động viên để vượt qua mọi khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả khoá luận
Phan Trọng Trường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các mẫu nghiên cứu đã được lấy tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và được chúng tôi thực hiện, phân tích mẫu đúng phương pháp như trong khóa luận đã đưa
ra Mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn chính xác, trung thực, đúng thời gian Các thông tin đã được trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn chính xác, được lấy từ các tài liệu có nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả khoá luận
Phan Trọng Trường
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.2 Tình hình nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
1.3 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Thời gian nghiên cứu
2.3 Địa điểm nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Ngoài thực địa
2.4.2 Trong phòng thí nghiệm
2.4.3 Xử lí số liệu
2.5 Một vài nét khái quát về khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Thành phần loài Oribatida ở đất trồng cải củ có phân và không phân Urê tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3.1.1 Đa dạng các Taxon Họ, Giống, Loài Oribatida ở đất trồng cải củ có bón phân và không bón phân Urê
3.1.2 Danh sách thành phần Họ, Giống, Loài Oribatida ở đất trồng cải củ có bón phân và không bón phân Urê
1
5
5
6
7
12
12
12
12
13
13
14
15
17
18
18
18
19
Trang 63.2 Đặc điểm phân bố của Oribatida theo độ sâu của đất trồng cây
cải củ có bón phân, không bón phân Urê và đất ban đầu chưa bón
phân tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường ĐHSPHN 2
3.3 Các loài Oribatida ưu thế ở đất trồng cải củ có bón phân, không bón phân Urê và ban đầu chưa bón phân tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3.4 Ảnh hưởng của phân Urê đến một số đặc điểm định lượng của ve giáp (Acari: Oribatida) ở đất trồng cây cải củ tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3.4.1 Ảnh hưởng đến số lượng loài
3.4.2 Ảnh hưởng đến mật độ trình độ trung bình
3.4.3 Ảnh hưởng đến độ đa dạng H’ và độ đồng đều J’
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
23
26
30
31
31
33
35
37
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên
Bảng 3.1 So sánh tính đa dạng các Taxon Họ, giống, loài Oribatida ở
đất trồng cải củ có bón phân và không bón phân Urê……… 18 Bảng 3.2 Danh sách thành phần Họ, Giống, Loài Oribatida ở đất
trồng cây cải củ có bón phân, không phân bón Urê và ban đầu chưa
bón phân………… 19
Bảng 3.3 Danh sách họ, giống, loài Oribatida phân bố theo độ sâu của
đất trồng cây cải củ có bón phân, không phân bón Urê và đất ban đầu
chưa bón phân tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường ĐHSPHN
Bảng 3.4 Tỷ lệ Oribatida ưu thế trong các khu vực đất có phân, không
phân Urê và đất ban đầu chưa bón phân ở đất trồng cải củ tại vườn Sinh
Bảng 3.5 Một số chỉ số định lượng của Oribatida ở đất trồng cây cải củ
có bón phân và không bón phân Urê tại vườn Sinh học khoa Sinh -
Trang 9DANH MỤC HÌNH Trang
Hình 3.1 Cấu trúc loài ưu thế của Oribatida ở đất có bón phân Urê
Hình 3.2 Cấu trúc loài ưu thế của Oribatida ở đất không bón phân Urê
tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường ĐHSPHN 2……… 29 Hình 3.3 Mật độ trung bình của Oribatida ở 2 nền đất có và không
Hình 3.4 Độ đa dạng H’ và độ đồng đều J’ ở hai bên nền đất có và
Trang 10mà thường có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến những kết quả khác nhau, trong đó có ảnh hưởng đến một số loài sinh vật, đặc biệt là nhóm động vật đất
