--- DOÃN THỊ THANH HƯƠNG MÔ TẢ MỘT SỐ LOÀI ƯU THẾ THUỘC 2 HỌ OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954 VÀ SCHELORIBATIDAE GRANDJEAN, 1953 Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 600M THUỘC VƯỜN QUỐC G
Trang 1-
DOÃN THỊ THANH HƯƠNG
MÔ TẢ MỘT SỐ LOÀI ƯU THẾ THUỘC 2 HỌ OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954
VÀ SCHELORIBATIDAE GRANDJEAN, 1953 Ở
HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 600M THUỘC VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Trang 2DOÃN THỊ THANH HƯƠNG
MÔ TẢ MỘT SỐ LOÀI ƯU THẾ THUỘC 2 HỌ OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954
VÀ SCHELORIBATIDAE GRANDJEAN, 1953 Ở
HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 600M THUỘC VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐÀO DUY TRINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của các đơn vị và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Các thầy cô trong tổ Động vật khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập và hoàn thành luận văn của mình
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Duy Trinh đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chu đáo và có hiệu quả trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Tôi xin trân trọng cảm ơn các học viên K16 đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận được đầy đủ hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Doãn Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong khóa luận này đều do tôi nghiên cứu, số liệu hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chƣa sử dụng để bảo vệ bất kỳ khóa luận nào
Tôi xin cam đoan mọi thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều chính xác và đƣợc ghi rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ, tạo điều kiện cho việc thực hiện luận văn đều đã đƣợc cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới 4
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Đối tượng nghiên cứu 9
2.2 Địa điểm nghiên cứu 9
2.3 Thời gian nghiên cứu: 5/2013 và 11/2013 9
2.4 Đặc điểm tự nhiên của Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình 10
2.4.1 Vị trí địa lý và địa hình 10
2.4.2 Khí hậu và thuỷ văn 11
2.4.3 Đất đai 11
2.4.4 Tài nguyên thực vật và động vật 11
2.4.5 Đặc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 13
2.5.1 Ngoài thực địa 13
2.5.2 Trong phòng thí nghiệm 13
2.5.3 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu 17
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 18
3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái Rừng tự nhiên độ cao 600m, thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình 18
Trang 63.1.1 Thành phần loài và phân bố của quần xã Oribatida ở hệ sinh thái Rừng tự nhiên độ cao 600 m, thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương,
Ninh Bình 18
3.1.2 Đặc điểm phân bố cu ̉a các loài Oribatida ở vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình 24
3.1.3 Bàn luận và nhận xét 27
3.2 Độ ƣu thế 28
3.2.1 Các loài Oribatida ưu thế theo đai cao khí hậu 28
3.2.2 Danh sách giống loài thuộc 2 họ Oppiidae Grandjean, 1954 và họ Scheloribatidae Grandjean, 1953 32
3.2.3 Bàn luận và nhận xét 33
3.3 Mô tả một số loài ƣu thế thuộc 2 họ Oppiidae Grandjean, 1954 và Scheloribatidae Grandjean, 1953 34
3.3.1 Mô tả họ Oppiidae Grandjean, 1954 34
3.3.2 Mô tả họ Scheloribatidae Grandjean, 1953 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH
Trang Bảng 2.1 Thống kê số liệu mẫu thu ở đô ̣ cao 600m thuô ̣c VQG Cúc
Bảng 3.1 Thành phần loài và sự phân bố Oribatida ở các tầng thảm
