MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trên thế giới, bọ phấn trắng (hay còn gọi là rầy phấn trắng) Aleurocybotus indicus David & Subramaniam lần đầu được tìm thấy tại Satara, Ấn Độ năm 1966 (Alam, 1989); chúng được xác định là dịch hại chính trên lúa ở Fanaye và N Diaye, Senegal và ở Niger năm 1977 và có thể làm thất thu năng suất đến 80% (Abdou, 1992). Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như chưa tìm thấy tài liệu về các biện pháp phòng trừ bọ phấn trắng A. indicus hại lúa. Tuy nhiên, có vài ghi nhận trên một số loài khác như loài Aleurodicus dispersus có tỷ lệ tử vong gia tăng đáng kể ở nhiệt độ từ 40 - 45 o C đối với ấu trùng và ở 35 40 o C đối với thành trùng (Cherry, 1979); Loài Bemisia tabaci xuất hiện và phát triển trong phạm vi nhiệt độ từ 10 - 32 o C và nhiệt độ tối ưu cho chúng phát triển là 27 C (Gerling, 1986); Đối với loài Trialeurodes vaporariorum hại cà chua thì điều kiện tối hảo cho sự phát triển của chúng là 20 đến 25 o C, ngừng phát triển ở nhiệt độ dưới 8 o C và ngừng đẻ trứng ở nhiệt độ dưới 7 o C. Nhiệt độ trên 30 o C không thích hợp cho T. vaporariorum phát triển và ngừng hoạt động ở nhiệt độ trên 35 C (Caciagli, 2007). Đối với nguồn thức ăn thì ngoài cây lúa là ký chủ chính, bọ phấn trắng A. indicus cũng được tìm thấy trên hai loài cỏ là Lục lông Chloris barbata Sw. và Chân gà Dactyloctenium aegyptium L. Willdenow ở Ấn Độ (Heinrichs và Barrion, 2004). Bọ phấn trắng bị rất nhiều loài thiên địch tấn công gồm các loài ong ký sinh, vi sinh vật gây bệnh và các loài bắt mồi ăn thịt. Trong đó thiên địch chính của bọ phấn trắng là các loài ong Encarsia, Eretmocerus thuộc họ Aphelinidae và các loài bọ rùa ăn thịt. Bọ phấn trắng A. indicus thường bị ký sinh bởi một số đại diện của các chi Encarsia như E. japonica, E. sophia và E. transvena (Martin, 2005; Schauff và ctv., 1996). o o
Trang 1VÕ THỊ BÍCH CHI
NGHIÊN C ỨU XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI, QUY LUẬT PHÁT SINH, GÂY HẠI VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP
BỌ PHẤN TRẮNG HẠI LÚA (HEMIPTERA: ALEYRODIDAE)
TẠI HAI TỈNH LONG AN VÀ AN GIANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
C ẦN THƠ - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VI ỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-VÕ THỊ BÍCH CHI
NGHIÊN C ỨU XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI, QUY LUẬT PHÁT SINH, GÂY HẠI VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP
BỌ PHẤN TRẮNG HẠI LÚA (HEMIPTERA: ALEYRODIDAE)
TẠI HAI TỈNH LONG AN VÀ AN GIANG
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 62.62.01.12
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Nguyễn Thị Lộc
2 TS Bùi Thị Thanh Tâm
C ẦN THƠ - 2016
Trang 3CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Tôi xin cam đoan công trình “Nghiên cứu xác định thành phần loài, quy luật phát sinh, gây hại và biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa (Hemiptera: Aleyrodidae) tại hai tỉnh Long An và An Giang” là của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình, luận án nào trước đây.
Tác giả luận án
Võ Thị Bích Chi
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Lúa ĐBSCL đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.
Phòng quản lý Khoa học và Đào tạo sau đại học Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Viện Lúa ĐBSCL đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành các chương trình, thủ tục trong quá trình đào tạo.
TS Nguyễn Thị Lộc, TS Bùi Thị Thanh Tâm đã tận tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án.
Quý thầy, cô tham gia giảng dạy lớp nghiên cứu sinh khoá 2011 - 2015 đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức khoa học trong suốt khóa học.
Tiến sĩ A T Barrion, chuyên gia phân loại côn trùng, Viện nghiên cứu lúa quốc tế đã định danh xác định tên khoa học bọ phấn trắng hại lúa.
Uỷ ban nhân dân các xã cùng bà con nông huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện các thí nghiệm
và phối hợp thực hiện mô hình.
Các bạn đồng nghiệp trong Bộ môn Bảo vệ thực vật - Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài luận án.
Gia đình và bạn bè thân hữu đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong suốt thời qua.
Võ Th ị Bích Chi
Trang 5Aleurocybotus indicus David & Subramaniam, thuộc bộ cánh nửa (Hemiptera), họ
Aleyrodidae và có kiểu biến thái không hoàn toàn Vòng đời của bọ phấn trắng trung bình 21,93 ± 0,23 ngày (T = 29,4 ± 1,2oC, RH = 79,3 ± 7,9 %), gồm 3 giai đoạn: thành trùng, trứng và ấu trùng, trong đó ấu trùng có 4 tuổi và ấu trùng tuổi 4 được gọi là nhộng giả Đặc biệt, chúng có khả năng sinh sản đơn tính và cho ra thế hệ sau với 100% thành trùng đực.
Bọ phấn trắng phát triển tốt khi nuôi thử nghiệm ở nhiệt độ 30oC Cỏ Lục lông Chloris barbata Sw là ký chủ phụ của bọ phấn trắng Bước đầu đã xác định được bọ rùa 8 chấm Harmonia octomaculata Fabricus và bọ rùa đỏ Micraspis discolors Fabricus là thiên địch bắt mồi của thành trùng bọ phấn trắng và ong Encarsia transvena Timberlake là thiên địch
ký sinh bọ phấn trắng Ấu trùng bọ phấn trắng chỉ chích hút nhựa lá làm cho lá bị vàng, trong khi thành trùng bọ phấn trắng có thể làm xoăn một phần lá hay làm cho lá lúa bị co rút và xoắn chặt Tuy nhiên, chưa phát hiện virus trong những cây có triệu chứng xoắn lá Thí nghiệm lây nhiễm thành trùng bọ phấn trắng trên lúa OM4900 và nếp IR4625 với mật
số 30 - 40 con/dảnh ở 30NSS đã ảnh hưởng đến năng suất lúa và có thể làm giảm năng suất đến 23 - 31% khi lây nhiễm với mật số 60 con/dảnh Đã chọn ra được thuốc sinh học
M.a(1,2x109 bt/g), B.b(1,5x109 bt/g) sử dụng đơn hoặc phối trộn có hiệu lực trừ bọ phấn trắng từ 66,0 - 66,8% và chưa thấy ảnh hưởng đến ong ký sinh của bọ phấn trắng Thuốc gốc Abamectin 1.8% và Pymetrozine 500g/kg có hiệu lực trừ bọ phấn trắng cao và ít ảnh hưởng đến thiên địch trong ruộng lúa Kết quả của đề tài đã chọn ra được một số biện pháp
để quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hiệu quả như sử dụng giống lúa ít nhiễm bọ phấn trắng (OM4218 và nếp IR4625), sạ hàng 120 kg/ha, trồng hoa quanh bờ ruộng để thu hút thiên địch, bón phân cân đối, sử dụng thuốc sinh học hoặc hóa học chọn lọc để quản lý khi xuất hiện bọ phấn trắng.