Việc sử dụng loại phân bón nào, liều lượng bao nhiêu, hàm lượng các chất hóa học trong đó như thế nào có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Phân Urê (NH2)2CO có 44 - 48 % nitơ nguyên chất Loại phân này chiếm 59 % tổng số các loại đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới Urê
là loại phân có tỷ lệ nitơ cao nhất là loại phân bón phổ biến và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Phân Urê thích hợp cho nhiều loại cây trồng nông nghiệp, cải
củ là một trong những cây trồng ngắn ngày thích hợp với loại phân này [19]
Cây cải củ, rau lú bú (Raphanus sativus L.) được trồng phổ biến ở nước
ta trở thành thực phẩm quan trọng trong đời sống cũng như là một vị thuốc với nhiều tác dụng Cải củ là loại thực phẩm tương đối dễ sử dụng, có thể dùng chế biến nhiều món ăn như luộc, kho, xào, nấu canh, muối dưa, làm củ cải muối, phơi khô dự trữ, Trong y học dân tộc, củ cải có vị ngọt, hơi cay, đắng, tính bình, không độc, được dùng trong trường hợp ăn uống không ngon
Trang 11Oribatida là sinh vật nhỏ bé nhưng có vai trò quan trọng trong tự nhiên, sinh sống được ở nhiều môi trường khác nhau Cây cải củ được trồng phổ biến ở nước ta, rất gần gũi với đời sống thường ngày Vì lý do đó chúng tôi quyết định nghiên cứu sự ảnh hưởng của phân Urê đến các đặc điểm của Ve giáp: thành phần loài, sự phân bố, điều kiện thích nghi, và sự biến động của Oribatida trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây cải củ Qua đó, bổ sung thêm những dẫn liệu mới hình thành thêm mối quan hệ giữa ve giáp với cây trồng nông nghiệp, với chế phẩm hóa học và vai trò chỉ thị của Ve giáp trên hệ sinh thái nông nghiệp Trong thời gian gần đây ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về Oribatida trong mối quan hệ với thành phần của đất nông nghiệp Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ thể ảnh hưởng của phân Urê đến nhóm động vật này ở đất trồng cây cải củ vẫn chưa xác định
Để bổ sung thêm những dẫn liệu mới cho hướng nghiên cứu này, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân Urê đến sự biến động về
thành phần loài Ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari: Oribatida) ở đất trồng cây cải củ tại vườn Sinh học Khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định thành phần loài Ve giáp Acari: Oribatida trong từng khu vực nghiên cứu và sự biến động của Oribatida ở đất có, không phân Urê và ở từng tầng đất có độ sâu khác nhau
Trang 12Xác định được loài chiếm ưu thế và phổ biến trong đất trồng cây cải củ
có và không bón phân Urê
Có thể bổ sung thêm loài mới vào thành phần loài của Oribatida từ các khu vực nghiên cứu
Xác định mật độ trung bình của Oribatida ở từng khu vực nghiên cứu, tầng đất khác nhau
Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón Urê đến Ve giáp ở đất trồng hành, trên cơ sở phân tích sự thay đổi giá trị các chỉ số định lượng như: số lượng loài, cấu trúc thành phần, đa dạng thành phần loài, chỉ số
đa dạng loài (H’), chỉ số đồng đều (J’) Từ đó phát hiện nhóm loài Oribatida
ưu thế, phổ biến, góp phần tìm hiểu vai trò chỉ thị sinh học của Ve giáp và mức độ ảnh hưởng của hoạt động nhân tác đến môi trường đất ở vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3 Ý nghĩa
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu sự ảnh hưởng của phân Urê đến sự biến động thành phần loài Ve giáp thuộc bộ Oribatida ở đất trồng cây cải củ tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, để cung cấp thông tin
cơ bản:
Đề tài cung cấp thêm bằng chứng về tính đa dạng sinh học của Oribatida Xác định số lượng và thành phần loài Oribatida ưu thế và phổ biến ở các môi trường đất khác nhau có phân và không bón phân Urê
Đề tài nghiên cứu những tác động của phân Urê đến đặc điểm phân bố và định cư của Ve giáp
Trang 134
Đánh giá số lượng loài, cấu trúc thành phần, đa dạng thành phần loài, chỉ
