Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong tiến trình thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước nhằm phát triển toàn diện nền kinh tế và hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong thời gian qua, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển đáng khích lệ, đạt tốc độ tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được nâng cao, cơ cấu kinh tế được sắp xếp theo hướng ngày càng hợp lý và đầu tư theo dự án được đánh giá là một trong những phương thức đầu tư hiệu quả nhất Hàng loạt các dự án đầu tư được hình thành, được vận hành ngày càng khẳng định xu thế phát triển vững chắc của nền kinh tế đất nước Tuy nhiên vấn
đề trăn trở của các nhà đầu tư, các nhà tài trợ, nhà quản lý là làm sao sử dụng nguồn lực có hạn của nền kinh tế một cách hợp lý và các dự án đầu tư phải luôn mang lại hiệu quả kinh tế Do vậy, bất kỳ một dự án nào trước khi ra quyết định đầu tư đều phải được thẩm định – thực chất là phân tích đánh giá mức độ khả thi của dự án để ra quyết định dự án có được chấp nhận hay không, và nếu có thì phương án nào là tốt nhất
Công tác thẩm định tài chính Dự án đầu tư luôn là sự quan tâm của các nhà đầu tư, của các ngân hàng, các nhà quản lý kinh tế Với vai trò là ngân hàng tài trợ chủ yếu cho các dự án trung dài hạn, thì vấn đề hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng luôn là vấn đề vừa có ý nghĩa cấp bách vừa có ý nghĩa lâu dài đối với hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam nói riêng, do đó tôi đã chọn đề tài: “Thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình” làm đề tài Luận văn thạc sỹ
Đề tài trên có thể được hiểu theo hai góc độ:
Về phía khách hàng (chủ đầu tư): Đó là việc thẩm định lại dự án sẽ vay vốn ngân hàng Việc thẩm định thực hiện độc lập với quá trình soạn thảo dự án
Trang 2sẽ giúp chủ đầu tư nhìn nhận lại dự án của mình một cách khách quan hơn, từ đó thấy được những thiếu sót trong quá trình soạn thảo để bổ sung kịp thời
Về phía ngân hàng là chủ thể cho vay: Đó là việc thẩm định tài chính dự
án vay vốn của khách hàng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Thẩm định dự án cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng thương mại nói chung và thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn tại tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình nói riêng, đến nay đã có một
số công trình nghiên cứu khoa học viết về đề tài này, như:
- Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa, luận văn thạc sỹ của Lý Ngọc Minh, năm 2009
- Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, luận văn của Nguyễn Hồng Hải, năm 2010
- Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Công thương - Chi nhánh Cầu Giấy, luận văn của Vũ Minh Tiến, năm 2012
Các luận văn trên thường nghiên cứu lý thuyết sau đó đưa ra những nhận định, kết luận, không có dẫn chứng số liệu thực tế trong quá trình hoạt động của
dự án
Bên cạnh những tổng kết về mặt lý luận, điểm nổi bật và cũng là điểm khác biệt so với các đề tài trước đây là tác giả luận văn đã kiểm chứng đánh giá tính toán lại các chỉ tiêu chủ yếu của dự án Trên cơ sở đó đã đưa ra các kiến nghị có giá trị thuyết phục và có tính khả thi cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những căn cứ lý luận cơ bản
về công tác thẩm định tài chính dự án và đưa ra những quan điểm về hoàn thiện
Trang 3công tác thẩm định dự án đầu tư cho vay trung dài hạn của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận
và thực tiễn công tác thẩm định tài chính dự án cho vay của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tình hình thẩm định tài chính
dự án cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Thái Bình trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp logic gắn với lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, điều tra, so sánh,… và sử dụng các số liệu, tình hình thực tế để luận chứng
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng trong nghiên cứu kinh tế, đặc biệt trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác thẩm định tài chính dự án Từ những nghiên cứu lý luận, đề tài đề cập, đánh giá thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Thái Bình, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân tồn tại, đồng thời đề
Trang 4xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong giai đoạn tiếp theo
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, phần kết luận, Luận văn được kết cấu theo
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài
hạn của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn tại
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thẩm định tài chính dự án cho vay trung
dài hạn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY
TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Định nghĩa hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Trải qua nhiều thế kỉ từ khi xuất hiện đến nay hệ thống các ngân hàng thương mại với hàng ngàn chi nhánh ở khắp năm châu đã không ngừng thể hiện tầm quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia riêng biệt Chính hệ thống Ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiện đại (Ngân hàng điện tử) đang từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về địa lý, không gian và thời gian làm cho các lục địa xích lại gần nhau hơn
Ngày nay hoạt động ngân hàng không còn chỉ đơn điệu với những nghiệp
vụ đơn giản như nhận tiền gửi, đổi tiền,… mà đã trở nên vô cùng phong phú đa dạng với homebanking, thẻ tín dụng, chuyển tiền điện tử,….Tuy nhiên những khoản dịch vụ hiện đại này mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu tài sản của ngân hàng, còn phần tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng vẫn
là các dịch vụ cho vay
(Vậy cho vay là gì?)
Thực chất cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng
Hoạt động cho vay cũng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi cho vay thúc đẩy tăng trưởng của các
Trang 6doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Không những vậy thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm những thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại, đặc biệt ở các nước đang phát triển thì thu nhập
từ cho vay chiếm quá nửa tổng giá trị tổng nguồn thu của ngân hàng
1.1.2 Phân loại cho vay
Về cách phân loại có rất nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mỗi tiêu thức phân loại và tuỳ theo từng ngân hàng mà hoạt động cho vay được chia ra làm nhiều loại, nhằm thuận tiện cho quản lý và phù hợp với mục đích vay vốn của khách hàng
Dựa vào thời hạn cho vay Theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng;
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
Dựa vào phương thức cho vay Theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
Cho vay từng lần; Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống
Trang 7Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
Cho vay trả góp; Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay
Dựa vào mục đích cho vay Theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
Trang 8- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp
- Cho vay tiêu dùng cá nhân
Hiện nay giữa các nước khác nhau trên thế giới quan niệm về cho vay trung
và dài hạn không hoàn toàn giống nhau Tại thị trường tài chính Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã qui định:
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng;
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
1.1.3.2 Mục đích đi vay trung dài hạn của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp đi vay trung và dài hạn chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định mới, phương tiện vận tải mới, đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các dự án mới về nhà
