Tại công văn số 4099/BGDĐT-GDTrH đã đề ra nhiêm vụ trọng tâm là tích cực triển khai Chương trình hành động Nghị quyết số 29-NQ/TW tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học:
TS Ngô Văn Hưng
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Ngô Văn Hưng,
người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện để em
hoàn thành khóa luận này
Em xin cảm ơn TS Đỗ Thị Tố Như đã giúp đỡ và chỉ bảo em để em có thể hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa Sinh- KTNN, ban giám hiệu trường THPT Hoàng Quốc
Việt tp Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
trong suốt quá trình em thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng xong khóa luận sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong sẽ nhận được sự chỉ bảo và đóng góp của các thầy
cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày 2 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Huyền Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng đào tạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và tổ chức trò
chơi cho học sinh trải nghiệm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11” là
kết quả nghiên cứu của riêng tôi do TS Ngô Văn Hưng hướng dẫn và không
trùng lặp với kết quả nghiên cứu của người khác
Xuân Hòa, ngày 2 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Huyền Trang
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
GV
HS PPDH SGK
THPT
tp
Giáo viên Học sinh Phương pháp dạy học Sách giáo khoa
Trung học phổ thông Thành phố
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
1.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Quốc hội về đổi mới phương pháp dạy và học 1
1.2 Sự cần thiết của đổi mới phương pháp dạy học 2
3 Giả thuyết khoa học 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Khách thể nghiên cứu 4
4.3 Nghiệm thể 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 5
6.2 Phương pháp điều tra 5
6.3 Phương pháp chuyên gia 5
7 Đóng góp của đề tài 5
8 Phạm vi nghiên cứu 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI CHO HỌC SINH TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu 6
1.1.1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Cơ sở lý luận 9
Trang 61.2.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo 9
1.2.2 Khái niệm Trò chơi 9
1.2.3 Khái niệm trò chơi học tập 10
1.2.4 So sánh môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình mới 11
1.2.5 Cách phân loại trò chơi học tập 12
1.2.6 Cách xây dựng trò chơi trong dạy học sinh học 13
1.2.7 Sử dụng trò chơi trong dạy học sinh học 15
1.2.8 Khó khăn khi thiết kế trò chơi học tập cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo 16
1.3 Cơ sở thực tiễn 17
1.3.1 Thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong dạy học môn Sinh học ở trường THPT 17
1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng trò chơi trong dạy học môn Sinh học 11 18
1.4 Một số đặc điểm của trò chơi trong dạy học 20
1.5 Sự cần thiết của việc thiết kế và tổ chức trò chơi cho HS trải nghiệm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11 21
1.6 Kết luận chương 1 21
Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI CHO 23
HỌC SINH HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG CHƯƠNG IV – SINH HỌC 11 23
2.1 Phân tích nội dung chuẩn kiến thức kỹ năng của Chương IV Sinh học 11 23
2.2 Tổ chức dạy học Chương IV bằng hình thức thi Rung Chuông Vàng 25 2.2.1 Tìm hiểu về cuộc thi Rung Chuông Vàng 25
Trang 72.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch thi Rung Chuông Vàng 25
2.3.3 Ví dụ minh họa: tổ chức thi rung chuông vàng cho chương IV Sinh học 11 26
2.3 Kết luận chương 2 35
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 36
3.1 Quy trình thực nghiệm 36
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 36
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 36
3.2 Phương pháp thực nghiệm 36
3.2.1 Chon địa điểm và thời gian thực nghiệm 36
3.2.2 Chọn đối tượng tham gia 36
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 37