số đa dạng loài (H’), chỉ số đồng đều (J’) Phát hiện nhóm loài Oribatida ưu thế, phổ biến, góp phần tìm hiểu vai trò chỉ thị sinh học của Ve giáp và mức
độ ảnh hưởng của hoạt động nhân tác đến môi trường đất ở vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu đầy đủ các nhóm động vật (trong đó có động vật đất) góp phần cung cấp nhiều dữ liệu khoa học, phục vụ cho công tác dự báo,
kiểm soát, quản lí và khai thác bền vững tài nguyên môi trường đất
Sự biến động của các loài trong khu vực nghiên cứu khác nhau nói lên sự phong phú của môi trường sống Ảnh hưởng của phân Urê đến sự biến động thành phần của Oribatida Oribatida có tiềm năng trở thành một trong những đại diện có vai trò chỉ thị sinh học hiệu quả để từ đó có những biện pháp cải thiện đất, bảo vệ môi trường và tăng năng suất cây trồng
4 Điểm mới
Đề tài so sánh thành phần loài Ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari: Oribatida) ở đất trồng cải củ có và không có phân Urê để có những dẫn liệu mới về sự ảnh hưởng của phân Urê đến sự biến động về thành phần loài Ve giáp thuộc bộ (Acari: Oribatida) ở đất trồng cây cải củ tại vườn Sinh học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trang 145
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Ve giáp luôn chiếm khoảng trên 50% trong tổng số Chân khớp bé, chúng tham gia tích cực vào mọi chu trình tự nhiên, vào các quá trình sinh học của đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất, quá trình làm sạch đất khỏi bị ô nhiễm các chất thải (hữu cơ và vô cơ), chất phóng xạ Chúng làm gia tăng độ màu mỡ của đất thông qua các hoạt động sống của mình (Vũ Quang Mạnh, 2007) [4]
Trong hơn 30 năm qua, cho đến năm 2000 các kết quả nghiên cứu hàng năm của các chuyên gia chuyên ngành trên thế giới, đặc biệt là các kết quả liên quan đến khu hệ và phân bố của Ve giáp đã được bảo tàng lịch sử tự nhiên Gorlitz, CHLB Đức giới thiệu trong 31 số của ấn phẩm Quốc tế Bibliographia: Oribatologica Từ năm 2001 ấn phẩm chuyên ngành này được mang tên mới là Acari: Bibliographia Acarologica: Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007) [4]
Bộ Oribatida(Acari: Oribatida) bao gồm những nhóm Oribatida đa dạng và phong phú trong hệ sinh thái Các nghiên cứu về Oribatida ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 60 và do các tác giả nước ngoài thực hiện, sau đó được mở rộng từ những năm 80 của thế kỷ trước Trên cơ sở đó đã hình thành một bộ sưu tập khá phong phú về dữ liệu Oribatida ở Việt Nam
Với những thông tin trên cho thấy, việc nghiên cứu phân tích sự tác động của phân Urê trên đất trồng cây cải củ ảnh hưởng đến các đặc trưng định lượng của Oribatida (số lượng loài, mật độ, chỉ số đa dạng H’, chỉ số đồng đều J’) làm cơ sở khoa học chỉ ra những tác động tích cực cũng như tiêu cực của các nhân tố môi trường, con người đến hệ sinh vật đất, cụ thể là tác động của phân hóa học đến động vật đất
Trang 156
1.2 Tình hình nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Từ lâu, con người đã biết đến vai trò phân hủy xác mùn, phân hủy chất hữu cơ và luân chuyển vật chất của nhiều nhóm sinh vật, trong đó có sinh vật sống trong đất Cùng với sự phát triển mạnh của bộ môn khoa học vi sinh vật, các nhà nghiên cứu đã thu được nhiều kết quả xác định vai trò phân hủy mùn
và tạo đất của các nhóm vi sinh vật Trong số các sinh vật đất, phải kể đến bộ
Ve giáp (Acari: Oribatida) Các nghiên cứu về Ve giáp trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm Từ cuối thế kỉ XIX, các nhà Sinh học nghiên cứu về sinh vật đã quan tâm và tiến hành tìm hiểu về Oribatida