ở, các nhà xưởng - nhà máy sản xuất, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng qui mô vừa và lớn… ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế
Lý do lựa chọn phương án vay trung và dài hạn của khách hàng:
Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, đi vay trung và dài hạn từ các định chế tài chính và phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán là hai nguồn tài trợ trung dài hạn chủ yếu của các doanh nghiệp Chính bởi vậy mà có nhiều lý do để các khách hàng lựa chọn nguồn vốn vay trung và dài hạn từ các ngân hàng:
Trước hết là do các doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế về khả năng tìm nguồn
vốn trên thị trường, họ không thể có đủ các điều kiện để có thể huy động vốn trung và dài hạn cho mình thông qua thị trường chứng khoán Vì vậy khi nhu
Trang 9cầu vốn phát sinh họ phải đi vay ở các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác
Thứ hai đó là, trong nhiều trường hợp khách hàng thấy vay trung dài hạn
tốt hơn phát hành chứng khoán Bởi so với phát hành trái phiếu, đi vay mượn các doanh nghiệp có thể có điều kiện vay muợn thích hợp hơn cho nhu cầu của mình Sau khi nhận tiền vay họ vẫn có thể thương lượng với người cho vay một
số điều kiện đã được xác định ban đầu Hơn nữa đi vay họ sẽ không phải tốn thêm những chi phí về bảo lãnh, đăng ký, phát hành…, không phải cân nhắc là liệu các cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra có được nhà đầu tư chấp nhận hay không (bởi nó còn phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán, tâm lý của nhà đầu tư, và quan trọng là uy tín của doanh nghiệp)
Thứ ba là, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không muốn phát hành
chứng khoán để thu hút vốn vì ngại phải công bố thông tin về mình hoặc đang ở trong điều kiện thị trường không thuận lợi cho việc phát hành
Thứ tư đó là, cho vay trung dài hạn sẽ buộc các doanh nghiệp nhỏ phải tích
luỹ vốn từ lợi nhuận để lại, cho dù doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với ngân hàng Điều này sẽ có lợi cho doanh nghiệp về sau này
1.2 Thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn
1.2.1.1 Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án là sự rà soát đánh giá một cách khoa học, toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư bao gồm doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác và các cá nhân Nếu như Chính phủ và các cơ quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều tới hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thì các nhà đầu tư lại quan tâm nhiều hơn tới khả năng sinh lời của dự án
Thẩm định tài chính dự án là nội dung rất quan trọng trong thẩm định dự
án Cùng với thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn
Trang 101.2.1.2 Sự cần thiết của thẩm định tài chính dự án đầu tư
Thông thường các dự án đầu tư được chủ đầu tư thuê các cơ quan tư vấn lập theo hợp đồng và trình lên người quyết định đầu tư để thẩm định Nếu dự án khả thi sẽ được người quyết định đầu tư phê duyệt quyết định đầu tư
Tuy nhiên kết quả hoạt động của một dự án đầu tư có liên quan đến nhiều nhóm lợi ích Do vậy việc thẩm định tính khả thi và tính hiệu quả của một dự án đầu tư không chỉ có sự quan tâm của người quyết định đầu tư mà còn là sự quan tâm của các đối tác khác như: Người tài trợ vốn (Ngân hàng thương mại hoặc các cổ đông góp vốn); các cơ quan quản lý nhà nước,… Cụ thể như sau:
Đối với ngân hàng, để ngăn chặn sự đổ bể, sự lãng phí vốn khi muốn tài trợ hay cho vay vốn vào dự án thì cần phải thẩm định lại tính hiệu quả của dự
án, đặc biệt sự hiệu quả về mặt tài chính Điều này đảm bảo cho chính bản thân
sự tồn tại của một ngân hàng Bởi nếu để xảy ra bất kỳ rủi ro nào dẫn đến sự không thu hồi được vốn của ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn đến thu nhập của ngân hàng, nhất là khi đó là các dự án lớn
Đối với chủ dự án, khi ngân hàng tiến hành thẩm định lại dự án chính là dịp để khẳng định tính đúng đắn trong quyết định đầu tư của chủ dự án Đồng thời giúp chủ dự án tránh được những sai sót có thể không nhận thấy khi tiến hành lập dự án, làm cho dự án hoàn thiện hơn, tránh lãng phí vốn của chính chủ
dự án
Đối với xã hội, cộng đồng dân cư mỗi một dự án khi thực hiện không chỉ
có ảnh hưởng đến chủ dự án, ngân hàng (hay các nhà đầu tư khác) mà còn chứa đựng cả những ảnh hưởng đối với người dân nơi thực hiện dự án, đến nguồn tài nguyên đất nước sẽ được sử dụng, đến các ngành nghề khác liên quan….Vì vậy ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định lại dự án để xem xét một cách toàn diện khi có chi phí xã hội dự án, hiệu quả tài chính của dự án còn được đảm bảo không, có phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển của vùng, của địa phương hay không
Trang 111.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn
Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhau Những nội dung chủ yếu được các nhà thẩm định chú trọng:
1.2.2.1 Xác định tổng mức đầu tư và các nguồn vốn tài trợ (dòng tiền chi ra của
Trong đó vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất, đây là phần vốn để mua sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định (như: máy móc thiết bị sản xuất, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển…) Phần vốn đầu tư còn lại được đầu tư vào tài sản lưu động ròng Đó là nguồn vốn để hình thành nên các tài sản lưu động ròng cần thiết để thực hiện dự án (như: nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền thuê nhân công, chi phí quản lý,…) Lượng vốn lưu động ròng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi dự án Ngoài hai phần vốn chính này là phần vốn dự phòng để kịp thời cung cấp khi có phát sinh những chi phí ngoài dự kiến hay khi xảy ra rủi
Trang 12Để xác định được lượng vốn cho dự án các nhà lập dự án tiến hành dự toán vốn Thông thường các nhà thẩm định và các nhà lập dự án sẽ căn cứ vào năm tiêu chí cơ bản là: chính sách kinh tế, tình hình thị trường và sự cạnh tranh, chi phí tài chính, tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tài chính của doanh nghiệp
Những tiêu chí này được sử dụng trong các phương pháp dự toán vốn như
dự báo theo tỷ phần doanh thu, dự toán tổng thể Nhà thẩm định sẽ xem xét toàn
bộ quá trình lập dự toán vốn này để biết được mức vốn chính xác cần thiết cho
dự án
Tổng mức đầu
tư của dự án =
Vốn cố định +
Vốn lưu
Vốn dự phòng
Có hai phương pháp dự toán bao gồm:
Thứ nhất: Phương pháp dự báo theo tỷ phần doanh thu
Dự báo được sử dụng để ước lượng nhu cầu vốn đầu tư cho dự án Phương pháp này thường áp dụng đối với những dự án nhỏ gắn kết trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh thường ngày của doanh nghiệp Việc xác định nhu cầu vốn đầu tư dựa trên cơ sở phân tích những chuyển biến trực tiếp của doanh nghiệp khi có dự án Các bước cơ bản trong dự báo nhu cầu tài trợ bao gồm: Bước 1: Dự báo doanh thu và chi phí của doanh nghiệp cho thời kỳ kế hạch trong đó có dự án được thực hiện
Bước 2: Ước lượng mức độ đầu tư vào tài sản lưu động và cố định cần thiết
để tạo ra danh thu dự kiến
Bước 3: Xác định nhu cầu tài trợ vốn đầu tư cho dự án trong thời kỳ kế hoạch
Thứ hai: Phương pháp dự toán tổng thể
Phương pháp dự toán tổng thể thường được áp dụng đối với các dự án lớn
và có thể được xem như một doanh nghiệp có tính độc lập cao Quy trình dự
Trang 13toán vốn đầu tư đòi hỏi thực hiện rất chi tiết, cẩn trọng và cần dựa vào các căn
cứ sau:
- Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có) và báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Hồ sơ thiết kế kỹ thuật hoặc bản vẽ thi công
- Khối lượng công tác xây lắp tính theo thiết kế phù hợp với danh mục định mức, đơn giá xây dựng cơ bản
- Danh mục và số lượng thiết bị công nghệ