3.3 Đáng giá kết quả thực nghiệm 37
3.4 Kết quả nghiên cứu 38
3.5 Kết luận chương 3 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
I Kết luận 40
II Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 8đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết
số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này [1]
Điều 28.2 Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đen lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [2]
Năm 2014 bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng nêu rõ các giáo viên nên: “xây dựng các chuyên đề dạy học, biên soạn câu hỏi và bài
Trang 9tập, thiết kế tiến trình dạy học, tổ chứng dạy học và dự giờ” để hỗ trợ các trường phổ thông, các trung tâm giáo dục thường xuyên triển khai có hiệu quả việc đổi mới đồng bộ PPDH và kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về phát triển kế hoạch giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh [3]
Tại công văn số 4099/BGDĐT-GDTrH đã đề ra nhiêm vụ trọng tâm là
tích cực triển khai Chương trình hành động Nghị quyết số 29-NQ/TW tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý đối với các cơ sở giáo dục trung học, đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh và quan trọng là tập trung phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục [4]
1.2 Sự cần thiết của đổi mới phương pháp dạy học
Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ hội nhập quốc tế cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng thông tin truyền thông, nền kinh tế tri thức,… đã tạo ra cơ hội cho nền giáo dục Việt Nam tiếp cận các xu thế mới, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục
Trong thập kỷ qua, lý luận phát triển chương trình giáo dục đạt được những thành tựu đáng kể Ở hầu hết các nước chương trình đã chuyển từ cách tiếp cận nội dung (HS học được những gì qua bài học) sang cách tiếp cận năng lực (HS làm được những gì từ những điều đã học) Hướng tiếp cận này đòi hỏi vừa phải đổi mới mục tiêu giáo dục vừa phải chọn những nội dung hết sức cơ bản, hiện đại, thực tiễn, đổi mới phương pháp giáo dục hình thức tổ chức giáo dục và cách thức đánh giá kết quả giáo dục
Trang 101.3 Xuất phát từ thực tiễn dạy và học môn Sinh học
1.3.1 Xuất phát từ thực tiễn học
Học sinh chưa biết cách tự học vì thế chúng ta phải thiết kế và tổ chức trò chơi để học sinh có cơ hộ trải nghiệm từ đó các em có thể tự mình rút ra những kiếm thức cần thiết cho bản thân
Học sinh còn yếu về các hoạt động và kỹ năng sống
1.3.2 Xuất phát từ thực tiễn dạy học
Giáo viên hiện nay chỉ dạy theo SGK mà SGK là viết theo hướng tiếp cận nội dung cho nên phải hướng dẫn, hỗ trợ cho GV biết tự biên soạn các hoạt động cho học sinh
1.3.3 Xuất phát ưu thế sử dụng phương pháp trò chời học tập trong dạy học Trò chơi học tập là những hình thức học tập bằng hoạt động nên có thể duy trì tốt sự chú ý của các em với bài học, trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ do đó giảm căng thẳng cho giờ học và đặc biệt trò chơi học tập thu hút nhiều HS tham gia tạo điều kiện rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác và phản ứng nhanh với các tình huống cho HS, thông qua trò chơi học tập có thể giáo dục phẩm chất đạo đức cho HS Với những
ưu điểm nổi bật như vậy tôi rất quan tâm tới việc làm thế nào để sử dụng phương pháp trò chơi dạy học đặc biệt là dạy học Sinh học nói chung và thiết
kế và tổ chức trò chơi cho HS trải nghiệm sáng tạo trong chương IV Sinh học
11 nói riêng, do đó tôi chọn đề tài “Thiết kế và tổ chức trò chơi cho học
sinh trải nghiệm sáng tạo trong chương IV Sinh học 11”
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế, tổ chức trò chơi cho HS trải nghiệm sáng tạo để:
+ Phát huy năng lực của bản thân ngươi dạy
+ Kích thích hứng thú học tập phát huy tính tích cực sáng tạo và năng lực của học sinh
Trang 113 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học chương IV sinh học 11 bằng phương pháp trò chơi cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo thì sẽ kích thích hứng thú học tập phát huy tính sáng tạo, nâng cao năng lực tự học của học sinh và giúp