Trang 6M ỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
CỦA ĐỀ TÀI
4
1.2 Thành ph ần loài và khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế
gi ới và Việt Nam
5
1.2.2 Khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới và Việt Nam 6 1.2.2.1 Khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới 6 1.2.2.2 Khả năng gây hại của bọ phấn trắng tại Việt Nam 11
Trang 71.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài bọ phấn trắng phổ
bi ến ở Việt Nam và trên thế giới
1.4.2 Tương tác giữa bọ phấn trắng và cây trồng 24 1.4.3 Thành phần thiên địch của bọ phấn trắng 24
1.6 Đặc tính một số loại thuốc bảo vệ thực vật dùng trong thí nghiệm 29
2.1 Th ời gian địa điểm và đối tượng nghiên cứu 38
2.3.1 Nghiên cứu xác định thành phần loài, đặc điểm sinh học và
sinh thái của bọ phấn trắng hại lúa
Trang 82.4 Phương pháp nghiên cứu 41 2.4.1 Nghiên cứu xác định thành phần loài, đặc điểm sinh học và
sinh thái của bọ phấn trắng hại lúa
41
2.4.1.1 Xác định thành phần loài, đặc điểm hình thái và sinh
học của bọ phấn trắng hại lúa
2.4.3.2 Đánh giá hiệu lực của thuốc sinh học và hóa học đối với
bọ phấn trắng hại lúa và ảnh hưởng của thuốc đến thiên địch của chúng
64
Trang 9CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 67
3.1 Thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái và khả năng gây
h ại của bọ phấn trắng hại lúa
3.1.2 Ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái đối với bọ phấn
3.1.2.4 Nghiên cứu ong ký sinh bọ phấn trắng hại lúa 89
3.2 Nghiên c ứu quy luật phát sinh, gây hại của bọ phấn trắng hại lúa 94
3.2.1 Khảo sát mức độ gây hại của bọ phấn trắng hại lúa tại hai
102
3.2.2 Phương thức gây hại và mức độ gây hại của bọ phấn trắng 104
Trang 10hại lúa
3.2.2.1 Phương thức gây hại của bọ phấn trắng hại lúa 104 3.2.2.2 Mức độ gây hại của bọ phấn trắng hại lúa trong điều kiện nhà lưới
109
3.2.2.3 Mức độ gây hại của bọ phấn trắng hại lúa ở điều kiện ngoài đồng
112
3.3 Nghiên c ứu các biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa 116
3.3.1 Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đến quy luật phát sinh c ủa bọ phấn trắng hại lúa
3.3.2 Hi ệu lực của thuốc sinh học và hóa học đối với bọ phấn
tr ắng hại lúa và ảnh hưởng của thuốc đến thiên địch của chúng
134
Trang 113.3.3 Nghiên cứu các biện pháp để bảo tồn, gia tăng tập hợp thiên
địch của sâu hại lúa
140
3.3.3.1 Kết quả nghiên cứu trong vụ Đông Xuân 2013-2014 140 3.3.3.2 Kết quả nghiên cứu trong vụ Hè Thu 2014 144
3.4 Xây d ựng mô hình áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp bọ
phấn trắng hại lúa có hiệu quả tại hai tỉnh Long An và An Giang
Trang 12DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ch ữ viết tắt Ch ữ viết đầy đủ
Trang 13DANH M ỤC BẢNG
3.1 Kích thước và thời gian phát triển của bọ phấn trắng hại lúa 67
3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát triển các pha phát dục
và vòng đời của bọ phấn trắng hại lúa
76
3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng sinh sản và tỷ lệ phát triển
của bọ phấn trắng hại lúa
77
3.5 Ảnh hưởng của cây ký chủ đến khả năng sinh sản và tỷ lệ phát
triển của bọ phấn trắng hại lúa
3.10 Ảnh hưởng của mật số bọ phấn trắng đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất lúa OM4900
110
3.11 Ảnh hưởng của mật số bọ phấn trắng đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất nếp IR4625
111
3.12 Ảnh hưởng của mật số bọ phấn trắng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất lúa OM4900 ở vụ Đông Xuân 2012 - 2013
112
3.13 Ảnh hưởng của mật số bọ phấn trắng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất lúa OM4900 ở vụ Hè Thu 2013
113
3.14 Ảnh hưởng của mật số bọ phấn trắng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất nếp IR4625 ở vụ Đông Xuân 2013 - 2014
114
3.15 Ảnh hưởng của mật số bọ phấn trắng đến các yếu tố cấu thành 115
Trang 14năng suất và năng suất nếp IR4625 ở vụ Hè Thu 2014
3.16 Biến động mật số bọ phấn trắng hại lúa ở các mức phân bón khác
nhau trên giống lúa OM4900
3.19 Mật số bọ phấn trắng trên giống lúa OM4900 ở các nghiệm thức
quản lý rơm rạ khác nhau
3.26 Hiệu lực của thuốc trừ sâu thế hệ mới và thuốc trừ sâu hóa học đối
với bọ phấn trắng hại lúa (Nhà lưới)
134
3.27 Hiệu lực của thuốc trừ sâu thế hệ mới và thuốc trừ sâu hoá học đối
với bọ phấn trắng hại lúa vụ Đông Xuân 2013 - 2014
136
3.28 Hiệu lực của thuốc trừ sâu thế hệ mới và thuốc trừ sâu hoá học đối
với bọ phấn trắng hại lúa vụ Hè Thu 2014
137
3.29 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thế hệ mới và thuốc trừ sâu hóa học
đến ong ký sinh bọ phấn trắng vụ Đông Xuân 2013 - 2014
138
Trang 153.30 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thế hệ mới và thuốc trừ sâu hoá học
đến ong ký sinh bọ phấn trắng vụ Hè Thu 2014
139
3.31 Ảnh hưởng của các biện pháp bảo tồn đến biến động mật số rầy
nâu và bọ phấn trắng hại lúa vụ Đông Xuân 2013 - 2014
141
3.32 Ảnh hưởng của các biện pháp bảo tồn đến biến động mật số thiên
địch tổng số và ong ký sinh bọ phấn trắng vụ Đông Xuân 2013
-2014
143
3.33 Ảnh hưởng của các biện pháp bảo tồn đến biến động mật số rầy nâu
và bọ phấn trắng hại lúa vụ Hè Thu 2014
145
3.34 Ảnh hưởng của các biện pháp bảo tồn đến biến động mật số thiên
địch tổng số và ong ký sinh bọ phấn trắng vụ Hè Thu 2014
3.37 Biến động mật số thiên địch của sâu hại lúa ở mô hình thực
nghiệm tại Thạnh Hoá – Long An trong vụ Đông Xuân 2014
-2015
149
3.38 Hiệu quả kinh tế của mô hình quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại
lúa tại Thạnh Hóa - Long An trong vụ Đông Xuân 2014 - 2015
150
3.39 Biến động mật số bọ phấn trắng trên giống lúa OM4218 ở mô hình
thực nghiệm tại Thoại Sơn – An Giang trong vụ Đông Xuân
2014-2015
152
3.40 Biến động mật số thiên địch của sâu hại lúa ở mô hình thực
nghiệm tại Thoại Sơn – An Giang trong vụ Đông Xuân 2014
-2015
153
3.41 Hiệu quả kinh tế của mô hình quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại
lúa tại Thoại Sơn - An Giang trong vụ Đông Xuân 2014 - 2015
154
Trang 16DANH M ỤC HÌNH
1.1 Các giai đoạn phát triển của Aleurodicus dispersus Russell 13 1.2 Các giai đoạn phát triển của Bemisia tabaci Gennadius 16 1.3 Các giai đoạn phát triển của Aleurocybotus occiduus Russell 17 1.4 Râu và chân thành trùng Aleurocybotus indicus David &
lúa trong nhà lưới
51
2.6 Bố trí thí nghiệm đánh giá khả năng gây hại của bọ phấn trắng hại
lúa ở điều kiện ngoài đồng
52
2.7 Ống nhựa dùng để đo mực nước trong ruộng thí nghiệm 54
3.7 Thành trùng và ấu trùng bọ rùa 8 chấm H octomaculata 86 3.8 Thành trùng và ấu trùng bọ rùa đỏ M discolor 89 3.9 Ong Encarsia transvena Timberlake ký sinh bọ phấn trắng 90 3.10 Biểu đồ Biến động mật số ong ký sinh bọ phấn trắng tại Long An
trong vụ Đông Xuân 2012 - 2013
91
Trang 173.11 Biểu đồ Biến động mật số ong ký sinh bọ phấn trắng tại Long An
trong vụ Hè Thu 2013
92
3.12 Biểu đồ Biến động mật số ong ký sinh bọ phấn trắng tại An Giang
trong vụ Đông Xuân 2012 - 2013
92
3.13 Biểu đồ Biến động mật số ong ký sinh bọ phấn trắng tại An Giang
trong vụ Hè Thu 2013
93
3.14 Biểu đồ Biến động mật số ong ký sinh bọ phấn trắng tại An Giang
trong vụ Thu Đông 2013
94
3.15 Biểu đồ Biến động mật số bọ phấn trắng hại lúa tại huyện Thạnh
Hoá - tỉnh Long An trong năm 2012
96
3.16 Biểu đồ Biến động mật số bọ phấn trắng hại lúa tại huyện Thạnh
Hoá - tỉnh Long An trong năm 2013
97
3.17 Biểu đồ Biến động mật số bọ phấn trắng hại lúa tại huyện Thoại
Sơn - tỉnh An Giang trong năm 2012
99
3.18 Biểu đồ Biến động mật số bọ phấn trắng hại lúa tại huyện Thoại
Sơn - tỉnh An Giang trong năm 2013
100
3.19 Biểu đồ Mật số bọ phấn trắng ở các giai đoạn sinh trưởng của một
số giống lúa phổ biến vụ Đông Xuân 2013-2014
103
3.20 Biểu đồ Mật số bọ phấn trắng ở các giai đoạn sinh trưởng của một
số giống lúa phổ biến vụ Hè Thu 2014
104
3.21 Triệu chứng gây hại của ấu trùng bọ phấn trắng 105 3.22 Triệu chứng xoắn lá lúa do thành trùng bọ phấn trắng gây hại 106 3.23 Bông bị nghẹn do thành trùng bọ phấn trắng gây hại 107 3.24 Kết quả kiểm tra cây lúa có triệu chứng xoắn bằng Iodine 10% 108 3.25 Biểu đồ Ảnh hưởng của chế độ tưới tiêu đến mật số bọ phấn trắng
trên giống lúa OM4900
118
3.26 Ấu trùng bọ phấn trắng bị nhiễm nấm xanh Metarhizium
anisopliae
128
Trang 18M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, bọ phấn trắng (hay còn gọi là rầy phấn trắng) Aleurocybotus
indicus David & Subramaniam lần đầu được tìm thấy tại Satara, Ấn Độ năm 1966
(Alam, 1989); chúng được xác định là dịch hại chính trên lúa ở Fanaye và N Diaye, Senegal và ở Niger năm 1977 và có thể làm thất thu năng suất đến 80% (Abdou, 1992) Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cũng
như chưa tìm thấy tài liệu về các biện pháp phòng trừ bọ phấn trắng A indicus hại lúa Tuy nhiên, có vài ghi nhận trên một số loài khác như loài Aleurodicus dispersus
có tỷ lệ tử vong gia tăng đáng kể ở nhiệt độ từ 40 - 45oC đối với ấu trùng và ở 35
-40oC đối với thành trùng (Cherry, 1979); Loài Bemisia tabaci xuất hiện và phát triển
trong phạm vi nhiệt độ từ 10 - 32oC và nhiệt độ tối ưu cho chúng phát triển là 27oC
(Gerling, 1986); Đối với loài Trialeurodes vaporariorum hại cà chua thì điều kiện
tối hảo cho sự phát triển của chúng là 20 đến 25oC, ngừng phát triển ở nhiệt độ dưới
8oC và ngừng đẻ trứng ở nhiệt độ dưới 7oC Nhiệt độ trên 30oC không thích hợp cho
T vaporariorum phát triển và ngừng hoạt động ở nhiệt độ trên 35oC (Caciagli,
2007) Đối với nguồn thức ăn thì ngoài cây lúa là ký chủ chính, bọ phấn trắng A.