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về chúng vẫn còn ít và chỉ phát triển mạnh trong vài chục năm gần đây Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã được
mô tả khoảng 10.000 loài và số loài Oribatida thực tế có thể vào khoảng 50.000 loài Như vậy, số lượng Oribatida hiện được biết đến chỉ vào khoảng 20% tổng số loài thực tế đang tồn tại [18]
Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa có một cách sắp xếp thống nhất vị trí của nhóm Oribatida nói chung trong hệ thống phân loại Thông thường, Oribatida thuộc bộ Ve giáp (Acarina) bao gồm tất cả nhóm Oribatida khác nhau nằm trong nhóm Chân khớp hình nhện (Arachnida) Trong những năm gần đây, nhờ khoa học kĩ thuật tiến bộ, nhiều nhà nghiên cứu đã nhờ sự trợ giúp của các kĩ thuật phân tích sinh học hiện đại như phương pháp phân tích ADN để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, tiến hóa của Oribatida ở mức độ loài
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về Oribatida diễn ra mạnh
mẽ tại nhiều vùng ở các nước trên khắp các châu lục và đã thu được nhiều kết quả to lớn Trong thời gian này, theo Balogh, số lượng giống Oribatida được phát hiện trên thế giới đã tăng từ 700 lên đến hơn 1.000 giống (Balogh J and Balogh P., 1992) [15]
Về vai trò chỉ thị sinh học của Ve giáp có nhiều công trình nghiên cứu,
Trang 167
mỗi loài Ve giáp riêng biệt phản ứng một cách có chọn lọc với các loại thuốc trừ sâu (Behan – Pelletier, 1999); loài đông đảo xuất hiện chiếm ưu thế trong những môi trường sống đặc trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, chúng như những sinh vật chỉ thị thích hợp (Behan – Pelletier V.M., 1999) [17]
Trên thế giới còn có rất nhiều hướng nghiên cứu về Oribatida nữa như, nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh; lịch sử hình thành loài; hướng tiến hóa của Oribatida; ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên lên mật độ, thành phần loài Oribatida; vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh dưỡng; nghiên cứu về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida; nghiên cứu về môi trường sống Ve giáp; sự đa dạng và phân bố Oribatida trên toàn cầu
1.3 Tình hình nghiên cứu ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) ở Việt Nam
Trước năm 1967, chưa có công trình nào nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam
Hai tác giả Balogh J và Mahunka S., 1967 – (Hungari) đã giới thiệu khu
hệ, danh pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp trong đó mô tả 29 loài
và 4 giống mới cho khoa học trong tác phẩm: “New oribatids from Vietnam” Tiếp theo là nghiên cứu của hai tác giả Balan A.Rajski và R.Szudrowicz
(Balogh J et al., 1967; Rajski A et al., 1974) [16] Mở đầu cho các nghiên
cứu tiếp theo về Oribatida ở Việt Nam
Từ năm 1975, các nhà nghiên cứu về nhóm Chân khớp bé và các nhóm động vật không xương sống khác ở đất mới bắt đầu được các tác giả Việt Nam tiến hành khá đồng bộ Các nghiên cứu hầu như tập trung tìm hiểu thành
phần loài và được tiến hành trên nhiều khu vực của đất nước
Từ năm 1998 trở lại đây, những đề tài nghiên cứu Collembola đã bổ sung nhiều dẫn liệu mới không chỉ về khu hệ và đặc điểm phân bố theo kiểu sinh cảnh, theo độ sâu của đất, theo đai cao khí hậu mà còn đi sâu nghiên cứu
về mối quan hệ hữu cơ giữa đối tượng này với các điều kiện ngoại cảnh, về
Trang 178
vai trò chỉ thị sinh học của Collembola cho sự suy giảm của lớp phủ thực vật, cho sự suy thoái và mức độ ô nhiễm đất bởi chất thải công nghiệp, bởi việc sử dụng không hợp lý các hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp, … Một số công trình khoa học như:
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987) đã giới thiệu đặc điểm phân bố và danh pháp phân loại học của 11 loài mới cho khu hệ Oribatida Việt Nam và 1 loài mới cho khoa học
