1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

145 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở Thái Nguyên quy mô sản xuất còn nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, phát triển không đồng đều, phần lớn tập trung ở các đô thị, khu công nghiệp; sản phẩm do

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ VĂN TÂM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60-31-10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN ĐÌNH TUẤN

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ VĂN TÂM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn "Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế" được thực hiện từ tháng 6/2008 đến tháng 4/2010 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc , đa số thông tin thu thậ p từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS 15

Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung th ực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọ i sự giúp đ ỡ cho việ c thực hiệ n luậ n văn này đã được cảm ơn và mọi thông ti n trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS.Trần Đình Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở Công thương, Cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh - Xã hội, Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Khoa học - Công nghệ, Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên và các doanh nghiệp trong tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra tài liệu, số liệu để thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2010

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng, biểu, biểu đồ, sơ đồ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Đóng góp mới của luận văn 5

5 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của kinh tế tư nhân 9

1.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên thế giới và ở Việt Nam 14

1.2.1 Sơ lược hình thành phát triển kinh tế tư nhân thế giới 14 1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam 18

1.2.3 Những vấn đề chủ yếu đặt ra để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam 19

1.3 Phương pháp nghiên cứu 23

1.3.1 Phương pháp luận chung 23

1.3.2 Phương pháp cụ thể 23

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 26

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 31

2.1.3 Đánh giá tình hình chung 40

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Nguyên 41

2.2.1 Sơ lược chung về tình hình phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên 41 2.2.2 Thực trạng doanh nghiệp tư nhân từ khi áp dụng Luật Doanh nghiệp 45

2.2.3 Tham gia của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn 80

2.2.4 Những hạn chế của kinh tế tư nhân trong phát triển nông nghiệp nông thôn và những nguyên nhân cơ bản 88

2.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân 89

2.3.1 Những khó khăn cần hỗ trợ và nhu cầu của doanh nghiệp 89

2.3.2 Đánh giá về quản lý nhà nước của kinh tế tư nhân 93

2.3.3 Khái quát các yếu tố gây cản trở 95

2.3.4 Cơ hội để doanh nghiệp tư nhân phát triển 101

CHƯƠNG 3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN 103

3.1 Quan điểm - Phương hướng - Mục tiêu 103

3.1.1 Quan điểm 103

3.1.2 Phương hướng phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên 107

3.1.3 Mục tiêu 110

Trang 7

3.2 Các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tƣ nhân 111

3.2.1 Thống nhất nhận thức, quan điểm về kinh tế tƣ nhân 111

3.2.2 Các giải pháp cụ thể 112

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 1

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 28

Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 31

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của tỉnh Thái Nguyên 33

Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009 34

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của tỉnh Thái Nguyên 36

Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp 45

Bảng 2.7: Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành nghề kinh doanh 48

Bảng 2.8: Phân loại doanh nghiệp theo địa giới hành chính 53

Bảng 2.9: Số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập 54

Bảng 2.10: Quy mô nguồn vốn phân loại theo loại hình doanh nghiệp 55

Bảng 2.11: Phân loại vốn theo ngành nghề kinh doanh 58

Bảng 2.12: Phân loại doanh thu theo loại hình doanh nghiệp 63

Bảng 2.13: Phân loại doanh thu theo ngành nghề 65

Bảng 2.14: Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu 70

Bảng 2.15: Số lượng lao động trong các doanh nghiệp tư nhân 72

Bảng 2.16: Một số thông tin chung đối với các chủ doanh nghiệp 74

Bảng 2.17: Trình độ lao động trong doanh nghiệp tư nhân 75

Bảng 2.18: Trình độ lao động trong các công ty TNHH 76

Bảng 2.19: Trình độ của lao động tại các công ty CP có vốn góp 77

Bảng 2.20: Trình độ học vấn của lao động tại các công ty CP tư nhân 78

Bảng 2.21: Tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp tư nhân 79

Bảng 2.22: Một số thông tin chính về các doanh nghiệp hoạt động 84

Bảng 2.23: Những khó khăn gặp phải của doanh nghiệp tư nhân 89

Bảng 2.24: Những khó khăn gặp phải của doanh nghiệp tư nhân nông nghiệp 91

Bảng 2.25: Tổng hợp đánh giá của doanh nghiệp đối với quản lý nhà nước 94

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu 2.1: Cơ cấu kinh tế của các thành phần kinh tế 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế tư nhân thực tế đã tồn tại ở nước ta từ rất lâu, nhưng trong thời

kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thành phần kinh tế này bị xem nhẹ, thậm chí còn có những định kiến đề nghị xoá bỏ thành phần kinh tế tư nhân Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các thành phần kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Năm

1986, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện các thành phần kinh tế, trong đó phát triển kinh tế nhiều thành phần được chú trọng đặc biệt, quan tâm đến phát triển kinh tế tư nhân, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý bao cấp sang nền kinh tế thị trường

có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [8] Sau hơn hai mươi năm đổi mới, cùng với các thành phần kinh tế khác, kinh tế tư nhân đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hoá y tế, văn hoá, giáo dục đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập quốc dân, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần ổn định đời sống nhân dân Đã có biết bao những gương mặt các doanh nghiệp, doanh nhân đã làm rạng danh đất nước Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã đánh giá một cách tổng quát: "Công cuộc đổi

mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử" và tiếp

tục khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển đất nước [10] Trong Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu: "cơ cấu

Trang 11

thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu” Khu vực kinh tế nhà nước chiếm 38,4 % GDP; kinh tế dân doanh chiếm 45,7 % GDP; kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15,9 % GDP Ngoài ra tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khoá X, Đảng ta đã ban hành Quy định số 15 -QĐ/TW, ngày 28/8/2006 về đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân, điều đó càng khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới [17]

Tuy vậy, kinh tế tư nhân của nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, phần lớn sản xuất với quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản

lý yếu kém, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, ít đầu tư vào lĩnh vực sản xuất; còn nhiều khó khăn vướng mắc về vốn; mặt bằng sản xuất kinh doanh; về môi trường pháp lý và môi trường tâm lý xã hội; nhiều đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt quy định của pháp luật, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đã gia nhập vào

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì các doanh nghiệp nước ta gặp rất nhiều khó khăn; một mặt do trình độ còn hạn chế, mặt khác am hiểu về thị trường quốc tế chưa sâu, những quy định, luật pháp quốc tế còn rất hiểu chung chung, mơ hồ, sản phẩm trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng để xuất khẩu [13]

Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động, nhưng việc quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế nhiều thành phần nói chung, kinh tế tư nhân nói riêng vẫn còn mới mẻ, chưa đầy đủ, đặc biệt là quản lý sau đăng ký kinh doanh Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, cùng với cả nước, kinh tế tư nhân phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đã có những đóng góp tích cực vào tổng thu ngân sách, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo,

Trang 12

khẳng định vai trò trong nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở Thái Nguyên quy mô sản xuất còn nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, phát triển không đồng đều, phần lớn tập trung ở các đô thị, khu công nghiệp; sản phẩm

do khu vực kinh tế này tạo ra có tính cạnh tranh yếu, thu nhập của người lao động còn thấp và chưa ổn định; quản lý nhà nước đã và đang bộc lộ không ít những khó khăn cho kinh tế tư nhân phát triển Tỉnh Thái Nguyên hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào nhằm tìm ra các giải pháp cho các thành phần kinh tế tư nhân phát triển và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nói chung đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng

Phát triển kinh tế tư nhân đang là vấn đề thời sự của những nhà quản lý để khu vực kinh tế này đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến 2015 và tầm nhìn đến 2020

Do đó, tôi đã chọn đề tài "Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân

hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" nhằm góp phần giải quyết các vấn đề đặt ra ở trên

2 Mục tiêu của đề tài 2.1 Mục tiêu chung

Từ đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa quản lý nhà nước về phát triển kinh

tế tư nhân nhằm đề xuất giải pháp thúc đẩy kinh tế tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh

tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn đến 2020

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo

định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 13

- Đánh giá thực trạng hoạt động và phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong sản xuất kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, nghiên cứu xác lập các căn cứ khoa học để phát triển kinh tế tư nhân

- Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm khuyến khích và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho thành phần kinh tế tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên phát triển

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Theo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, nước ta có 6 thành phần kinh tế Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, số lượng các thành phần kinh tế giảm xuống còn 5 thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế tư nhân bao gồm 2 thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ [1] Trong khuôn khổ của nghiên cứu đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu đến thành phần kinh tế tư bản tư nhân mà chủ yếu là các công ty TNHH, các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nói chung và nghiên cứu thêm về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3.2.1 Về không gian

Các doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, các công ty hợp danh có Trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được đăng ký kinh doanh từ khi có luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân ban hành đến năm 2008

3.2.2 Về thời gian

Tài liệu đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân chủ yếu từ năm 2004 đến năm 2009 tập chung vào giai đoạn 2006-2008 Định hướng và giải pháp đề xuất đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 14

3.2.3 Về nội dung

Nghiên cứu tình hình các yếu tố, nội dung cơ bản trong các loại hình doanh nghiệp của tư nhân (quy mô, vốn, lao động, sản xuất kinh doanh, công nghệ ) Phân tích những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển; vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong cải cách và phát triển kinh tế, những hạn chế của khu vực kinh tế này

Phân tích đánh giá môi trường kinh doanh, những nhân tố mới, xác định quan điểm, nguyên tắc trong đề xuất các giải pháp để phát triển ở tỉnh Thái Nguyên

Tác động của quản lý nhà nước đặc biệt là cấp tỉnh, đến quá trình hoạt động và phát triển kinh tế tư nhân

4 Đóng góp mới của luận văn

Hệ thống hoá thực trạng, quá trình phát triển, đánh giá đúng vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân Lượng hoá, xác định mức độ ảnh hưởng của quản lý nhà nước đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân bằng cách tiếp cận và phương pháp phân tích khoa học

Khái quát những rào cản, yếu tố gây cản trở đang ảnh hưởng đến khu vực kinh tế này, đồng thời để xuất các quan điểm, nguyên tắc, các giải pháp tương đối đồng bộ, toàn diện từ cải thiện môi trường đầu tư, đổi mới quản lý nhà nước, phát huy các yếu tố tiềm lực và định hướng phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với thực tế của tỉnh Thái Nguyên

5 Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vẫn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư

nhân và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển của kinh tế

tư nhân ở Thái Nguyên

Trang 15

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân là một tổ chức kinh tế ngoài nhà nước, quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp này thuộc về một cá nhân hay một nhóm người góp vốn sản xuất kinh doanh được đăng ký và hoạt động theo luật định Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu thủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân [10] Trong khuôn khổ pháp luật doanh nghiệp của tư nhân có quyền tự do và chủ động hoạt động kinh doanh (trừ một số ngành nghề mà pháp luật cấm kinh doanh) và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, quyền thừa kế vốn, tài sản các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên công ty được nhà nước bảo hộ theo pháp luật

1.1.1.2 Khái niệm về các loại hình doanh nghiệp của tư nhân

So với các nước trên thế giới và khu vực, doanh nghiệp của tư nhân ở nước ta ra đời muộn, tuy nhiên nó chứa đựng sự phong phú, đa dạng và chủ yếu ở các loại hình cơ bản: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ tự chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [16]

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ của công ty được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm

Trang 16

về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết) cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 (ba) và không hạn chế số lượng tối đa [16]

- Công ty TNHH, có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty TNHH có 02 thành viên trở lên

+ Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu công ty Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng một phần hay toàn số vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác [16]

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đóng góp vào doanh nghiệp Việc chuyển nhượng một phần hay toàn bộ phần vốn góp phải chào bán phần vốn góp đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với điều kiện: Chỉ được chuyển phần vốn góp cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc mua không hết Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50% [16]

- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất 02 thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công

ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty [16]

Trang 17

Trong các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, thì công ty hợp danh ra đời muộn hơn, mới được nhà nước thừa nhận từ năm 2000

Doanh nghiệp tư nhân nông nghiệp là loại hình doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có đặc điểm đặc trưng đó là yếu tố chính trong quá trình sản xuất là đất đai, cây trồng và vật nuôi; kinh doanh -chế biến đối với các sản phẩm nông nghiệp và bao gồm cả yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp như: cung cấp giống, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y

1.1.1.3 Sự khác biệt cơ bản giữa các loại hình doanh nghiệp tư nhân

Đưa ra quyết định cuối cùng về phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân là chủ doanh nghiệp; công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn là Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị, còn công ty cổ phần là Đại hội cổ đông

Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các thành viên góp vốn phải chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho công ty sau khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Doanh nghiệp tư nhân có duy nhất một chủ sở hữu, còn công ty hợp danh

có ít nhất 02 (hai) chủ sở hữu Một cá nhân nhà đầu tư không thể cùng một lúc là chủ sở hữu của 02 hay nhiều doanh nghiệp tư nhân; vừa là chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân lại vừa là thành viên hợp danh của công ty hợp danh, không thể cùng một lúc là thành viên hợp danh của 02 hay nhiều công

ty hợp danh (Một người không thể có nhiều trách nhiệm vô hạn)

Một số ngành nghề chỉ có công ty TNHH hoặc công ty cổ phần mới được phép kinh doanh, như công ty chứng khoán phải là công ty TNHH hoặc công ty cổ phần, công ty quản lý đầu tư chứng khoán phải là công ty cổ phần Sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp tư nhân do sự hình thành và

sở hữu tài sản quyết định, các loại hình doanh nghiệp của tư nhân sẽ dần thay

Trang 18

thế cho các loại hình doanh nghiệp khác đang tồn tại hiện nay, trong đó hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH sẽ ngày càng phát triển

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của kinh tế tư nhân

1.1.2.1 Đặc điểm

a Đặc điểm chung về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân có những đặc điểm khác với kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã Quyền sở hữu tài sản của các doanh nghiệp thuộc một cá nhân hay một nhóm người tham gia góp vốn sản xuất kinh doanh, được đăng ký và hoạt động theo Luật doanh nghiệp (Trước đây là Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty) Trong khuôn khổ pháp luật doanh nghiệp của tư nhân có quyền tự

do kinh doanh hoặc chủ động trong mọi sản xuất kinh doanh (trừ một số ngành nghề mà pháp luật cấm sản xuất kinh doanh) và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình [13]

Quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, quyền thừa kế về vốn tài sản, các quyền lợi hợp pháp khác của chủ các doanh nghiệp tư nhân, các thành viên công ty được nhà nước bảo hộ theo pháp luật