indicus cũng được tìm thấy trên hai loài cỏ là Lục lông Chloris barbata Sw và
Chân gà Dactyloctenium aegyptium L Willdenow ở Ấn Độ (Heinrichs và Barrion,
2004) Bọ phấn trắng bị rất nhiều loài thiên địch tấn công gồm các loài ong ký sinh,
vi sinh vật gây bệnh và các loài bắt mồi ăn thịt Trong đó thiên địch chính của bọ
phấn trắng là các loài ong Encarsia, Eretmocerus thuộc họ Aphelinidae và các loài
bọ rùa ăn thịt Bọ phấn trắng A indicus thường bị ký sinh bởi một số đại diện của các chi Encarsia như E japonica, E sophia và E transvena (Martin, 2005; Schauff
Trang 19tượng cổ lá lúa bị co rút “siết” chặt làm cho bông lúa không trổ thoát ra được hoặc trổ ra được nhưng bị quấn sát vào nhau làm cho hạt bị lép và kết quả bước đầu đã
xác định loài bọ phấn trắng này có tên khoa học là Aleurocybotus sp., thuộc họ
Aleyrodidae (Nguyễn Văn Liêm, 2010) Bọ phấn trắng đã gây hại trên cây lúa với quy mô và mật độ ngày càng gia tăng, do đó để tạo lập cơ sở khoa học và xây dựng quy trình phòng trừ hiệu quả chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định thành phần loài, quy luật phát sinh, gây hại và biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa (Hemiptera: Aleyrodidae) tại hai tỉnh Long An và An Giang” nhằm tìm ra các biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa có hiệu quả và an toàn tại hai tỉnh nói trên.
2 M ục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được thành phần loài bọ phấn trắng hại lúa ở hai tỉnh Long An và
An Giang.
- Bước đầu xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của
bọ phấn trắng hại lúa.
- Đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa có hiệu quả.
3 Ý ngh ĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Bọ phấn trắng là loài côn trùng gây hại mới trên lúa tại đồng bằng sông Cửu Long, do đó việc nghiên cứu xác định đặc điểm sinh học và quy luật phát sinh, gây hại của bọ phấn trắng hại lúa có ý nghĩa khoa học rất lớn nhằm làm nền tảng cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phát triển biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa theo hướng hiệu quả và an toàn Kết quả của đề tài còn làm cơ sở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo và là tài liệu quý giá trong công tác giảng dạy.
3.2 Ý ngh ĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái, các biện pháp phòng trừ và đề xuất một số biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa an toàn và hiệu quả ở
Trang 20hai tỉnh Long An và An Giang nhằm giúp nông dân giảm được chi phí trong sản xuất lúa, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là bọ phấn trắng hại lúa tại hai tỉnh Long An và
An Giang Ngoài ra đề tài còn nghiên cứu các đối tượng thiên địch của bọ phấn trắng như ong ký sinh, bọ rùa và thiên địch khác của sâu hại lúa tại hai tỉnh Long
An và An Giang.
4.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Điều tra thu mẫu bọ phấn trắng hại lúa được thực hiện tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An trong năm 2012 và 2013.
- Các thí nghiệm về đặc điểm hình thái, sinh học và đánh giá khả năng gây hại của bọ phấn trắng hại lúa được thực hiện trong phòng và nhà lưới của Bộ môn BVTV - Viện Lúa ĐBSCL.
- Các thí nghiệm ngoài đồng được thực hiện tại Viện Lúa ĐBSCL - huyện Thới Lai - TP Cần Thơ, huyện Thoại Sơn - tỉnh An Giang và huyện Thạnh Hóa - tỉnh Long An trong năm 2013 và 2014.
- Mô hình áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa có hiệu quả trên đồng ruộng tại hai tỉnh Long An và An Giang được thực hiện trong vụ Đông Xuân 2014 - 2015.
Trang 21CHƯƠNG 1
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trên thế giới có 1.556 loài bọ phấn trắng thuộc 161 giống (Martin và Mound,
2007) Trong đó, bọ phấn trắng Aleurocybotus indicus David & Subramaniam đã
được tìm thấy tại Satara - Ấn Độ năm 1966, được xác định là dịch hại chính trên lúa
ở Senegal và Niger năm 1977 và có thể làm thất thu năng suất đến 80% (Alam, 1989; Abdou, 1992) Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy bọ
phấn trắng A indicus là côn trùng nhỏ, hai cánh phủ đầy một lớp bột hoặc sáp màu
trắng Ấu trùng bọ phấn trắng có 4 tuổi, tuổi đầu tiên di động trong khoảng cách gần, các tuổi tiếp theo nằm cố định để chích hút và ấu trùng tuổi cuối được gọi là nhộng giả Vòng đời của bọ phấn trắng dao động từ 17 đến 24 ngày tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không khí Cũng giống với các loài bọ phấn trắng khác,
thành trùng cái A indicus có thể sống lâu hơn thành trùng đực và nếu không được
giao phối thì thế hệ sau sẽ nở toàn con đực (Rusell, 2000; Trần Ngọc Xuyến, 2011
và Phan Thị Hạnh Trang, 2011) Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu về biện
pháp quản lý tổng hợp đối với bọ phấn trắng hại lúa A indicus nhưng có rất nhiều nghiên cứu trên các loài bọ phấn trắng hại rau màu và cây ăn trái như Bemisia
tabaci, Aleurodicus disperses, Trialeurodes vaporariorum,… Trong đó, biện pháp
sinh học cũng đã được đưa ra để phòng trừ bọ phấn trắng có hiệu quả tốt giống như
biện pháp hóa học là sử dụng thuốc trừ sâu sinh học từ Beauveria bassiana,
Metarhizium anisopliae, Paecilomyces fumosoroseus, Aschersonia aleyrodis và Verticillium lecanii (Osborne và Landa, 1992; Davidson và ctv., 1996) Dịch trích
từ một số loài cây như Petunia (Dạ Yến Thảo), neem (Azadirachta indica), harmal (Peganum harmala L.), Solanaceae (cà độc dược) cũng có thể được sử dụng như
thuốc trừ BPT hoặc chất ức chế tự nhiên (Kays và ctv., 1994; Kumar và Poehling,
2007) Thiên địch bắt mồi BPT như Amblyseius spp., Chrysoperla spp., Euseius spp và ong ký sinh như Encarsia spp., Eretmocerus spp., Amitus bennetti đã được thương mại để phòng trừ B tabaci (Meyerdirk và Coudriet, 1986; Takahashi và
Trang 22ctv., 2008) Tại Việt Nam, bọ phấn trắng gây hại nghiêm trọng tại nhiều vùng trồng lúa ở ĐBSCL trong vụ lúa Hè Thu 2010, tuy nhiên, chưa xác định được tên khoa học cũng như biện pháp phòng trừ Do đó việc xác định được chính xác loài gây hại, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh, gây hại sẽ là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phát triển biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa tại Việt Nam theo hướng hiệu quả và an toàn.
1.2 Thành phần loài và khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thành ph ần loài bọ phấn trắng
Theo Mound và Halsey (1978), trên thế giới có khoảng 1.156 loài bọ phấn trắng thuộc 126 giống nằm trong danh mục bọ phấn trắng gần nhất trên thế giới Sau đó, có nhiều loài mới, giống mới được mô tả và một số loài khác đã được giám định lại Martin và Mound (2007) đã công bố danh sách bọ phấn trắng trên thế giới gồm 1.556 loài thuộc 161 giống của 3 họ phụ còn sống (Aleurodicinae, Aleyrodinae và Udamosellinae), và một họ phụ đã hoá thạch (không còn tồn tại) là Bernaeinae Họ phụ Aleurodicinae phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bán Cầu và bao gồm 118 loài thuộc 18 giống Họ phụ Aleyrodinae phân bố rộng rãi trên thế giới và gồm 1.424 loài thuộc 148 giống Họ phụ Udamosellinae gồm hai loài ở Nam Mỹ
thuộc giống Udamoselis (Evans, 2008).
Sự đa dạng về giống, loài của mỗi họ phụ rất khác nhau giữa các vùng địa lý.