Năm 2010, Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu, Vũ Quang Mạnh, đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Ghi nhận được 103 loài thuộc
48 giống, 28 họ, số loài giảm dần theo độ cao và theo thứ tự: Rừng tự nhiên
→ trảng cỏ cây bụi → rừng nhân tác → đất canh tác → vườn quanh nhà Đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn thể hiện rõ yếu tố Ấn Độ - Mã Lai (Đào Duy Trinh và cs., 2010) [11]
Năm 2012, Mai Thị Hạnh, Bùi Thị Quế, Lâm Thị Thu Hiền, Ngô Thùy Chi, Hà Trọng Hiến, Đào Duy Trinh, nghiên cứu sự biến động thành phần loài
Ve giáp (Acari: Oribatida) ở đai cao rừng kim giao Vườn Quốc gia Cát Bà – Huyện Cát Hải Đã phát hiện 50 loài, trong đó có 46 loài được định tên khoa học, còn 4 loài chưa định tên ở dạng sp (Đào Duy Trinh và cs., 2012) [1]
Năm 2012, Triệu Thị Hường, Nguyễn Văn Đạt, Hoàng Văn Hưng, Vũ Văn Trường, Đào Duy Trinh, nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại Khu công nghiệp Bình Xuyên và phụ cận thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Cho thấy có tổng số 38 loài, trong đó có
36 loài đã được định tên, còn 2 loài không được định tên ở dạng sp (Đào Duy Trinh và cs., (2012) [2]
Năm 2013, Đào Duy Trinh, Dương Minh Huệ, Vũ Quang Mạnh, Nghiên cứu biến động cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của nhóm động vật
Trang 189
chân khớp bé (Microarthropoda) tại khu công nghiệp xi măng Tiên Sơn và phụ cận Ứng Hòa Hà Nội: Nhóm phân loại Acari luôn chiếm ưu thế về số lượng ở tất cả các sinh cảnh, gặp nhiều nhất là ở sinh cảnh đất tại khu công nghiệp Ngược lại, nhóm phân loại Collembola chiếm ưu thế ít hơn thường hay gặp ở sinh cảnh đất vườn cạnh khu công nghiệp và đất ruộng cách khu công nghiệp 1 km theo hướng Nam Trong nhóm phân loại Acari, O là nhóm chiếm ưu thế ở các sinh cảnh nghiên cứu và có mặt ở cả 2 tầng đất, U chỉ xuất hiện duy nhất ở tầng A1 của khu công nghiệp, A≠ thấy xuất hiện ở tất cả các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu với số lượng không lớn Ở tầng A1 nhóm Gđều có mặt còn ở tầng A2 chỉ có duy nhất ở sinh cảnh khu công nghiệp Trong nhóm phân loại Collembola, P và E là 2 nhóm có mặt ở tất cả các sinh cảnh nghiên cứu và có mặt ở cả 2 tầng đất Nhóm phân loại S xuất hiện với số lượng rất thấp và hầu như chỉ gặp ở tầng đất A1 của sinh cảnh đất ở vườn và ruộng còn ở tầng A2 không thấy có ở sinh cảnh đất tại khu công nghiệp (Đào Duy Trinh và cs., 2013) [10]
Năm 2014, Đào Duy Trinh, Hứa Thị Huế, Nông Thị Kiều Hoa, Phạm Văn Ngọc, Trần Văn Vinh, Vũ Quang Mạnh, nghiên cứu sự biến động thành phần loài thuộc bộ Ve giáp ở KCN Phúc Yên - Vĩnh Phúc và phụ cận đã phát hiện được 39 loài Ve giáp (Acari : Oribatida), thuộc 18 họ và 29 giống Trong
đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất 29 loài (chiếm 56,9% so với tổng số loài), tiếp theo đến Vườn quanh nhà 12 loài (chiếm 23,5% so với tổng số loài) và cuối cùng sinh cảnh ruộng 10 loài (chiếm 19,6%
so với tổng số loài) Trong 39 loài có 3 loài bắt gặp ở cả 3 sinh cảnh đó là:
Dolicheremaeuslineolatus Balogh et Mahunka, 1967; Scheloribates latipes (C L Koch, 1841); Scheloribates pallidulus (C L Koch, 1840) Trong từng
sinh cảnh có sự phân bố khác nhau Số loài phân bố theo từng sinh cảnh giảm
từ khu công nghiệp (29 loài) > Vườn quanh nhà (12 loài) > Ruộng canh tác
Trang 1910
(10 loài) Đã xác định được 17 loài ưu thế, trong đó có 7 loài ưu thế ở sinh cảnh Vườn quanh nhà, 5 loài ưu thế ở sinh cảnh Khu công nghiệp, 9 loài ưu thế ở sinh cảnh Ruộng canh tác KCN các chỉ số sinh học lớn nhất so với các sinh cảnh VQN và RCT: N=212; S=29; H’= 2.508 (Đào Duy Trinh và cs., 2014) [8]