Mục đích hoạt động của kinh tế tư nhân là thu lợi nhuận tối đa, không bị chi phối bởi các mục tiêu kinh tế xã hội khác như các doanh nghiệp nhà nước, nên bộ máy quản lý thường gọn nhẹ, thận trọng nhưng rất năng động, sáng tạo, có khả năng chớp thời cơ kinh doanh nhanh chóng (Doanh nghiệp nhà nước vấn đề này không dễ thực hiện)

Kinh tế tư nhân gắn với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên tài sản, kinh nghiệm và kiến thức kinh doanh có thể được các thế hệ sau thừa kế và tạo động lực thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh hơn hẳn doanh nghiệp nhà nước Kinh tế tư nhân sở hữu tài sản gắn với quản lý nên giữa quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi gắn chặt với nhau tạo ra tính chủ động tích cực, năng động trước thị trường Vì lẽ đó nhà nước chỉ cần có chiến

Trang 19

lược, chính sách đúng đắn để khuyến khích phát triển và hỗ trợ, không cần đầu tư trực tiếp lớn cho khu vực kinh tế này

Kinh tế tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có tư liệu lao động chính là đất đai, cây trồng và vật nuôi Trong đó, chu kỳ của sản xuất phụ thuộc vào các đặc tính sinh lý của chính các đối tượng cây trồng và vật nuôi

đó Ngày nay, với sự tiến bộ của KHKT con người có thể tác động một phần vào đặc tính sinh lý đó để có thể kéo dài hoặc làm tăng nhanh quá trình đó nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá “trái vụ” bởi các sản phẩm nông nghiệp thường có giá rẻ khi chính vụ và giá bán cao khi trái vụ [12]

b Kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Kinh tế tư nhân ở Việt Nam có đặc điểm hoạt động trong nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các doanh nghịêp được thành lập từ khi có Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (1990), chủ doanh nghiệp thường thiếu kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và bỡ ngỡ trước thị trường (nhất là thị trường nước ngoài) Quy mô sản xuất nhỏ bé, phân tán, năng suất lao động thường thấp hơn doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cùng thành phần của thế giới và khu vực Sự hình thành và ra đời phần lớn là tự phát, khả năng cạnh tranh hạn chế, khả năng tích tụ chưa đáng kể Do không đủ sức cạnh tranh, khả năng điều hành, kinh nghiệm, trình độ kinh doanh yếu kém nên có doanh nghiệp ra đời không lâu đã mất phương hướng trong sản xuất kinh doanh, lâm vào tình trạng phá sản hoặc phải tuyên bố chấm dứt hoạt động [1]

Doanh nghiệp của tư nhân và hộ kinh doanh cá thể luôn có sự quan hệ mật thiết Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hộ kinh doanh cá thể

có vai trò quan trọng đối với sự vận hành của nền kinh tế cũng như phúc lợi

xã hội Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt là 5 năm trở lại đây, đã có nhiều hộ kinh doanh cá thể chuyển thành doanh nghiệp

Trang 20

Một nghiên cứu gần đây trong dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), cho thấy việc chuyển đổi của hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp mới đăng ký, gần 1/4 số doanh nghiệp đã từng là hộ kinh doanh cá thể, thời gian trung bình kể từ thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là 4 năm Việc chuyển đổi từ hộ kinh doanh cá thể sang doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ nhất từ năm 2001 khi Luật Doanh nghiệp chính thức

có hiệu lực Số lượng các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp ở miền Bắc nhiều hơn miền Nam (3/4 các trường hợp chuyển đổi ở miền Bắc là những hộ kinh doanh cá thể được thành lập từ trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp và đã chuyển đổi thành doanh nghiệp ngay sau thời điểm luật có hiệu lực, trong khi đó tỷ lệ này ở miền Nam là 40% [14]

Trình độ phát triển của doanh nghiệp thấp cả về công nghệ, kỹ năng lao động và quản lý, số doanh nghiệp có đủ khả năng vươn ra các địa bàn khác (trong và ngoài nước) ít Nước ta chưa có doanh nghiệp tư nhân đa quốc gia hoặc là thành viên của các tập đoàn kinh tế lớn, đầu tư phát triển dàn trải, manh mún Tình trạng phổ biến là một doanh nghiệp kinh doanh nhiều nghề, không chuyên một ngành nghề nào, ít có sản phẩm truyền thống, có thương hiệu trên thị trường quốc tế và khu vực Trình độ xã hội hoá về sở hữu vốn chưa cao (thể hiện rõ nhất là loại hình một chủ chiếm ưu thế khoảng 42%) Hình thức công ty, đặc biệt là công ty cổ phần (có trình độ xã hội hoá về sở hữu cao hơn), tỷ trọng thấp, sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp của tư nhân với nhau và với các khu vực kinh tế khác hạn chế

Các doanh nghiệp của tư nhân phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào những vùng có cơ sở hạ tầng thuận lợi, dân cư đông như thành phố, thị xã, các khu công nghiệp như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, vùng trọng điểm kinh

tế Bắc Bộ

Trang 21

Các doanh nghiệp tư nhân thường quan tâm đến lợi nhuận, lợi ích trước mắt ít chú ý đến lợi ích cộng đồng Các doanh nghiệp này chủ yếu kinh doanh lĩnh vực thương mại, xây dựng (60- 70%) Ngoài ra, do sản xuất kinh doanh tự phát còn thiếu sự hỗ trợ, định hướng của nhà nước nên còn nhiều doanh nghiệp tuy có khả năng vốn, chất xám nhưng chưa biết sản xuất cái gì, tiêu thụ sản phẩm ở đâu, vì thế mà không dám đầu tư

Một đặc điểm nữa là chủ yếu các doanh nghiệp cuả tư nhân ít hiểu biết

về pháp luật, dẫn đến nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật kinh doanh Hiện tượng trốn lậu thuế khá phổ biến và có chiều hướng gia tăng Các thủ đoạn trốn lậu thuế từ đơn giản đến tinh vi: Không đăng ký kê khai nộp thuế, khai giảm doanh số, đánh tráo các sản phẩm có mức thuế thấp, khai tăng chi phí và giảm giá bán, thông đồng mua chuộc cán bộ thuế Tình trạng làm hàng giả, hàng nhái kiểu dáng công nghiệp, vi phạm bản quyền, vi phạm luật lao động, kinh doanh không đúng với đăng ký khá phổ biến Kinh doanh kiểu chụp giật, lừa đảo; kinh doanh hàng cấm, cho thuê mượn giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh làm giảm lòng tin trong cộng đồng doanh nghiệp và xã hội [10] Các sáng lập viên, thành viên góp vốn trong các công ty (TNHH, Cổ phần) thường có quan hệ gia đình họ hàng, số lượng thành viên không nhiều

c Kinh tế tư nhân ở Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi được thành lập từ lâu, đến năm 1997 được chia tách thành 02 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Trên địa bàn tỉnh có nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn như: Công ty giấy Hoàng Văn Thụ, Công ty Gang thép Thái Nguyên, công ty Kim loại màu, Công ty xây lắp Thái Nguyên, công ty TNHH Thái Hưng, Ngoài các đặc điểm chung của kinh tế

tư nhân Việt Nam, một đặc điểm có tính chất riêng biệt là kinh tế tư nhân ở Thái Nguyên giao kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nhà nước, giữ vai trò là

xí nghiệp vệ tinh, cung cấp nguyên vật liệu Đối tượng thành lập doanh

Trang 22

nghiệp ban đầu chủ yếu là các tiểu thương, các cá nhân trong các tổ chức hợp tác Về sau là những công nhân, cán bộ nghỉ chế độ, có khả năng chuyên môn cao, có tư duy kinh tế Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều nông dân làm kinh tế giỏi thành lập doanh nghiệp