Họ phụ Aleyrodinae chiếm số lượng loài lớn với tổng số 1.435 loài thuộc 148 giống trên toàn thế giới Họ phụ Aleyrodinae ở vùng địa động vật Đông Phương có số lượng loài phong phú nhất với 542 loài thuộc 73 giống Họ phụ này ở vùng Châu Phi có số loài bằng một nửa số loài ở vùng địa động vật Đông Phương (chỉ với 285 loài) Đối với vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ, họ phụ Aleyrodinae có số lượng giống, loài cũng chiếm gần bằng một nửa số lượng giống, loài của vùng địa động vật Đông
Phương (chỉ với 211 loài thuộc 42 giống) (Evans, 2008) Giống Aleuroclava của họ
phụ Aleyrodinae có số lượng loài nhiều nhất, với 118 loài Tại vùng địa động vật Đông Phương, giống này chiếm vị trí đứng đầu về sự đa dạng loài (với 86 loài) và
Trang 23vùng Đông Âu chỉ có 33 loài Ở các vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ và Tây Âu có nhiều
loài là dịch hại ngoại lai thuộc giống Aleuroclava như Aleuroclava similis,
Aleuroclava jasmini Hai giống Aleuroplatus và Trialeurodes của họ phụ này có số
loài gây hại trong nhà kính nhiều nhất Loài Trialeurodes vaporariorum có mặt trong
nhà kính ở tất cả các vùng địa lý trên thế giới, các loài khác còn lại của hai giống này
có phân bố ở 1 - 3 vùng địa lý (Evans, 2008).
Họ phụ Aleurodicinae gồm 118 loài thuộc 18 giống Mặc dù các loài thuộc họ phụ này xuất hiện ở cả các vùng trên thế giới nhưng vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ có
số lượng và đa dạng loài lớn hơn rất nhiều so với các vùng khác, với 102 loài thuộc
15 giống (chiếm đến 85% tổng số loài của họ phụ Aleurodicinae trên toàn thế giới).
Trong đó, giống Aleurodicus của họ phụ Aleurodicinae có số lượng loài nhiều nhất (với 35 loài), tiếp theo là giống Paraleyrodes (với 17 loài), không có giống
Palaealeurodicus Ở vùng địa động vật Đông Phương, họ phụ Aleurodicinae có số
lượng giống, loài rất ít (chỉ với 18 loài thuộc 5 giống) Trong đó giống
Palaealeurodicus được phát hiện có nhiều loài nhất với 6 loài trong tổng số 18 loài
(Evans, 2008).
Họ phụ Udamosellinae gồm có hai loài thuộc giống Udamoselis là loài
Udamoselis estrellamarinae Martin gây hại trên cây trồng thuộc họ Na (Annona
prob muricata) ở Ecuador và loài Udamoselis pigmentaria Enderlein 1909 ở Nam
Mỹ (chưa biết thông tin về ký chủ) (Evans, 2008).
1.2.2 Khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới và Việt Nam
a. Loài Aleurodicus dispersus Russell
Trong họ phụ Aleurodicinae, loài Aleurodicus dispersus Russell có nhiều ký chủ nhất và phân bố trên nhiều quốc gia trên thế giới Loài A dispersus có nguồn gốc ở vùng Ca-ri-bê và trung tâm của Mỹ Bọ phấn trắng A disperses được ghi
nhận đầu tiên ở bang Florida 1957 Ở Thái Bình Dương, chúng được ghi nhận ở Hawaii năm 1978, Guan năm 1981 và sau đó là các quần đảo khác (Waterhouse và Norris, 1989) Tại Châu Á, loài bọ phấn trắng này được phát hiện ở Philippine năm
Trang 241981, Indonesia năm 1991, Ấn Độ năm 1993, Bangladesh năm 1997 và ở Trung
Quốc năm 2006 (Yu và ctv., 2007) A disperses là dịch hại đa ký chủ và đã tấn
công 481 loài cây trồng ở Ấn Độ Chúng gây hại trực tiếp bằng cách chích hút và làm giảm bề mặt quang hợp của cây do tiết ra chất mật thu hút nấm bồ hóng phát triển (Srinivasa, 2000).
Bọ phấn trắng A dispersus có thể gây hại theo 3 cách sau: gây hại trực tiếp,
gây hại gián tiếp và truyền bệnh virus Chúng gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch của lá cây non làm cho lá rụng Tuy nhiên, bằng cách gây hại trực tiếp, ngay cả mật số bọ phấn trắng cao cũng không làm chết cây Bọ phấn trắng gây hại gián tiếp thông qua sự bài tiết chất mật ngọt và lớp sáp trắng tạo môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển, làm đen bề mặt lá, giảm khả năng quang hợp và làm giảm giá trị thương phẩm của sản phẩm (Berlinger, 1986) Bọ chích hút ở cây bệnh khảm
do virus, sau đó bay sang chích hút ở cây khỏe và truyền virus qua cây này làm cho cây bị nhiễm virus với các triệu chứng thể hiện như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu năng suất trầm trọng Ấu trùng và thành trùng thích tụ tập ở mặt dưới lá nhưng thỉnh thoảng đậu ở mặt trên của lá cây ký chủ, thân cây muồng và trái
đu đủ để hút nhựa Theo Geetha (2000), BPT chích hút làm cho lá non bị rụng và
làm lá bị bạc ở Tamilnadu A diserpsus gây hại làm giảm chất lượng của lá chuối
được dùng để phục vụ trong chế biến thực phẩm ở Nam Ấn Độ (Mani và ctv., 2004) Chúng gây hại nặng dẫn đến giảm năng suất 53,1% trên cây bột sắn hột (tapioca)
ở Ấn Độ (Geetha, 2000).
b. Loài Bemisia tabaci Gennadius
Loài B tabaci là dịch hại cây trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới Chúng phân bố
rộng rãi nhiều nơi như miền Nam nước Mỹ, phía bắc Carolina, Mỹ và Canada Ngoài ra, chúng còn phân bố rộng khắp quần đảo Ca-ri-bê, Trung và Nam Mỹ,
Mexico; miền nam châu Âu, châu Phi, Ấn Độ và Úc (Heather, 2000) B tabaci là
loài đa ký chủ, gây hại trên 500 loài thực vật thuộc 74 họ bao gồm trên rau màu và
cây cảnh Trong số những loại cây trồng quan trọng được trồng ở Florida, B tabaci
Trang 25là dịch hại chủ yếu trên cây cà chua, ớt, bí, dưa chuột, đậu, cà tím, bắp cải, dưa hấu khoai tây, đậu nành, lạc và bông (Heather, 2000).
Bọ phấn trắng B tabaci là loài đa ký chủ hại nhiều loại cây trồng nhưng gây
hại mạnh nhất trên cây họ cà, bầu bí và đậu đỗ Bọ phấn trắng chích hút dịch cây, nhất là ngọn và phần non ở phía dưới của thân cây Cây có nhiều BPT thường bị yếu
và có thể héo, chuyển màu vàng, nếu mật số BPT gây hại cao trong thời gian dài sẽ
làm chết cây Tác hại chủ yếu của B tabaci là môi giới truyền bệnh virus xoắn lá cà
chua, khoai tây Tỷ lệ bệnh xoắn lá trên ruộng cà chua tăng dần theo mật số BPT (Phạm Thị Nhất, 2002).
B tabaci có thể gây hại cho những cây ký chủ bằng nhiều cách Thành trùng và
ấu trùng của chúng có thể chích hút đến chết cây con, làm giảm sức sống và giảm năng suất ở những cây lớn Ngoài ra, chúng còn tiết mật ngọt làm cho nấm bồ hóng phát triển làm giảm quá trình quang hợp của lá cây, giảm chất lượng quả (Heather, 2000).
Ấu trùng của B tabaci chích hút có thể gây rối loạn phát triển sinh lý của cây
ký chủ Cà chua chín không đều lần đầu tiên được ghi nhận ở Florida vào năm
1987 Những cây cà chua có B tabaci phát triển thì trái không thể hiện màu sắc
bình thường tạo thành những đốm, các mô bên trong có thể có màu trắng, cứng và chưa chín Năm 1989, người dân trồng cà chua ở Florida bị mất 25.000.000 đô la
Mỹ do cà chua chín không đều Ngoài ra ở cây bí cũng gặp tình trạng tương tự hoặc chúng cũng gây bạc lá, vàng úa lá ở rau diếp, tiêu và nhiều cây ký chủ khác (Heather, 2000).
Bọ phấn trắng có khả năng tiết mật ngọt bằng cách thải ra những nhựa cây không tiêu hóa được và đây là nguyên nhân để nấm bồ hóng phát triển Nấm bồ hóng không gây hại cho lá cây nhưng có thể chúng là màng chắn gây khó khăn cho
sự quang hợp của cây và làm mất giá trị mỹ quan của sản phẩm Mound (1965) còn cho biết cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa cây làm chết mô thực vật do kim chích và tiết nước bọt Mật số BPT cao làm cho cây bị suy yếu như rụng lá và giảm sự sinh trưởng.