GV phát triển năng lực dạy học
4 Đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung kiến thức Chương IV – Sinh học 11
- Cách tổ chức trò chơi cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học 4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học chương IV – Sinh học 11 thông qua thiết kế và tổ chức trò chơi cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo
4.3 Nghiệm thể
- HS lớp 11 trường THPT Hoàng Quốc Việt tp Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu qui trình nghiên cứu khoa học và quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Quốc hội về đổi mới phương pháp dạy và học
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dựng trò chơi dạy học trong dạy học Sinh học nói chung và thiết kế và tổ chức rung chuông vàng cho học sinh trải nghiệm sáng tạo nói riêng
- Điều tra thực trạng của việc thiết kế và tổ chức trò chơi cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Sinh học
- Phân tích nội dung kiến thức, chuẩn kiến thức kỹ năng làm cơ sở cho việc thiết kế và tổ chức trò chơi cho HS trải nghiệm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11
- Thiết kế và tổ chức trò chơi rung chuông vàng
- Phân tích sử lý số liệu hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài : Văn bản nhà nước về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các thông tư của Bộ GD- ĐT về phát triển năng lực, và năng lực tự học Các giáo trình và SGK và tài liệu có liên quan 6.2 Phương pháp điều tra
Điều tra về tần suất sử dụng trò chơi cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học của GV
Lấy ý kiến của giáo viên về việc vận dụng phương pháp trò chơi trong xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Chương IV: Sinh Sản – Sinh Học 11
6.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến nhận xét, đánh giá của một số thầy cô có kinh nghiệm trong giảng dạy ở trường phổ thông về kế hoạch và nội dung thiết kế trò chơi cho
HS hoạt động trải nghiêm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11
Tổ chức được trò chơi cho học sinh hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Bước đầu đánh giá được kết quả dạy học Chương IV Sinh học 11 bằng phương pháp tổ chức trò chơi cho học sinh trải nghiệm sáng tạo
8 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu áp dụng tổ chức trò chơi cho học sinh hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ
VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI CHO HỌC SINH TRẢI NGHIỆM SÁNG
TẠO TRONG DẠY HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Ở nước ngoài
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như: P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo E.A.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga [18]
Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel(1782-1852) Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh
cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ [18] I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn Ông đã đưa
Trang 14ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển
kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những
từ còn thiếu Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng [15]
Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tưởng đó,
Bà đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng [15]
Bên cạnh đó, tính tích cực cũng được các nhà khoa học như B.P.Exipov, A.M.Machiuskin(Liênxô); OKon(Balan), Skinner, Bruner(Mỹ), Xavier, Roegiers (Pháp) nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau như nghiên cứu
và xem xét tính tích cực nhận thức của người học trong mối quan hệ giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức của người lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lưu ý tới vai trò chủ động và chủ thể trong quá trình nhận thức [19]
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng trò chơi dạy học ở các mức độ khách nhau với các bộ môn khác Một số tác giả như Phan Huỳnh Hoa, Vũ Minh Hồng, Trương Kim Oanh, Lê Bích Ngọc