1.1.2.2 Vai trò vị thế của kinh tế tư nhân

Sự ra đời các doanh nghiệp của tư nhân đã làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn, số doanh nghiệp tăng nhanh về mặt số lượng doanh nghiệp của thành phần kinh tế này chiếm tỷ lệ áp đảo trong các doanh nghiệp

ở nước ta (năm 1995 là 87%, năm 1998 là 92%, năm 2004 là 97%) Doanh nghiệp của tư nhân đã huy động khai thác mạnh mẽ các nguồn lực xã hội còn tiềm ẩn vào sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội sản xuất ra khối lượng lớn sản phẩm hàng hoá, đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Doanh nghiệp của tư nhân cùng doanh nghiệp của nhà nước tạo thành hệ thống doanh nghiệp đồng bộ Một bộ phận doanh nghiệp của tư nhân đã thay thế xứng đáng một số vị trí của doanh nghiệp nhà nước Ở những lĩnh vực mà doanh nghiệp nhà nước chưa vươn tới hoặc kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp của tư nhân còn đóng vai trò là các xí nghiệp vệ tinh cung cấp nguyên liệu và tiêu dùng sản phẩm cho doanh nghiệp nhà nước, góp phần đưa nền kinh tế phát triển toàn diện, cân đối, nhất là trên các lĩnh vực thương mại, tiêu thụ nông sản hàng hoá, sơ chế nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tạo sức mạnh tổng lực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng trưởng ngành công nghiệp và dịch vụ [18]

Kinh tế tư nhân đã khắc phục được các nhược điểm cố hữu của doanh nghiệp nhà nước Việc tiếp nhận chuyển tải thông tin, xử lý thông tin đưa ra quyết định cuối cùng được giải quyết nhanh chóng kịp thời, không phải qua nhiều khâu, nhiều tầng nấc giúp họ điều tiết linh hoạt thích ứng nhanh với cơ

Trang 23

chế thị trường, tận dụng hiệu quả những cơ hội sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao

Kinh tế tư nhân phát triển đã giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động nhất là trong lĩnh vực sản xuất các ngành nghề thủ công truyền thống, đóng vai trò không nhỏ trong việc khắc phục tình trạng thiếu việc làm nhất là

ở khu vực nông thôn, khu công nghiệp đô thị, lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp lại doanh nghịêp nhà nước, cải cách hành chính; có tác dụng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, các doanh nghiệp tư nhân tiêu thụ khối lượng nguyên liệu lớn trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thu về khối lượng ngoại tệ đáng kể cho đất nước Nhiều vùng nguyên liệu, ngành nghề, làng nghề truyền thống bị lãng quên nay được khôi phục và phát triển Thu nhập của người lao động tăng lên rõ rệt, tỷ trọng GDP đóng góp cho nền kinh tế ngày một tăng [18] Doanh nghiệp tư nhân làm tăng khả năng cạnh tranh trong cộng đồng doanh nghiệp tạo sự hấp dẫn trong môi trường kinh doanh Nó tác động thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước từng bước xóa bỏ tệ quan liêu, cửa quyền, độc quyền trong kinh doanh tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Doanh nghiệp của tư nhân còn thúc đẩy tư duy nhạy bén, linh hoạt trong phương thức quản lý của cơ quan quản lý nhà nước, đòi hỏi bộ máy công quyền, các công chức, viên chức phải đổi mới tư duy và phương pháp quản lý trong cơ chế thị trường, khắc phục tư duy cứng nhắc, cơ chế xin cho, bất cập với tốc độ phát triển kinh tế [33]

1.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Sơ lược hình thành phát triển kinh tế tư nhân thế giới

Kinh tế tư nhân xuất hiện và phát triển từ khi xã hội loài người phân chia giai cấp, nhưng chỉ đến thời kỳ Tư bản chủ nghĩa thì khái niệm doanh nghiệp

Trang 24

tư nhân mới bắt đầu xuất hiện Sự thay đổi các hình thức sở hữu là do sự tiến hoá của chế độ kinh tế - xã hội và phát triển của lực lượng sản xuất Sản xuất công nghiệp, phát triển đã xác định giới hạn sàn của các hình thức sở hữu có tính tương thích với điều kiện của chế độ, công nghệ và phương thức sản xuất; sở hữu tư nhân phát triển bởi tính chất dễ dàng xác lập, chuyển nhượng Đối với các nước công nghiệp trong thế kỷ 19, sở hữu tư nhân trở thành hình thức sở hữu chủ đạo Nó đã làm phân rã và loại bỏ các dạng quan hệ sở hữu

cổ sơ, đã đóng vai trò quyết định, thúc đẩy CNTB phát triển [10]

Các nước Phương Đông, sự phân rã các dạng sở hữu cổ sơ cùng với sự thủ tiêu bằng bạo lực, là cơ sở để hình thành và mở rộng nhanh chóng sở hữu

tư nhân Tuy nhiên, khác với các nước phương Tây, xã hội phương Đông không biến thành các chế độ tư hữu vì sở hữu tư nhân phải cùng tồn tại và tương tác với các dạng khác của nó Các nước phương Đông, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ yếu trong suốt nhiều thế kỷ Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc và chủ nghĩa dân tộc ngày càng lớn mạnh, phát triển

đi đôi với sự ra đời của hàng loạt quốc gia độc lập, phong trào giải phóng dân tộc ở phương Đông phát triển mạnh mẽ Thêm nữa tại các nước đang phát triển trong thời kỳ này, cùng với cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ha đã diễn ra Cuối cùng việc Liên Xô ra đời và giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc đã làm thay đổi chính sách của các nước lớn đối với nhiều nước phương Đông Kinh nghiệm tồn tại độc lập chỉ ra rằng việc sử dụng sở hữu tư nhân để củng cố nền độc lập dân tộc là việc cực kỳ phức tạp, do sở hữu tư nhân chịu sự chi phối của xung lực thị trường và động cơ lợi nhuận, không thể ưu tiên phát triển khi nhìn từ góc độ củng cố nền độc lập Chính vì vậy mà sở hữu nhà nước với tính cách là công cụ để củng cố chính quyền dân tộc đã xuất hiện và phát triển nhanh chóng ở Liên Xô, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước XHCN khác (trong đó có nước ta) [10]

Trang 25

Kết quả hình thành và phát triển nhà nước ở phương Tây và phương Đông trong nửa đầu thế kỷ 20 đã có sự khác nhau về căn bản, ở phương Tây

sở hữu nhà nước được hình thành trên cơ sở hạn chế sở hữu tư nhân, chỉ khi qúa trình tái sản xuất trở lên hỗn loạn so khủng hoảng kinh tế gây lên thì sự hình thành sở hữu nhà nước mới chuyển sang một giai đoạn mới Ở phương Đông thì không như vây, vào thời kỳ đó sự hình thành sở hữu nhà nước diễn

ra bằng con đường xoá bỏ và loại trừ các hình thức sở hữu cổ hủ Nhưng bản thân sự hình thành sở hữu nhà nước theo chiều thuận và nghịch của những mối liên hệ hợp tác đã kích thích sự phát triển của sở hữu tư nhân

Như vậy, hơn nửa thế kỷ 20 có sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu đặc biệt là ở các nước phương Đông Tuy nhiên hướng phát triển chủ yếu vẫn là hình thành sở hữu tư nhân đi đôi với việc loại bỏ các dạng sở hữu cổ sơ và hình thành sở hữu tư nhân