Năm 2015, Đào Duy Trinh, Vũ Quang Mạnh, nghiên cứu cấu trúc Quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ như yếu tố chỉ thị sinh học biến đổi khí hậu theo đai cao trên mặt biển Nghiên cứu thực địa lấy mẫu Oribatida tại Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn được thực hiện từ 2005-2008 Mẫu đã được lấy từ 5 loại sinh cảnh như sau: rừng tự nhiên (RTN: theo 1 tuyến dọc từ chân núi lên đỉnh núi với 3 khoảng đai cao phân biệt (300-600m, 600-1000m và 1000-1600m)), rừng nhân tác (RNT), trảng cỏ cây bụi (TCCB), vườn quanh nhà (VQN) và đất canh tác (ĐCT) Đã xác định thấy sự liên quan rõ rệt của các chỉ số định lượng trong cấu trúc quần xã Oribatida về số lượng loài, mật độ trung bình (MĐTB), chỉ số đa dạng loài H’, chỉ số đồng đều J’; các chỉ số thể hiện với mức độ ảnh hưởng của đai độ cao và hoạt động nhân tác lên hệ sinh thái đất
rừng ở VQG Xuân Sơn (Đào Duy Trinh, Vũ Quang Mạnh, 2015) [12]
Năm 2015, Đào Duy Trinh, Nguyễn Thị Hải Yến, nghiên cứu thành phần và cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở khu du lịch Khoang Xanh - Suối Tiên, xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội Đã ghi nhận được 76 loài Oribatida thuộc 51 giống của 28 họ ở cả hai lần thu mẫu đối với cả 4 tầng phân bố theo chiều thẳng đứng Trong số 68 loài xác định được tên và có 8 loài ở dạng sp Khoang Xanh mật độ trung bình thay đổi theo từng tầng phân
bố, lớn nhất là tầng A1 (1120 cá thể/m2), tầng A2 (600 cá thể/m2), tầng A0 (103 cá thể/m2) và thấp nhất ở tầng A (41 cá thể/kg) Ở Suối Tiên, mật độ trung bình có chiều hướng giảm dần từ A2 < A1 < A0 < A tương ứng: 3600
Trang 2011
cá thể/m2 < 2800 cá thể/m2 < 423 cá thể/m2 < 81 cá thể/kg (Đào Duy Trinh, Nguyễn Thị Hải Yến, 2015 )[14]
Năm 2015, Đào Duy Trinh, Hứa Thị Huế, nghiên cứu sự biến động về
thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) liên quan đến bón phân Urê ở đất trồng cây hành lá tại Vườn Sinh học Khoa Sinh –KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đã rút ra kết luận Oribatida rất nhạy cảm với môi trường, có thể nghiên cứu lâu dài để đánh giá về thực trạng môi trường Đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố hóa, lý học tác động từ môi trường bên ngoài Phân Urê làm tăng số lượng loài, mật độ trung bình loài, độ đa dạng, độ đồng đều, thay đổi phương thức kiếm ăn của Oribatida tạo điều kiện cho Oribatida trở thành chỉ thị môi trường hiệu quả Đất trồng hành tại Vườn Sinh học khoa Sinh – KTNN ghi nhận 10 họ, 13 giống và 16 loài Ở đất trồng có phân Urê
có 15 loài, đất không có phân có 11 loài, đất ban đầu chưa bón phân có 10 loài.Các thể Oribatida tập trung tại môi trường có nhiều chất dinh dưỡng nhất chính là thời điểm cây hành phát triển nhất Đất trồng có phân Urê:
Peloribates pseudoporosus Balogh et Mahunka, 1967; Xylobates gracilis Aoki, 1962 ; Galumna flabellifera Hammer, 1952 Mật độ Oribatida ở đất
trồng có phân Urê lớn nhất 17200 cá thể/m2 Mật độ Oribatida ở đất không phân Urê là 12560 cá thể/m2 Ba loài chiếm ưu thế trên toàn bộ các vùng sinh
cảnh: Setoxylobates foveolatus Balogh et Mahunka, 1967; Xylobates
lophotrichus (Brerlese, 1904); Cultroribula lata Aoki, 1961 (Đào Duy Trinh,
Hứa Thị Huế, 2015) [9]
Nhìn chung , các công trình nghiên cứu và các báo cáo khoa học về Chân khớp bé đã và đang được thực hiê ̣n tuy đã đa ̣t được những kết quả đáng chú ý, nhưng ch ưa được quy mô và rộng rãi Vì vậy, cần thực sự hiểu rõ vai trò quan tro ̣ng của Chân khớp bé , từ đó ứng du ̣ng vào thực tiễn , phục vụ cho
con người thì cần phải nghiên cứu nhiều hơn
Trang 2112
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài Oribatida (Acari) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp
Ve giáp (Acari)