Trang 26Khả năng truyền bệnh virus: thành trùng chích hút trên cây bệnh khảm do virus, sau đó bay sang chích hút cây khỏe và truyền virus làm cho cây bị bệnh khảm với các triệu chứng thể hiện như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu
năng suất trầm trọng (Caciagli, 2007) B tabaci là tác nhân truyền hơn 200 loài
virus cho cây trồng, trong đó hơn 90% là Begomoviruses (Morales và Jones 2004; Tahiri và ctv., 2006; Hidayat và Rahmayani, 2007; Morales, 2007).
c. Loài Aleurocybotus occiduus Russell
Giống Aleurocybotus Quaintance & Baker thuộc phân họ Aleyrodinae gồm
có 5 loài, trong đó loài A occiduus phổ biến nhất và gây hại trên nhiều loại cây
trồng so với 4 loài còn lại (Evans, 2008) Theo Poinar (1965), quần thể BPT ở phía Bắc bang Sinaloa gây hại trên bắp, lúa miến, mía đường và một số cây cỏ hoang dại Ấu trùng phát triển trên tám loại cây trồng và trên 6 loài cỏ hoang Sự phát triển
của A occiduus có thể kéo dài 36-50 ngày trên cỏ cú Cyperus rotundus ở California Theo Martin (2004), A occiduus gây hại trên 23 loài thực vật kể cả loài hoang dại và cây trồng ở Mỹ Năm 2005, A occiduus cũng được ghi nhận trên một
số kí chủ như lúa, bắp, mía, lúa miến và một số loài cỏ như cỏ Lồng vực, cỏ Cú, cỏ
Chỉ, Theo Evans (2008), A occiduus là dịch hại quan trọng trên cây lúa và lúa miến ở El Salvador Ở Chalatenango, El Salvador, A occiduus đã được xem là dịch hại chính trên lúa làm giảm năng suất từ 80 - 100% Theo Evans (2008), A.
occiduus phân bố ở Mỹ, Peru và Hawaii, chúng gây hại trên ký chủ họ hoà bản như
cỏ Cước Cenchrus echinatus, cỏ Lục lông Chloris sp., cỏ Chỉ Cynodon dactylon, cỏ Lồng vực nước Echinochloa crus-galli, lúa Oryza sativa L., cỏ Paspalum dilatatum,
cỏ Paspalum notatum, cây kê Setaria italica, lúa miến Sorghum halepense,
Sorghum vulgare var sudanese, cỏ Stenotaphrum secundatum, cây bắp Zea mays và
họ cói như cỏ Cú Cyperus rotundus Các thiệt hại do A occiduus cũng tương tự như
những loài BPT khác Ấu trùng và thành trùng gây héo, úa lá hoặc làm lá bị còi cọc bằng cách chích hút nhựa cây dẫn đến giảm chất lượng và năng suất cây trồng hoặc đôi khi làm cây chết sớm Ngoài ra, chúng còn tiết ra chất mật ngọt làm tăng sự phát triển của nấm bồ hóng dẫn đến làm giảm khả năng quang hợp của cây Theo Poinar
Trang 27(1965), A occiduus không có khả năng truyền virus Mật số A occiduus cao ở các
nước như Peru và El Salvador đã gây mất một phần hoặc thất thu hoàn toàn năng suất lúa và lúa miến Thiệt hại chính là do ấu trùng và thành trùng chích hút, ngăn cản sự phát triển của cây, vàng lá, nấm bồ hóng phát triển làm cây quang hợp yếu dẫn đến chết cây hoặc không tạo hạt được.
d Loài Aleurocybotus indicus David and Subramaniam
Loài Aleurocybotus indicus David & Subramaniam thuộc Giống Vasdavidius Russell 2000 hay còn gọi là Aleurocybotus thuộc phân họ Aleyrodinae gồm có 5
loài: Aleurocybotus cobarensis (Martin), Aleurocybotus concursus (Ko),
Aleurocybotus miscanthus (Ko), Aleurocybotus indicus David & Subramaniam và Aleurocybotus setiferus Quaintance & Baker (Evans, 2008) Trong đó, A indicus
hại lúa được tìm thấy đầu tiên ở Satara - Ấn Độ vào 1966 và được báo cáo ở Tây
Phi vào tháng 4 năm 1977 trên lúa nước ở Richard Toll, Senegal (Alam, 1989) A.
indicus cũng đã được báo cáo ở các nước như Burkina Faso, Mali, Gambia,
Mauritania, Niger, Nigeria (WARDA, 1981; Williams and Diop, 1981; Abdou,
1992) Theo Trinh (1980), A indicus là côn trùng gây hại mới ở Senegal River
Basin Chúng được xem là dịch hại chính ở Fanaye và N Diaye, Senegal và ở Niger, nơi có thể làm thất thu năng suất đến 80% (Abdou, 1992) Bọ phấn trắng là dịch hại nguy hiểm kiềm chế sản xuất lúa ở Fanaye và N Diaye, Senegal Mức độ nhiễm BPT năm 1978, 1979 và 1980 tương ứng là trung bình, thấp và cao (WARDA, 1981) Theo Heinrichs và Barrion (2004), bọ phấn trắng là côn trùng mùa khô Nhiệt độ cao và ẩm độ thấp thích hợp cho sự phát triển của chúng Trong suốt mùa khô 1982 - 1983 ở Fanaye, Senegal BPT xuất hiện trên lúa được trồng từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau và gây hại trên hầu hết cây trồng trong tháng 8 Bọ phấn trắng xuất hiện trên cây trồng từ giai đoạn mạ đến giai đoạn chín (Alam, 1984) và gây hại cây trồng bằng cách chích hút nhựa từ lá lúa Chất mật do ấu trùng và thành trùng thải ra trên lá lúa có hàm lượng đường cao đã thu hút nấm bồ hóng phát triển Khi nấm bồ hóng phát triển nhiều sẽ làm cho cây bị héo và chết (Alam, 1989).
Trang 281.2.2.2 Khả năng gây hại của bọ phấn trắng tại Việt Nam
Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn trái ở Việt Nam 1997-1998 của
Viện Bảo vệ thực vật (1999) cho thấy loài Aleurocanthus spiniferus Quaintance
xuất hiện trên cam, quýt ở các tỉnh như: Hà Tây, Hà Nam, Hoà Bình, Nghệ An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp, Long An Chúng xuất hiện
vào tháng 3, 6, 7 và 10 Loài Aleurocanthus woglumi Ashby xuất hiện trên cam,
quýt ở các tỉnh như: Hà Tây, Hưng Yên Chúng xuất hiện vào tháng 4 đến tháng 7,
9 và 10 Loài Aleurocanthus sp xuất hiện trên cây nhãn, vải, ổi, nho ở Tiền Giang
và Ninh Thuận vào tháng 3 và 4 Loài Dialeurodes citri Kuwayana xuất hiện trên
cây Na ở Hà Nội và Hà Tây vào các tháng 7, 9 và 10.
Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003), bọ phấn trắng A dispersus có
phổ ký chủ rất rộng và mật số khá cao, khả năng gây hại lớn cho nhóm cây ăn trái (ổi), cây công nghiệp (bông vải, khoai mì), hoa kiểng - cây cảnh - cây che mát
(bàng, địa lan, sứ cùi, trạng nguyên) và rau màu (cà chua, đậu nành, ớt) Loài B.
tabaci có phổ ký chủ hẹp hơn, chỉ trên rau màu và một số ít cây thuộc nhóm cây
công nghiệp và loài Dialeurodes sp có phổ ký chủ là nhóm cây có múi như cam,
chanh, quít và có mật số tương đối cao.
Ở ĐBSCL, có hai loài BPT phổ biến thuộc họ Aleyrodidae (Homoptera) là A.
disperses và B tabaci Loài A disperses gây hại chủ yếu trên cây ăn trái như ổi, táo,
đu đủ… Loài B tabaci tấn công hầu hết các loại cây trồng, đặc biệt là ruộng lúa từ
lúc đẻ nhánh đến tượng đòng, trổ bông và ngậm sữa trong vụ Hè Thu có nắng nóng
kéo dài Cả hai loài A disperses và B tabaci đều có khả năng chích hút ở mặt dưới
của các lá non hay lá vừa trưởng thành và để lại các vết vàng trên mặt lá do bị mất diệp lục tố Với mật số cao, BPT gây ra các vết vàng lan ra cả mặt lá, làm cho lá có thể
bị rụng thậm chí chết cây Trên lúa, B tabaci làm cho lá lúa bị vàng lốm đốm và lan
dần lên trên đầu phiến lá (Nguyễn Văn Huỳnh, 2010).
Bọ phấn trắng đã gây hại nghiêm trọng tại nhiều vùng trồng lúa ở ĐBSCL từ
vụ lúa Hè Thu 2010 như Long An, An Giang, Tây Ninh với diện tích là 15.462 ha, trong đó nhiễm nặng 305 ha và mật độ phổ biến 1.000 - 2.000 con/m2 (Bộ Nông
Trang 29nghiệp và PTNT, 2010) Theo Nguyễn Văn Liêm (2010), tác hại BPT gây ra là chúng chích hút trên lá, làm cho lá lúa bị vàng úa và gây ra hiện tượng lép hạt Cây lúa bị BPT gây hại có hiện tượng cổ lá lúa bị co rút “siết chặt” làm cho bông lúa không trổ thoát ra được hoặc trổ ra được nhưng bị quấn sát vào nhau làm cho hạt bị lép Kết quả giám định của hai chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) trên mẫu BPT thu tại huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp cho thấy BPT có tên
khoa học là Aleurocybotus sp., thuộc họ Aleyrodidae, đây là loài côn trùng có phổ
ký chủ rộng (tấn công được nhiều loại cây trồng) và cũng có khả năng truyền bệnh siêu vi khuẩn cho cây trồng Tuy nhiên, bệnh xuất hiện vừa nêu trên có phải là do BPT làm môi giới hay không vẫn chưa được xác định (Nguyễn Văn Liêm, 2010).