Từ những năm 80 của thế kỷ trước trở lại đây, xu thế toàn cầu hoá kinh

tế diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới buộc các nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường, phân tích đánh giá lại một cách thận trọng, khách quan và công bằng hơn vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế tư nhân Tính hiệu quả của kinh tế tư nhân trong sự phát triển đa dạng, đa chiều của nhiều nền kinh tế quốc gia và kinh tế thế giới chính vì vậy mà phong trào tư nhân hoá diễn ra sôi nổi trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 vốn được đặc trưng bởi ưu thế của thuyết tự do hoá, nó được nhìn nhận như một phương tiện để nhiều nước chuyển đổi và đang phát triển thực hiện cuộc cải cách nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế [10]

Sự phát triển kinh tế tư nhân của một số nước trên thế giới

(1) Trung Quốc: Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa khu vực, kinh

tế tư nhân phát triển mạnh mẽ trong hơn 20 năm trở lại đây Từ năm 1953, thực hiện đường lối chạy theo thời kỳ quá độ với lịch trình 15 năm cải tạo

Trang 26

XHCN các doanh nghiệp tư nhân và hộ thủ công được đẩy mạnh, nhưng cũng nhanh chóng kết thúc vào năm 1956 Trong những năm 1980 hộ cá thể phát triển mạnh, nhanh chóng đạt 23,05 triệu hộ, vào cuối năm 1989 số lượng doanh nghiệp tư nhân của Trung Quốc tăng lên rõ rệt, sau sự kiện Thiên An Môn số doanh nghiệp tư nhân giảm mạnh Có thể nói sự thay đổi quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc từ những năm 1990 là tư nhân hoá Doanh nghiệp tư nhân của Trung Quốc được chia làm 3 loại hình: Doanh nghiệp một chủ, công ty hợp danh và công ty TNHH Từ năm 1991 đến 1997 số doanh tư nhân đăng ký tăng 7,9 lần Có thể nói kinh tế tư nhân Trung Quốc phát triển qua 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1978-1987 là giai đoạn khôi phục dần doanh nghiệp tư nhân, kinh tế tư nhân được xem là khu vực bổ sung cho khu vực nhà nước nhưng phạm vi hoạt động của nó vẫn hạn chế [17]

Giai đoạn 1988 - 1998: phát triển Năm 1992 Hội nghị BCH Trung ương Đảng Trung Quốc đã đưa ra Nghị quyết về việc hình thành kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc Lần đầu tiên kinh tế thị trường được coi trọng là mục tiêu của Trung Quốc, nhà nước đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Giai đoạn từ năm 1999 đến nay là giai đoạn nhà nước Trung Quốc ngày càng thân thiện với kinh tế tư nhân Đây là bước ngoặt quan trọng ngang nhau của và khu vực nhà nước [17]

(2) Cộng hoà Liên Bang Nga: Từ năm 1917 khi cuộc cách mạng tháng

10 Nga thành công đến những năm cuối của thập kỷ 80, kinh tế tư nhân của Nga không phát triển, thay vào đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể chiếm vị trí thống trị Mục đích tư nhân hoá ở Nga chủ yếu mang tính chất chính trị, không phải là kinh tế xã hội Tư nhân hoá ở Nga nhằm tạo ra tầng lớp hữu sản làm nền tảng kinh tế xã hội mới vì vậy "tốc độ" là ưu tiên hàng đầu cho tư nhân hoá Nga cho rằng cơ cấu sở hữu hỗn hợp nhà nước, tư nhân

Trang 27

thường có hoạt động ngầm không thể kiểm soát và chưa hoàn toàn tuân theo

cơ chế thị trường Việc tư nhân hoá các ngành như khai thác dầu mỏ, có ý kiến cho rằng chuyển độc quyền từ nhà nước sang tư nhân, tuy nhiên chính tư nhân hoá buộc các công ty của Nga phải cạnh tranh quốc tế, phải thu hút thêm vốn đầu tư thay đổi công nghệ, thay đổi cơ cấu quản lý minh bạch, công khai Cho đến nay có thể nói tư nhân hoá ở Nga đã thu được những kết quả đáng kể, kinh tế Nga thoát khỏi khủng hoảng, số doanh nghiệp nhà nước còn lại rất

ít Hiện nay, Nga coi sở hữu tư nhân là một trong các trụ cột nền tảng của xã hội, là điều kiện không thể thiếu của cơ chế thị trường, kinh tế tư nhân có không gian và điều kiện phát triển tối đa, không hạn chế các doanh nghiệp nhà nước và tài sản nhà nước chỉ khống chế ở mức tối thiểu đủ duy trì hoạt động bình thường của nhà nước

1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Việt Nam là nước nửa thuộc địa phong kiến, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Doanh nghiệp tư nhân ở nước ta lần đầu tiên xuất hiện vào những năm

30 của thế kỷ trước, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, giao thông, đồn điền cao su, chè, cà phê, chăn nuôi

Trong thời kỳ khôi phục kinh tế ở miền Bắc, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển, tuy nhiên từ cuối năm 1958 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam đã áp dụng mô hình quản lý kinh tế XHCN, kế hoạch hoá tập trung , đã tiến hành quốc hữu hoá ruộng đất, nhà máy, đồn điền và các ngành công nghiệp khai thác, chuyển đổi thành doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước Dựa vào quan điểm sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc sinh ra bóc lột, nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách và biện pháp nhằm hạn chế tối đa sự phát triển của kinh tế tư nhân Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mới thừa nhận và khẳng định sự tồn tại lâu dài của kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, khuyến khích phát triển và quản lý kinh tế tư bản tư nhân, đồng thời chủ

Trang 28

trương phát triển các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết giữa các thành phần kinh tế với biện pháp cụ thể: Nhà nước chủ động đầu tư kêu gọi vốn từ các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước thuê nhà kinh doanh tư nhân tham gia quản lý [10]

Trước đây khi Việt Nam chưa thực hiện chính sách đổi mới, sở hữu tư nhân bị phủ nhận, thay vào đó nhà nước đã dồn hết nguồn lực để phát triển các doanh nghiệp khu vực nhà nước Bước ngoặt quan trọng là từ năm 1986, Việt Nam đã thừa nhận và khẳng định sự tồn tại, phát triển lâu dài của sở hữu

tư nhân, gắn liền với nó là kinh tế tư bản tư nhân Việc ban hành Luật doanh nghiệp đã mở ra bước đột phá trong công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong khâu đăng ký kinh doanh

Kinh tế tư nhân của Việt Nam từ chỗ chiếm vị trí không đáng kể nay đã trở thành một lực lượng thực tế, có vai trò quan trọng lâu dài trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Công dân được tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, được khuyến khích phát triển không hạn chế trong lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh [13]

1.2.3 Những vấn đề chủ yếu đặt ra để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Kinh tế tư nhân ở Việt Nam chính thức hình thành chưa lâu, do vậy thiếu kinh nghiệm về quản lý và điều hành doanh nghiệp, quy mô nhỏ, tốc độ phát triển chậm, tích tụ vốn không cao, công nghệ chậm đổi mới, chất lượng sản phẩm cạnh tranh thấp