đã để tâm nghiên cứu biên soạn một số trò chơi và trò chơi học tập [12] Những hệ thống trò chơi và trò chơi học tập được các tác giả đề cập đến chủ yếu nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số môn học như: Hình thành biểu
Trang 15tượng toán sơ đẳng, làm quen với môi trường xung quanh , rèn các giác quan chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ
Các tác giả quan tâm đến ý nghĩa phát triển của trò chơi học tập, không chỉ phát triển ở các giác quan mà phát triển các chức năng tâm lý chung của người học Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này cũng chưa đi sâu nghiên cứu việc thiết kế và tổ chức trò chơi dạy học dành cho quá trình nhận thức của người học
Gần đây trong tác phẩm “trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết
đã đề cập đến trò chơi trí tuệ Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em [8]
Một số luận văn, khóa luận cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộ môn khác nhau, chẳng hạn Nguyễn Thị Thu Trang nghiên cứu việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học phân môn lịch sử lớp 4 Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế
và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) Tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ
Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trước đến nay tuy
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học Song chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào việc thiết kế và tổ chức trò chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong dạy học môn Sinh học Những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và tổ chức trò chơi cho học sinh trải nghiệm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11”
Trang 161.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề
1.2.2 Khái niệm Trò chơi
Một số nhà tâm lý – giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross, S.Hall, V.Stern cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa
Còn G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ
Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục [18]
Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa
Trang 17+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia
+ Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi
Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức
và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản
Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức,
vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó
Tóm lại, trò chơi chính là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện,
bất giác không gọi là trò chơi [5]
1.2.3 Khái niệm trò chơi học tập
Trò chơi học tập là những trò chơi có tác dụng cải thiện năng lực và phẩm chất người tham gia chơi thông qua đó giúp người chơi thể hiện năng lực của mình trước tập thể hay những người cùng chơi
Trong dạy học, trò chơi không chỉ là nguồn cung cấp thông tin mà còn là con đường, cách thức để HS chiếm lĩnh thông tin, giúp HS hình thành tri thức mới hay củng cố hoàn thiện kỹ năng học tập Trong trừng mực nhất định, trò chơi còn được sử dụng như là phương pháp tổ chức học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức Điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường tính tích cực học tập, tạo niềm tin, hứng thú học tập và khả năng vận dụng kiến thức trong thực tiễn sản xuất và đời sống cho HS
Như vậy, trò chơi là một trong những hình thức tổ chức dạy học trong trường phổ thông, là loại trò chơi được sử dụng trong dạy học nhằm thực hiện mục tiêu học tập Trò chơi trong dạy học do giáo viên tạo ra, trực tiếp điều kiển, HS thông qua tham gia trò chơi có thể lĩnh hội tri thức mới hay hoàn thiện tri thức, kỹ năng, thái độ
Trang 181.2.4 So sánh môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình mới
Mục đích chính
Hình thành và phát triển
hệ thống tri thức khoa học, năng lực nhận thức và hành động của học sinh
Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại Nội dung Kiến thức khoa học, nội