- Giá tính theo đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất của các hạng mục công trình
- Đơn giá xây dựng cơ bản bao gồm những chi phí trực tiếp về vật liệu, nhân công và chi phí sử dụng máy thi công tính trên một đơn vị khối lượng công tác xây lắp riêng biệt hoặc một bộ phận kết cấu xây lắp và được xác định trên cơ sở định mức dự toán xây dựng cơ bản
- Giá các thiết bị được xác định trên kết quả đấu thầu hoặc chào hàng cạnh tranh mua sắm thiết bị hoặc theo các thông tin thương mại trên thị trường
- Giá cước vận tải bốc xếp, chi phí lưu kho bãi theo hướng dẫn của cơ quan
Thứ nhất: Dự án có thể được tài trợ bằng vốn tự có
Loại vốn này có được từ các nguồn như vốn góp của các chủ sở hữu, từ phát hành cổ phiếu, từ thặng dư vốn, từ lợi nhuận giữ lại
Trang 14Từ việc phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu thường có nhiều ưu thế trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán.Ví dụ như: sau khi phát hành doanh nghiệp có thể tạm thời mua lại, và doanh nghiệp có thể phát hành thêm khi cần thiết…Nên phát hành cổ phiếu cũng được sử dụng để tài trợ cho dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn
Từ nguồn vốn thặng dư: Đây chính là phần vốn có được từ chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu thường và mệnh giá của nó tại thời điểm phát hành.Tùy theo sự đánh giá của thị trường về trị giá cổ phiếu doanh nghiệp mà phần vốn này thu được là lớn hay nhỏ với phần vốn có được từ phát hành cổ phiếu thường
Từ lợi nhuận giữ lại: Được tài trợ cho dự án chỉ khi quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có hiệu quả Tài trợ bằng thu nhập giữ lại là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì như vậy doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí, và giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài
Thứ hai: Tài trợ cho dự án bằng nợ
Để tài trợ vốn đầu tư cho dự án doanh nghiệp có thể sử dụng nợ từ các nguồn: Tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hàng trái phiếu (Trái phiếu thực chất là một loại giấy vay nợ trung và dài hạn)
Nguồn vốn tín dụng Ngân hàng và tín dụng thương mại
Có thể nói nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn tín dụng quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn – lãi suất
Trang 15Bên cạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại Nguồn vốn này hình thành một cách
tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế Đối với doanh nghiệp tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một các lâu bền Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung
Thứ ba: Tài trợ cho dự án bằng hình thức Leasing, thực chất đây là hình
thức tài trợ dự án thông qua cho thuê các loại tài sản
Đây là hình thức tài trợ rất phổ biến vì nó có nhiều ưu điểm so với các hình thức tài trợ khác Đối với người cho thuê, cũng như người đi thuê và với nền kinh tế
- Đối với nền kinh tế
Leasing góp phần thu hút vốn đâù tư cho nền kinh tế
Leasing góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học
kỹ thuật nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Trong trường hợp một quốc gia thu hút được vốn từ thị trường Leasing quốc tế thì Leasing không làm tăng nợ nước ngoài của quốc gia đó
- Đối với người đi thuê
Trang 16Leasing là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao hơn nhiều hình thức tín dụng ngân hàng
Leasing tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính linh hoạt trong kinh doanh Leasing có tác dụng làm gia tăng tiềm năng của thị trường tiêu thụ máy móc thiết bị
- Đối với người đi thuê
Người thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện hạn chế về vốn đầu tư vào máy móc thiết bị
Leasing có thể giúp người đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản cố định
Leasing là phương thức rút ngắn thời gian đầu tư, đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh
Leasing cho phép người thuê hiện đại hóa sản xuất theo kịp tốc đọ phát triển của công nghệ mới
Leasing đem lại cho doanh nghiệp những khoản tiết kiệm thuế thu nhập
do tiền thuê làm giảm thu nhập chịu thuế
Đối với những quốc gia không quy định vốn hóa tài sản thuê thì leasing không gây ảnh hưởng bất lợi đối với các tỷ số tài chính của doanh nghiệp
Thứ tư: là tài trợ bằng hình thức kết hợp:
Đó là nguồn vốn cho dự án được hình thành từ sự kết hợp giữa vốn vay, vốn chủ sở hữu với một tỷ lệ nhất định Trong hình thức tài trợ này, chi phí vốn của dự án được đặc biệt quan tâm Bởi vì từ đó mà nhà đầu tư xác định vay bao nhiêu, bỏ vốn chủ sở hữu ra bao nhiêu
Về mặt lý thuyết nguồn vốn của dự án đầu tư được hình thành từ những nguồn trên, song trên thực tế thì nguồn vốn cho dự án thường chỉ có hai nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu, chiếm khoảng 30% và nguồn vốn vay trung dài hạn của Ngân hàng thương mại, thường chiếm 60-70% Do vậy việc thẩm định khả năng trả nợ vay của các ngân hàng thương mại là vô cùng cần thiết
Trang 171.2.2.2 Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận hàng năm của dự án (dòng tiền vào của dự án)
- Thẩm định về doanh thu của dự án:
Công việc đầu tiên của nhà thẩm định phải tìm hiểu về thị trường sản phẩm của dự án Cán bộ thẩm định sẽ phải thu thập thông tin về giá cả sản phẩm đã có, hay sản phẩm tương tự của đối thủ cạnh tranh trên thị trường hiện tại là bao nhiêu? Nhu cầu về sản phẩm này hiện tại và xu hướng trong tương lai Rồi đặc tính sản phẩm của dự án có khả năng chiếm lĩnh thị trường hay không? Công suất dự tính của dự án sẽ là bao nhiêu … Từ đó dự tính doanh thu hàng năm của
dự án (Tính cho một năm )
Doanh thu = Lượng hàng dự tính
Giá bán dự tính của một đơn vị sản phẩm
- Thẩm định về chi phí dự án:
Thông thường phần vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn của dự
án Nên những phần vốn chi cho xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc thiết bị sản xuất thường được thẩm định kĩ lưỡng Cán bộ thẩm định phải xem xét giá cả nguyên – nhiên vật liệu cho phần xây dựng, cũng như giá cả máy móc sản xuất của dự án bao nhiêu là phù hợp với thị trường của khu vực, chất lượng máy móc ra sao…nhằm đánh giá chính xác cho phần vốn cần bỏ ra ban đầu Và khi dự án đi vào hoạt động thì những chi phí về nguyên nhiên vật liệu, đơn giá tiền công, khấu hao hình thành nên giá thành sản phẩm sẽ là bao nhiêu có phù hợp với dây truyền sản xuất, với thị trường hiện tại không? Phương pháp khấu hao như thế nào cũng đặc biệt được quan tâm bởi nó ảnh hưởng khá lớn đến dòng tiền ròng của dự án Những chi tiết này sẽ được cán bộ thẩm định làm rõ trên cơ sở những nguyên tắc kế toán nhất định để xác định chi phí hợp lý cho từng năm của dự án
- Thẩm định lợi nhuận dự án:
Từ xác định doanh thu và chi phí hàng năm của dự án nhà thẩm định sẽ xác định được lợi nhuận hàng năm của dự án, từ đó dự tính được dòng tiền của dự
Trang 18án Đây là phần chính yếu để nhà thẩm định biết được tính khả thi của dự án, cũng như khả năng thu hồi nợ từ kết quả hoạt động của dự án
1.2.2.3 Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
- Nguyên tắc xác định dòng tiền
Theo quan niệm chung hiện nay của các nhà kinh tế, dòng tiền của một dự
án là các khoản chi và khoản thu được kì vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt thời gian tồn tại của dự án Trong dòng tiền của dự án có dòng tiền ra, dòng tiền vào và dòng tiền ròng (chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án) Tuy nhiên dòng tiền ròng được coi là con số chính để xác định giá trị hay hiệu quả trực tiếp của dự án Khi xác định dòng tiền các nhà phân tích và thẩm định có những nguyên tắc nhất định
Thứ nhất là loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích: Chi phí chìm là những