Việt Nam có một lịch sử quá mỏng về kinh tế thị trường, chưa hình thành nền văn minh kinh doanh như đã tồn tại và phát triển ở các quốc gia khác trên thế giới, không chỉ đối với đội ngũ doanh nghiệp mà ngay bộ máy quản lý nhà nước cũng không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế thị trường Hiện nay còn rất nhiều bất cập, thiếu minh bạch, dân chủ, công khai trong cơ chế chính sách làm cho môi trường kinh doanh không thuận lợi Hệ thống pháp luật không

Trang 29

đồng bộ, còn có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp Sự phân biệt, thiên lệch đó tồn tại trong mối quan hệ: doanh nghiệp của tư nhân trong nước và doanh nghiệp nhà nước, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giữa nội bộ các doanh nghiệp của tư nhân với nhau và nó làm xấu đi môi trường kinh doanh, hạn chế kinh tế tư nhân phát triển [12]

Khi môi trường bên ngoài được cải thiện, Việt Nam cần phải làm nhiều hơn nữa để kích thích tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo được một không khí công khai minh bạch cho kinh tế phát triển trên mọi phương diện cả trong và ngoài nước Tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân hướng vào những hoạt động có hàm lượng lao động, hàm lượng tài nguyên cao, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp liên doanh, trước hết phải sửa chữa những hạn chế về cơ cấu, đặc biệt là sự phụ thuộc nặng nề vào các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp công phi hiệu quả, cụ thể là cải cách các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu doanh nghiệp công thực hiện bằng được kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (cổ phần hoá 1.800 doanh nghiệp trong tổng số 5.000 doanh nghiệp ở nhiều cấp độ khác nhau)

Tự do hoá thương mại và tự do hoá đầu tư, phù hợp với xu thế toàn cầu hoá kinh tế, đi đôi với cải cách ngân hàng, để làm tăng khả năng tiếp cận với tín dụng, cũng đòi hỏi các doanh nghiệp tư nhân phải cải tổ, làm cho cơ cấu chế độ tài chính của doanh nghiệp trở nên minh bạch hơn bằng việc đẩy mạnh các phương pháp kế toán và thực hiện báo cáo tài chính theo quy định

Chất lượng và khả năng cạnh tranh của nước ta còn hạn chế, trình độ kỹ thuật và công nghệ còn thấp; trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp và tay nghề của người lao động còn yếu, phần lớn lại chưa qua đào tạo, hiểu biết về chính sách pháp luật còn ít Ngoài ra tính liên kết, hợp tác cộng đồng trong

Trang 30

các doanh nghiệp của tư nhân không cao, vẫn xảy ra hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép nhau Mặt khác, quan niệm cũ của xã hội về kinh

tế tư nhân làm ăn dối trá, gian lận chưa xoá bỏ; lại thêm trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp tư nhân còn trốn thuế, mua bán hoá đơn giá trị gia tăng, thành lập doanh nghiệp ma, gian lận thương mại đã bị phát hiện và xử lý tạo

ra dư luận và hình ảnh không tốt về kinh tế tư nhân

Ở một khía cạnh khác, những vướng mắc và rào cản trong phát triển kinh

tế tư nhân còn xuất phát từ công tác quản lý nhà nước Một số chính sách, quy định chưa phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của doanh nghiệp tư nhân Sự ra đời của luật doanh nghiệp đã thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, nhưng thực tế công cuộc cải cách diễn ra chậm chạp, nhất là quản lý hoạt động sau đăng ký kinh doanh

Việt Nam càng phải cải cách khung khổ tư pháp và quy chế chi phối khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài Việc sửa đổi, bổ xung các văn bản luật cho phù hợp với các luật tương thích của WTO là một cố gắng rất lớn Tuy nhiên cần phải nỗ lực hơn để các thể chế của luật được thể hiện trong thực tế như vậy đòi hỏi phải đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục tình trạng quan liêu tham nhũng, từ đó phải hợp lý hoá sự vận hành của bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, đẩy mạnh đào tạo quản lý nguồn nhân lực

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn còn chưa thực sự dễ dàng cho doanh nghiệp: Nỗ lực về cải thiện môi trường kinh doanh đã được báo cáo toàn cầu môi trường kinh doanh 2006 của ngân hàng thế giới ghi nhận khi xếp Việt Nam là một trong những nước cải cách hàng đầu trong năm qua Đó là cải cách liên quan đến thủ tục đăng ký kinh doanh, ban hành luật phá sản mới và áp dụng các biện pháp đẩy mạnh thực thi hợp đồng, giảm chi phí đăng ký, chuyển nhượng bất động sản của doanh nghiệp Tuy nhiên Việt Nam cần tiếp tục đơn giản hoá pháp luật và quy

Trang 31

định kinh doanh để môi trường đầu tư trở lên hấp dẫn hơn Việt Nam vẫn xếp thứ 99 trên tổng số 155 quốc gia về mức độ dễ dàng của môi trường kinh doanh, cho thấy vẫn còn một khoảng cách lớn giữa chủ trương và tổ chức triển khai thực tế cải cách, do đó cần phải tiếp tục cải cách để có môi trường kinh doanh thuận lợi hơn Hội thảo "Giấy phép kinh doanh tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp", đã cảnh báo nhiều Bộ, ngành, tỉnh, thành phố, thậm chí quận, huyện, xã, phường cũng ban hành giấy phép, trong khi đó Luật quy định rõ ràng: “Chỉ có văn bản pháp luật từ Nghị định trở lên mới được quy định giấy phép” [15]

Nuôi dưỡng và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân cũng là việc phải làm Tuy nhiên cần tránh hỗ trợ theo kiểu lựa chọn, điều này sẽ tạo điều kiện và nuôi dưỡng

cơ chế xin cho, cơ chế bao cấp và tư tưởng ỷ lại vừa không công bằng lại kém hiệu quả Kinh nghiệm cho thấy là nhà nước nên tạo môi trường kinh doanh ổn định, thuận lợi và thông thoáng để mọi doanh nghiệp có cơ hội phát triển, công việc cần làm là thúc đẩy cung cầu thị trường, tạo cầu gặp cung và ngược lại

Tăng trưởng kinh tế cao, đẩy lùi đói nghèo cũng là một thách thức được đặt ra để phát triển kinh tế tư nhân, từ nay đến 2010 phải tái nhập tốc độ tăng trưởng trước khủng hoảng nghĩa là phải đạt mức tăng trưởng bình quân 7,5 - 8% năm, đến 2010 thu nhập đầu người đạt 900USD Việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao phải đi đôi và giải quyết được các thách thức, giảm bớt đói nghèo, tăng triển vọng tạo việc làm và đẩy mạnh cạnh tranh

Hoạt động khởi sự doanh nghiệp tư nhân là hết sức quan trọng, để tăng nhanh số lượng doanh nghiệp thành công, thu hút nhiều hơn nữa người dân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Các hoạt động khởi sự doanh nghiệp phải trở thành phong trào rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, từ

cơ quan nhà nước đến các tổ chức xã hội, hiệp hội, tư duy, thái độ coi doanh nghiệp tăng quá nhanh cần hạn chế lại là một vật cản lớn cần xoá bỏ để thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo [9]

Trang 32

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp luận chung

Đề tài được nghiên cứu theo quan điểm duy vật biện chúng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

1.3.2 Phương pháp cụ thể

1.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp: Tìm kiếm các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân qua các sách báo, bài viết, tạp chí, mạng Internet

- Số liệu thống kê, số liệu điều tra của các cơ quan quản lý nhà nước đã công bố

- Các văn bản quy phạm pháp luật của các ngành, của tỉnh và Trung ương

1.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Hội thảo, tư vấn của các chuyên gia để lập phiếu điều tra