1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài bọ phấn trắng phổ biến ở
Vi ệt Nam và trên thế giới
1.3.1 Đặc điểm hình thái chung của một số loài bọ phấn trắng phổ biến
Bọ phấn trắng là côn trùng nhỏ có chiều dài khoảng 2-3 mm đối với trưởng thành (Borror và ctv., 1981) Thành trùng có hai cánh trắng nhỏ phủ đầy một lớp bột hoặc sáp màu trắng Thành trùng hoạt động nhanh nhẹn và bay trong tán lá lúa Trứng được đẻ trên thân Sự biến thái của BPT khác với loài khác của bộ cánh đều Tuổi đầu tiên thì bọ hoạt động, tuổi tiếp theo bọ xuất hiện vảy và không có đuôi Vảy giả phủ như một lớp sáp của côn trùng Tuổi đầu tiên được gọi là ấu trùng, tuổi cuối bọ nằm bất động và được gọi là nhộng giả (pseudopupa) (Heinrichs và Barrion, 2004).
a Loài Aleurodicus dispersus Russell
Con cái đẻ từ 14 - 26 trứng thành những vòng tròn xoắn ốc ngay trên biểu bì của mặt dưới lá (Wijiesekera và Kudagamage, 1990) Đây cũng là điểm đặc trưng
để nhận dạng loài này Theo Wen và ctv (1994), thành trùng đẻ trứng theo một vòng xoắn ốc ở mặt dưới lá và được che phủ bởi những lông sáp trắng mịn, trứng dài khoảng 0,5 mm Theo Waterhouse và Norris (1989), ổ trứng gồm một hay nhiều trứng nhỏ, hình elip, vỏ bọc nhẵn, trứng màu vàng đến nâu vàng cùng với nhiều chất sáp nhỏ, bám ở bề mặt của lá, thường là mặt dưới của lá cây và không theo quy luật, sáp phủ theo đường, điển hình là tạo thành một mẫu hơi xoắn Theo
Trang 30Wijesekera và Kudagamage (1990), ấu trùng tuổi 1 hoạt động nhưng các tuổi về sau bất động và có dạng giống như rệp dính, ấu trùng tuổi 1 tiết ra chất sáp để che phủ
cơ thể Giai đoạn ấu trùng không có cánh Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003), cơ thể ấu trùng tuổi 1 dài 0,25 mm, rộng 0,1 mm, chưa phủ lớp phấn sáp trắng, tuổi 2 dài 0,6 mm, rộng 0,4 mm; tuổi 3 dài 1 mm, rộng 0,7 mm; tuổi 4 dài 1,2
mm, rộng 0,9 mm Theo Wen và ctv (1994), trên cơ thể ấu trùng tuổi cuối của A.
dispersus có những sợi sáp trắng dài.
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của Aleurodicus dispersus Russell
(Nguồn: Ngô Thị Như Hà, 2005)
a Ổ trứng; b Ấu trùng tuổi 1; c Ấu trùng tuổi 3;
d Ấu trùng tuổi 4 (nhộng); e Thành trùng mới vũ hóa
Thành trùng A dispersus có màu trắng và có kích thước nhỏ, chiều dài
khoảng 2 - 3 mm và có phủ một lớp sáp mịn trên cơ thể Mắt có màu đỏ nâu hơi sậm Cánh của chúng trong suốt khi mới vũ hóa và sau khi vũ hoá vài giờ thì phủ lên một lớp phấn trắng (Waterhouse và Norris, 1989) Kết quả nghiên cứu của
Trang 31Huỳnh Thanh Lộc (2003) cũng cho thấy cơ thể thành trùng A dispersus dài 2,8
mm, râu đầu có 7 đốt, khi đậu cánh dang rộng chỉ thấy cặp chân trước Theo Wen
và ctv (1994), thành trùng có hai cặp cánh trắng dài khoảng 1,5 mm, râu đầu có 7 đốt, thành trùng lúc mới vũ hóa chưa có lớp phấn trắng trên cánh và lớp phấn trắng được tiết ra trong vài giờ sau đó từ các tuyến sáp của cánh và cơ thể.
b Loài Bemisia tabaci Gennadius
Con cái đẻ trứng hình quả lê vào biểu bì của lá hay tế bào ở mặt dưới lá và bám chặt vào lá bằng một cái cuống Trứng mới đẻ có màu trắng, hình oval, đường kính khoảng 0,25 mm và sau 1 - 2 ngày thì chuyển sang màu nâu hoặc nâu đen (Gerling, 1986) Tác giả Phạm Thị Nhất (2002) cũng cho thấy trứng BPT hình bầu dục có cuống, dài khoảng 0,18 - 0,20 mm, vỏ mỏng, trứng mới đẻ có màu trong suốt, sau một ngày đêm chuyển sang màu vàng sáp, dần dần chuyển sang màu nâu xám Theo Heather (2000), trứng có hình bầu dục và nhọn một đầu, đầu tròn có một cuống nhỏ gắn chặt trứng vào mô lá, cuống này có chiều dài khoảng 0,024 mm Ngoài ra cuống nhỏ này còn là “ống dẫn nước” để trứng luôn có đủ nước và căng bóng Chiều dài trung bình của trứng 0,21 mm và chiều rộng trung bình 0,096 mm Trứng mới đẻ có màu trắng, sậm màu dần ở những ngày sau và khi trứng sắp nở thì
có màu nâu đậm.
Ấu trùng rất dễ nhận thấy, có kích thước 0,3 - 0,7 mm, mới nở di chuyển nhưng trở nên bất động vài giờ sau đó và bắt đầu chích hút Bọ phấn trắng non có màu vàng nhạt, hình oval, mới nở có chân bò dưới mặt lá, kích thước BPT non dài khoảng 0,7 - 0,9 mm, rộng 0,5 - 0,6 mm Bọ phấn trắng non có 3 tuổi, ở tuổi cuối cùng chuyển sang nhộng giả (Phạm Thị Nhất, 2002) Cũng theo Heather (2000), ấu trùng tuổi 1 mới nở có khả năng di chuyển nhưng không xa và cách vị trí của trứng chỉ vài centimet để bắt đầu tìm nơi cố định, đôi khi chúng cũng có thể di chuyển đến một lá khác trên cùng một cây Ấu trùng tuổi 1 có hình bầu dục, chiều dài trung bình 0,27 mm, chiều rộng trung bình 0,14 mm Mặt bụng có 3 đôi chân phát triển, chân có 4 đốt, râu có 3 đốt và chúng có đôi mắt nhỏ Qua lớp da mỏng có thể quan sát thấy 2 điểm màu vàng hình bầu dục gọi là mycetomes, là nơi cộng sinh của một
Trang 32số loài vi khuẩn liên quan đến dinh dưỡng của chúng Ấu trùng tuổi 1 thường cư trú
ở mặt dưới của lá và bắt đầu lột xác sang tuổi 2 sau 2 - 3 ngày Những tuổi sau thì
ấu trùng nằm bất động, 3 đôi chân teo lại và cơ thể tiết ra chất sáp ở rìa để bám vào
bề mặt của lá Cơ thể có hình bầu dục, phẳng, màu vàng và chiều dài trung bình của
ấu trùng tuổi 2 khoảng 0,36 mm, ấu trùng tuổi 4 khoảng 0,66 mm Ở tuổi 2 và tuổi 3 thì mỗi tuổi kéo dài khoảng 2 - 3 ngày Giai đoạn ấu trùng tuổi cuối được gọi là nhộng giả, không có sự lột xác giữa ấu trùng tuổi 4 và giai đoạn nhộng giả nhưng có
sự khác biệt về hình thái Ấu trùng tuổi 4 và giai đoạn nhộng giả kéo dài khoảng 5 đến 6 ngày.
Giai đoạn nhộng giả có đôi mắt đỏ và lớn hơn so với những giai đoạn trước,
bề mặt của nhộng giả lồi chứ không phẳng như những tuổi trước, màu vàng cũng đậm hơn và khó thấy được 2 điểm màu vàng (Heather, 2000) Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Nhất (2002) cũng cho thấy nhộng giả hình bầu dục màu sáng, có lông
ở hai bên sườn và có thể nhìn thấy mắt đỏ của con trưởng thành qua phần lưng
trong suốt của nó Theo Hodges và Evans (2005), nhộng giả của B tabaci có lỗ
vasiform hình tam giác hơi dài, phần lingula hình bầu dục và phần đỉnh hình mũi mác (đỉnh có lông dài cứng).
Thành trùng B tabaci dài khoảng 1 mm, có hai cặp cánh trắng và cơ thể màu
vàng sáng Bọ phấn trắng trưởng thành có màu vàng nhạt, thân và cánh được phủ một lớp phấn màu trắng, chân dài và mảnh Bọ phấn trắng rất nhỏ, con đực dài khoảng 1 mm, sải cánh rộng khoảng 1,5 mm; con cái dài khoảng 1,4 mm, sải cánh rộng khoảng 2 mm (Phạm Thị Nhất, 2002) Thành trùng chui ra từ nhộng giả qua một đường nứt hình chữ T trên lưng để lại một lớp vỏ màu trắng Khi vừa vũ hóa thì cánh của thành trùng còn ướt trông rất mềm mại, màu vàng trắng chưa có lớp sáp bao quanh và chúng chỉ di chuyển chậm chạp chưa có thể bay được Sau vài giờ, hai cánh có màu trắng ánh kim do xuất hiện lớp bột sáp, cơ thể vẫn màu vàng và được bao phủ bởi một lớp bột sáp Chiều dài của cơ thể thành trùng cái được đo từ đỉnh đầu đến chóp bụng là 0,96 mm, trong khi thành trùng đực nhỏ hơn (0,82 mm) (Heather, 2000).