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 10 tháng 10 năm 2014 đến ngày 06 tháng 12 năm 2014 Tiến hành lấy mẫu theo 8 đợt
Từ ngày 14 tháng 12 năm 2014 đến ngày 17 tháng 05 năm 2015 Tiến hành xử lý mẫu, soi mẫu, và định loại Oribatida
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Thực hiện lấy mẫu thực địa ở đất trồng cây cải củ tại vườn Sinh học khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Chúng tôi tiến hành lấy 8 đợt, thời gian 10/10/2104 – 06/12/2014:
+ Đợt 1: Ngày 10/10/2014 lấy mẫu đất ban đầu
+ Đợt 2: Ngày 25/10/2014 lẫy mẫu đất trước khi trồng cây cải củ
+ Đợt 3, 4, 5, 6, 7, 8: Lấy mẫu theo thời gian, cứ 7 ngày tiến hành thu mẫu một lần cho đến khi thu hoạch
Tổng số mẫu thu được là 140 mẫu Mẫu thu từ thực địa được đưa về phòng thí nghiệm động vật học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 để xử lý
Trang 2213
Bảng 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên cứu
A1 Tầng đất có độ sâu 0-10(cm) ĐCBP Đất chưa bón phân
A2 Tầng đất có độ sâu 10-20(cm) TN Thực nghiệm (đất có Urê)
ĐC Đối chứng (đất không Urê)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Lấy mẫu trên nền đất trồng cây cải củ Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng và ở mỗi điểm nghiên cứu Mỗi mẫu được
Trang 23đó Microarthropoda sẽ chui sâu dần xuống lớp đất phía dưới, qua lưới lọc và rơi xuống đáy phễu, vào ống nghiệm có đựng dung dịch định hình là formol 4% (Vũ Quang Mạnh, 2003) [3]
Cấu tạo phễu lọc Berlese-Tullgren: Phễu bằng thủy tinh, có chiều cao 30cm, đường kính miệng 25cm, đường kính vòi 1,5cm Bộ phễu được đặt trên giá gỗ, vòi phễu gắn với ống nghiệm chứa dung dịch định hình formon 4% để hứng mẫu (Vũ Quang Mạnh, 2003) [3]
Đặt mẫu:
Trước khi đặt mẫu phải đảm bảo giá gỗ và phễu lọc sạch Đặt phễu lên giá, đáy phễu gắn với ống nghiệm chứa dung dịch định hình foocmon 4% Trong ống nghiệm có nhãn ghi đầy đủ ngày, tháng, địa điểm lấy mẫu
Thu mẫu :
Trong khoảng 5- 7 ngày đêm là có thể thu được các ống nghiệm ra khỏi phễu, dùng dây chun bó các ống nghiệm đã được nút bông có cùng tầng đất trong cùng sinh cảnh với nhau rồi cho vào bình miệng rộng có chứa formon 4% để bảo quản khi chưa phân tích [1],[2],[3]
Xử lí và phân tích Oribatida
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh bị sót mẫu Đến lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa petri
Trang 2415
và tiến hành phân tích dưới kính hiển vi Khi soi mẫu dưới kính hiển vi dùng
kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại 1 góc của đĩa petri,
nhận dạng và ghi số lượng từng nhóm vào sổ ghi Tất cả các mẫu phân tích
sau khi được TS Đào Duy Trinh kiểm tra, sẽ được đưa vào ống nghiệm nhỏ
có chứa dung dịch bảo quản, bên trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian sinh
cảnh tầng đất rồi nút lại băng bông (Vũ Quang Mạnh, 2003) [3]
Định loại Oribatida
Trước khi định loại cần phải tẩy mầu, làm trong vỏ kitin cứng Quá
trình này diễn ra trong vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra
một lam kính lõm Đưa lam kính lõm quan sát dưới kính hiển vi Dùng kim
chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lam men để quan sát các tư thế khác
nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại
Sau khi quan sát, định loại xong, tất cả các Oribatida đã được định tên
cùng sinh cảnh được chuyển vào ống nghiệm 5mm x 40mm có chứa dung
dịch formon 4% nút chặt bằng bông để bảo quản lâu dài Các loài trong một
giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân
loại, các khóa định loại của tác giả (Vũ Quang Mạnh, 2007) [4]
Trong đó: D : đô ̣ ưu thế
na: số lượng cá thể của loài a
n : tổng số cá thể của toàn bô ̣ mẫu theo sinh cảnh hay đi ̣a điểm
Chỉ số tương đồng thành phần loài J (Jaccard)