- Chọn mẫu điều tra: Điều tra phỏng vấn 100% số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn hiện có trên địa bàn toàn tỉnh tính đến thời điểm 3/12/2008 (14 doanh nghiệp) và lấy thêm 86 doanh nghiệp phi nông nghiệp để phân tích so sánh đối chứng

- Thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra phỏng vấn trực tiếp Ngoài ra, còn phỏng vấn trực tiếp thêm các cấp quản lý cấp cao như: Các nhà lãnh đạo, các chuyên viên của các UBND các cấp, các Sở, Ban ngành liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như giao đất, thành lập doanh nghiệp, cấp đăng ký kinh doanh, các chính sách thuế, ưu đãi đầu tư, ngân hàng, tài chính

1.3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật

và tính toán tùy theo mục đích nghiên cứu, phân tích của đề tài trên chương trình Excel 2007 của Microsoft

Trang 33

Sử dụng phần mềm xử lý thống kê xã hội SPSS 15.0 (Statistical Package

For Social Sciences) để xử lý thống kê và xem xét mối tương quan giữa các

chỉ tiêu nghiên cứu đồng thời kiểm định các giả thiết thống kê định lượng, định tính trong mô hình phân tích

1.3.2.4 Phương pháp phân tích đánh giá

Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra

Phương pháp phân tích so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tương đối nhằm chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này dùng để so sánh sự khác nhau về doanh thu, số lượng lao động từ các ngành nghề khác nhau, cơ cấu thu nhập giữa các loại hình doanh nghiệp tư nhân

Phương pháp phân tổ thống kê: Mục tiêu của việc phân tổ trong nghiên cứu là làm cho sự đồng nhất trong cùng một nhóm và sự khác biệt giữa các nhóm tăng lên Tác giải đã phân tổ các hộ điều tra theo tiêu chí: Loại hình doanh nghiệp để tiến hành phân tích đánh giá xem có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêu nghiên cứu giữa các loại hình công ty như: Tuổi trung bình của chủ doanh nghiệp tư nhân, số lượng lao động Ngoài ra, tác giả còn phân tổ

số liệu theo các tiêu chí định tính: Trình độ văn hoá, thành phần dân tộc của chủ doanh nghiệp tư nhân để phân tích đánh giá các yếu tố theo đa chiều

Trang 34

b Chỉ tiêu định lượng

+ Số lượng các doanh nghiệp tư nhân theo loại hình doanh nghiệp, theo ngành nghề kinh doanh, theo địa phận hành chính

+ Hoạt động của các đoàn thể trong các loại hình doanh nghiệp

+ Trình độ công nghệ của các loại hình doanh nghiệp + Số vốn đầu tư theo loại hình kinh doanh, ngành nghề kinh doanh

+ Số lượng lao động, trình độ lao động, trình độ của các chủ doanh nghiệp tư nhân

+ Doanh thu của các loại hình doanh nghiệp tư nhân phân theo loại hình doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1 Vị trí địa lý: Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, nằm

trong khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.534,35

km2, dân số tính đến ngày 31/12/2008 là 1.118.050 người với 8 dân tộc anh

em, trong đó chủ yếu là người Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Cao Lan, Trại và Dao Dân số phân bố không đều Có khoảng 23% dân số tập trung ở khu vực Thành phố Thái Nguyên Mật độ dân số rất khác biệt giữa các khu vực Khu vực thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công có mật độ dân số khá đông, vùng cao và vùng núi dân cư thưa thớt Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 78 người/km2, cao nhất là thành phố Thái Nguyên 1.366

[12]

Thái Nguyên là tỉnh không lớn, chỉ chiếm 1,43% diện tích cả nước và 0,13% dân số so với cả nước Về mặt hành chính, Thái Nguyên có 7 huyện bao gồm các huyện: Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương, Định Hoá, Phổ Yên và huyện Phú Bình Có 01 thị xã Sông Công và 01 thành phố với tổng cộng 180 xã, phường, thị trấn

Tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp với Bắc Kạn; phía Tây giáp với Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp với Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam với thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý khá thuận lợi và là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của Việt Bắc nói riêng, của vùng trung

du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên còn là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Sự

Trang 36

giao lưu đó được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút cửa ngõ giao thông để kết nối giữa các khu vực trên

Đường quốc lộ số 03 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn

bộ tỉnh Thái Nguyên chạy qua thành phố Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối Thái Nguyên với Hà Nội, các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế, đồng thời còn là cửa ngõ phía Bắc qua tỉnh Bắc Kạn lên Cao Bằng thông sang biên giới Trung Quốc

Các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh bạn lân cận như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và thủ đô

Hà Nội Tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều là mối giao lưu quan trọng giữa vùng đồng bằng với khu công nghiệp Sông Công, khu Gang Thép và thành phố Thái Nguyên và nhiều cụm công nghiệp vừa và nhỏ mới được hình thành xung quanh thành phố Thái Nguyên

Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là căn cứ địa cách mạng trong những năm kháng chiến, có truyền thống cách mạng và nền văn hoá đậm đà bản sắc của các dân tộc miền núi phía Bắc Với 07 trường đại học hiện nay thuộc Đại học Thái Nguyên và 27 trường cao đẳng, trung cấp, dạy nghề, lái xe Thái Nguyên còn là trung tâm đào tạo khoa học và giáo dục cho các tỉnh miền núi phía Bắc, cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng cho các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung

và cho Thái Nguyên nói riêng

2.1.1.2 Đất đai, địa hình

Căn cứ vào mục đích sử dụng mà chúng ta có thể tạm phân chia diện tích

đất đai của tỉnh Thái Nguyên như bảng 2.1 sau đây:

Trang 37

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009

TT Mục đích sử dụng Số lƣợng Cơ cấu (%)

Nguồn: Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Thái Nguyên

Trong tổng diện tích 353.435,2ha đất tự nhiên của tỉnh thì có đến 78,15% là diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên theo thống kê đến đầu năm 2009 là 276.197,07ha và trong đó diện tích đất trồng lúa chiếm tới 59.830,88ha

Trang 38

Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc nên vẫn có những đặc điểm chung của khu vực đó là tỷ lệ đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao Đất lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên là 172.631,82ha chiếm 48,94% tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh

Diện tích đất phi nông nghiệp là 41.461,51ha chiếm 11,73% trong tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Diện tích đất dành cho nhà ở năm 2008 là 10.081,52ha chiếm 2,85% và diện tích chuyên dùng để xây dựng trụ sở các cơ quan hành chính sự nghiệp, đất cho an ninh quốc phòng, các công trình công cộng phục vụ cho xã hội là 19.837,37ha chiếm tỷ trọng 5,61% trong tổng diện tích đất tự nhiên

Bên cạnh đó, diện tích đất chưa sử dụng là 35.776,62ha chiếm 10,12% trên tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích này chủ yếu tập trung ở các huyện vùng cao như Võ Nhai, Định Hoá và vẫn để trong trạng thái tư nhiên vốn có

2.1.1.3 Tiềm năng khoáng sản Tài nguyên khoáng sản: Thái Nguyên được thiên nhiên ban tặng cho

một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú Các loại tài nguyên khoáng sản như quặng sắt, than mỡ, thiếc, tài nguyên làm vật liệu xây dựng tuy có trữ lượng không lớn nhưng đã được thăm dò và nhiều loại đang khai thác, là nhân tố quan trọng trong việc hình thành một số trung tâm công nghiệp có mức độ chuyên môn hoá cao