dung gắn với các lĩnh vực chuyên môn
Được thiết kế thành các phần chương, bài, có mối liên hệ logic chặt chẽ
Kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước, mang tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, nhiều môn học; dễ vận dụng vào thực tế Được thiết kế thành các chủ điểm mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ điểm Hình thức
tổ chức
Đa dạng, có quy trình chặt chẽ, hạn chế về không gian, thời gian, quy mô và đối tượng tham gia
HS ít cơ hội trải nghiệm
Người chỉ đạo, tổ chức họat động học tập chủ yểu
là GV
Đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và
số lượng
HS có nhiều cơ hội trải nghiệm
Có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo, tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các mức độ khác nhau (GV, phụ huynh, nhà hoạt động xã hội, chính quyền, doanh nghiệp, )
Trang 19Nhấn mạnh đến năng lực
tư duy
Theo chuẩn chung
Thường đánh giá kết quả đạt được bằng điểm số
Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng lực thực hiện, tính trải nghiệm Theo những yêu cầu riêng, mang tính cá biệt hóa, phân hóa Thường đánh giá kết quả đạt được bằng nhận xét
1.2.5 Cách phân loại trò chơi học tập
Những chức năng tâm sinh lý chủ yếu của con người từ bé cho đến lớn được thể hiện trong mọi hoạt động, quan hệ, công việc và những lĩnh vực sinh hoạt khác nhau của cá nhân, là nhận thức, biểu cảm hay thái độ và vận động
Ba chức năng này cũng là những lĩnh vực phát triển hay những mục tiêu giáo dục, rèn luyện của HS trong quá trình dạy học Như vậy, Căn cứ vào chức năng, trò chơi dạy học có 3 nhóm sau:
Nhóm 1: Trò chơi phát triển nhận thức
Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức, nỗ lực hoạt động nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, hoàn thành các luật và quy tắc chơi, tuân thủ những yêu cầu và mục đích chơi, nhờ vậy mà cải thiện và phát triển được khả năng nhận thức, quá trình và kết quả nhận thức của mình Trò chơi phát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ:
+ Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác
+ Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ
+ Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy
Nhóm 2: Trò chơi phát triển các giá trị
Trang 20Đó là những trò chơi có nội dụng văn hoá, xã hội, trong đó các quan hệ chơi phóng tác hoạt lý tưởng hoá các quan hệ đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, gia đình, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự hiện thực và các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực, động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của người tham gia
Nhóm thứ 3: Trò chơi phát triển vận động
Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi được chơi hơi khác những trò chơi vận động, nó có phạm vi rộng hơn Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi các vận động phải tuân theo luật hay quy tắc, và nội dung chơi chủ yếu là vận động Nó đương nhiên có chức năng phát triển vận động Còn trò chơi phát triển vận động vừa gồm các trò chơi vận động vừa gồm những trò chơi khác
1.2.6 Cách xây dựng trò chơi trong dạy học sinh học
1.2.6.1 Nguyên tắc xây dựng
Trò chơi được xây dựng để GV tổ chức HS nghiên cứu nội dung tri thức mới hay củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng nào đó khi xây dựng trò chơi cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc khoa học Trong dạy học trò chơi phải được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học, nội dung trò chơi phải chính xác, rõ ràng, phản ánh nội dung tri thức khoa học của môn học, bài học hay vấn đề học tập hình thức tổ chức chơi phải đảm bảo tính vừa sức, lý thú, bổ ích hợp trình độ nhận thức của HS
Nguyên tắc sư phạm Trò chơi được xây dựng phục vụ cho quá trình dạy học, do đó nội dung
và phương pháp thực hiện trò chơi phải phù hợp ý đồ sư phạm cần thiết trong các khâu của quá trình thực hiện bài lên lớp
Trang 211.2.6.2 Quy trình xây dựng