chi phi mà doanh nghiệp - chủ dự án vẫn phải bỏ ra cho dù dự án có được chấp nhận và thực hiện hay không (chẳng hạn như chi phí tư vấn về dự án, chi phí thiết kế dự án, …) Chi phí này là một khoản chi tất yếu do đó không được đưa vào phần chi đầu tư của dự án
Thứ hai là chi phí cơ hội sẽ được đưa vào để phân tích chi phí của dự án:
Có những dự án được thiết kế trong đó có sử dụng một số yếu tố đầu vào sẵn có của doanh nghiệp Mà đáng lẽ ra nếu không sử dụng vào dự án thì nó sẽ được sử dụng vào việc khác và đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp Khi sử dụng vào dự
án doanh nghiệp đã bỏ mất phần nguồn thu đó Bởi vậy khoản chi phí này cần được đưa vào nhằm đánh giá chính xác chi phí thực của dự án
Thứ ba là tài sản lưu động ròng: phần tài sản lưu động ròng đối với hầu hết
các dự án cũng được đầu tư và được chi thực tại năm đầu đi vào hoạt động của
dự án Tài sản lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động trừ đi
nợ ngắn hạn Đặc tính của tài sản lưu động ròng là nó không được khấu hao và thường được thu hồi vào giai đoạn kết thúc của dự án Do vậy khi tiến hành dự
án mới tài sản lưu động ròng cần được tài trợ ở năm đầu của dự án
Trang 19Thứ tư là tác động của thuế: Thuế có những ảnh hưởng rất đáng ghi nhận
đối với dòng tiền của dự án Thông qua chi phí khấu hao của tài sản cố định thuế doanh nghiệp phải nộp từ dự án sẽ giảm làm cho dòng tiền tăng Hay đối với chi phí lãi vay - một khoản chi phí được phân bổ trước khi xác định thu nhập ròng, chi phí này cao cũng đồng nghĩa với thu nhập ròng giảm từ đây sẽ tiết kiệm một phần thuế thu nhập cho doanh nghiệp
Thứ năm là những tác động đến các dự án khác: Phần này đề cập đến tác
động của dự án đang xem xét đến các dự án khác của công ty Ví dụ khi công ty
dự định đưa ra một sản phẩm mới thì những khách hàng hiện tại sẽ chuyển sang mua sản phẩm mới (thay vì mua sản phẩm cũ) Lợi nhuận từ dự án này là do sự dịch chuyển lợi nhuận từ dự án trước Dòng tiền tăng thêm cho công ty sẽ nhỏ hơn dòng tiền ròng thu được từ dự án này Mặt khác sản phẩm mới có thể làm tăng doanh thu từ các sản phẩm đi kèm (như bàn chải kèm với kem đánh răng), nên dòng tiền tăng thêm từ việc bán các sản phẩm hiện tại cần được đưa vào dự
án mới Vì vậy khi bàn đến tác động ngoại biên, cần tính đến đầy đủ tác động của đự án đang xem xét
Thứ sáu là khấu hao: Khoản tiền đầu tư vào tài sản cố định của dự án
thường được phân bổ trong các năm hoạt động của dự án, gọi là chi phí khấu hao, sau đó tài sản có thể được thanh lý Tuy nhiên khấu hao không phải là khoản chi tiền, nên mức khấu hao cao không làm giảm dòng tiền, mặt khác còn làm tăng vì giảm số thuế phải nộp xuống
- Cách xác định dòng tiền
Thông thường ở mỗi dự án, các nhà thẩm định cũng như nhà phân tích đều phân định ra các dòng tiền sau: dòng tiền đầu tư (bao gồm: tiền đầu tư vào tài sản cố định - chi phí lắp đặt, chi phí cơ hội, tiền đầu tư vào tài sản lưu động ròng) và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (dòng tiền này được xác định thông qua báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm dự tính hàng năm của dự án)
Tổng hợp những dòng tiền này cho ta dòng tiền của dự án Ở đây vấn đề lãi suất chiết khấu được quan tâm hàng đầu khi xác định hiệu quả đầu tư của dư án
Trang 20bởi vì theo nguyên tắc giá trị thời gian của tiền thì các nhà phân tích phải quy nó
về một mốc để so sánh
1.2.2.4 Thẩm định lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đối với một dự án, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xác định giá trị hiện tại ròng của dự án Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào kết quả phân tích rủi ro, khả năng sinh lời của dự án và cơ cấu vốn Rủi ro của dự án càng cao thì tỷ lệ lãi suất chiết khấu đòi hỏi càng cao Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án có chi phí vốn càng cao thì đòi hỏi lãi suất chiết khấu tối thiểu phải bằng với tỷ lệ chi phí đó
Việc dự tính lãi suất chiết khấu phục vụ cho việc chiết khấu các dòng tiền của dự án cần dựa vào một số nguyên tắc sau:
- Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng Mối quan hệ này là tương quan thuận – điều đó có nghĩa rằng mức độ rủi ro của các tài sản tài chính hay một dự án càng cao thì lợi tức mà nhà đầu tư kỳ vọng kiếm được từ việc đầu tư vào chúng càng cao
- Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn đầu tư tài trợ cho dự án xem xét và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Dự án đang được xem xét phải được đặt trong tương quan với các tài sản
và dự án khác “cùng mức độ rủi ro”
Nguyên tắc nhất quán trong mối quan hệ giữa xác định dòng tiền và lựa chọn lãi suất chiết khấu Nguyên tắc này được thể hiện thông qua cách xác định dòng tiền, nếu dòng tiền hoạt động hoàn toàn thuộc về các chủ sở hữu thì lãi suất chiết khấu nên được chọn với tư cách là chi phí cơ hội của vốn chủ sở hữu Khi dòng tiền được xác định do cả chủ sở hữu và chủ nợ hưởng thì lãi suất chiết khấu nên được chọn với tư cách là chi phí bình quân gia quyền vốn đầu tư của
dự án
Để xác định chi phí sử dụng vốn bình quân của một dự án cần lưu ý một số điểm sau:
Trang 21Một là: Cần hoạch định một số phương án cơ cấu tài chính khác nhau với
những nguồn vốn khác nhau, có mức chi phí sử dụng vốn khác nhau để chọn ra phương án cho phép sử dụng vốn tối ưu
Hai là: Mức chi phí sử dụng vốn bình quân có thể được chấp nhận phải là mức chi phí sử dụng vốn bình quân thấp nhất và phải nhỏ hơn chỉ số IRR (sẽ giải thích rõ hơn tại mục 1.2.5.2)
Ba là: Mức chi phí sử dụng vốn bình quân được xác định dựa trên hai yếu
tố:
+ Đối với vốn vay: Lãi suất vay bình quân gia quyền của các khoản nợ + Đối với vốn chủ sở hữu: Được xác định tỷ suất lợi nhuận trên Vốn kỳ vọng có thể thu được
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kỳ vọng được tính bằng hoặc cao khả năng thu lời từ các hoạt động dầu tư khác dã bị bỏ qua (chi phí cơ hội) Trong trường hợp
dự án có nhiều bên góp vốn, chi phí sử dụng vốn riêng (vốn điều lệ và các quỹ) được tính bằng chi phí cơ hội của bên cơ hội cao nhất
Như vậy, nguyên tắc cơ bản để xác định lãi suất chiết khấu của một dự án
là phải xác định được chi phí sử dụng vốn bình quân của tất cả các nguồn vốn tài trợ cho dự án đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn khác,…) Tuy nhiên do vòng đời một dự án đầu tư thường rất dài (10 năm, 20 năm, thậm chí 50 năm); nên có rất
nhiều yếu tố tác động làm “méo mó” chi phí sử dụng vốn bình quân Do vậy trên
thực tế tùy theo tính chất rủi ro của các loại dự án mà người ta phải cộng thêm lãi suất chiết khấu (r%) một phần rủi ro theo nguyên tắc:
Mức rủi ro thấp: cộng thêm 1%
Mức rủi ro bình thường: cộng thêm 2%-3%
Mức rủi ro cao: cộng thêm 3%-4%
Ví dụ: Chi phí sử dụng vốn bình quân 1 năm là r% = 12% Dự án có mức
rủi ro trung bình sẽ có lãi suất chiết khấu là r = 12% +2% = 14%
Trang 221.2.2.5 Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án
Mục tiêu của thẩm định tài chính dự án là giúp nhà đầu tư ra quyết định có hay không thực hiện dự án Để đưa ra được quyết định đầu tư thì nhà đầu tư phải dựa trên các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án Các chỉ tiêu này thường được xác định bằng những phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp xác định Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng - NPV
Khái niêm: Giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư được hiểu là số chênh lệch
giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư
å ( )
=
+
1
01
Trong đó:
NPV: Giá trị hiện tại ròng của dự án
CFi : Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ i của dự án (i = 1àn)
CF0 : Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu (giả định vốn bỏ ra một lần ở năm đầu tiên của dự án)
n: Số năm thực hiện dự án
r : Lãi suất chiết khấu
Ý nghĩa của chỉ tiêu NPV