Trang 33Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của Bemisia tabaci Gennadius
(Nguồn: Ngô Thị Như Hà, 2005)
a Ấu trùng; b Nhộng; c Thành trùng và trứng
c. Loài Aleurocybotus occiduus Russell
Trứng của A occiduus được đẻ vào các khí khổng của lá và được gắn chặt
vào mô thực vật để hấp thụ độ ẩm giữ cho trứng ở trạng thái luôn căng bóng (Poinar, 1965) Trứng thon dài và hơi cong ở giữa, chúng được gắn vào các lỗ khí của lá bằng một cuống nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng và sậm màu hơn sau đó.
Trứng của A occiduus có chiều dài trung bình khoảng 0,3 mm và rộng 0,1 mm Con cái đẻ trứng trên lá và phủ một lớp bột màu trắng quanh trứng Ấu trùng A.
occiduus có hình bầu dục, gần như trong suốt, màu vàng và có vài sợi sáp trên vùng
đuôi Ấu trùng phát triển qua bốn tuổi Nhộng giả ở giai đoạn cuối của ấu trùng hình bầu dục, có màu vàng nhạt, không có lớp sáp trên lưng và bụng, chiều dài trung bình khoảng 1,1 - 1,4 mm, chiều rộng trung bình 0,5 - 0,7 mm Cả ấu trùng và thành trùng đều cư trú ở mặt dưới của lá Thành trùng có màu trắng xám, trông giống như những con bướm nhỏ với đôi cánh xếp giống hình dáng của một mái nhà và cơ thể được phủ một lớp bột sáp trắng Con cái có chiều dài thân trung bình 1,2 mm, sải cánh
Trang 34khoảng 1,3 mm, con đực nhỏ hơn, có chiều dài thân trung bình 0,7 mm và chiều dài sải cánh khoảng 0,8 mm.
Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển của Aleurocybotus occiduus Russell
(Nguồn: Vejar – Cota và ctv., 2009)
a Thành trùng; b Trứng; c Ấu trùng; d, e Nhộng giả
d. Loài Aleurocybotus indicus David & Subramaniam
Theo Russell (2000), nhộng A indicus được phân biệt với các loài khác bởi
sự kết hợp nhiều đặc tính sau: vảy lưng thường có màu vàng hoặc màu nâu, bụng không màu, thân có hình elip hoặc gần giống elip Mép thân có hình răng cưa, không có lỗ khí quản trên ngực Phần lưng dưới (subdorsum) không tách biệt với phần lưng Phần mép dưới (submargin) hoặc lưng dưới thường có 11 đến 16 cặp lông cứng Lỗ vasiform giống hình tim hoặc hình tam giác, có chiều dài dài hơn chiều rộng và kết thúc ở cuối đuôi Nắp đậy có chiều rộng lớn hơn chiều dài, lingula
có hình thìa, kéo dài khỏi nắp đậy và nằm trong lỗ sinh dục Rãnh đuôi kéo dài từ lỗ sinh dục đến mép thân cuối đuôi Râu nằm bên dưới hoặc một phần bên của chân trước, không kéo dài về phía sau của chân trước, không có nếp gấp khí quản ở ngực.
e
Trang 35Thành trùng có cơ thể mảnh mai, vảy màu vàng hoặc lưng nhuốm màu nâu và được Russell (2000) mô tả như sau:
Đầu: Mỗi mắt kép được cách nhau bởi 1 khoảng hẹp: các mặt gần như đồng nhất về hình dáng và kích cỡ Đốt đỉnh đầu có chiều dài và rộng bằng nhau, với 2 hoặc 3 cặp lông cứng nhỏ gần đỉnh và đôi khi có một cặp gần gốc Đốt râu thứ III dài nhất và dài hơn các đốt IV - VII, đốt VII là ngọn râu, một hoặc nhiều đốt có chức năng cảm giác.
Ngực: Vảy cánh với những vùng sẫm màu, động mạch quay hình quạt Chân
có đốt chậu, đốt chuyển, đốt đùi, đốt chày và khối xương cổ chân được chia làm 2 đoạn: mặt sau của đốt chày có 1 hàng lông cứng và bàn chân có 2 vuốt trơn giống nhau với 1 lớp đệm ở giữa 2 vuốt.
Bụng: vùng xung quanh lỗ vasiform cứng, mảnh Lỗ vasiform tròn, kéo dài ra cuối đuôi Nắp đậy (operculum) có bề rộng lớn hơn chiều dài Lingula rộng nhất ở phần thân, sau đó nhỏ và có hình thìa, kéo dài ra khỏi lỗ sinh dục Các ống đẻ trứng của con cái kéo dài ra, sắc bén ở ngọn Thùy của con đực phình ra ở gần gốc, hơi cong, lồi ra và có vài lông cứng Cơ quan giao cấu thẳng, mảnh mai về phía ngọn.
Hình 1.4 Râu và chân thành trùng Aleurocybotus indicus David &
Subramaniam (Nguồn: Russell, 2000)
a Đốt râu thứ III đến VII; b Đốt xương cổ chân thứ 2 và móng vuốt
1.3.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loài bọ phấn trắng phổ biến
a Loài Aleurodicus dispersus Russell
Theo Waterhouse và Norris (1989), mưa lớn và nhiệt độ hơi lạnh có thể tạm thời làm giảm mật số của bọ phấn trắng Tỷ lệ tử vong của BPT gia tăng đáng kể ở nhiệt độ từ 40 - 45oC đối với giai đoạn ấu trùng và ở 35 - 40oC đối với thành trùng
Trang 36(Cherry, 1979) Wen và ctv (1994) đã ghi nhận BPT gây hại chủ yếu trong mùa nắng Ấu trùng và thành trùng đều tấn công ở mặt dưới lá do cấu trúc ở mặt dưới lá
có liên quan đến tính ưa thích ký chủ của loài này Theo Wijiesekera và Kudagamage (1990), cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút dịch của lá cây, tiết mật làm cho nấm bồ hóng phát triển trên lá.
Trứng thường được đẻ ở mặt dưới của lá, ở góc phải đến gân lá Giai đoạn ủ trứng khoảng 9 - 11 ngày trong điều kiện nhà kính ở nhiệt độ từ 20 - 39oC (Waterhouse và Norris, 1989) Tuy nhiên, theo Wen và ctv (1994), thời gian ủ trứng
6 - 7 ngày Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003) thì thời gian ủ trứng ở nhiệt độ 28 - 33oC, ẩm độ không khí 65 - 75% là 7 ngày (dao động từ 6 - 8 ngày).
Ấu trùng A dispersus có 4 tuổi Tuổi đầu tiên của ấu trùng có chân bò và có
râu rõ rệt, đây là giai đoạn duy nhất có khả năng di chuyển nhanh nhẹn Tất cả các tuổi khác của ấu trùng thì nằm cố định Trong điều kiện nhà kính với nhiệt độ khoảng 20 - 39oC, ấu trùng tuổi 1 kéo dài khoảng 6 - 7 ngày, tuổi 2 khoảng 4 - 5 ngày, tuổi 3 khoảng 5 - 7 ngày và tuổi 4 (nhộng giả) khoảng 10 - 11 ngày (Waterhouse và Norris, 1989) Theo Huỳnh Thanh Lộc (2003), ấu trùng tuổi 1 mới
nở di động và tìm nơi phù hợp ở mặt lá để sống cố định Ở nhiệt độ 28 - 33oC, ẩm
độ không khí 65 - 75%, thời gian tuổi 1 kéo dài 4,2 ngày (dao động từ 3 - 5 ngày), tuổi 2 là 3,6 ngày (dao động từ 2 - 7 ngày), tuổi 3 là 3,4 ngày (dao động từ 3 - 7 ngày), tuổi 4 là 8,8 ngày (dao động từ 8 - 14 ngày).
Thành trùng cái đẻ trứng ngay trong ngày vũ hóa và tiếp tục đẻ trứng trong suốt vòng đời của chúng Nếu không giao phối con cái sẽ đẻ thế hệ con cháu toàn là con đực, nếu giao phối sẽ đẻ cả đực và cái Chúng hoạt động linh hoạt nhất trong một vài giờ buổi sáng Giao phối xảy ra trong khoảng thời gian buổi chiều Thành trùng có thể sống đến 39 ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm (Waterhouse và Norris, 1989) Theo Wijesekera và Kudagamage (1990), thành trùng có thời gian sống khoảng 2 tuần Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003), thời gian sống
Trang 37ở điều kiện thí nghiệm đối với con đực là 2,8 ngày (dao động trong khoảng 2 - 8 ngày), con cái là 2,8 ngày (dao động trong khoảng 1 - 4 ngày).
b. Loài Bemisia tabaci Gennadius
Theo Gerling (1986), thời gian phát triển từ trứng đến thành trùng của loài côn trùng này có thể trong phạm vi từ 15 - 70 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ và cây ký chủ Chúng xuất hiện và phát triển trong phạm vi nhiệt độ từ 10 - 32oC, nhiệt độ tối
ưu cho chúng phát triển là 27oC Theo Yang và Chi (2006), thời gian các pha phát
dục B tabaci được nghiên cứu với cây thức ăn là cây bông, cà chua, cà pháo, dưa
chuột, bí ngô và đậu ở nhiệt độ nằm trong khoảng 7,8 - 30oC Trong đó, khoảng nhiệt độ thích hợp cho bọ phấn trắng phát triển là 25 - 30oC.
Theo Gerling (1986), trứng thường được đẻ ở mặt dưới của lá non thuộc tầng trên của cây Con cái đẻ từ 28 - 300 trứng phụ thuộc vào nhiệt độ và cây ký chủ Ở
25oC trứng sẽ nở sau 6 - 7 ngày (Heather, 2000) Tác giả Fekrat và Shishehbor (2007) cho thấy ở nhiệt độ 22 - 23oC thì thời gian phát dục của trứng B tabaci là
7,5 ngày, khi nhiệt độ tăng lên 30oC thì thời gian phát dục của trứng là 7,17 ngày.