Trong dạy học hiện nay, trò chơi được sử dụng phổ biến ở đối tượng học sinh ở bậc học thấp như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở còn ở THPT trò chơi học tập ít khi được sử dụng Trong dạy học Sinh học, trò chơi thường được sử dụng trong buổi ngoại khóa hay sinh hoạt tập thể (Câu lạc bộ Sinh học, đố vui Sinh học) vì vậy trò chơi không được thiết kế sẵn mà do giáo viên tạo ra Trong dạy học Sinh học, do đặc thù bộ môn là môn khoa học tực nghiệm và đặc điểm nhận thức của HS, chúng tôi nêu ra cách thiết kế trò chơi theo 5 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu mục tiêu bài học để xác định cái đích của trò chơi phải đạt Bước 2: Nghiên cứu nội dung bài học và đặc điểm nhận thức của HS Bước 3: Xây dựng cấu trúc trò chơi
Bước 4: Xây dựng bảng hướng dẫn cách chơi Bước 5: Hoàn thiện sử dụng
Cụ thể như sau:
Bước 1: Nghiên cứu mục tiêu bài học để xác định cái đích của trò chơi phải đạt
Theo quan điểm công nghệ, mục tiêu là đầu ra, là cái đích mà HS cần đạt Thông qua nghiên cứu mục tiêu, GV có thể xác định được mục tiêu của trò chơi trong dạy học (hình thành tri thức mới hay củng cố hoàn thiện kiến thức, kỹ năng) từ đó xác định, định hướng trong việc xây dựng trò chơi đáp ứng mục tiêu đặt ra
Bước 2: Nghiên cứu nội dung bài học và đặc điểm nhận thức của HS
Trong dạy học ở trường THPT hiện nay, SGK được xem là “kim chỉ nam”, là nền tảng nội dung để GV và HS đồng thời tác động trong quá trình
tổ chức dạy học, hướng dẫn hay lĩnh hội tri thức Trong dạy học, trò chơi vừa
là phương tiện vừa là cách thức tổ chức dạy học, do đó, trò chơi phải chứa đựng nội dung bài học Thông qua phân tích mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học, đặc điểm nhận thức của đối tượng học sinh, GV có thể
Trang 22xác định được những hoạt động dạy học cần thực hiện để khai thác nội dung tri thức chứa đựng trong trò chơi Trong dạy học, tùy từng đối tượng HS và nội dung bài học mà GV có thể lựa chọn xây dựng loại trò chơi khác nhau
Bước 3: Xây dựng cấu trúc trò chơi
Trong bất cứ trò chơi nào cũng có cấu trúc của nó Cấu trúc trò chơi là kịch bản chơi của người chơi và người quản trò Cấu trúc trò chơi cho GV cần phải chuẩn bị các phương tiện thiết bị, dụng cụ nào cho người chơi, nội dung trò chơi, các hoạt động cụ thể của người chơi và quản trò, bảng hướng dẫn cách thực hiện trò chơi bao gồm giải thích trò chơi, phân công lực lượng, làm thử,…Hướng dẫn đánh giá kết quả chơi
Bước 4: Xây dựng bảng hướng dẫn cách chơi
Để phát huy được hiểu quả của trò chơi trong dạy học, bên cạnh việc thiết lập được cấu trúc trò chơi hợp lý thì người thiết kế phải định hình sao cho trò chơi diễn ra hấp dẫn, gây sự hứng thú đối với người chơi từ đó thúc đẩy thêm sự nhiệt tình, làm phát triển óc tưởng tượng Trên cơ sở cấu trúc của trò chơi, GV viết bảng hướng dẫn cách chơi bao gồm: giới thiệu nội dung trò chơi, hướng dẫn làm nháp, hướng đến tổ chức chơi thật và đánh giá tổng kết
Bước 5: Hoàn thiện sử dụng
Trò chơi sau khi được thiết kế cần được thử nghiệm để hoàn thiện, từ đó
sử dụng trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của HS
1.2.7 Sử dụng trò chơi trong dạy học sinh học
Khi sử dụng trò chơi GV có thể thực hiện qua 4 bước:
Bước 1: Chuẩn bị chơi
Đây là bước quan trọng quyết định đến sự thành công của trò chơi Tùy vào mục tiêu chơi (hình thành tri thức hay củng cố kiến thức, kỹ năng) mà
GV có thể lựa chọn và chuẩn bị chơi khác nhau
Bước 2: Giới thiệu trò chơi
Trang 23GV giới thiệu trò chơi và phổ biến nội dung, luật chơi những điểm cần chú ý khi thực hiện trò chơi
Bước 3: Tổ chức trò chơi và theo dõi quá trình chơi
Tổ chức trò chơi: tùy thuộc vào nội dung và cách thức chơi của trò chơi học tập mà phân công thực thiện cho các nhóm hay từng thành viên cụ thể khi chơi Theo dõi quá trình chơi: khi chơi GV nên quan sát học sinh để biết được mức độ để đạt được về kỹ năng thái độ của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức làm cơ sở cho việc nhận xét, đánh giá sau này Trong quá trình chơi GV tránh quá nguyên tắc gây mất không khí sôi nổi khi chơi của HS nhưng cũng không dễ dãi trong luật chơi dẫn đến thiếu công bằng thiếu khách quan trong đánh giá