Với những dự án có NPV >0, thì tỷ lệ lợi nhuận của dự án lớn hơn tỷ lệ sinh lời sẵn có trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro (lãi suất chiết khấu), trong khi đó NPV <0 cho thấy dự án sinh lời với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ sinh lời sẵn
có trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro
Nếu tiền đầu tư được vay trên thị trường với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu thì NPV > 0 cho thấy dòng tiền từ dự án đủ để trả vốn và lãi vay và đem lại một khoản lợi nhuận bằng NPV Trong khi NPV<0 có ý nghĩa là dự án không tạo ra đủ tiền để trả chi phí tài chính
Trang 23Phương pháp giá trị hiện tại được các nhà đầu tư dễ chấp nhận hơn vì các dòng thu chi ở các thời điểm khác nhau của dự án đều được quy đổi về cùng một
tỷ lệ chiết khấu và mặt bằng thời gian (Hiện tại) Điều này thuận tiện cho người đầu tư có căn cứ chính xác để lự chọn quyết định đầu tư đúng đắn
Tuy nhiên bên cạnh đó thì chỉ tiêu NPV cũng có một số nhược điểm đó là: Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu (r) được lựa chọn, mà cụ thể là r càng nhỏ thì NPV càng lớn và ngược lại.Trong khi đó việc xác định đúng r là rất khó khăn
NPV chỉ phản ánh được hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa Muốn so sánh được, thì cần giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án
có thời gian bằng nhau Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các dự án Đây là một việc làm rất phức tạp và mất thời gian
Phương pháp xác định Chỉ tiêu tỷ suất thu hồi vốn nội bộ - IRR
Khái niệm: Tỷ suất thu hồi vốn nội bộ (IRR) của một dự án đầu tư là một tỷ
lệ chiết khấu đặc biệt để làm cân bằng giá trị hiện tại của dòng thu nhập và dòng chi phí của dự án Hay nói cách khác, tỷ suất thu hồi vốn nội bộ là một tỷ lệ chiết khấu “đặc biệt” để làm giá trị hiện tại thuần NPV của dự án bằng không Giả thiết ta tìm được một chiết khấu (r) để sao cho:
å
=
= +
-= n
i i
r
S T NPV
1
0 1
) (
Thì r được gọi là tỷ suất thu hồi nội bộ (IRR)
Trong đó:
Ti : dòng thu của dự án vào năm thứ i (i chạy từ 1 đến n)
Si : Dòng chi của dự án vào năm thứ i
r : Lãi suất chiết khấu
Trang 24Ý nghĩa của chỉ tiêu IRR : IRR đối với dự án chính là chỉ tiêu sinh lời cần
thiết của dự án IRR là tỷ suất chiết khấu tối đa của dự án, nói cách khác là chi phí sử dụng vốn bình quân tối đa của dự án, nếu vượt khỏi mốc đó, dự án sẽ bị
lỗ Vì vậy nhà đầu tư phải tìm các nguồn vốn với mức chi phí sử dụng vốn thấp hơn IRR (r < IRR) mới có lãi Mức chênh giữa r và IRR càng lớn thì khả năng sinh lời của dự án càng cao
Đồ thị 1.1: Mối tương quan giữa IRR và r
Ưu điểm của chỉ tiêu IRR:
- Chỉ tiêu này có xét đến sự biến động của yếu tố thời gian, tính đến hiệu quả cả đời dự án và có tính đến giá trị thời gian của tiền
- Cho biết được khả năng sinh lời của dự án, dễ dàng so sánh với một mức hiệu quả cho phép
- IRR không phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu do nó được xác định từ nội bộ phương án Đồng thời có thể sử dụng để so sánh các dự án - phương án khác nhau
Nhược điểm của chỉ tiêu IRR:
- Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án
- Sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm Với những dự án có khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi
NPV
0 r% IRR r
Trang 25dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị và dẫn đến việc áp dụng IRR không còn chính xác
- Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu
tư tại tỷ lệ lãi suất IRR, nghĩa là không giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư
Dự án được lựa chọn khi IRR lớn hơn hoặc bằng một lãi suất “ngưỡng” Lãi suất này thường là lãi suất thị trường (lãi suất dùng để tính NPV) Những dự
án khác không thỏa mãn điều kiện này sẽ bị loại bỏ
Khi lựa chọn các dự án: Về mặt toán học, phương pháp tính NPV và IRR luôn cùng đưa đến một quyết định là chấp thuận hoặc bác bỏ đối với những dự
án độc lập Tuy nhiên đối với những dự án loại trừ thì có thể có những kết luận trái ngược nhau.Trong trường hợp này thì chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu tốt hơn cho việc đánh giá dự án Bởi vì chỉ tiêu NPV ưu việt hơn chỉ tiêu IRR
Phương pháp xác định thời gian hoàn vốn – PP
Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu
tư ban đầu Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian cần thiết để những khoản thu nhập tăng thêm được tạo ra từ dự án hoàn trả vốn đầu tư ban đầu
Có hai cách tính chỉ tiêu này là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền); Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Có tính đến giá trị thời gian của tiền và quy tất cả các khoản thu nhập, chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn)
Công thức tính là như nhau:
PP = n + Error!
Với n là số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư
Với các dự án độc lập, dự án chỉ được chấp nhận khi thời gian hoàn vốn của nó nằm trong khoảng thời gian đã xác định trước (thời gian hoàn vốn tiêu chuẩn) Ngược lại với các dự án loại trừ nhau, các dự án sẽ được sắp xếp theo tốc độ hoàn vốn giảm dần và dự án có thời gian hoàn vốn nhanh nhất nằm trong khoảng thời gian tiêu chuẩn sẽ được lựa chọn
Ưu điểm của phương pháp xác định thời gian hoàn vốn - PP:
Trang 26- Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc
- Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết.Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong tương lai gần.Thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án
Nhược điểm của phương pháp xác định thời gian hoàn vốn - PP:
- Thời gian hoàn vốn không chiết khấu, không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền không được
đề cập đến trong phương pháp này
- Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét
và đánh giá Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu
- Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được hiệu quả tài chính trong cả vòng đời của dự án
Phương pháp xác định chỉ số sinh lời của Dự án (PI)
Chỉ số sinh lời (Profit index) là chỉ số phản ánh khả năng sinh lời của dự án, tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong trương lai chia cho vốn đầu tư
PI
1 1 1
Trong đó:
CFi : Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ i của dự án (i = 1àn)
CF0 : Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu
n : Số năm thực hiện dự án
Trang 27r : Lãi suất chiết khấu
PI càng cao thì dự án càng dễ được chấp nhận, nhưng tối thiểu phải bằng lãi suất chiết khấu Nếu không chi phí cơ hội đã bỏ qua khi thực hiện dự án không được bù đắp bởi tỷ suất sinh lợi của dự án
PI cũng khắc phục được nhược điểm cua những dự án có thời hạn khác nhau hay vốn đầu tư khác nhau vì nó phản ánh khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư cả vòng đời dự án Tuy nhiên vì là số tương đối nên nó không phản ánh được quy mô gia tăng giá trị cho chủ đầu tư như NPV
Bên cạnh những phương pháp trên thì còn có một số phương pháp khác như: Phương pháp phân tích điểm hòa vốn, phương pháp lợi nhuận kế toán bình quân (AAP),…
Có thể nói mỗi phương pháp xác định chỉ tiêu trên phương pháp nào cũng
có những ưu điểm nhược điểm riêng, không phương pháp nào là hoàn hảo nên khi thẩm định các cán bộ thẩm định thường sử dụng kết hợp một số phương pháp có thể để có được kết quả chính xác nhất
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng của tới thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án đầu tư bị chi phối bởi nhiều nhân tố, song có thể phân chia thành nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Nhân tố chủ quan
là nhân tố thuộc về nội bộ ngân hàng mà ngân hàng có thể kiểm soát, điều chỉnh Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài môi trường tác động, nó không thể kiểm soat mà chỉ khắc phục để thích nghi Việc xem xét, đánh giá các nhân