Ấu trùng tuổi 1 có thể bò một khoảng cách rất ngắn đi tìm vị trí thích hợp để xác định vị trí gây hại Ấu trùng tuổi 2 và tuổi 3 hầu như không di chuyển, chúng dính sát vào mặt sau của lá cây nhờ tuyến sáp xung quanh cơ thể Giai đoạn phát dục của 3 tuổi ấu trùng ở nhiệt độ 22 - 23oC là 9,1 ngày ngắn hơn so với ở mức 30oC (11,42 ngày) Giai đoạn nhộng giả có thời gian phát dục là 5 ngày ở nhiệt độ 22 -
23oC nhưng rút ngắn chỉ còn 2,48 ngày ở nhiệt độ 30oC (Fekrat và Shishehbor, 2007) Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhộng giả và ấu trùng tuổi 4 là 2 giai đoạn riêng biệt (Azab và ctv., 1971; EL - Helaly và ctv., 1971; Sharaf và Batta, 1985; Lopez - Avila, 1986) nhưng các nhà nghiên cứu khác lại xem đó như là một giai đoạn chuyển đổi tuổi 4 hay còn gọi là nhộng giả bởi vì khoảng thời gian của 2 giai đoạn này ngắn và khó phân biệt (khoảng 5,8 ± 0,3 ngày) (Hussain, 1931; Gill, 1990; Bethke và ctv., 1991; Byrne và Bellows, 1991) Trong thời gian 4 - 6 ngày nhộng giả vũ hóa thành con trưởng thành (Bohmfalk và ctv., 1996).
Trang 38Thành trùng hoạt động vào buổi sáng sớm và chiều mát, không thích ánh sáng mạnh Chúng hoạt động rất linh hoạt, ban ngày đậu ở dưới mặt lá, có động nhẹ chúng bay lên cao chừng 2 - 3 m Trong điều kiện nắng to hoặc mưa, bọ trưởng thành ít bay mà nấp ở những lá sát mặt đất hoặc bụi cây rậm Trưởng thành đẻ trứng thành từng ổ từ 4 - 6 trứng hoặc rải rác ở mặt lá, chúng thường tập trung ở các lá bánh tẻ Một con cái có thể đẻ từ 50 - 80 trứng (Phạm Thị Nhất, 2002) Thành trùng cái đẻ trứng ở mặt dưới của lá non Trong vòng 1 - 2 ngày sau khi vũ hóa con cái bắt đầu đẻ trứng và có thể đẻ đến 500 trứng trong vòng đời của nó Thành trùng cái
có thể bắt đầu giao phối sau khi vũ hóa vài giờ khi cánh của chúng đã khô và có thể
cử động được Thành trùng cái nếu không được giao phối thì khi đẻ trứng sẽ nở ra toàn bộ con đực, nếu có giao phối thì đẻ trứng nở thành con đực và con cái Chúng
có thể bắt đầu đẻ trứng ngay trong ngày vũ hóa, hoặc có thể vài ngày sau khi vũ hóa tùy thuộc vào nhiệt độ (Heather, 2000) Chúng thường cư trú mặt dưới của lá và chích hút nhựa cây Thành trùng cái có thể đẻ trứng ngay khi đang chích hút nhựa cây Tuổi thọ của thành trùng cái có thể kéo dài từ 10 đến 24 ngày và trong khoảng thời gian đó chúng có thể đẻ từ 66 đến 300 quả trứng tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường và cây ký chủ (Heather, 2000) Tuổi thọ của thành trùng BPT phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ cao con cái có thể sống từ 10 - 15 ngày, ở nhiệt độ thấp hơn chúng có thể sống đến 2 tháng.
c. Loài Aleurocybotus occiduus Russell
Thời gian phát triển từ trứng đến thành trùng của A occiduus có thể kéo dài
trong 2 - 3 tuần, tuy nhiên thời gian này có thể thay đổi tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ
và loại ký chủ Theo Poinar (1965), vòng đời A occiduus dao động trong khoảng
36-50 ngày Ấu trùng mới nở di chuyển vài milimet tìm nơi cố định để bắt đầu hút thức
ăn Ấu trùng trải qua 3 tuổi, giai đoạn cuối của ấu trùng thường được gọi là nhộng giả Cả thành trùng và ấu trùng cư trú ở mặt dưới của lá, tuy nhiên khi mật độ cao thì chúng có thể xuất hiện ở mặt trên của lá hoặc trên thân Con cái đẻ trứng ở mặt dưới của lá, trứng được đẻ rời rạc hoặc có khi thành từng ổ đến 20 trứng.
Trang 39d Loài Aleurocybotus sp.
Theo Trần Ngọc Xuyến (2011), trong điều kiện nhiệt độ trung bình 34,80,6oC, ẩm độ không khí trung bình 72,1 5,8% thì vòng đời bọ phấn trắng
Aleurocybotus sp kéo dài khoảng 18 - 24 ngày Trứng được đẻ rời rạc và gắn chặt
vào biểu bì của lá bằng một cuống nhỏ, phần lớn không được phủ lớp phấn trắng nên khó quan sát được bằng mắt thường và trứng có tỉ lệ nở cao (93,74 9,79%).
Ấu trùng tuổi 1 mới nở di chuyển nhanh nhẹn, chúng thường di chuyển đến gần gân lá hoặc những vùng xung quanh trứng, ấu trùng tuổi 2 và 3 sống cố định Giai
đoạn cuối của ấu trùng được gọi nhộng giả Thành trùng Aleurocybotus sp đẻ trứng
từ khi vũ hóa đến khi chết Đa số thành trùng cái sống lâu hơn thành trùng đực, tuổi thọ trung bình của thành trùng cái là 6,40 4,38 ngày (dao động từ 2 đến 18 ngày) tuy nhiên đối với thành trùng cái không có bắt cặp thì thời gian sống ngắn hơn (4,53 2,71 ngày, dao động từ 1 đến 11 ngày), trong khi đó thành trùng đực chỉ sống được 1,33 1,06 ngày (dao động từ 1 đến 6 ngày) Thành trùng cái khi không bắt cặp thì vẫn đẻ trứng và phát triển bình thường nhưng vũ hóa ra 100% thành trùng là con đực.
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Hạnh Trang (2011), trong điều kiện nhiệt độ trung bình 28,1 1oC, ẩm độ không khí trung bình 65 2% thì vòng đời
của bọ phấn trắng Aleurocybotus sp trung bình là 19,4 1,32 ngày (dao động từ 17
-23 ngày) Trứng được đẻ rải rác cả 2 mặt lá nhưng chủ yếu là mặt dưới lá Ấu trùng sống ở phiến lá và có tỷ lệ hoá nhộng trung bình là 68,4% Thành trùng cái có tuổi thọ trung bình 17,65 ngày và thành trùng đực có tuổi thọ trung bình là 15,45 ngày.
Theo Heinrichs và Barrion (2004), ngoài cây lúa là ký chủ chính, A indicus còn được tìm thấy trên hai loài cỏ là cỏ Lục lông Chloris barbata Sw và cỏ Chân
gà Dactyloctenium aegyptium L Willdenow ở Ấn Độ Tại Việt Nam, đây là hai loại
cỏ hoà bản hàng niên, thường mọc nơi ruộng đất khô hoặc ven lộ (Dương Văn Chín
và ctv., 2000).
Trang 40Hình 1.5 Cỏ Lục lông và cỏ Chân gà (ảnh chụp tháng 5/2014)
a Cỏ Lục lông Chloris barbata; b Cỏ Chân gà Dactyloctenium aegyptium
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của bọ phấn trắng
1.4.1 Y ếu tố môi trường
Theo Heinrichs và Barrion (2004), BPT là côn trùng mùa khô, nhiệt độ cao và
ẩm độ thấp thích hợp cho sự phát triển của chúng Trong suốt mùa khô 1982 - 1983
ở Fanaye và Senegal, BPT xuất hiện trên lúa được trồng từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau và gây hại trên hầu hết cây trồng trong tháng 8.
a Ảnh hưởng của ẩm độ tương đối đối với sự sống sót của bọ phấn trắng
Không có nhiều thông tin về ảnh hưởng của ẩm độ tương đối (RH) lên sự sống sót của bọ phấn trắng Nhiều tác giả cho rằng sự sống sót của bọ phấn trắng giảm từ 90% xuống 2% khi tăng thời gian phơi nhiễm (từ 2 - 6 giờ), tăng nhiệt độ (từ 25 - 41oC) và giảm ẩm độ tương đối RH (từ 100% xuống 20%) Dữ liệu này có thể hữu ích trong việc quyết định giới hạn di chuyển của thành trùng nhưng không cho chúng ta biết về khả năng sống sót (Piero Caciagli, 2007).
b Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với sự sống sót của bọ phấn trắng
Có hai giới hạn nhiệt độ cho sự sống sót của bọ phấn trắng Ở giới hạn dưới, thành trùng chống chịu kém nhất trong hầu hết các loài nhưng chúng có thể sống ở nhiệt độ 6oC trong ít nhất 4 ngày (Bosco và Caciagli, 1998) Các giai đoạn khác như
trứng và ấu trùng chịu lạnh tốt hơn Ấu trùng B tabaci biotype B có thể sống ít nhất