Bước 4: Nhận xét đánh giá sau cuộc chơi
GV là người nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của HS, những việc làm chưa tốt để rút kinh nghiệm, những điểm thực hiện tốt để cố gắng phát huy Khi đánh giá kết quả chơi GV không chỉ căn cứ vào kết quả thực tại mà còn cần phải chú ý đến quá trình chơi GV cần giúp HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Tránh lạm dụng yếu tố thi đua trong khi chơi, gây tâm lý thắng thua căng thẳng trong học sinh
GV hướng dẫn HS công bố kết quả chơi và trao giải thưởng
1.2.8 Khó khăn khi thiết kế trò chơi học tập cho HS hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Thời gian của 1 tiết học ở THPT không dài làm cho việc thiết kế trò chơi phù hợp với quỹ thời gian và ý đồ dạy học là tương đối khó khăn
- Việc tìm kiếm trò chơi phù hợp với bài học và thiết kế áp dụng vào việc giảng dạy đòi hỏi người GV phải bỏ ra công sức để tìm tòi, phải có óc sáng tạo
để trò chơi học tập không bị nhàm chán tạo được hứng thú học tập cho HS
Trang 24Sau khi phân tích kết quả của phiếu điều tra chúng tôi nhận thấy:
+ Với câu hỏi số 1(phụ lục 1) GV nhận thức đúng đắn vai trò của trò chơi học tập trong dạy học Với 33,33% GV cho rằng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học sinh học là rất cần thiết 66,67% GV cho rằng sử dụng trò chơi học tập để dạy học sinh học là cần thiết
+ Với câu hỏi số 2 (phụ lục 1) đại đa số các thầy cô đều đánh giá cao tác dụng của trò chơi học tập trong dạy học Sinh học cụ thể như sau:
Rèn kỹ năng tương tác, phối hợp giải
quyết nhiệm vụ học tập giữa HS với HS 16,67 50 33,33 0 0 Nâng cao tương tác GV – HS trong dạy
Rèn luyện cho HS kỹ năng làm việc
nhóm, kỹ năng ứng xử trong học tập 33,33 66,67 0 0 0
Trang 25Rèn luyện trí nhớ của HS 33,33 33,33 33,33 0 0 Phát triển tư duy sáng tạo, tìm cái mới
Mặc dù các GV đánh giá cao về tác dụng của trò chơi học tập trong dạy học sinh học nhưng khi phân tích câu hỏi số 3 và câu hỏi số 5 (phụ lục 1) chúng tôi thấy rằng mức độ sử dụng trò chơi học tập của các thầy cô không cao nguyên nhân chủ yếu là do:
Để tổ chức trò chơi học tập cho HS, GV tốn nhiều thời gian công sức
GV chưa có hoặc ít kinh nghiệm trong việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập cho HS
Chương trình nội dung SGK còn nặng nên việc thiết kế trò chơi học tập phù hợp gặp nhiều khó khăn
+ Với câu hỏi số 4 (phụ lục 1) khi dược hỏi về căn cứ để thiết kế trò chơi học tập sinh học thì GV đã thận trọng trong việc tìm căn cứ để thiết kế trò chơi học tập để dạy học với 100% GV căn cứ vào nội dung học tập, mục đích
sử dụng trò chơi chủ yếu hướng vào việc giúp HS lĩnh hội nội dung mới là hoàn toàn hợp lý Có 83,33% ý kiến căn cứ vào số lượng của HS, căn cứ vào trình độ hiểu biết của HS để tổ chức trò chơi
1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng trò chơi trong dạy học môn Sinh học 11
Qua quá trình nghiên cứu thực trạng chúng tôi nhận thấy vấn đề xây dựng
và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Sinh học có một số thuận lợi sau:
1) Đội ngũ GV giảng dạy môn Sinh học có trình độ chuyên môn tốt Hầu hết các GV đều tham gia giảng dạy lâu năm Với trình độ và kinh nghiệm giảng dạy đó họ có khả năng nắm bắt đặc điểm, tâm sinh lý, nhận thức … của
Trang 26HS được tốt hơn và việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học cũng thuận lợi hơn
2) Tổ chuyên môn có sự đoàn kết cao, có sự phối hợp, bàn bạc, học hỏi kinh nghiệm của nhau, thống nhất ý kiến Các GV quan tâm đến vấn đề tích cực hóa trong dạy học, cũng như nghiên cứu các biện pháp, kỹ thuật dạy học
để nâng cao hiệu quả dạy học Các GV đều nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Sinh học 3) Qua cách đánh giá ở trên chúng tôi nhận thấy đã có những HS có ý thức tốt, tích cực, độc lập trong học tập, đây là cơ sở để GV sử dụng các trò chơi trong dạy học nhằm lôi cuốn các HS này và thông qua họ để tạo ra bầu không khí tương tác tốt trong học tập