tố đó rất cần thiết đối với ngân hàng trong việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án
1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1.Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định
Cán bộ thẩm định đóng vai trò quan trọng mang tính chất quyết định đến chất lượng thẩm định tài chính dự án Kết quả thẩm định tài chính dự án là kết quả của quá trình đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của
Trang 28cán bộ thẩm định bởi vì đó là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp và kỹ thuật của mình Mọi nhân tố khác sẽ không có ý nghĩa nếu như cán bộ thẩm định không đủ trình độ và phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc Sai lầm của cán bộ thẩm định trong quá trình thẩm định
dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến tài sản của ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ, nguy cơ mất vốn và suy giảm lợi nhuận kinh doanh là không tránh khỏi
Thẩm định tài chính dự án là một công việc hết sức phức tạp, nó không đơn giản chỉ là việc tính toán theo những công thức cho sẵn đòi hỏi cán bộ thẩm định phải hội tụ được các yếu tố: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức Kiến thức đó là sự am hiểu chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn và sự hiểu biết rộng về các lĩnh vực trong đời sống khoa học-kinh tế-xã hội Kinh nghiệm của cán bộ thẩm định cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thẩm định, những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn như tiếp xúc với khách hàng, khảo sát nơi hoạt động của doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính, sẽ giúp cho các quyết định của cán bộ thẩm định chính xác hơn Năng lực là khả năng nắm bắt và xử lý công việc trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm, ngoài ba yếu tố trên thì cán bộ thẩm định phải có tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức, lòng say mê
và khả năng nhạy cảm trong công việc
1.3.1.2.Thông tin thu thập phục vụ cho quá trình thẩm định
Với trình độ công nghệ thông tin như hiện nay thì vấn đề thu thập thông tin
về khách hàng phục vụ cho quá trình thẩm định không phải là vấn đề khó khăn, tuy nhiên việc thu thập phải làm sao để các nguồn thông tin thu thập được đảm bảo đầy đủ, chính xác kịp thời.Việc lấy tài liệu, thông tin ở đâu, số lượng bao nhiêu phải được cân nhắc tính toán thận trọng trước khi tiến hành phân tích, đánh giá dự án Thông tin mà ngân hàng có thể thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau:
- Từ khách hàng xin vay vốn: Ngân hàng căn cứ vào hồ sơ dự án do chủ đầu tư gửi đến, phỏng vấn trực tiếp người xin vay vốn, điều tra nơi hoạt động
Trang 29kinh doanh của người xin vay vốn, báo cáo tài chính Trong đó nguồn thông tin
từ hồ sơ dự án là nguồn thông tin cơ bản nhất
- Từ trung tâm tín dụng của Ngân hàng Nhà nước như sổ sách của các ngân hàng, mà khách hàng vay vốn đã từng có quan hệ để thấy được khả năng trả nợ cũng như uy tín của khách hàng
- Từ các nguồn thông tin bên ngoài về tín dụng
Thông tin là nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định Do đó, số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định Nếu thông tin không chính xác thì mọi quá trình thẩm định từ đầu cho đến cuối đều không có ý nghĩa cho dù ngân hàng sử dụng phương pháp hiện đại như thế nào Thông tin chính xác là điều kiện để đưa ra những đánh giá đúng Thông tin thiếu, không đầy đủ dẫn đến chất lượng thẩm định không tốt hoặc không thẩm định được, nhất là những thông tin không cân xứng có thể dẫn tới lựa chọn đối nghịch, gây rủi ro cho ngân hàng Do đó, việc thu thập thông tin chính xác là rất cần thiết
Ngoài ra bên cạnh việc có được các thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời thì việc lựa chọn phương pháp xử lý, lưu trữ và sử dụng các thông tin đúng mục đích cũng cần được quan tâm
Việc có được thông tin là rất quan trọng trong quá trình thẩm định tài chính dự án, song để có thể thu thập, xử lý thông tin một cách có hiệu quả thì ngân hàng cần phải có các trang thiết bị và phần mềm hỗ trợ
1.3.1.3.Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho quá trình thẩm định
Yếu tố này ảnh hưởng tới việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin của cán bộ thẩm định, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định Vì hiện nay việc trang bị thiết bị hiện đại công nghệ tiên tiến: máy tính nối mạng toàn cầu, các phần mềm xử lý chuyên dụng, hệ thống cáp truyền nhanh, chính xác… giúp ích rất nhiều cho các hoạt động của cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm định không nhất thiết phải tính toán tỉ mỉ hay phải đến tận nơi để thu thập tài liệu nữa mà sẽ được máy tính xử lý và phân tích chính xác cụ thể từng chi tiết Từ đó tiết kiệm thời
Trang 30gian, tăng tính khoa học, khách quan, toàn diện trong quá trình xác minh tính khả thi của dự án
1.3.1.3.Quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định tài chính dự án
Qui trình và phương pháp thẩm định tài chính dự án chính là cơ sở để cán
bộ thẩm định tiến hành công việc của mình Trong qui trình thẩm định dự án gồm nhiều nội dung khác nhau, mỗi nội dụng lại chứa đựng một phần về tài chính của dự án Tính khoa học và logic trong qui trình và phương pháp thẩm định sẽ hạn chế khắc phục được những sai sót nhầm lẫn, đảm bảo cho công tác thẩm định tài chính dự án có được kết quả chính xác, tăng thêm ý nghĩa của của việc thẩm định Vì vậy mà có thể nói quy trình và nội dung phương pháp thẩm định có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng của thẩm định tài chính dự án
1.3.1.4.Công tác tổ chức điều hành các hoạt động thẩm định tài chính dự án
Công tác thẩm định là nghiệp vụ đòi hỏi tập hợp nhiều hoạt động khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau Nên đòi hỏi có một sự phân công, sắp xếp, quy định quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối liên hệ giữa các cá nhân và các bộ phận trong quá trình thực hiện Việc tổ chức điều hành công tác thẩm định tài chính dự án nếu được xây dựng khoa học, chặt chẽ, phát huy được năng lực, sức sáng tạo của từng cá nhân và sức mạnh tập thể tạo thành một hệ thống đồng bộ sẽ nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án Nhưng đồng thời, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra giám sát chặt chẽ quá trình thẩm định của bộ phận thẩm định Tuy nhiên các quy định trên không được cứng nhắc, gò bó làm mất đi tính chủ động, sáng tạo của từng cá nhân, làm giảm chất lượng thẩm định dự án
1.3.2 Nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan, đó là những nhân tố bên ngoài tác động vào dự án làm cho chất lượng thẩm định tài chính dự án bị giảm sút Các dự án có tuổi thọ dài thì những rủi ro do nhân tố khách quan mang lại rất khó dự báo như: tình hình kinh tế, chính trị, pháp luật các nhân tố này luôn thay đổi và nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và chủ dự án
Trang 311.3.2.1.Môi trường pháp lý
Không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng nói chung, của công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng, mà đối với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, tác động của môi trường pháp lý là vô cùng lớn Những căn cứ pháp