lá, tầng rêu và 2 tầng đất của RTN ở đô ̣ cao 600m thuô ̣c
Bảng 3.2 Nhƣ̃ng loài Oribatida ƣu thế trong sinh cảnh ở đai cao 600m
Bảng 3.3 Danh sách giống, loài thuộc họ Oppiidae Grandjean, 1954
và họ Scheloribatidae Grandjean, 1953 ở các tầng thảm lá,
tầng rêu và 2 tầng đất của RTN ở đô ̣ cao 600m thuô ̣c VQG
Biểu đồ 3.1: Cấu trúc ƣu thế của Oribatida ở đai cao trên 600m thuộc
Hình 2.2: Sơ đồ cấu trú c cơ thể và cấu ta ̣o các cơ quan của Oribatida
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng quốc gia Cúc Phương là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới ba khu vực Tây bắc, đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình và Thanh Hoá có
độ cao trung bình từ 400-500m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Mây Bạc 675m Tại đây hệ sinh thái rừng và thảm thực vật còn khá nguyên sinh mang đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới có nhiệt độ trung bình của mùa hè không có tháng nào trên 250C và mùa đông có nhiệt độ thấp dưới 00
C Nguồn tài nguyên sinh học của Vườn đã được nghiên cứu nhiều nhưng chủ yếu tập trung vào khu hê ̣ thực vâ ̣t và đô ̣ng vâ ̣t có xương sống và côn trùng Với vai trò chỉ thị, nhóm động vật chân khớp bé đã làm cơ sở khoa học cho việc quản
lý và khai thác bền vững tài nguyên đất ở hệ sinh thái rừng tự nhiên độ cao 600m thuộc VQG Cúc Phương, Ninh Bình
Trong quần xã động vật, quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) tham gia tích cực vào các quá trình hình thành đất , quyết định nhiều hoạt tính sinh học quan trọng của môi trường và có vai trò trong sự phân huỷ chất hữu cơ , trong chu trình chuyển hoá nitơ góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất Chúng là thành phần quan trọng tạo nên tính đa dạng sinh học của giới động vật , đồng thời mang truyền nhiều mầm bệnh gây ha ̣i trực tiếp cho cây trồng , vâ ̣t nuôi, con người và ký sinh trùng trong môi trường đất
Oribatida bao gồm những nhóm Ve bét đa da ̣ng phong phú nhất Ngoài tự nhiên chúng sống chủ yếu trong môi trường đất và các môi trường sống liên quan với hê ̣ sinh thái đất, như thảm lá rừng và xác vu ̣n thực vâ ̣t , trên thân cây hay lớp rêu bám trên thân cây , đất treo trên cành cây , trong tán lá cây xanh Đặc biệt nhóm Ve giáp Oribatida (Acari: Oribatida) cơ thể có vỏ cứng ,
Trang 10mật độ quần thể lớn , đa dạng về thành phần loài , đặc điểm phân bố rô ̣ng , dễ thu lượm, dễ nhâ ̣n da ̣ng , lại rất nhạy cảm với những biến đổi c ủa môi trường sống (Vũ Quang Mạnh, 2007) [4]
Họ Scheloribatidae Grandjean, 1953 bao gồm những đại diện Ve giáp
có kích thước cơ thể cỡ trung bình, với vỏ ki tin bao quanh cơ thể cứng vừa Oppiidae Grandjean, 1954 là họ ve giáp đa dạng nhất về số lượng cá thể, cũng như về số lượng loài Đại diện có thể gặp ở nhiều môi trường sống, trong đất đến trên thảm lá phủ, hay trong lớp thảm rêu bao quanh thân cây Do có sự phong phú và đa dạng lớn như vậy nên họ Oppiidae gần đây đang được chỉnh
lý và hoàn thiện
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
“Mô tả một số loài ưu thế thuộc 2 họ Oppiidae Grandjean, 1954 và Scheloribatidae Grandjean, 1953 ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 600m thuộc vườn quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, xây dựng lòng say mê học tập, làm tiền đề cho phục vụ giảng dạy và nghiên cứu sau này