- Những khó khăn khi xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong dạy học môn Sinh học
1) Số lượng HS thụ động trong học tập còn rất nhiều không khí học tập chưa tốt, bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng HS học “đối phó”
2) HS không chịu tìm tòi và khám phá kiến thức, tài liệu tham khảo của các em chủ yếu là SGK và bài giảng của GV trên lớp
3) Do số lượng HS đông, không gian hoạt động chật hẹp dẫn đến việc tổ chức các trò chơi học tập cũng như trong quá trình chơi của HS bị hạn chế, việc bao quát lớp của GV là rất khó nên số lượng trò chơi được tổ chức còn rất ít
4) Tuy trò chơi có những tác dụng to lớn trong việc kích thích tính tích cực học tập của HS, nhưng kết quả khảo sát cho thấy việc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Sinh học cho HS còn ít Các loại trò chơi được thiết kế còn đơn điệu, hình thức tổ chức trò chơi chưa hấp dẫn nên đôi khi chưa thu hút được tất cả HS cùng chơi
Trang 271.4 Một số đặc điểm của trò chơi trong dạy học
Chơi là một nhu cầu mang tính sinh học của mỗi con người Chính vì vậy, dù được hướng dẫn hay không hướng dẫn, các em vẫn tự tìm mọi cách
và tranh thủ mọi thời gian và điều kiện để chơi Khi được chơi các em đã tham gia hết sức tự giác và chủ động, đây là một yếu tố rất quan trọng trong công tác giáo dục cho thế hệ trẻ
Hầu hết các trò chơi trong dạy học đã mang tính mục đích rõ ràng Trong quá trình chơi, học sinh tiếp xúc với nhau, cá nhân phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có trách nhiệm động viên, giúp
đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình, vì vậy mà tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể được hình thành
Trong trò chơi tính thi đua bao giờ cũng thể hiện rất cao Trong quá trình tham gia vào trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng Vì tập thể mà các
em khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho toàn đội trong đó có bản thân mình
Mỗi trò chơi thường có những quy tắc, luật lệ nhất định những cách thức
để đạt được kết quả rất đa dạng Trong khi đó, bản thân trò chơi lại mang tính thi đua và tính tự giác rất cao Vì vậy, khi đã tham gia trò chơi học sinh vận dụng hết khả năng về sức lực, sự tập trung chú ý, trí thông minh và sự sáng tạo của mình Đó là điều kiện thuận lợi để GV có thể thực hiện tổ chức cho học sinh tham gia vào trò chơi một cách hợp lý
Chính vì vậy, trong dạy học, trò chơi được sử dụng với tư cách là phương tiện, là công cụ phục vụ đắc lực cho HS lĩnh hội, củng cố kiến thức của bài học, đặc biệt là kiến thức cơ bản
Trò chơi dạy học về cơ bản được tiến hành trong không gian và thời gian hạn chế rất gắt gao trong khi phải huy động được tối đa học sinh tham gia
Trang 28Khi thực hiện trò chơi trong dạy học phải bảo đảm sự yên tĩnh và trật tự cho các lớp bên cạnh
Do những đặc điểm, đặc trưng này mà trò chơi với tư cách là phương pháp dạy học mặc dù cũng phải bảo đảm tính hấp dẫn, bất ngờ, tự nguyện của trò chơi, nhưng cũng có những hạn chế đáng kể
- Không được để vui “nổ trời” như trong trò chơi đời thường nếu không thì sẽ ảnh hưởng đến các lớp khác
- Thời gian phải được tôn trọng rất nghiêm ngặt
1.5 Sự cần thiết của việc thiết kế và tổ chức trò chơi cho HS trải nghiệm sáng tạo trong Chương IV Sinh học 11
- Nội dung Chương IV Sinh sản sinh học 11 là một Chương quan trọng
mà qua đó GV có thể lồng ghép giảng dạy cho học sinh các kiến thức thực tế liên quan chặt chẽ đến lứa tuổi của các em học sinh (tuổi vị thành niên)
- Tuổi vị thành niên là tuổi mà các em đang tò mò về giới tính của bản thân,về các mối quan hệ trong xã hội Các em đã có ý thức tìm hiểu về vấn đề
đó nhưng chưa có một môn học chính thống nào có thể giải quyết triệt để vấn
1.6 Kết luận chương 1
- Dạy học trải nghiệm sáng tạo có ảnh hưởng trực lớn đến chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng dạy học môn Sinh học nói riêng Vấn đề để HS trải nghiệm sáng tạo trong môn Sinh học có tầm quan trọng đặc biệt Việc làm này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho HS, kích thích tư duy của