lý là bảng chỉ dẫn cho các hoạt động kinh tế, giúp các hoạt động này đi đúng hướng và đúng mục tiêu của phát triển của cả cộng đồng Do vậy một môi trường pháp lý ổn định, lành mạnh, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho công tác thẩm định được thực hiện một cách bài bản, đúng quy định, trong khuôn khổ cho phép, thuận tiện cho cả khách hàng lẫn ngân hàng Nhưng nếu môi trường pháp lý không tốt và chưa đồng bộ thì đây là một khó khăn lớn cho cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm định sẽ gặp phải những mâu thuẫn có thể phát sinh giữa các văn bản hướng dẫn, giữa những qui định… và điều này thực tế đã diễn ra rất nhiều (chẳng hạn như các quy định về hạch toán kế toán, về khấu hao,…) các nhà thẩm định sẽ phải mất nhiều thời gian công sức hơn khi thực hiện công việc của mình Đặc biệt sự chồng chéo hoặc khiếm khuyết trong quy định có thể là cơ hội cho những khách hàng (bản chất kinh doanh không tốt) dựa vào đó luồn lách để có được khoản vay mong muốn, nhưng lại không có khả năng hoàn vốn và lãi vay dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng và nền kinh tế
1.3.2.2.Môi trường kinh tế
Song song với môi trường pháp lý, môi trường kinh tế cũng là nhân tố hết sức quan trọng, tác động tới chất lượng thẩm định dự án trên nhiều khía cạnh Nếu môi trường kinh tế phát triển ổn định với cơ chế quản lý chính sách vĩ mô đồng bộ, hiệu quả, với các chủ thể kinh tế có năng lực, kinh nghiệm, với hệ thống thông tin kinh tế đầy đủ, chính xác là điều kiện rất thuận lợi cho công tác thẩm định tài chính dự án Song nếu nền kinh tế kém phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ sẽ hạn chế việc cung cấp thông tin chính xác, dẫn đến phản ánh sai lệch diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin dự báo về tình trạng nền kinh tế, … vì vậy chắc chắn công tác thẩm định dự án khó có thể đưa ra các
dự đoán chính xác Ngoài ra, các định hướng chính sách, chiến lược phát triển
Trang 32kinh tế, xã hội theo vùng, ngành, … chưa được xây dựng một cách đồng bộ và
ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong việc thẩm định và phê duyệt dự án
Bên cạnh đó, chất lượng thẩm định dự án đầu tư còn chịu tác động không nhỏ của các yếu tố thị trường Sự biến động không lường trước được của thị trường đầu vào, đầu ra, các yếu tố lạm phát, giảm phát, các cuộc khủng hoảng kinh tế, trong quá trình vận hành của dự án có thể làm những dự đoán thẩm định dù đầy đủ cũng trở nên sai lệch, vô nghĩa Vì thế tác động của môi trường kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ quá trình thực hiện, triển khai
dự án
1.3.2.3.Chủ dự án
Chủ đầu tư là một nhân tố tác động không nhỏ đến chất lượng thẩm định
dự án đầu tư Bởi lẽ chất lượng thẩm định của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào
hồ sơ vay vốn do chủ doanh nghiệp đề xuất Thông tin nhà đầu tư cung cấp là nguồn chủ yếu để ngân hàng thực hiện việc phân tích đánh giá Vì lẽ đó, tính trung thực, đầy đủ và kịp thời của các dữ liệu, thông tin của chủ đầu tư sẽ tác động tới kết quả thẩm định của ngân hàng Trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự
án cũng như thái độ hợp tác của chủ đầu tư là một yếu tố cần thiết mà các ngân hàng luôn cẩn trọng xem xét để đảm bảo chất lượng thẩm định dự án của mình
Ngoài ra năng lực tổ chức quản lý và tổ chức thực hiện dự án của các cơ quan có liên quan đến việc thực hiện và vận hành dự án Vì vậy đối với các dự
án có yêu cầu đầu tư lớn và yêu cầu kỹ thuật cao thì cần phải xem xét năng lực thực tế của các cơ quan liên quan cũng như quan hệ phối hợp giữa họ, đó là: chủ đầu tư, các tổ chức thiết kế thi công, cung ứng thiết bị và nguyên vật liệu, đội ngũ công nhân kỹ thuật chịu trách nhiệm vận hành dự án Đồng thời trình độ quản lý của chủ đầu tư sẽ tác động đến việc bố trí nhân lực, ảnh hưởng đến chi phí nhân công và chi phí quản lý trong tài chính của dự án
Tình hình tài chính doanh nghiệp cũng được đánh giá là một trong những nhân tố quan trọng cần được xem xét trong quá trình thẩm định phương án hoàn trả vốn vay, nhất là đối với các dự án đầu tư mở rộng và đổi mới trang thiết bị
Trang 33Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh được coi là một nhân tố đảm bảo cho dự án trong quá trình đánh giá dự án của người thẩm định
1.3.2.4.Điều kiện môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên cũng tác động một phần nhỏ vào quá trình thẩm định
dự án Để thu thập thông tin thì cán bộ thẩm định phải đi khảo sát thực tế tại nơi
dự án dự định thực hiện Điều kiện khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng tới kết quả của việc thu thập thông tin và ảnh hưởng tới việc dự tính các chỉ tiêu của dự án, đặc biệt là đối với những dự án trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI
VIỆT NAM CHI NHÁNH THÁI BÌNH
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình
2.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 12/07/1991, Maritime Bank chính thức khai trương
và đi vào hoạt động tại Thành phố Cảng Hải Phòng, ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực Khi đó, những cuộc tranh luận về mô hình ngân hàng cổ phần còn chưa ngã ngũ
và Maritime Bank đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam Đó là kết quả có được từ sức mạnh tập thể và ý thức đổi mới của các cổ đông sáng lập: Cục Hàng Hải Việt Nam, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam…
Ban đầu, Maritime Bank chỉ có 24 cổ đông, vốn điều lệ 40 tỷ đồng và một vài chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh Có thể nói, sự ra đời của Maritime Bank tại thời điểm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đã góp phần tạo nên bước đột phá quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam
Nhìn lại chặng đường phát triển thì năm 1997 - 2000 là giai đoạn thử thách, cam go nhất của Maritime Bank Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, Ngân hàng đã gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, bằng nội
Trang 35lực và bản lĩnh của mình, Maritime Bank đã dần lấy lại trạng thái cân bằng và phát triển mạnh mẽ từ năm 2005
Đến nay, Maritime Bank đã trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần phát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách hàng Vốn điều lệ của Maritime Bank là 8.000 tỷ đồng và tổng tài sản đạt gần 110.000 tỷ đồng Mạng lưới hoạt động không ngừng được mở rộng từ 16 điểm giao dịch năm
2005, hiện nay đã lên đến gần 230 điểm giao dịch trên toàn quốc Với trụ sở chính đặt tại địa chỉ số 88 Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình (Maritime Bank Thái Bình) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm
2008, trụ sở Chi nhánh đặt tại địa điểm số 17A, Lê Lợi, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình Cùng với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của toàn hệ thống Maritime Bank, thì chi nhánh Thái Bình cũng đã dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng thương mại trên địa bàn Từ khi thành lập cho tới nay Maritime bank Thái Bình luôn tăng trưởng và phát triển không ngừng, cơ sở vật chất ngày càng được hoàn thiện với hệ thống trang thiết bị hiện đại, hệ thống máy tính nối mạng 24/24, trụ sở khang trang
Tháng 10 năm 2014 Maritime Bank Thái Bình chuyển trụ sở Chi nhánh
về số 07 phố Quang Trung, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình Trụ sở chi nhánh được xây dựng mới khang trang trên khu đất có diện tích 2.056 m2 đất được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình cho thuê 50 năm
* Về mạng lưới giao dịch của Chi nhánh:
Ngoài trụ sở chính chi nhánh thì hiện tại Maritime Bank Thái Bình còn có
ba điểm giao dịch khác đó là:
- Phòng giao dịch Quỳnh Phụ, có địa chỉ tại Thị trấn Quỳnh Côi, Huyện
Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tại đây bố trí Trung tâm tài chính cộng đồng
- Phòng giao dịch Đông Hưng, có địa chỉ tại xã Đông Động, huyện Đông
Hưng, tỉnh Thái Bình Tại đây bố trí Trung tâm tài chính cộng đồng
Trang 36- Phòng Giao dịch Kỳ Bá, có địa chỉ tại số 204 Phố Lý Thường Kiệt,
Phường Kỳ Bá, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tại đây bố trí Trung tâm khách hàng cá nhân
* Về cơ cấu nhân sự:
Tính đến 31/12/2014 toàn bộ chi nhánh có 40 cán bộ nhân viên, trong đó trên 75% có trình độ đại học và trên đại học Số cán bộ nhân viên nữ chiếm hơn 60%