Bên cạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, công tác quản lý tài nguyên môi trường luôn được thực hiện sát sao, kịp thời có các giải pháp ngăn chặn xử lý để quản lý, lập trật tự ổn định tình hình về khai thác, sử dụng, vận chuyển khoáng sản và khuyến khích các nhà đầu tư tập trung vào chế biến sâu, nâng cao giá trị trong khai thác chế biến tài nguyên khoáng sản theo quy hoạch; kịp thời cấp đất cho chủ đầu tư các dự án, công trình đầu tư trên địa bàn tỉnh; cơ bản hoàn thành việc công tác cấp đổi

Trang 39

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về việc điều chỉnh cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao đã cấp vượt hạn mức đất ở theo quy định, do không tách diện tích đất ở và đất vườn, ao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo Nghị quyết số 34 của HĐND tỉnh Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động tài nguyên, môi trường, chấn chỉnh và xử lý vi phạm để đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật về quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường theo quy định [15]

2.1.1.4 Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu chia làm 2 mùa rất rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

 Nhiệt độ trung bình năm: 23ºC

 Nhiệt độ cao nhất : 32ºC

 Nhiệt độ thấp nhất : 13,5ºC

/tháng

 Số giờ nắng trung bình trong tháng: 106 giờ

Hệ thống thủy văn: Thái Nguyên có điều kiện thuỷ văn khá thuận lợi: Có

hệ thống sông Cầu với tổng chiều dài 26 km, Hồ Núi Cốc có diện tích tự nhiên 25 km2 cung cấp và điều phối nước tưới, tiêu đáp ứng cho sản xuất kinh doanh nông nghiệp và nước sinh hoạt cho người dân

Có thể nói tỉnh Thái Nguyên có điều kiện về đất đai, khí hậu và nguồn nước rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp với hai loại cây trồng chính là cây lúa và cây chè Tỉnh có diện tích rừng bao phủ trên 48% vừa có chức năng điều hoà khí hậu, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt đồng thời mở ra tiềm năng phát triển kinh tế khi UBND tỉnh đã và đang giao đất, giao rừng cho người dân địa phương quản lý

Trang 40

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội

2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Tổng dân số toàn tỉnh Thái Nguyên và cơ cấu dân số được trình bày ở bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009

Phân theo trình độ chuyên môn Người

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Cuối năm 2009, tổng dân số Thái Nguyên là 1.127.430 người trong đó

số người trong độ tuổi lao động là 666.903 người chiếm 53,64% trong tổng dân số Số lao động nam là 338.390 người và số lao động nữ là 328.513 người Trong đó số lao động có trình độ cao đẳng trở lên khoảng 49.684 lao động chiếm 7,45%

Tính tại thời điểm 0h ngày 01/4/2009, tổng dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.124.786 người, trong đó dân số nam là 559.153 người (chiếm 49,71%); dân

số nữ là 565.633 người (chiếm 50,29%) So với cả nước, dân số tỉnh Thái

Ngày đăng: 17/03/2017, 04:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Tất Thắng, Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, NXB khoa học xã hội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
2. Diệu Hương, Hà Tiểu Lâm, Khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc, chính sách, quá trình phát triển và những trở ngại trước mắt, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 287, tháng 4 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
4. Ngô Lâm Khuê, Thuế thu nhập doanh nghiệp - một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, Tạp chí Tài chính - Tín dụng, số 18, tháng 9 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính - Tín dụng
5. Nguyễn Đình Cung và các tác giả, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện trạng và những kiến nghị, giải pháp. NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2000 6. Nguyễn Hữu Đạt, Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhu cầu hỗ trợtài chính, tín dụng của nhà nước, 7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện trạng và những kiến nghị, giải pháp". NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2000 6. Nguyễn Hữu Đạt, "Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhu cầu hỗ trợ "tài chính, tín dụng của nhà nước
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
7. Nguyễn Hữu Đạt, Kinh tế cá thể tiểu chủ trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 239, 4/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
8. Nguyễn Minh Hoài, ổn định đất nông nghiệp để bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia, Tạp chí Cộng sản số 790, tháng 8 - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản số
9. Nguyễn Thanh Cừ, Phát triển kinh tế khu vực tƣ nhân trong quá trình CNH- HĐH, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 11/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
10. Nguyễn Thị Cành, Quan điểm và chính sách phát triển kinh tế tƣ nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Tạp chí phát triển kinh tế, tháng 7.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí phát triển kinh tế
11. Phạm Thắng, Giải pháp nào cho sự phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 790, tháng 8 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản số 790
12. Tô Đức Hạnh, phát triển kinh tế cá thể ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển kinh tế cá thể ở Việt Nam
13. Trần Hoài Nam, Kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam, một số khó khăn cần tháo gỡ, Tạp chí phát triển kinh tế, số 117, tháng 7 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí phát triển kinh tế
14. Lê Thị Băng Tâm, Chính sách Tài chính thúc đẩy kinh tế tƣ nhân của Việt Nam, Tạp chí Tài chính - Tín dụng, tháng 3 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính - Tín dụng
15. Nguyễn Ngọc Sơn, Khu vực kinh tế tƣ nhân ngày càng khẳng định vị thế quan trọng ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 4 năm2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và dự báo
17. Vũ Đình Ánh, Vai trò của Khu vực kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Tạp chí lý luận chính trị, số 5/2004.phát triển kinh tế, kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc Tập I,II,III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí lý luận chính trị
18. Vũ Duy Nghĩa, Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái nguyên, luận văn Thạc sỹ kinh tế, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái nguyên
19. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
20. Báo cáo một số nét về thực trạng hiện nay của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, 1 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo một số nét về thực trạng hiện nay của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
21. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, Công ty cổ phần in Thái Nguyên, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên
22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Sự thật
23. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Sự thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 (Trang 37)
Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.2 Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 (Trang 40)
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của tỉnh Thái Nguyên - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của tỉnh Thái Nguyên (Trang 45)
Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.6 Số lượng doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp (Trang 54)
Bảng 2.7: Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành nghề kinh doanh - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.7 Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành nghề kinh doanh (Trang 57)
Bảng 2.13: Phân loại doanh thu theo ngành nghề - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.13 Phân loại doanh thu theo ngành nghề (Trang 74)
Bảng 2.14: Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.14 Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu (Trang 79)
Bảng 2.15: Số lượng lao động trong các doanh nghiệp tư nhân - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.15 Số lượng lao động trong các doanh nghiệp tư nhân (Trang 81)
Bảng 2.16: Một số thông tin chung đối với các chủ doanh nghiệp - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.16 Một số thông tin chung đối với các chủ doanh nghiệp (Trang 83)
Bảng 2.17: Trình độ lao động trong doanh nghiệp tƣ nhân - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.17 Trình độ lao động trong doanh nghiệp tƣ nhân (Trang 84)
Bảng 2.19: Trình độ của lao động tại các công ty CP có vốn góp - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.19 Trình độ của lao động tại các công ty CP có vốn góp (Trang 86)
Bảng 2.23: Những khó khăn gặp phải của doanh nghiệp tƣ nhân - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.23 Những khó khăn gặp phải của doanh nghiệp tƣ nhân (Trang 98)
Bảng 2.24: Những khó khăn gặp phải của doanh nghiệp tƣ nhân nông nghiệp - Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tư nhân hoạt động trong lnh vực nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.24 Những khó khăn gặp phải của doanh nghiệp tƣ nhân nông nghiệp (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w