Mô tả một số loài ưu thế thuộc 2 họ Oppiidae Grandjean, 1954 và Scheloribatidae Grandjean, 1953 ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 600m thuộc VQG Cúc Phương, Ninh Bình, từ đó thấy được vai trò của các loài ở mỗi sinh cảnh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc mô tả một số loài ưu thế thuộc 2 họ Oppiidae Grandjean, 1954 và Scheloribatidae Grandjean, 1953 ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 600m thuộc VQG Cúc Phương, Ninh Bình sẽ đánh giá được rõ vai trò của các loài ở mỗi sinh cảnh khác nhau
Trang 11Cung cấp dữ liệu khoa học, phục vụ nghiên cứu khoa học, công tác dự báo, kiểm soát, quản lí, khai thác du lịch và tài nguyên ở VQG
Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tham khảo có giá trị bổ sung những dẫn liệu mới cho soạn thảo nội dung giáo trình giảng dạy thuộc ngành sinh thái đất
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Trên thế giới, các nhóm động vật không xương sống nói chung và Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm Ở Đức, từ năm 1804 với công trình của Hermann J.F; Ở Ý từ năm 1876, 1877 với công trình của Canestrini G & Fanzago F … Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã mô tả khoảng 10000 loài và thực tế có thể lên đến 100000 loài [16]
Theo Balogh J và Balogh B (1992), số lượng giống Oribatida trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến 1000 giống chỉ trong 20 năm gần đây Thậm chí hiện nay ở Châu Âu, loài mới vẫn đc mô tả đều đặn hàng năm và ở Bắc Mĩ, khoảng 75% số loài của khu hệ Oribatida còn chưa được mô tả (Bechan – Pelletier and Bisett, 1993) hóa thạch đầu tiên của Oribatida được phát hiện trong trầm tích kỉ Devon, được bảo tồn cách đây ít nhất 380 triệu năm Nhưng nguồn gốc của nhóm này, niên đại có thể được suy đoán là cách ngày nay từ
400 – 440 triệu năm [9]
Nhóm Oribatida là một trong những nhóm động vật có số lượng áp đảo trong đất Chúng đóng một vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn trong đất thông qua điều tiết sự phân hủy các chất hữu cơ và vi sinh vật lan truyền trong đất Theo hiểu biết của chúng tôi, ảnh hưởng của các nhóm chức năng thực vật khác nhau trên oribatida chưa được nghiên cứu trong đất nông nghiệp bị
bỏ rơi với không bị xáo trộn trước Mật độ và cấu trúc của những loài oribatida trong chín sinh cảnh nơi bỏ hoang đất canh tác chỉ có cây cỏ liên quan đến độ tuổi trong ba môi trường sống (2-3, 6-8, 12-15 năm) và ba loài
Trang 13cây được lựa chọn (cây họ đậu: Medicago sativa, thực vật có hoa thân thảo cỏ: Taraxacum officinale, cỏ: Bromus sterilis) đã được nghiên cứu trong đất
gắn liền với loại thực vật duy nhất Mật độ ve giáp giảm nhẹ không đáng kể với độ tuổi môi trường sống vì sự phong phú cao của loài phổ biến
Tectocepheus velatus sarekensis và Punctoribates punctum ở giai đoạn trẻ và
trung niên và chúng suy giảm tiếp theo đất bỏ hoang lâu năm Mật độ Oribatida và tập hợp các loài không bị ảnh hưởng bởi các loài thực vật Chỉ có
loài P punctum có mật độ cao hơn loài B sterilis hơn loài T officinale Mô
hình tuyến tính khoảng cách dựa trên tiết lộ rằng 65% của sự biến đổi trong tập hợp ve giáp được giải thích bởi tính chất của đất, loại đất, trình bày và vị trí địa lý, trong khi tuổi tác môi trường sống có tầm quan trọng thứ yếu Phân tích tương ứng Canonical đã tiết lộ rằng tập hợp ve giáp được giải thích tốt nhất của đất hữu cơ và vi sinh vật carbon, hàm lượng nước và độ pH (Janet Wissuwa, Jörg-Alfred Salamon, Thomas Frank, 2013) [15]
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay quần
xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón… sử dụng trong nông nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị…
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị Nhưng ở Việt Nam thì hướng nghiên cứu về nhóm này mới chỉ bắt đầu ở thời gian gần đây
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đô ̣ng vâ ̣t chân khớp bé ở đất đã được nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỉ XX Ban đầu là các nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả ngoài kết hợp nghiên cứu cùng các nhóm sinh vâ ̣t khác
Trang 14Năm 1967, lần đầu tiên trong công trình “New Oribatid from Vietnam”, hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka S đã giới thiê ̣u khu hê ̣ , danh pháp ho ̣c và đă ̣c điểm phân bố của 33 loài Ve giáp, trong đó đã mô tả 29 loài, 4 giống mới cho khoa ho ̣c [10]
Các nghiên cứu về khu hệ và định loại Oribatida tập trung chủ yếu trong các công trình của các tác giả Vũ Quang Mạnh và cộng sự được công
bố từ năm 1990 tới nay ở trong và ngoài nước Đã đưa ra đặc điểm nhóm động vật Microarthropoda, đặc biệt là nhóm Oribatida có vỏ cơ thể cứng, mật
độ cơ thể lớn tương đối ổn định, thành phần loài phong phú, phân bố rộng, dễ dàng thu bắt nên chúng được chú ý như đối tượng nghiên cứu mẫu trong nhiều nghiên cứu sinh thái học, động vật hoặc phân vùng địa lý Bên cạnh đó, Microarthropoda có khả năng di cư nhanh và có số lượng lớn nên chúng là nhóm làm phân tán và lan truyền nhiều bệnh và giun sán ký sinh Chỉ riêng Oribatida đã có trên 60 loài là vật chủ trung gian của sán dây họ Anoplocepphaidae (Cestoda), ký sinh và gây bệnh cho gia súc Vũ Quang Mạnh (1990) đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam cho đến thời điểm đó Tác giả đã rút ra kết luận về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé, nêu lên một số quy luật sinh thái quyết sự hình thành cấu trúc của quần xã Oribatida ở đất Tác giả đã đưa ra danh sách 117 loài Oribatida đã biết ở Việt Nam cho đến thời điểm đó, cùng với đặc điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý, loại đất và hệ sinh thái [3],[6],[7]
Trên cơ sở các kết quả phân tích, tổng hợp về cấu trúc quần xã Oribatida theo sinh cảnh, theo mùa, theo đai cao khí hậu, theo độ sâu thẳng đứng của đất ở VQG Xuân Sơn, Phú Thọ, chúng tôi nhận thấy, nơi Oribatida
cư trú đều có ảnh hưởng hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp đến cấu trúc định tính, định lượng của quần xã Oribatida, trước hết vì chúng là một thành viên đầy
Trang 15đủ của hệ sinh thái đất của VQG Xuân Sơn, Phú Thọ, là một mắt xích trong chuỗi vận chuyển vật chất, năng lượng của hệ, sau nữa, đó là sự thể hiện của quy luật chọn lọc tự nhiên: khi điều kiện sống thay đổi, mọi sinh vật sống trong môi trường đó đều phải tự điều chỉnh, tự biến đổi để thích nghi với các điều kiện sống mới Có như thế, chúng mới có thể tồn tại, sinh trưởng và phát triển Từ kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi cho rằng quần xã Oribatida
có thể được xem như một yếu tố chỉ thị cho sự biến đổi của sinh cảnh sống và của sự biến đổi theo tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất khi phân tích
sự biến đổi các giá trị định tính, định lượng của chúng ở khu vực nghiên cứu
(Đào Duy Trinh, Vũ Quang Mạnh, 2013) [5]
Vườn Quốc gia Tam Đảo đai cao trên 700m ghi nhận được 15 loài và 16 loài thuộc bộ Oribatida ưu thế chung cho cả 4 tầng phân bố và 12 loài ưu thế trong các tầng sâu của hệ sinh thái đất, trong đó có 5 loài ưu thế chung cho
tầng đất là Perxylobates vietnamensis, Sphodrocepheus tuberculatus,
Eremella vestita, Peloribates pseudoporosus, Phyllhermannia similis Các chỉ
số định lượng của Oribatida (Số loài, MĐTB, H‟,J‟) có sự khác biệt giữa 2 đai cao: Đai cao 700-900m (S=17; S1=73; MĐTTB= 4520; H‟= 3,2277; J‟= 0,904); Đai cao 900 - 1252m (S=19; S1=90; MĐTTB= 5480; H‟= 2,348; J‟= 0,8162) (Đào Duy Trinh, Tạ Mạnh Cường, 2014) [8]
Nghiên cứu về Ve giáp trên thế giới đã được thực hiện từ rất lâu và được tiến hành cơ bản trên nhiều lĩnh vực, từ nghiên cứu về khu hệ (hệ thống học và chủng loại phát sinh, đa dạng thành phần loài, mô tả loài mới, đặc điểm phân bố, các loài phổ biến và ưu thế), đến các nghiên cứu về sinh học, sinh thái học Các nghiên cứu đều đã chỉ rõ ve giáp là nhóm động vật rất nhạy cảm với sự thay đổi môi trường và cũng chỉ ra khả năng chỉ thị cho mức độ ô nhiễm môi trường đất dưới tác động của con người Tuy nhiên, các nghiên
Trang 16cứu đa dạng thành phần loài, chỉ số đa dạng, giá trị đồng đều, các loài ưu thế theo các mùa ở các sinh cảnh ở Việt Nam còn mới mẻ
Việt Nam là một hệ quả tổng hòa của các quá trình tự nhiên, nhưng tình hình cụ thể của từng mùa và từng tháng có ảnh hưởng sâu sắc do cơ chế do mùa mang lại Cả nước có sự tương phản giữa mùa khô và mùa mưa Mùa mưa ứng với gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 10, còn mùa khô ứng với gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 Việc nghiên cứu về ve giáp ở khu
hệ rừng theo mùa khô và mưa mới chỉ tập chung chủ yếu về danh sách loài ở một số điểm nghiên cứu và được tiến hành rải rác trong thời gian ngắn
Những nghiên cứu về Chân khớp bé ở Viê ̣ t Nam cho thấy : viê ̣c nghiên cứu Microarthropoda đã đề câ ̣p mô ̣t cách toàn diê ̣n và có hê ̣ thống với kết quả cao Tuy nhiên các kết quả đa ̣t được mới chỉ là những bước đi đi ̣nh hướng ban đầu Để tìm hiểu thấu đáo vai trò của nhóm động vật Chân khớp bé sống trong môi trường đất , để đưa Microarthropoda ứng dụng vào lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì viê ̣c nghiên cứu Chân khớp bé cần được đẩy ma ̣nh nghiên c ứu trong những năm tiếp theo
Trang 17Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi nghiên cứu về các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda), của Giới
Động vật (Animalia)
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành ở Vườn Quốc gia Cúc Phương tỉnh Ninh Bình với sinh cảnh rừng tự nhiên ở độ cao 600m và PTN Động vật học, Trường ĐHSPHN2
2.3 Thời gian nghiên cứu: 5/2013 và 11/2013
Chúng tôi tiến hành lấy mẫu trên các sinh cảnh như ở bảng dưới theo
Trang 182.4 Đặc điểm tự nhiên của Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình
2.4.1 Vị trí địa lý và địa hình
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm ở phía Tây tỉnh Ninh Bình, cách quốc
lộ 1A 30 km và cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Nam Vườn quốc gia Cúc Phương nằm ở tận cùng phía Đông Nam của dãy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đoạn núi đá vôi thuộc Cúc Phương có chiều dài 25 km, rộng 10 km với tọa độ địa lý:
- Từ 20014'đến 200
24' vĩ độ Bắc
- Từ 105029' đến 105044' kinh độ Đông
Diện tích VQG nằm trong phần đất của 13 xã, trong đó:
- 8 xã của 2 huyện Lạc Sơn và Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- 2 xã của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- 3 xã của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
+ Phía Đông Nam và Nam giáp xã Yên Quang, Văn Phương, Cúc Phương và Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
+ Phía Tây Nam và Tây Bắc giáp các xã Thạch Lâm, Thành Mỹ, Thành Yên huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
2.4.1.2 Địa hình
Dãy núi đá vôi Cúc Phương là phần cuối của khối núi đá vôi chạy từ Sơn
La về theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ chênh cao trung bình so với mặt biển 400 - 450 m, cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656 m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương có sông Bưởi cắt qua Vườn phía Tây Bắc, còn lại có nhiều suối cạn xuất hiện theo mùa mưa dạng núi đá vôi tương đối điển hình, ngoài ra còn có các hang động, mắt hút nước, dòng chảy ngầm
Trang 192.4.2 Khí hậu và thuỷ văn
*Khí hậu
Số liệu thu thập tại trạm khí tượng Cúc Phương trong thời gian từ năm 1992 -
2002 cho chúng ta những đánh giá mới về khí hậu ở đây
Trong khu vực Cúc Phương nhiệt độ bình quân năm 22,50
C, dao động
từ 15,80C đến 32,20
C Nhìn chung độ ẩm không khí ở Cúc Phương là cao, độ ẩm tương đối trung bình năm 84,8% Độ ẩm tương đối cao nhất thường vào những tháng đầu năm (tháng 1 - 4) và khô nhất thường rơi vào tháng cuối năm (tháng 10 - 12)
Lượng mưa trung bình đo được trong 10 năm trở lại đây 1680,8mm/năm Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 89,1% lượng mưa cả năm Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chiếm 10,9% lượng mưa cả năm Mưa ít cộng với nhiệt
độ thấp làm cho khí hậu Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông
*Thuỷ văn
Do địa hình núi đá vôi nên ở Cúc Phương ít có dòng chảy trên bề mặt Trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía Tây Bắc, còn lại các khe nước cạn có nước theo mùa
Trang 20Khu hệ bò sát: có 76 loài, 15 họ, 2 bộ
Khu hệ chim: 336 loài, 28 họ, 8 bộ
Trong số đó, có nhiều loài động vật đặc hữu, chỉ có ở Cúc Phương như:
cá Niết hang, Sóc bụng đỏ, Chàng Mẫu Sơn …cùng nhiều loài động vật quý hiếm có tên trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới như: Báo gấm, Báo lửa, Gấu ngựa, Rùa núi vàng, Rắn hổ chúa, Kỳ đà hoa, Rồng đất
Động vật không xương sống có 1899 loài thuộc 169 họ, 33 bộ, 6 lớp và
3 ngành
2.4.4.2 Tài nguyên thực vật
Đến thời điểm hiện nay, thực vật bậc cao ở Cúc Phương đã thống kê được
2427 loài, thuộc 1007 chi, 223 họ, có 52 loài cây quý hiếm có trong danh sách
đỏ Việt Nam (2007) và trong danh lục đỏ thế giới Đặc biệt còn có những cây rất lớn như cây Chò ngàn năm, cây Sấu cổ thụ, cây Đăng, cây Vù hương là nơi thu hút khách du lịch đến tham quan
2.4.5 Đặc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế
2.4.5.1 Dân tộc, dân số
- Dân tộc
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm trong diện tích của 13 xã gồm hai dân tộc sinh sống chủ yếu, dân tộc Mường chiếm 76,6% tổng số nhân khẩu trong khu vực, còn lại là dân tộc Kinh chiếm 23,4%
- Dân số
Số liệu điều tra tháng 8 năm 2009 tại 15 xã vùng đệm VQG Cúc Phương tính đến ngày 31/12/2008 Tổng số nhân khẩu trong các xã là 74.118 người với 17.028 hộ gia đình Trong số đó có cả dân cư đang sinh sống tại 8 Bản trong VQG là 2422 người với 481 hộ gia đình
2.4.5.2 Sản xuất kinh tế
Số người trong độ tuổi lao động 15 xã vùng đệm là 38.753 người chiếm
Trang 2152,28% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 54,12%
Về cơ cấu lao động trong thành phần kinh tế, lao động trong ngành Nông - Lâm nghiệp chiếm 91,85% tổng số lao động, còn lại là lao động các ngành kinh tế khác
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Ngoài thực địa
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất , tầng rêu và thảm lá , định lượng theo các sinh cảnh nghiên cứu khu hệ và thu lặp lại 2 lần (lần thứ nhất thu mẫu là 18/5/2013 và lần 2 là 9/11/2013) Đối với mẫu đất được lấy ở độ sâu 0-10cm và 10-20cm với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x10cm, diện tích bề mă ̣t tương ứng 25cm2
theo ô tiêu chuẩn Đối với thảm lá rừng phủ mặt đất, chúng tôi tiến hành gom tất cả lá mục, cành cây, xác hữu cơ phủ trên mặt đất
có diện tích (20cm x 20cm, sau đó tính trung bình để biết trên 1m2 diện tích thảm lá rừng là bao nhiêu loài Đối với các mẫu thảm rêu mẫu định lượng là
từ 200 - 300 gram rêu bám trên thân cây gỗ rừng, xác vụn thực vật ở trên mặt đất từ 0 + 100 cm trên mặt đất Các mẫu này đều cân trọng lượng mỗi mẫu và tính trung bình theo kg
Tất cả các mẫu thu được ở thực địa được cho ngay vào túi nilon riêng, bên trong có ghi những thông số cần thiết (ngày tháng lấy mẫu, sinh cảnh, trọng lượng ) rồi buộc chặt lại
Trang 22động vật đất, trong thời gian 7 ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm
Để xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vật thu được nhờ phễu “Berlese- Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩa petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung dịch định hình là formaldehyt 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy
đủ ngày thu mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vật được bảo quản tại Phòng Động vật, Khoa Sinh-KTNN, Đại học sư phạm Hà Nội 2
*Đặc điểm hình thái phân loại
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida
(Vũ Quang Mạnh, 2007) [4]
Camerostoma là khoang che đôi kìm và phụ miệng
Prosoma là phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và
IV.Proterosoma là phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước
Hysterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp sinh
dục (G) và 2 đôi chân sau
Trang 23Prodorsum là tấm giáp đầu ngực;
Notogaster là tấm giáp lưng
Gnathosoma là phần hàm miệng
Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II
Metapodosoma là phần thân giữa mang đôi chân III và IV
Podosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân
sinh du ̣c
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu ta ̣o các cơ quan
của Oribatida bậc cao (Vũ Quang Mạnh, 2007) [4]
ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, lm: Lông rostrum; tấm lamella
le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus
Bothridium: Gốc của lông sensilus
Trang 24Exa và Exp: Lông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothridium
tutorium: Tấm ki tin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella
cuspis: phần đỉnh của tấm lamela chìa lên bề mặt cơ thể
prolamela: Phần tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt cơ
thể.c1, c2, c3, cp, d1, d2, e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps2, ps3: Các lông
notogaster ở ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới miệng; 1a, 1b, 1c, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1, 2, 3 và
4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: Các mấu lồi trong apodemes; ep1,
ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ epimeres của gốc chân; pd1, pd2, pd3, pd4: Các
tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: Các khe cắt lyrifissures.G, AG: Giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: Các
lông sinh dục và lông quanh sinh dục
* Định loại Oribatida
Mẫu Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong
vỏ kintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ
bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm dưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng
và bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát , ta chuyển sang ở kính hiển vi Sau đó đi ̣nh loa ̣i theo tác giả Vũ Quang Ma ̣nh, 2007
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh, tất cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hình bằng formol 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt
Trang 25Doãn Thị Thanh Hương 17 K38B Sinh - KTNN
chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formol 4% để bảo quản lâu dài
Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều
đƣợc TS, Đào Duy Trinh kiểm định lại
2.5.3 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu
Phân tích độ ƣu thế (D) tính theo công thức:
N - tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay theo địa điểm
Độ ƣu thế đƣợc phân ra làm 4 mƣ́c sau:
D > 10,00% là loài rất ƣu thế
D tƣ̀ 5-9,99% là loài ƣu thế
D tƣ̀ 2-4,99% là loài ƣu thế tiêm tàng
D < 2,00% là loài không ƣu thế
Trang 26Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái Rừng tự nhiên độ cao 600m, thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình
3.1.1 Thành phần loài và phân bố của quần xã Oribatida ở hệ sinh thái Rừng tự nhiên độ cao 600 m, thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình
Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu ở tầng thảm lá , tầng thảm rêu và hai độ sâu tầng đất (0-10cm, 11-20cm) Sau hai đợt thu mẫu (đợt 1: tháng 5 năm
2013 và đợt 2 vào tháng 11 năm 2013) chúng tôi đã tiến hành tách lo ̣c và đi ̣nh loại dưới sự giám sát của TS Đào Duy Trinh , kết quả đã ghi nhâ ̣n được 62 loài, 45 giống và 27 họ Trong đó, 14 họ có 1 loài (Họ Phthiracarida Perty, 1841; Họ Oribotritiidae grandjean, 1954; Họ Euphthiracaridae Jacot , 1930;
Trhyppochthonidae Wi llmann, 1931; Họ Cepheidae berllese, 1896; Họ
Eremobelbidae Balogh, 1961; Họ Peloppiidae Balogh, 1943; Họ Carabodidae
C L Koch, 1837; Họ Suctobelbidae Jcot, 1938; Họ Cymbaeremaeidae
Sellnick, 1928; Họ Achipteridae Thor, 1929) chiếm 51,85%; 7 họ có 2 loài
(Họ Astegistidae Balogh, 1961; Họ Otocepheidae Balogh, 1961; Họ Eremellidae Balogh, 1961; Họ Mochlozetidae Grandjean, 1960; Họ Oribatulidae thor, 1929; Họ Ceratozetidae Jacot, 1925; Họ Austrachipteriidae
luxton, 1985) chiếm 25,92%; 1 họ có 3 loài (Họ Oripodidae Jacot, 1925)
chiếm 3,7%; 2 họ có 4 loài (Họ Haplozetidae Grandjean, 1936; Họ
Galumnidae Jacot, 1925) chiếm 7,4%; 1 họ có 7 loài (Họ Xylobatidae J Balogh et P Balogh, 1984) chiếm 3,7%; 2 họ có 8 loài (Họ Oppiidae Grandjean, 1954; Họ Scheloribatidae Grandjean, 1953) chiếm 7,4%
Trang 27Trong số các loài đã ghi nhâ ̣n có 8 loài chƣa đƣợc định tên bao gồm :
Microtegeus sp., Cultroribula sp., Fissicepheus sp., Eremella sp., Pulchroppia sp., Xylobates sp., Cordiozetes sp., Peloribates sp
Thành phần loài Oribatida đƣợc sắp xếp trong bảng 3.1 theo hệ thống phân loa ̣i của Vũ Quang Ma ̣nh, 2007 và Balogh J et al, 1992
Bảng 3.1 Thành phần loài và sự phân bố của Oribatida ở các tầng thảm
1931
1963
Trang 286 Sphodrocepheu stuberculatus Mahunka,
1988
Mahunka, 1967
x
Trang 2916 Eremella vestita Berlese, 1913 x x x
1988)
x
Mahunka, 1967)
1928
1960
Trang 3028 Unguizetes clavatus Aoki, 1967 x x
1967
Mahunka, 1967
Mahunka, 1968)
Mahunka, 1967
x
Trang 3140 Peloribates sp x
1953
Trang 32XXV AUSTRACHIPTERIIDAE LUXTON,
1985
Trong số 62 loài đã phát hiện trong sinh cảnh RTN ở độ cao 600m thuộc
VQG Cúc Phương , tỉnh Ninh Bình có 21 loài (Hoplophorella cuneiseta Mahunka, 1988; Indotritia completa Mahunka, 1987; Sphodrocepheus
tuberculatus Mahunka, 1988; Eremobelba capitata Berlese, 1912; Cultroribula lata Aoki, 1961; Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967; Fissicepheus elegans Balogh et Mahunka, 1967; Lasiobelba remota Aoki,