Sơ đồ bộ máy tổ chức:
Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Thái Bình nằm trong giai đoạn Maritime Bank có sự thay đổi mạnh mẽ về mô hình tổ chức, năm 2011 Chi nhánh được chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình kinh doanh hiện đại, chuyên biệt với sự độc lập nhất định theo ngành dọc
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Maritime Bank Thái Bình
2.1.2 Những kết quả đạt được của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình, giai đoạn 2011-2014
Trong những năm qua hoạt động của hệ thống ngân hàng ở nước ta phát triển nhanh chóng Cùng những biến động lãi suất ngân hàng trên thế giới, lãi suất của các ngân hàng ở Việt Nam không ngừng tăng tạo ra sự cạnh mạnh mẽ
KỲ BÁ)
TRUNG TÂM
TÀI CHÍNH CỘNG ĐỒNG (PGD ĐÔNG HƯNG)
TRUNG TÂM TÀI CHÍNH CỘNG ĐỒNG (PGD
QUỲNH PHỤ )
TRUNG TÂM HỖ TRỢ
BP Kho quỹ
BP
Kế toán
BP Hành chính
Bộ phận
DVKH
Trang 37về khách hàng, lãi suất, sản phẩm dịch vụ…giữa các ngân hàng với nhau Đây là một trở ngại lớn đối với một ngân hàng qui mô khiêm tốn như Maritime Bank, đặc biệt là Chi nhánh Thái Bình Tuy nhiên vượt qua những khó khăn đó, những thế mạnh về khách hàng, nhân lực và tăng trưởng hoạt động kinh doanh của Maritime Bank vẫn tiếp tục được phát huy và đã gặt hái được nhiều kết quả đáng khích lệ Thu hồi được các khoản nợ đọng lớn, huy động vốn đạt cao, tổ chức xây dựng, di chuyển trụ sở làm việc của chi nhánh sang địa điểm mới thành công, bảo đảm phục vụ khách hàng kịp thời chính xác
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh từ năm 2011-2014
Nguồn vốn huy động của Maritime Bank Thái Bình những năm gần đây (2012-2014) có xu hướng giảm Năm 2012 nguồn vốn huy động đạt 368 tỷ
TT Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Trang 38đồng, năm 2013 là 320 tỷ đồng, giảm tương ứng 13 % so năm 2013, năm 2014 nguồn vốn huy động chỉ đạt 278 tỷ đồng, giảm 13,1% so năm 2013
Nguyên nhân nguồn vốn huy động giảm:
- Do cơ cấu nguồn vốn huy động của Maritime Bank Thái Bình phần lớn
là huy động từ dân cư nên trong năm 2013 và 2014 khi Ngân hàng Nhà nước liên tục có những chính sách điều chỉnh về mức trần lãi suất huy động đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng (Những tháng cuối năm 2013 trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng là 7%/năm, cuối năm 2014 là 5,5% năm) thì người dân có xu hướng đầu tư vào những lĩnh vực khác thay vì gửi tiết kiệm với lãi suất thấp
- Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng khi trên địa bàn nhỏ như Thành phố Thái Bình có tới gần 20 tổ chức tín dụng
- Do Ngân hàng Nhà nước chỉ khống chế trần huy động đối với các kỳ hạn huy động dưới 6 tháng, nên đối với những kỳ hạn còn lại các ngân hàng chủ động quyết định mức lãi suất huy động tùy theo cơ cấu huy động của từng ngân hàng, chính điều này cũng làm cho một lượng khách nhất định dịch chuyển tiền gửi từ Maritime Bank Thái Bình sang các Chi nhánh ngân hàng khác trên địa bàn như: VPBank Thái Bình; Đông Á Thái Bình, SHB Thái Bình, MB Thái Bình,…
* Về hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay của Maritime Bank Thái Bình tăng trưởng tương đối
ổn định trong ba năm từ 2011-2013, mức tăng mỗi năm khoảng 5% Tuy nhiên đến cuối năm 2014 dư nợ của Chi nhánh chỉ đạt 586 tỷ đồng, giảm 35,2% so năm 2013 Nguyên nhân của việc dư nợ giảm mạnh là trong năm 2014 Chi nhánh cùng với hội sở đã xử lý thành công khoản nợ xấu 86 tỷ đồng trung dài hạn phát sinh từ năm 2013, đồng thời đối với một số khách hàng tiềm ẩn phát sinh nợ xấu Chi nhánh cũng đã bán cho các công ty chuyên xử lý nợ và Công ty VAMC của Ngân hàng nhà nước
Trong cơ cấu cho vay thì Chi nhánh tập trung cho vay trung dài hạn (trên 90% dư nợ) với đối tượng khách hàng là tổ chức là chính
Trang 39Nguyên nhân:
Do năm 2011 hệ thống Maritime Bank có sự thay đổi lớn về mô hình tổ chức hoạt động Các mảng hoạt động của Ngân hàng quản lý theo mô hình ngành dọc, hạn chế quản lý theo mô hình hàng ngang, trong đó hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đối với một số địa bàn tỉnh lẻ như Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, … Tạm dừng cho vay để định vị lại khách hàng cũng như xây dựng những chính sách, những sản phẩm phù hợp với đối tượng và chiến lược của ngân hàng
Đối với mảng hoạt động khách hàng doanh nghiệp thì Maritime Bank cũng định hướng theo khu vực (Thái Bình nằm trong khu vực bốn tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình), với trung tâm chỉ đạo điều hành đặt tại Chi nhánh Nam Định Lĩnh vực đầu tư cho vay và đối tượng khách hàng thực hiện theo định hướng của khu vực và của hội sở
Xuất phát từ những đặc điểm trên mà dư nợ cho vay của Chi nhánh Thái Bình chủ yếu tập trung vào những đối tượng khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển Những đối tượng khách hàng này được Chi nhánh đẩy mạnh cho vay trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013 Năm 2014, định hướng tín dụng của Maritime Bank không tập trung vào mục tiêu tăng trưởng mà tập trung chủ yếu vào mục tiêu thu hồi nợ quá hạn, giảm thiểu nợ xấu
* Về lợi nhuận
Lợi nhuận của Maritime Bank Thái Bình trong giai đoạn từ 2011-2014 có
xu hướng giảm, năm 2011 lợi nhuận của Chi nhánh đạt 26,4 tỷ đồng, đến năm
2012 chỉ đạt 11,6 tỷ đồng, giảm 56% so năm 2011 Nguyên nhân của việc lợi nhuận giảm mạnh là do trong năm 2011 Chi nhánh mở thêm 01 phòng giao dịch tại huyện Quỳnh phụ, số lượng cán bộ nhân viên tăng thêm 07 người, bên cạnh
đó do thay đổi mô hình tổ chức dẫn đến toàn bộ hình ảnh nhận diện và cơ sở vật chất phục vụ công việc đề phải thay mới cho đồng nhất, chính những biến động
đó đã làm cho các chi phí hoạt động của Maritime Bank Thái Bình tăng mạnh, qua đó làm cho lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh giảm
Trang 40Đáng lưu ý năm 2013 lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Chi nhánh bị
âm 4,5 tỷ đồng, nguyên nhân chủ yếu là do trong năm chi nhánh phát sinh đột biến nợ xấu, nợ xấu tăng 85,5 tỷ đồng so cuối năm 2012 Đây là khoản nợ khách hàng vay vốn dài hạn để đóng tàu biển vận tải hàng hóa quốc tế, nợ xấu phát sinh làm cho Chi nhánh không được tính dự thu từ lãi vay đồng thời phải trích
dự phòng rủi ro cụ thể cho khoản vay, do vậy hoạt động kinh doanh bị lỗ Năm
2014 với sự quyết tâm của Ban lãnh đạo Chi nhánh Thái Bình cùng với sự hỗ trợ của Hội sở chính, Maritime Bank Thái Bình đã xử lý thành công khoản nợ xấu phát sinh từ năm 2013, chính điều đó đã tác động rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, từ trạng thái bị lỗ 4,5 tỷ đồng năm 2013 đã chuyển sang lãi 5,5 tỷ đồng trong năm 2014
2.2 Thực trạng thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình
2.2.1 Những quy định chung về công tác thẩm định tài chính dự án cho vay trung dài hạn của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Dựa trên những quy định của Ngân hàng Nhà nước về cho vay như: Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định
số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN, đã được sửa đổi theo quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 và Thông tư 33/2010/TT-NHNN ngày 8/10/2011 Căn cứ Quy định cho vay mã số QĐ.TD-
010 ngày 15/12/2010 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam Quy trình thẩm định cho vay nói chung và quy trình thẩm định tài chính
dự án nói riêng như sau:
1.2.1.1.Các bước chủ yếu của Quy trình thẩm định và xét duyệt cho vay
- Tiếp nhận nhu cầu vay vốn, phỏng vấn khách hàng;
- Kiểm tra hồ sơ, thủ tục và các điều kiện vay vốn ban đầu
- Đối chiếu với các quy định hiện hành, chính sách tín dụng hiện hành của Nhà nước và của Maritime Bank ;
- Xem xét việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng ;