1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học

80 590 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin họcXây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin họcXây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học

Trang 1

1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS.TS Lê Văn Sơn.

2 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Anh Quốc

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Sư phạm ĐàNẵng đã truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho em trong những năm học vừaqua

Đặc biệt xin em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Lê Văn Sơn đã trực tiếphướng dẫn, góp ý, giúp đỡ tận tình em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này

Để có được kết quả như ngày hôm nay, em xin chân thành cảm ơn Ban GiámHiệu, các thầy (cô) và các em học sinh trường Trung học phổ thông Phạm Phú Thứ,

Trang 2

Bên cạnh đó cũng không thể không kể đến sự giúp đỡ, động viên về vật chất cũng như tinh thần gia đình, người thân và bạn bè Chính những sự quan tâm này đã tiếp thêm cho em nghị lực, giúp em hoàn thành tốt khóa luận của mình

Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thành đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá của quý thầy (cô) trong hội đồng phản biện để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Đà Nẵng, tháng 05/2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Anh Quốc

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

3.1 Khách thể nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

6.1 Nghiên cứu lý thuyết 3

6.2 Nghiên cứu thực nghiệm 3

7 Những đóng góp mới của đề tài 4

8 Cấu trúc của khóa luận 4

9 Lịch trình làm việc 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TIN HỌC Ở TRƯỜNG THPT 6

1.1 Cơ sở lý luận của việc rèn luyện kỹ năng thực hành

Trang 3

1.2.1.1 Mục tiêu giáo dục

1.2.1.2 Đặc điểm của môn tin học

1.2.1.3 Vị trí của môn tin học

1.2.2 Đặc điểm năng lực nhận thức và năng lực thực hành của học sinh trong trường THPT 16

1.2.3 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng thực hành Tin học trong trường THPT 18

1.3 Các kỹ năng thực hành cần rèn luyện

1.3.1 Kỹ năng vận dụng tri thức tin học vào hoạt động lập trình

1.3.1.1 Phương diện ngôn ngữ

1.3.1.2 Phương diện giải thuật

1.3.1.3 Phương diện dữ liệu

1.3.1.4 Phương diện quá trình

1.3.1.5 Phương diện kết quả

1.3.1.6 Phương diện máy tính điện tử

1.3.1.7 Phương diện giải quyết vấn đề

1.3.2 Kỹ năng tin học hóa các bài toán thực tiễn

1.3.3 Vận dụng tri thức tin học vào hoạt động thực tiễn khác

1.4 Vai trò của hoạt động lập trình trong việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH CHO HỌC SINH LỚP 11 THPT 36

2.1 Nội dung chương trình các bài thực hành tin học 11

2.1.1 Nội dung

2.1.2 Yêu cầu

2.2 Quy trình rèn luyện kỹ năng

2.2.1 Tìm hiểu nội dung bài toán

2.2.2 Xây dựng giải thuật

2.2.3 Thực hiện xây dựng chương trình

2.2.4 Thực hiện chương trình (chạy chương trình)

2.3 Các bước của bài thực hành

2.4 Yêu cầu đối với bài thực hành

2.5 Phân tích đặc điểm các bài tập và thực hành để rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1 Mục đích thực nghiệm

3.2 Đối tượng thực nghiệm

3.3 Nội dung thực nghiệm

3.4 Điều tra thực tế

3.4.1 Phiếu khảo sát học sinh

Trang 4

3.5 Giáo án đã soạn

3.5.1 Giáo án 1

3.5.2 Giáo án 2

3.6 Phương pháp thực nghiệm

3.7 Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

PHẦN KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

Số hiệu bảng Tên bảng Trang 3.1 Bảng tần số học sinh đạt điểm X i (lần 1) 69 3.2 Bảng tần suất % học sinh đạt điểm X i (lần 1) 69

3.4 Bảng tần số học sinh đạt điểm X i (lần 2) 71 3.5 Bảng tần suất % học sinh đạt điểm X i (lần 2) 71

Trang 6

Số Tên hình vẽ Trang 3.1 Biểu đồ điểm số học sinh đạt điểm X i (lần 1) 69 3.2 Đồ thị tần suất số % học sinh đạt điểm X i (lần 1) 70 3.3 Biểu đồ điểm số học sinh đạt điểm X i (lần 2) 71 3.4 Đồ thị tần suất số % học sinh đạt điểm X i (lần 2) 72

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, khoa học và kỹ thuật phát triển với tốc độ rất nhanh Người ta ướctính rằng cứ sau 8 năm thì tri thức của nhân loại được tăng lên gấp đôi Từ khi chiếcMTĐT đầu tiên ra đời đã mở ra một kỉ nguyên phát triển rực rỡ của CNTT

Những thành tựu to lớn của CNTT đang thâm nhập sâu rộng vào hầu hết cácngành kinh tế quốc dân, vào mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, văn hoá và nghệ thuật,khoa học và giáo dục, vào mọi cơ quan quản lý các cấp và mọi gia đình Điện tử vàTin học làm biến đổi sâu sắc đến lối sống và phong cách tư duy của con người Xãhội thông tin đang đặt ra các yêu cầu rất cao đối với các hoạt động trí tuệ của toàn

xã hội

Mọi tiến bộ khoa học kỹ thuật cuối cùng cũng đi vào giáo dục và đặt ra chogiáo dục những nhiệm vụ mới Sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự bùng nổ củathông tin đòi hỏi nhà trường phải tạo nên những con người thông minh, sáng tạo.Ở Việt Nam, những thành công của sự nghiệp đổi mới trong hơn hai thập niênqua đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào trong nhà trường.Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm đưa nước tatheo kịp nhịp độ phát triển của thế giới trong xu hướng hội nhập với nền kinh tếtoàn cầu đòi hỏi thế hệ trẻ phải sử dụng thành thạo các ứng dụng của CNTT vàolĩnh vực công tác của mình trong tương lai Nhiều quan niệm cho rằng “Không biếtTin học coi như bị mù chữ lần thứ hai Việc dạy Tin học cũng quan trọng như việcxoá mù chữ”

Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng Tin học được ápdụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong hầu hếtlĩnh vực của đời sống, và là một thành phần không thể thiếu của trình độ văn hoáphổ thông của con người trong thời đại mới Bởi vậy, dạy Tin học cho học sinhkhông chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hướng cho học sinh những nhậnthức, những hiểu biết ngang tầm thời đại, phải luyện cho học sinh luôn tự tìm tòi,khám phá những lĩnh vực mới của nhân loại, góp phần phát triển tư duy nhận thứccủa học sinh; rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức Tin học vào thựctiễn Từ đó, giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh

Trang 8

Hiện nay, môn Tin học đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường phổthông và có tăng thêm thời lượng Đây là một thuận lợi rất lớn cho việc tiến hànhgiảng dạy Học sinh sẽ nghiêm túc và có trách nhiệm hơn khi học môn học Nhàtrường có cơ sở pháp lí để đầu tư về trang thiết bị, phòng máy, triển khai các hoạtđộng ngoại khoá liên quan Tuy nhiên, đa số trang thiết bị dạy học ở phòng máy ởhầu hết các cơ sở đào tạo hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu triển khai chươngtrình dạy Tin học Do vậy việc giảng dạy thực hành, đổi mới phương pháp dạy họccòn nhiều khó khăn Mặt khác có tiến hành các buổi thực hành trên phòng máy thìchất lượng cũng chưa cao Giáo viên còn chưa quan tâm đến học sinh đạt đượcnhững kỹ năng gì qua các buổi thực hành Vì vậy đa số học sinh lớp 11 THPT cònnon kém về kỹ năng lập trình.

Quá trình dạy học không chỉ trang bị cho học sinh vốn kiến thức để hình thànhthế giới quan mà còn rèn luyện cho các em năng lực nhận thức và năng lực hànhđộng Bởi vì chúng ta cần đào tạo nên những con người lao động mới vừa nắmvững lý thuyết vừa có năng lực thực hành với kỹ năng vững vàng Do vậy nhất thiếtphải rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản, đặc biệt là kỹ năng thực hành.Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy Tin học trong việc giáo dưỡng vàgiáo dục hướng nghiệp cho học sinh, qua đó thấy được thực trạng dạy và học Tinhọc ở trường phổ thông Mong muốn đóng góp một phần rất nhỏ về phương phápdạy học một môn học còn rất mới mẻ trong nhà trường THPT Đó chính là lý do tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài “Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học”

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình tổ chức dạy học các bài dạy thực hành Tin học 11 để rèn luyện kỹnăng thực hành cho học sinh

4 Giả thuyết khoa học

Trang 9

Nếu tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học theo hướng đổi mới bảo đảmcác yêu cầu về sư phạm thì sẽ hình thành, rèn luyện và phát triển được kỹ năng thựchành lập trình cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận về hình thành và phát triển kỹ năng tronggiảng dạy thực hành Tin học ở trường THPT

Xác định cơ sở và hệ thống các kỹ năng thực hành cơ bản cần rèn luyện chohọc sinh

Nghiên cứu cách tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học để rèn luyện vàphát triển kỹ năng thực hành cho học sinh

Thiết kế mẫu giáo án giảng dạy bài thực hành Tin học 11 (Bài tập và thựchành 5)

Thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu, bài giảng về phương pháp dạy học Tin học

Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, tâm lý học, các tài liệu về phương phápdạy học môn Toán, Vật lý, để từ đó áp dụng vào giảng dạy Tin học

Nghiên cứu các tài liệu về ngôn ngữ lập trình Turbo Pascal

Nghiên cứu khối lượng kiến thức được học về lập trình bằng ngôn ngữ Pascal

và thực trạng dạy học thực hành Tin học ở trường THPT

6.2 Nghiên cứu thực nghiệm

Tiếp xúc với giáo viên và học sinh THPT để trao đổi các vấn đề liên quan đếnviệc dạy học, truyền thụ tri thức Tin học, nhất là dạy học lập trình cho học sinhTHPT

Thực nghiệm sư phạm

Xử lý số liệu thu được bằng phương pháp thống kê toán học

7 Những đóng góp mới của đề tài

Khóa luận là công trình nghiên cứu việc tổ chức dạy học các bài thực hành Tinhọc để rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh Sau đây là những đóng gópmới của đề tài:

 Xác định được hệ thống kỹ năng thực hành cần rèn luyện cho học sinhlớp 11 THPT

 Bước đầu xác định được quy trình rèn luyện kỹ năng thực hành

 Xác định cách tổ chức dạy học các bài thực hành để rèn luyện kỹ năngthực hành cho học sinh

 Xây dựng mẫu giáo án của bài thực hành 5 trong SGK Tin học 11

8 Cấu trúc của khóa luận

Trang 10

Mở đầu: Giới thiệu sơ lược về đề tài, hướng nghiên cứu và những đóng góp

của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát triển kỹ

năng thực hành cho học sinh trong dạy học Tin học ở trường THPT

Chương 2: Tổ chức dạy học các bài thực hành cho học sinh lớp 11 THPT.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Phần kết luận: Nêu ra những nhận xét về kết quả đạt được, những hạn chế

của đề tài và từ đó đưa ra hướng phát triển cho đề tài

2 Tháng 02/2013 - Viết lời mở đầu.

- Viết chương I

- Lời mở đầu,chương I đượcthông qua

3 Tháng 03/2013 - Viết chương II và chương III.

- Chương II vàchương III đượcthông qua

4

Tháng 04/2013 - Hoàn thiện đề tài

5

Tháng 05/2013 - Rà soát và chỉnh sửa toàn bộ đề

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TIN HỌC Ở TRƯỜNG THPT

1.1 Cơ sở lý luận của việc rèn luyện kỹ năng thực hành

1.1.1 Khái niệm kỹ năng thực hành

Kỹ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học quan tâm.Xung quanh khái niệm kỹ năng đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau

Trong Tâm lý học có hai quan niệm về kỹ năng:

 Quan niệm thứ nhất chú trọng khía cạnh cách thức hành động, coi việcnắm được cách thức hành động là có kỹ năng Đại diện cho quan niệm này là cáctác giả: Ph.N Cônôbôlin, V.A Crutetxki, V.X Cudin, A.G Covaliop cho rằng kỹ

năng là phương thức thực hiện hoạt động đã được con người nắm vững [1]

 Quan niệm thứ hai coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật củahành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người Đại diện cho quan niệmnày có N.Đ.Lêvitốp, K.K Platônốp, A.V Pêtrôpxki, F.K Kharlamốp Kỹ năng theoquan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tínhmục đích Chẳng hạn, A.V Pêtrôpxki xem kỹ năng là năng lực sử dụng các tri thức,các dữ kiện hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện nhữngthuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay

thực hành xác định [1]

Trong Lý luận dạy học, kỹ năng thường được quan niệm là khả năng của con

người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiệntrong đó hành động xảy ra Kỹ năng bao giờ cũng có tính khái quát và được sử dụngtrong những tình huống khác nhau

Theo từ điển Việt Nam thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức

thu nhận được vào thực tế” [2]

Về bản chất thì các quan niệm trên về kỹ năng không mâu thuẫn nhau lắm Sự

Trang 12

khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một kỹ năng hànhđộng trong các tình huống, công việc khác nhau.

Kỹ năng có thể được định nghĩa như sau: Kỹ năng là khả năng của con người

thực hiện một cách có hiệu quả một công việc nào đó để đạt được mục đích đã xácđịnh bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh và phương tiện nhất định

Theo từ điển Việt Nam thì “Thực hành là làm để áp dụng lý thuyết vào thực

tế” [3]

Khái niệm thực hành có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều thống nhấthiểu thực hành là một động từ mà ở đó có hai điểm chính cần chú ý:

 Một là, thực hành gắn liền với những hành động, hoạt động của con

người được biểu hiện bằng các thao tác cụ thể, tác động lên đối tượng lao động nào

đó nhằm biến đổi chúng theo mục đích đã định Ở đây, hoạt động được hiểu ở nghĩarộng hơn so với hành động, trong hoạt động gồm có nhiều hành động

 Hai là, thực hành là một biểu hiện của việc vận dụng lý thuyết vào thực

tiễn Đây không phải là một hoạt động mang tính thuần túy của cơ bắp mà nó đòihỏi phải có sự tham gia của những hoạt động trí tuệ Hoạt động trong thực hànhmang tính mục đích rõ rệt, kiểm nghiệm và nắm vững lý thuyết hơn là mục đích chủyếu

Từ hai khái niệm “Kỹ năng” và “Thực hành” có thể hiểu: Kỹ năng thực hànhtrong dạy học (đối với học sinh) là khả năng học sinh thực hiện có kết quả các thaotác hành động trong việc áp dụng tri thức đã học vào thực tế

Dựa vào định nghĩa trên ta thấy kỹ năng thực hành có đặc điểm là:

 Có kiến thức vững chắc về lý thuyết

 Khả năng thực hiện các thao tác hành động theo một quy định

 Khả năng vận dụng khám phá biến đổi về các quy trình, các vấn đề về

lý luận vào thực tiễn

 Kết quả thực hiện phải đạt được mục tiêu đề ra

Như vậy kỹ năng thực hành không phải là phạm trù trừu tượng mà nó lànhững

thao tác, hành động cụ thể của chủ thể hành động, trường hợp này chủ thể là họcsinh, nhằm đạt được kết quả đã đề ra theo mục tiêu dạy học, đó là việc áp dụngnhững kiến thức đã học vào tình huống mới có ý nghĩa

1.1.2 Vai trò của kỹ năng thực hành trong dạy học Tin học

Trang 13

Mục đích của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là: Thực hiện giáo dục toàndiện nhằm nâng cao năng lực sản xuất cho nền sản xuất hiện đại, đó là những conngười có kiến thức ngang tầm thời đại, có phẩm chất đạo đức, tư duy sáng tạo vànăng lực thực hành giỏi, có ý thức vươn lên trong học tập, rèn luyện lập thân, lậpnghiệp Là một người lao động thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì không chỉ

có kiến thức mà còn phải có ý thức kỷ luật, kỹ năng thực hành giỏi, lòng say mênghề nghiệp Những phẩm chất năng lực này đã được trang bị từ khi ngồi trên ghếnhà trường Do đó việc hình thành kỹ năng cho học sinh trong quá trình dạy học làquá trình từng bước hoàn thành mục tiêu của nền giáo dục

Mục tiêu dạy học ở THPT được xác định căn cứ vào mục tiêu giáo dục THPT.Mục tiêu giáo dục nhằm vào việc giáo dục toàn diện nhân cách học sinh: giáo dụcđạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất và giáo dục kỹ năng

Để đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện, quá trình dạy học cần tác động lên cả bamặt đời sống tâm lý học sinh: mặt nhận thức, mặt xúc cảm, tình cảm (hay thái độ)

và mặt hành động Chính vì thế, mục tiêu dạy học được xác định thường bao gồm

ba nhóm yêu cầu bồi dưỡng nhân cách toàn diện: yêu cầu về nhận thức (tri thức),

yêu cầu về xúc cảm, tình cảm (thái độ) và yêu cầu về hành động (kỹ năng) [7]

Trong nhà trường, ba nhóm yêu cầu này thường được xác định và sắp xếp theothứ tự như sau:

1 Hệ thống những tri thức cần nắm.

2 Hệ thống những kỹ năng học tập và sinh hoạt cần rèn luyện.

3 Hệ thống những giá trị (thái độ) thích hợp cần bồi dưỡng.

Ba nhiệm vụ này có mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy lẫn nhau, được thểhiện:

 Nhiệm vụ thứ nhất là cơ sở của nhiệm vụ thứ hai, nhiệm vụ thứ ba; bởilẽ, học sinh chỉ thực hiện các thao tác trí tuệ khi các em tiến hành lĩnh hội và vậndụng hệ thống các tri thức Thế giới quan, những phẩm chất nhân cách được hìnhthành ở các em có đúng đắn hay không lại tùy thuộc vào những tri thức mà các emlĩnh hội có chính xác, khoa học hay không

 Nhiệm vụ thứ hai là điều kiện của nhiệm vụ thứ nhất và nhiệm vụ thứba; điều đó thể hiện ở chỗ một khi trí tuệ của các em phát triển, các em biết phươngpháp học thì chính sự phát triển trí tuệ đó giúp các em có thể lĩnh hội tri thức, hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo và những phẩm chất nhân cách tốt hơn

Trang 14

 Nhiệm vụ thứ ba vừa là mục đích, kết quả của nhiệm vụ thứ nhất vànhiệm vụ thứ hai, lại vừa trở thành động lực thúc đẩy nhiệm vụ thứ nhất và nhiệm

vụ thứ hai phát triển Mục đích cuối cùng của quá trình học sinh lĩnh hội tri thức là

để nhằm hình thành quan điểm, tư tưởng đúng về thế giới xung quanh từ đó có thái

độ và hành động đúng đắn đối với thế giới, tức mục đích của việc học chữ là để họclàm người, học sinh chỉ thực hiện các thao tác trí tuệ để lĩnh hội tri thức, rèn luyện

kỹ năng, kỹ xảo tốt một khi các em có ý thức, thái độ học tập đúng đắn [7]

Trong dạy học, giáo viên phải đồng thời thực hiện tốt cả 3 nhiệm vụ nói trên;trong đó nhiệm vụ hình thành và phát triển kỹ năng là rất cần thiết Đây là nhiệm vụkhó khăn vì năng lực ở đây là sự tổng hợp, việc xây dựng đòi hỏi cả một quá trình.Tin học là một môn học liên quan đến máy tính, tuy nhiên không đồng nhấtviệc học kỹ năng ở đây với kỹ năng học nghề sử dụng máy tính Học kỹ năng ở đâytrước hết là để biết và hiểu các vấn đề trong chuẩn kiến thức được tốt hơn, sau đómới có thể vận dụng được kỹ năng để làm được một số công việc nhưng cũng chỉvới những công việc đơn giản phục vụ học tập Bên cạnh trang bị cho học sinh mộtlượng lớn kiến thức lý thuyết chúng ta còn phải rèn luyện cho các em kỹ năng thựchành tương ứng Vì kỹ năng thực hành là công cụ để học sinh tự lực nghiên cứu Tinhọc và áp dụng các thành tựu của Tin học vào đời sống thực tiễn

1.1.3 Kỹ xảo

Theo giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm thì: kỹ xảo là hành

động đã được củng cố và tự động hóa nhờ luyện tập [6]

Theo wiktionary thì: kỹ xảo là kỹ năng đạt đến mức độ thành thạo, rất khéo

léo [4]

Mọi hành động của con người là hành động có ý thức Cho nên mục đích vàcác hành động được ý thức ngay từ đầu Nhưng không phải mọi lúc và mọi khâucủa hành động, ý thức bao giờ cũng có mặt Cho nên trong một chuỗi hành động, cónhững khâu, những thành phần không có hoặc có ít sự tham gia của ý thức Thànhphần tự động hoá đó là kỹ xảo Vậy, kỹ xảo là hành động đã được củng cố và tựđộng hoá

Kỹ xảo có các đặc điểm như sau:

 Kỹ xảo không bao giờ thực hiện đơn độc, tách rời khỏi hành động có ýthức phức tạp Một hành động có ý thức có nhiều kỹ xảo và kỹ xảo ở nhiều lĩnh vựckhác nhau thì hành động có ý thức đó càng có nhiều thuận lợi về mặt biện pháp

Trang 15

Cho nên, trong hành động có ý thức, kỹ xảo quan hệ nhiều đến biện pháp hoànthành hành động mà không quan hệ đến mục đích và cách thức hành động.

 Mức độ tham gia của ý thức ít, thậm chí có khi cảm thấy không có sựtham gia của ý thức Nhưng không tuyệt đối, mà ý thức luôn luôn thường trực, lúc

có vấn đề ý thức xuất hiện ngay Nhờ đó, ý thức được tập trung vào mặt phức tạp vàsáng tạo của hành động, phạm vi bao quát rộng hơn

 Không nhất thiết phải theo dõi bằng mắt, mà kiểm tra bằng cảm giácvận động Do đó, tầm tri giác được mở rộng, tăng tính chính xác và độ nhạy của trigiác

 Động tác thừa bị loại trừ, những động tác cần thiết ngày càng chínhxác, nhanh và tiết kiệm Do đó làm cho hành động tốn ít năng lượng, tăng tốc độhoàn thành công việc, có năng suất cao, kết quả đều, chất lượng cao

 Thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt nghĩa là kỹ xảo khôngnhất thiết phải gắn liền với một đối tượng và tình huống nhất định Kỹ xảo có thể di

chuyển dễ dàng tuỳ theo mục đích và tính chất chung của hành động [6]

Để hình thành kỹ xảo cần đảm bảo các bước cơ bản sau:

 Một là phải làm cho học sinh hiểu biện pháp hành động.

Hiểu được biện pháp hành động có thể thông qua các cách như: cho học sinhquan sát hành động mẫu, kết quả mẫu, hướng dẫn, chỉ vẽ, hoặc kết hợp các cách nóitrên Khi hướng dẫn, cần lưu ý giúp học sinh nắm được cách thức, lề lối, quy tắc,phương tiện để đạt kết quả Trong quá trình đó, điều quan trọng là giúp học sinh ýthức được các thủ thuật then chốt từng khâu, từng lúc và từng hoàn cảnh

 Hai là luyện tập Trong khi luyện tập cần đảm bảo các điều kiện sau:

• Cần làm cho học sinh biết chính xác mục đích của việc luyện tập

• Theo dõi tính chính xác của việc thực hiện, để không củng cốnhững sai sót, lệch lạc, biết đối chiếu, kiểm tra so với mô hình của hành động mẫu

• Phải đủ số lần luyện tập: nếu chưa đủ thì kỹ xảo chưa đủ ở mứccủng cố Điều này sẽ dẫn đến dễ bị phá vỡ, nhiều hơn nữa sẽ gây nên thái độ tiêucực, làm giảm sự chú ý

• Bài tập phải là một hệ thống xác định, theo một sự kế tục hợp lý, có

kế hoạch rõ ràng và phức tạp hóa dần

• Quá trình luyện tập không được ngắt quãng trong một thời gian dài

Trang 16

 Ba là tự động hóa Tức là hành động được mô hình hóa và loại bỏ đi

những động tác thừa và ngày càng trở nên chính xác hơn Khi đó cấu trúc hành

động sẽ thay đổi về chất [6]

Trong các buổi thực hành, khi đã định hướng vào hành động, học sinh sẽ cốgắng làm thử để hoàn thành hành động và kiểm tra kết quả của hành động Nếuhành động có kết quả, chứng tỏ sự định hướng đúng và phương pháp hành độngchính xác Phương pháp này được củng cố bằng cách làm đi làm lại nhiều lần Nếuhành động không có một kết quả thì sự định hướng và phương pháp hành động sẽđược điều chỉnh hay loại bỏ Quá trình đó không phải diễn ra một lần Mỗi lần làmlại rút ra được kinh nghiệm, lựa chọn phương pháp tốt hơn, loại bỏ những phươngpháp và tác động xấu, không cần thiết Từ đó sẽ hình thành kỹ xảo cho học sinh

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng thực hành

1.1 Mục tiêu dạy học môn Tin học

Bộ môn Tin học phải cùng với các bộ môn khác tham gia thực hiện mục tiêucủa nhà trường phổ thông là đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động có họcvấn vững chắc, có nhân cách hoàn thiện và có năng lực bảo vệ, xây dựng đất nướcphồn vinh Là một trong những môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, bộ môn Tinhọc phải cung cấp những tri thức cơ bản, làm nền tảng để học sinh có thể tiếp tục đisâu vào tìm hiểu và xây dựng khoa học Tin học hoặc tiếp thu những tri thức của cáclĩnh vực kỹ thuật công nghệ tiên tiến, nhất là các lĩnh vực của CNTT Vì vậy việcxác định mục tiêu dạy học môn Tin học phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục Việt

Nam, từ đặc điểm và vị trí môn Tin học trong nhà trường [5]

1.1.1 Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục Việt Nam được Nghị quyết của Hội nghị lần thứ hai củaBan chấp hành trung ương Đảng khoá VIII khẳng định: “Mục tiêu và nhiệm vụ củagiáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ gắn bó với tư tưởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng

và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và phát huy cácgiá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa và văn hoá nhân loại; pháthuy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy

Trang 17

tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tưduy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức

kỷ luật, có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng,vừa chuyên như lời căn dặn của Bác Hồ”

Luật giáo dục nước ta cũng đã cụ thể hoá tại chương II, mục 2 điều 23 là:

“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn

bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc”

Môn Tin học, cũng như mọi môn học khác, căn cứ vào mục tiêu trên để xác định ra những nhiệm vụ cụ thể của môn học, tổ chức hoạt động đào tạo góp phần

thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhà nước đã đề ra [5]

1.1.2 Đặc điểm của môn Tin học

Việc xác định mục tiêu dạy học môn Tin phải căn cứ đặc điểm môn Tin học,bao gồm:

Đặc điểm thứ nhất là tính trừu tượng cao độ và tính thực tiễn phổ dụng:

 Tính trừu tượng của Tin học là ở chỗ nó nghiên cứu các phương phápcông nghệ và kỹ thuật xử lý thông tin một cách tự động Bản thân khái niệm thôngtin đã là trừu tượng, quá trình xử lý thông tin (thu nhập, lưu trữ, biến đổi và truyềnnhận) dựa trên những thành tựu của những ngành khoa học mang tính trừu tượngcao như Vật lý, Toán học, Lý thuyết thông tin, vì thế Tin học mang đặc điểm trừutượng hoá cao độ

 Sự trừu tượng hóa trong Tin học diễn ra trên những bình diện khác nhau Có những khái niệm Tin học là kết quả của sự trừu trượng hóa những đối

tượng vật chất cụ thể, chẳng hạn khái niệm biến, khái niệm về mảng, bản ghi…Nhưng cũng có nhiều khái niệm là kết quả của sự trừu tượng hóa những cái trừutượng đã đạt được trước đó, chẳng hạn những khái niệm tham biến hình thức, mảng

Trang 18

 Tin học có tính thực tiễn phổ dụng: là một tiến bộ khoa học mũi nhọn của thời đại, Tin học nhanh chóng được ứng dụng rỗng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội Nó cung cấp những phương pháp và công cụ hiệu quả giúp con người khai thác và xử lý thông tin, là công cụ phục vụ tất cả các ngành khoa học kỹ thuật, các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, dịch vụ và đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý.

Ngày nay Tin học, nói rộng hơn là CNTT được coi là một trong những ngànhmũi nhọn chiếm vị trí hàng đầu trong chính sách kinh tế, khoa học và công nghệ ởnhững nước phát triển Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật truyền thông đã đưađến những chuyển biến to lớn và cơ bản trong công nghệ thiết lập các mạng Tin học

về việc hình thành trong thực tế các siêu xa lộ cao tốc thông tin như Intranet,Internet

Đặc điểm thứ hai là tính logic và tính thực nghiệm của Tin học: Khi xây dựng

những phần mềm, hay ngôn ngữ lập trình, người ta dùng suy diễn logic, xuất phát từnhững dữ liệu chuẩn người ta xây dựng lên các các dữ liệu có cấu trúc

Khi trình bày môn Tin học trong nhà trường phổ thông, do đặc điểm lứa tuổi

và yêu cầu của từng cấp học, bậc học, nói chung là vì lý do sư phạm, người ta có thểchâm chước, nhân nhượng về tính logic: mô tả (không định nghĩa) một số khái niệmkhông phải là nguyên thuỷ, thừa nhận (không chứng minh) sự đúng đắn của chươngtrình sau một số phép thử với một số tập dữ liệu Tuy nhiên giáo trình Tin học phổthông cũng vẫn mang tính logic, hệ thống: trí thức trước chuẩn bị cho tri thức sau,

tri thức sau dựa vào tri thức trước [5]

1.1.3 Vị trí của môn Tin học

Môn Tin học là môn học công cụ Do tính trừu tượng cao độ, Tin học có tínhthực tiễn phổ dụng Những tri thức và kỹ năng Tin học cùng với những phương

pháp làm việc trong Tin học đã trở thành công cụ để học tập những môn học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác, là công cụ để hoạt động trong đời sống thực tế và vì vậy là một thành phần không thể thiếu của trình

độ văn hóa phổ thông của con người mới Về mặt tri thức và kỹ năng môn Tin học trong nhà trường cần làm cho tất cả mọi học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đều nắm được những yếu tố cơ bản của Tin học, có khả năng ứng dụng CNTT như

công cụ học tập và hoạt động, có thể nhanh chóng bước vào những ngành nghề đòi

Trang 19

hỏi sử dụng công nghệ này Cụ thể là học sinh có những hiểu biết vể Tin học vàMTĐT, có khái niệm về thuật giải và làm quen với tư duy thuật giải Học sinh biếtlập trình để giải những bài toán đơn giản, trước hết là những bài toán trong SGKToán, Lý, Hóa, từ đó chuẩn bị những tri thức kỹ năng và phong cách làm việc cầnthiết để sau này có thể đi sâu hơn về lĩnh vực lập trình Học sinh biết làm việc với một số HĐH, một số phần mềm như soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử…

Ngoài việc tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và kỹ năng

Tin học cần thiết, môn Tin học còn có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỷ luật, tính phê phán, tính sáng tạo Học sinh thấy rõ hiệu lực mạnh mẽ của CNTT và

nhận thức được cần có những phẩm chất nào của người lao động trong thời đại mới

Với những lý do trên, trong trường phổ thông Tin học giữ một vị trí hết sức quan trọng Việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ của môn Tin học không thể không dính tới vị trí của môn học này trong nhà trường phổ thông.

Để thực hiện được mục tiêu giáo dục chung, căn cứ vào đặc điểm và vị trí môn

Tin học, bộ môn Tin học ở trường phổ thông cần đạt được những mục tiêu cụ thể (hay những nhiệm vụ cụ thể) sau đây:

 Vũ trang cho học sinh những tri thức, kỹ năng cơ bản, cơ sở của Tin học, từ đại cương về Tin học đến phương pháp lập trình giải các bài toán trên một

ngôn ngữ lập trình nào đó Từ đó làm cho họ có khả năng, có kỹ năng khai thácnhững thành tựu mới của khoa học Tin học và vận dụng Tin học vào thực tiễn Tiếnthêm một bước nữa, bộ môn Tin học phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơbản về những ứng dụng của Tin học vào trong các quá trình công nghệ, trong thôngtin liên lạc, trong các quá trình sản xuất, trong quản lý kinh tế, xã hội, Đó chính lànhiệm vụ giáo dưỡng của bộ môn Tin học

 Trên cơ sở cung cấp những tri thức cơ bản, có hệ thống, bộ môn Tin học còn phải rèn luyện cho học sinh những năng lực trí tuệ chung như kỹ năng tư

duy trừu tượng, kỹ năng thực hành cần thiết Về tư duy, cần hình thành và phát triểncác thao tác chủ yếu: tư duy logic, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừutượng hoá Về thực hành cần chú trọng đến kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng vậndụng Tin học vào thực tiễn Cũng cần chú ý luyện tập cho học sinh thói quen gắn

Trang 20

liền các thao tác tư duy với các kỹ năng thực hành như là một thể thống nhất tronghoạt động nhận thức Nếu làm tốt nhiệm vụ này, học sinh có thể tiếp tục tự lập học tập một cách thường xuyên, học tập suốt đời một cách có hiệu quả.

 Tin học là khoa học nghiên cứu về thông tin và những quá trình xử lýthông tin một cách tự động, các quy luật biến đổi thông tin tuân theo những quy luật

tự nhiên Vì vậy thông qua việc dạy Tin học mà hình thành cho học sinh những quan niệm, những phương thức tư duy và hoạt động đúng đắn, phù hợp với những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đồng thời phải làm cho học sinh biết

sử dụng các tri thức Tin học để làm bằng chứng kiểm nghiệm những quan điểm đó

Từ đó có được nhân sinh quan khoa học trong lối sống, trong sự xây dựng nhâncách của người lao động, đạo đức phẩm chất của người chiến sĩ đấu tranh cho sựnghiệp giải phóng con người khỏi sự mù quáng, lạc hậu Đây chính là nhiệm vụgiáo dục của bộ môn Tin học

 Cuối cùng bộ môn Tin học phải đảm bảo chất lượng phổ cập, đồng thời phải có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tin học, cung cấp cho đất

nước những nhân tài trong lĩnh vực CNTT

1.2 Đặc điểm năng lực nhận thức và năng lực thực hành của học sinh trong trường THPT

Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng

sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Tuổi thanhniên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý

Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bêntrong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào báncầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn Sốlượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ não lại.Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập

Nội dung và tính chất của hoạt động học lập ở thanh niên học sinh khác rấtnhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác nhau cơ bản không phải ởchỗ nội dung học tập ngày một sâu hơn, mà là ở chỗ hoạt động học tập của thanhniên học sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều; đồng thời cũng đòi hỏi, muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phát triển

tư duy lý luận

Trang 21

Thái độ của thanh niên học sinh đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn.Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghềnghiệp Cuối bậc THPT các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn địnhđối với một môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú nàythường liên quan với việc chọn một nghề nhất định của học sinh Hơn nữa, hứng thúnhận thức của thanh niên học sinh mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững hơnthiếu niên.

Lứa tuổi học sinh THPT có tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trìnhnhận thức:

 Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quan sát trở nên có mụcđích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệthống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Tuy vậy,quan sát của thanh niên học sinh cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáoviên Giáo viên cần quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhấtđịnh, không vội vàng kết luận khi chưa tích luỹ đầy đủ các sự kiện

 Ở tuổi thanh niên học sinh, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạotrong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ýnghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ:tóm tắt ý chính, so sánh đối chiếu ) Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hoátrong ghi nhớ Các em biết tài liệu nào cần nhớ từng câu từng chữ, cái gì cần hiểu

mà không cần nhớ Nhưng một số em còn ghi nhớ đại khái, chung chung, cũng cókhi các em đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu

 Do cấu trúc của não phức tạp, chức năng của não phát triển; do sự pháttriển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập

mà hoạt động tư duy của thanh niên học sinh có thay đổi quan trọng Các em có khảnăng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đốitượng quen biết đã được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ

và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặcđiểm đó tạo điều kiện cho học sinh lớn thực hiện các thao tác tư duy toán học phứctạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệnhân quả trong tự nhiên và trong xã hội Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan

Trang 22

Nắm được quy trình thao tác thực hành nhằm đạt được mục đích, điều cơ bảnhọc sinh nắm chắc kỹ năng, ghi nhớ và áp dụng lý thuyết, thực hiện các thao táchành động gần như hoàn thiện Do đó năng lực thực hành của học sinh THPT cao

so

với học sinh trung học cơ sở

Tuy nhiên ở lứa tuổi học sinh THPT chưa phát huy hết năng lực độc lập suynghĩ của bản thân, nhiều lúc còn kết luận vội vàng Vì vậy, việc giúp các em pháttriển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên khi thực hiệncác nội dung thực hành

Tóm lại, ở tuổi thanh niên mới lớn những đặc điểm chung của con người vềmặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoànthiện [6]

1.3 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng thực hành Tin học trong trường THPT

Môn Tin học đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường THPT và cótăng thêm thời lượng Qua đợt thực tập sư phạm ở trường THPT Phạm Phú Thứ, tôiđược tìm hiểu về thực trạng dạy học thực hành Tin học của lớp 11 THPT và rút ranhận xét như sau: việc rèn luyện các kỹ năng thực hành cho học sinh đang cònnhiều hạn chế vì một số lýdo sau đây:

 Thứ nhất, do phòng máy chưa đáp ứng được nhu cầu của việc thựchành (số lượng máy ít, có nhiều máy hư hỏng chưa kịp sửa chữa…) nên việc tổchức và thực hiện các buổi thực hành còn gặp nhiều khó khăn Mỗi tiết thực hànhđược tiến hành trong vòng 45 phút, nếu tổ chức không tốt sẽ có rất nhiều học sinhsẽ không làm được việc gì trong giờ thực hành

 Thứ hai, mục đích lớn nhất của học sinh hiện nay là thi đậu vào đại học,nên việc đầu tư vào nghiên cứu môn Tin học hầu như ít được quan tâm Mặt khác, không phải mọi gia đình đều có máy vi tính riêng cho con em Nhiều học sinh cómáy hoặc tiếp xúc với máy chỉ sử dụng nhiều vào mục đích chơi các trò chơi chứkhông phải là để học tập

1.3 Các kỹ năng thực hành cần rèn luyện

Từ đặc điểm và vị trí môn của học trong nhà trường THPT, từ thực tế củamôn Tin học trong trường THPT nước ta hiện nay, để đạt được nhiệm vụ dạy học

Trang 23

Tin học trong trường THPT, thì người giáo viên cần lưu ý quan tâm rèn luyện cho

các em kỹ năng học tập Tin học bao gồm các nhóm kỹ năng sau:

 Kỹ năng nhận thức

 Kỹ năng thực hành

 Kỹ năng tổ chức hoạt động nhận thức

 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá

Tuy nhiên trong phạm vi đề tài tôi chỉ đề cập đến việc rèn luyện cho học sinhcác kỹ năng thực hành, đây là kỹ năng cơ bản giúp các em trong học tập môn Tinhọc cũng như phục vụ cuộc sống sau này

Kết quả của việc tiếp thu những tri thức Tin học phải được thể hiện trong cácchương trình lập trình giải các bài toán bằng máy tính, trong các khả năng ứng dụngTin học của học sinh vào trong thực tiễn Bởi vậy, trong dạy học người thầy giáocần quan tâm rèn luyện cho học sinh những kỹ năng thực hành trong Tin học baogồm các nhóm kỹ năng sau:

 Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình

 Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào giải các bài toán thực tiễn

 Kỹ năng vận dụng tri thức vào khai thác các thành tựu về Tin học

1.3.1 Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình

Ngôn ngữ lập trình Pascal chiếm một vị trí quan trọng trong bộ môn Tin học ởtrường THPT Hoạt động lập trình có thể xem là hình thức chủ yếu của hoạt độngTin học đối với mỗi học sinh Nó chính là điều kiện để thực hiện tốt các mục đíchcủa việc dạy học Tin học trong nhà trường THPT

Kỹ năng vận dụng tri thức có hiệu quả vào hoạt động lập trình của học sinhđược huấn luyện trong quá trình họ tìm thuật giải Quá trình này thường được tiếnhành theo 4 bước: Tìm hiểu nội dung bài toán, xây dựng thuật giải, thực hiện xâydựng chương trình và thực hiện chạy thử trên máy để nghiên cứu thuật giải tìmđược Ở giai đoạn này, học sinh luôn được yêu cầu lựa chọn và phân tách hoạtđộng, vận dụng những hoạt động trí tuệ, những kiến thức, phương pháp, sử dụngmột số tổ hợp các phương tiện, vận dụng những kỹ thuật xây dựng chương trình đểkiến thiết thuật giải Để rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vào hoạtđộng lập trình, người giáo viên cần chú ý dạy Tin học cho học sinh qua các phươngdiện:

 Phương diện ngôn ngữ

 Phương diện thuật giải

 Phương diện dữ liệu

 Phương diện kết quả

Trang 24

 Phương diện máy tính điện tử.

 Phương diện quá trình

 Phương diện giải quyết vấn đề

1.3.1.1 Phương diện ngôn ngữ

Ở phương diện ngôn ngữ, ta cần dạy cho học sinh theo quan điểm giao tiếpgiữa người và máy bằng cách tạo ra những tình huống công việc mà giải quyết nóđòi hỏi phải biết được từ khoá nào, cấu trúc ngữ pháp của câu lệnh, cấu trúc dữ liệu

và cấu trúc chương trình Những tình huống như vậy là những dịp để giáo viên gợiđộng cơ học tập cho học sinh

Chẳng hạn, muốn tìm số lớn nhất trong ba số nguyên, ta viết chương trình đểkhi nhập vào ba số nguyên bất kỳ thì màn hình sẽ thông báo số lớn nhất trong ba sốvừa nhập

Write ('Nhap vao so nguyen thu 1: '); Readln(a);

Write ('Nhap vao so nguyen thu 2: '); Readln(b);

Write ('Nhap vao so nguyen thu 3: '); Readln(c);

1.3.1.2 Phương diện thuật giải

Ở phương diện thuật giải, ta yêu cầu học sinh viết thuật giải bằng sơ đồ khốihoặc bằng ngôn ngữ phỏng trình Tức là xây dựng dãy các tác động để cho máy tính

có thể thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đạt được một kết quảxác định gọi là điều kiện ra xuất phát từ một tình huống gọi là điều kiện vào Nếu cóthể thì cho học sinh biết nhiều thuật giải có thể giải quyết cùng một nhiệm vụ, sau

Trang 25

đó chọn xem trong số các thuật giải đó thuật giải nào tốt nhất về một yêu cầu nàođó.

1.3.1.3 Phương diện dữ liệu

Thông tin cho máy tính bao gồm một tập hợp được chọn của các dữ liệu về bàitoán được đặt ra, các kết quả mong muốn sẽ được đưa ra từ đó Trong lập trình cầnphải tuân theo quy tắc hằng, biến, biểu thức phải tuân theo một kiểu dữ liệu nào đó.Kiểu nào xác định tập các giá trị mà hằng phải phụ thuộc vào; một biến, một hằng,một biểu thức có thể cho trong giá trị đó Khi ta khai báo kiểu dữ liệu thì máy tínhxác định tập các giá trị của nó và các phép toán được dùng trong đó Khi xây dựngthuật giải, ta đã xác định tập các thao tác trên các đại lượng nào đó Quán triệtphương diện dữ liệu người thầy giáo cần rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sautrong hoạt động lập trình:

 Kiểm tra dữ liệu khi nhập vào

 Sử dụng những thao tác thích hợp với từng kiểu dữ kiệu đó

 Xây dựng cấu trúc dữ liệu thích hợp với từng bài toán

Ở mức cao hơn chương trình phải biết phân tích sai sót báo cho người sử dụngbiết các sai sót khi họ đưa dữ liệu vào không đúng theo yêu cầu bài toán, nếu có thểthông báo cho họ biết bản chất của sai sót là gì Nếu chương trình không có khảnăng kiểm tra dữ liệu khi vào thì có thể dẫn đến sai sót khi thực hiện

Nếu dữ liệu nhập vào mất nhiều công gõ bàn phím mỗi khi chạy thử thì ta nêndùng các hằng để ghi nhớ chúng ngay từ khi soạn thảo và đến khi chạy thật thì ta bỏchúng đi mà thay thế vào đó là các biến nhận giá trị thực tế, còn khi khai báo biến tacần lưu ý đến miền giá trị để xác định kiểu dữ liệu cho chúng Chẳng hạn, đối vớibiến dùng để chứa tuổi của một người nên khai báo thuộc kiểu miền con từ 1 100

thì ta nên khai báo kiểu Byte mà không nên khai báo là kiểu nguyên (Integer) bởi

khai báo như vậy máy sẽ dành nhiều ô nhớ để chứa biến nhớ đó, rất tốn bộ nhớ vàlàm cho chương trình xử lý chậm hơn

1.3.1.4 Phương diện quá trình

Khi học lập trình, nhiều học sinh chỉ chú ý tới kết quả bài toán mà không nắmđược quá trình thực hiện chương trình Nếu học sinh nắm được quá trình thực hiệnchương trình thì họ sẽ tránh được những sai lầm ngộ nhận và sẽ nắm được từngbước của quá trình, kết quả làm việc của các cấu trúc lặp, lệnh làm việc với chươngtrình con…điều đó sẽ giúp họ kiểm soát được các khả năng có thể xảy ra với dữ liệu

Trang 26

khi làm việc Rèn luyện cho học sinh kỹ năng hiểu được câu lệnh điều kiện, vai tròcủa biến điều khiển, chu trình lặp, sự kết thúc chu trình, hoạt động của chương trìnhcon khi có lời gọi đến nó Nắm được quá trình thực hiện chương trình là góp phầnxây dựng chương trình, thể hiện tính đúng đắn của chương trình giúp ta cải tiếnchương trình làm cho một số phép toán mà chương trình phải thực hiện nhỏ dần đi,đồng thời giúp ta dễ dàng phát hiện chỗ sai của thuật giải hoặc dữ liệu khi kiểm thửchương trình Đối với phương diện này ở trên lớp giáo viên mô phỏng quá trình làmviệc của các câu lệnh, ví dụ lệnh gán, lệnh rẽ nhánh, lệnh lặp…Khi dạy học nhữnglệnh này cần có những bài tập mà yêu cầu học sinh lập bảng mô phỏng thể hiện các bước của chương trình với các dữ liệu cụ thể.

Chẳng hạn, khi dạy học với lệnh gán ta yêu cầu học sinh làm bài tập sau: Lậpbảng mô phỏng việc thực hiện đoạn chương trình hoán vị 2 giá trị a = 30, b = 8 nhưsau:

Trên phương diện quá trình, người thầy giáo cần rèn luyện cho học sinh kỹnăng xây dựng chương trình bao gồm phương pháp xây dựng chương trình từ trênxuống, phương pháp xây dựng chương trình từ dưới lên, bởi việc truyền thụ tri thứcTin học cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức lẻ tẻ mà

ở đây ta phải lưu ý đến toàn bộ kiến thức xuyên suốt chương trình, phải cho họcsinh tập dượt làm quen với kiến thức tổng hợp trong quá trình tổng hợp

Rèn luyện cho học sinh phương pháp xây dựng chương trình từ trên xuống cónghĩa là xuất phát từ bài toán lớn ta chia nó thành một số bài toán con

Trang 27

Qua từng bước triển khai và chi tiết hóa, chương trình ngày càng đi vào chiềusâu.

Giả sử, ta cần viết chương trình C để làm bài toán T Nếu là bài toán phức tạp,

ta chia nó thành một số bài toán con Chẳng hạn T = t1 + t2 + t3 +…ứng với cácchương trình c1, c2, c3…Khi giải xong các bài toán t1, t2, t3…có thể dễ dàng thuđược lời giải của bài toán T ban đầu Nếu các chương trình c1, c2, c3…đã có sẵnhoặc quá đơn giản có thể dễ dàng viết được ngay thì quá trình xây dựng thuật giảicoi như xong Trong trường hợp ngược lại, ta phân tích mỗi bài toán con trong sốcác bài toán t1, t2, t3…thành những bài toán nhỏ hơn, chẳng hạn t11, t12,…ứng vớicác chương trình c11, c12…

Quá trình chia nhỏ các bài toán như trên thường được gọi là quá trình làm mịndần Thuật giải được cụ thể hóa dần dần, mỗi bước sau lại tận dụng được kết quả,kinh nghiệm của các bước trước Cứ như vậy ta tìm được thuật giải cho bài toán đặt

ra ban đầu

1.3.1.5 Phương diện kết quả

Thông thường, học sinh khi lập trình chưa chú ý đến kết quả đưa ra của bàitoán, chẳng hạn để tính chu vi, diện tích hình tròn khi cho biết bán kính, một họcsinh viết chương trình như sau:

Thông thường có 5 phương pháp để phát hiện sai sót:

 Phát hiện sai sót khi hợp dịch chương trình

 Phát hiện sai sót khi thực hiện trên máy

Trang 28

 Máy không chạy hoặc chạy không thông suốt.

 Phát hiện sai nhờ chương trình thử

 Kết quả sai rõ ràng

Ở đây ta chỉ đề cập đến vấn đề kiểm thử chương trình mà không đặt ra vấn đềchứng minh tính đúng đắn của chương trình

Cần rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sau đây:

 Biết xây dựng một tập dữ liệu phủ kín các trường hợp cần kiểm chứngmột chức năng nào đó của chương trình

 Biết lập luận để lựa chọn 1 trong 2 tập hoặc đơn vị dữ liệu vào trongtrường hợp chúng cho kết quả bao nhau

 Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm saukhi đã thực hiện một số lần kiểm nghiệm

 Biết mô tả các chức năng mà một thuật toán đã được cài đặt có thể thựchiện được

Một chương trình chạy xong, máy cho kết quả cụ thể nhưng ta có thể vẫn pháthiện được những sai sót khi đã biết kết quả chính xác thông qua thực nghiệm thựchiện một chương trình khác hoặc thông qua tính không dừng của máy Nhờ đó ta cóthể khẳng định hoặc nghi ngờ chương trình có sai sót Kiểm thử là một bước giảibài toán bằng MTĐT Sau khi nạp chương trình vào máy và chương trình dịchthông báo không còn lỗi, khi đó ta đưa dữ liệu vào để kiểm tra chương trình Ta nênthay đổi giá trị của hệ số để ghi nhỏ kích thước của mảng Ta không nên dùng dạng đặc biệt của dữ liệu để kiểm thử

Như vậy kiểm thử chỉ chứng tỏ được sai sót chứ không chứng minh đượckhông có sai sót trong chương trình

Để nâng cao độ tin cậy của chương trình khi kiểm thử, ta không nên lấy nhữngtình huống đặc biệt Chẳng hạn, khi thử chương trình giải phương trình bậc 2 takhông nên cho a=1 Nếu muốn nhẩm nghiệm theo định lí Viet thì ta có thể lấy a=2,b= -5, c= 3 hơn là lấy a=1, b=-2, c=1

Một nguyên nhân dẫn đến kết quả sai mà những người chưa có kinh nghiệmlập trình hay mắc phải, đó là hiện tượng hiệu ứng phụ Theo hiện tượng này, cácbiến tổng thể được tạo giá trị trong chương trình con hoặc bằng cách truyền thambiến ra khỏi chương trình con mà giá trị khi sử dụng biến này vào những biểu thứckhác thì có thể gây ra những sai sót Vì vậy trong chương trình cần có những thôngbáo nhắc nhở kiểm soát giá trị của các biến này

1.3.1.6 Phương diện máy tính điện tử

Trang 29

Việc đưa máy tính vào trường phổ thông có 2 khuynh hướng:

 Dạy học một số yếu tố của khoa học Tin học

 Sử dụng MTĐT như một công cụ

Việc sử dụng MTĐT như một công cụ là một xu hướng ngày càng phát triển,dạy học lập trình theo tinh thần dạy học MTĐT để giải toán Tuy nhiên, học sinhkhông phải chỉ biết lập trình mà còn phải biết làm việc với một số chương trình nhưmột đối tượng Đó là có thể gọi ra, lưu trữ, sửa đổi, xóa bỏ,…Và học sinh cũng phảilàm việc được với một số lệnh thông dụng của HĐH như Copy, Paste,…Thông quaviệc sử dụng môi trường của Turbo Pascal, cần cho học sinh sử dụng Menu, mộthình thức làm việc phổ biến với MTĐT

Khi soạn thảo chương trình ta đã cho học sinh sử dụng máy tính như sử dụngmáy soạn thảo văn bản Từ đó học sinh biết được cách sử dụng các phím cơ bản,cách sao chép, di chuyển khối…Cần tập dượt cho học sinh thiết lập những màn hìnhvăn bản có thông báo tạo nên sự đối thoại giữa người và máy trong sử dụng MTĐT

Ta có thể cho học sinh lập chương trình cho máy tính làm việc như một thầy giáo.Chẳng hạn, máy dạy cho học sinh cấp 1 luyện cộng, trừ trong phạm vi 100.Khi đó xuất hiện trên màn hình phép cộng mà 2 số hạng là 2 số nguyên ngẫu nhiêntrong phạm vi cho phép Học sinh phải cho máy biết tổng của 2 số đó, nếu kết quả đúng thì máy có lời khen, cho điểm, nếu sai cho nhận xét, nhắc nhở

Tương tự như vậy, máy tính có thể đóng vai trò người học, như vậy tạo cơ hộicho học sinh học lập trình thông qua dạy cho máy bằng những công thức mà họ lậpcho máy thực hiện Nhờ đó, trước hết học tập được cách lập trình, hơn nữa họ phát triển được kinh nghiệm giải quyết vấn đề thông qua việc lập trình

Ta cũng có thể ra bài tập cho học sinh lập trình để máy quản lý thời khóa biểuquản lý điểm sổ đầu bài, danh sách lớp…mà các dữ liệu có thể cập nhật, sửa đổi bổsung, thêm, bớt hay ghi vào tệp

Chú ý: Ở phương diện MTĐT, ta có thể cho học sinh lập chương trình cho

máy thực hiện những chương trình trò chơi để khuyến khích học sinh học lập trìnhtrên máy

1.3.1.7 Phương diện giải quyết vấn đề

Trong giảng dạy, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh tích cực tham gia vàobài giảng, giúp họ tự xây dựng thuật giải các chương trình con, lựa chọn các câulệnh khi mã hóa, cách trang trí màn hình…góp phần sáng tạo của học sinh vào bàihọc

Trang 30

Khác với môn học khác, môn lập trình đòi hỏi học sinh phải làm nhiều bài tập

và chạy các chương trình trên MTĐT Khi lập trình, học sinh phải biết áp dụng điều

đã học và vốn hiểu biết của họ về thực tế đời sống hàng ngày một cách linh hoạt và

ít nhiều sáng tạo Thông qua việc xây dựng chương trình có thể rèn luyện cho họcsinh kinh nghiệm giải quyết vấn đề Muốn vậy, cần chú ý giúp học sinh cách suynghĩ và làm việc để giải quyết vấn đề như hình thành và kiểm nghiệm giả thuyết,phát hiện sai lầm, điều chỉnh phương hướng, vận dụng những thao tác tư duy, phântích, tổng hợp, tương tự hóa, khái quát hóa, quy nạp, suy diễn

Chú ý: Ở phương diện giải quyết vấn đề còn góp phần sáng tạo động cơ học

tập cho học sinh, nó cũng có ý nghĩa giải quyết rất lớn Đó là: Vận dụng những điều

đã học vào thực tiễn, do đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh xuất phát, hình thành

và giải quyết những bài toán có nội dung thực tiễn

Hoặc khi lập trình, nếu trong chương trình có những biểu thức hơn một lầndùng đến giá trị của nó thì ta nên gán giá trị đó cho một biến Làm như vậy ta đỡ tốncông gõ biểu thức trên bàn phím và quan trọng hơn là máy không mất thời gian tínhlại giá trị cho biểu thức đó mỗi khi cần đến mà máy chỉ tính một lần khi thực hiệnlệnh gán Sau đó, mỗi khi dùng đến biểu thức ấy ta chỉ cần viết tên chứa giá trị củabiểu thức là được

Trong việc sử dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình cũng cần phải rènluyện cho các em kỹ năng sử dụng hằng và biến một cách linh hoạt

Một biến khi được tham gia vào một biểu thức thì cần được gán giá trị banđầu Cụ thể, biến để chứa tổng gán bằng 0, biến để chứa tích cần được gán kết quảban đầu bằng 1; biến để chứa xâu cần được làm rỗng trước khi dùng đến Điều nàybắt buộc phải làm khi một biến dùng ở nhiều nơi với ý nghĩa kết quả riêng biệt vàkhông liên quan đến kết quả ở những nơi khác

Đặc điểm của lệnh gán là khi gán một giá trị vào một biến thì giá trị cũ sẽ bịmất đi và biến nhận giá trị mới, người thầy giáo cần hướng dẫn rèn luyện cho họcsinh việc dùng biến trung gian để lưu giữ những giá trị mà cần phải sử dụng tiếp ởsau này Tránh trường hợp các em sẽ lúng túng trong các bài toán cần giữ lại những

số liệu để so sánh về sau

Trong toán học, đẳng thức (a+b)+c=a+(b+c) là hoàn toàn đúng Nhưng trongTin học thì điều đó không phải lúc nào cũng đúng Bởi vậy cần lưu ý đến thứ tự ưutiên thực hiện các phép toán trong biểu thức để khai báo kiểu cho hợp lý

Trang 31

Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức vào hoạt động lập trình cho học sinh,người thầy giáo cần dạy cho học sinh kỹ thuật trình bày chương trình như sau:Viết chương trình theo các khối:

 Những khối có chức năng tương đương được viết trên cùng một cột

 Những khối bao trong nó được viết lùi vào một cột

 Từ End; kết thúc cảu khối nào thì viết cùng 1 cột với từ Begin của khốiđó

 Các lệnh của một khối viết lùi vào so với cột định vị của cặp từ khóaBEGIN…END

là một điều rất quan trọng để nắm vững và vận dụng kiến thức Tin học trong họctập và trong cuộc sống

1.3.2 Kỹ năng Tin học hóa các bài toán thực tiễn

Để rèn luyện cho các em kỹ năng Tin học hóa các tình huống thực tiễn, cầnchú ý lựa chọn các bài toán có nội dung thực tế của khoa học kỹ thuật, của các mônhọc khác và nhất là thực tế đời sống thường ngày quen thuộc của học sinh, giúp các

em thấy được tính phổ dụng rộng rãi của khoa học Tin học

Ví dụ 2: Khi dạy cho học sinh về kiểu bản ghi (SGK Tin học 11), cần đưa ra

một số bài toán có nội dung thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn như: “Lập chương trìnhtính điểm trung bình của học sinh trong toàn lớp” Xuất phát từ thực tế là mỗi họcsinh trong lớp là một đối tượng cụ thể, có thể có những học sinh trùng tên, trùng họ

Trang 32

đệm nên trong lớp cần có những họ đệm riêng để nhận biết từng học sinh cụ thể,mỗi học sinh trong lớp sẽ có điểm trung bình tương ứng Từ đó, ta có thể khai báo mỗi học sinh là một kiểu bản ghi như sau:

Type Hocsinh = Record

Var i,n: Integer;

Lop: array[1 max] of Hocsinh;

Trang 33

Từ những bài toán có nội dung thực tế như trên học sinh có hứng thú hơn vềmôn học, nắm được thực chất vấn đề của Tin học chính là một môn khoa học cóứng dụng phổ dụng trong thực tế đời sống.

Đồng thời nên phát biểu một số bài toán không phải dưới dạng thuần túy Tinhọc mà dưới dạng một vấn đề thực tế phải giải quyết

Ví dụ 3: Với bài toán “Cho một mảng các số nguyên Thực hiện sắp xếp mảng

đã cho theo thứ tự tăng dần” ta có thể cho dưới dạng “Đóng vai trò là một lớptrưởng, hãy tổ chức cho lớp sắp xếp thành một hàng ngang theo thứ tự từ người thấpđến người cao”

Tin học bắt nguồn từ thực tiễn, từ các vấn giải quyết mâu thuẫn trong đờisống Kỹ năng Tin học hóa các tình huống thực tiễn trong bài toán hoặc nảy sinh từthực tế đời sống nhằm tạo điều kiện cho học sinh biết vận dụng kiến thức Tin họctrong nhà trường vào cuộc sống, góp phần gây hứng thú học tập, giúp học sinh nắmđược thực chất nội dung của khoa học Tin học là ứng dụng phổ dụng trong thực tế

1.3.3 Vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động thực tiễn khác

Để tạo điều kiện vận dụng tri thức khoa học Tin học vào thực tế cần rèn luyệncho học sinh phải có những kỹ năng thực hành cần thiết trong thực tế đời sống Đó

là các kỹ năng linh hoạt trong hoạt động, trong tư duy, cẩn thận chính xác trongcông việc, có tính thẩm mĩ cao…Muốn vậy, trong dạy học Tin học cho học sinh,người thầy giáo cần lưu ý ra cho học sinh những bài tập có tính tư duy logic, cầnrèn luyện cho học sinh tính cẩn thận trong xây dựng thuật giải Cần tránh tình trạnghọc sinh chỉ dừng lại ở phương hướng xây dựng thuật giải mà không trực tiếp sửdụng các ngôn ngữ lập trình để mã hóa và thực hành kiểm thử lại chương trình trênmáy Tình trạng này sẽ có tác hại không nhỏ đối với học sinh trong học tập hiện tạicũng như trong cuộc sống sau này Khi giải quyết vấn đề, có đi sâu vào những chitiết, những tính toán cụ thể mới sáng tỏ nhiều khía cạnh có khi giúp ta điều chỉnh cảphương hướng nữa Giáo viên cần thường xuyên khuyến khích học sinh tìm hiểucác thuật giải khác nhau và biết chọn phương án hợp lý nhất góp phần phát triển ócquan sát, trí nhớ, khả năng chú ý…

Rèn luyện cho học sinh kỹ năng xây dựng thuật giải chính xác, tỉ mỉ là gópphần rất lớn trong việc sử dụng tri thức Tin học vào thực tiễn đời sống, học sinh rènluyện được các đức tính quý giá như tính cẩn thận, tính chính xác, tính kế hoạch, kỷluật, tinh thần trách nhiệm cao

Trang 34

Rèn luyện cho học sinh cách trình bày chương trình một cách khoa học Quaviệc trình bày chương trình khoa học, học sinh sẽ dễ dàng phát hiện được sai sót củachương trình, giúp cho học sinh rèn luyện tính khoa học trong đời sống.

Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào thực tế còn thể hiện ở khảnăng sử dụng CNTT như là một công cụ lao động và học tập Người giáo viên cầnrèn luyện cho học sinh các thao tác nhanh trên máy, biết sử dụng máy tính để hỗ trợhọc tập các môn học khác Khi làm việc lập trình với máy tính, ta có thể sử dụngmột số phím nóng tiện dụng để cho việc thao tác với máy tính được tiến hành nhanhchóng hơn

Chẳng hạn, khi lập trình một chương trình trên máy, thông thường học sinh sẽgặp những đoạn chương trình gần giống nhau như nhập vào số đo của 3 cạnh tamgiác, học sinh sẽ viết câu lệnh sau:

Write('Nhap canh thu 1: '); Readln(a);

Write('Nhap canh thu 2: '); Readln(b);

Write('Nhap canh thu 3: '); Readln(c);

Ta cần truyền thụ cho học sinh thành thạo những quy thao tác Copy dữ liệu:

 Đánh dấu khối: Shift + Phím mũi tên

 Copy: Ctrl + Insert

 Đưa dữ liệu copy vào vị trí mới: Shift + Insert

1.4 Vai trò của hoạt động lập trình trong việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh

Theo tâm lý học: Hoạt động là hình thức vận động của mối quan hệ biệnchứng giữa con người với thế giới xung quanh Trong đó con người là chủ thể, thếgiới là khách thể

Quá trình hoạt động gồm 2 mặt thống nhất biện chứng với nhau: Mặt thứ nhất

là quá trình đối tượng hóa năng lực thể chất và tinh thần của chủ thể thành sản phẩmhoạt động

Mặt thứ hai là chủ thể hóa nội dung của đối tượng Đây là quá trình phi vậtchất hóa đối tượng, tức là đem nội dung của đối tượng chuyển vào tâm lý, ý thức,nhân cách của chủ thể, hay nói cách khác là chủ thể chiếm lĩnh nội dung đối tượngkinh nghiệm lịch sử xã hội biến thành kinh nghiệm bản thân

Theo cấu trúc tâm lý của hoạt động thì hoạt động có cấu trúc gồm nhiều thànhphần quan hệ tác động lẫn nhau; một bên là động cơ, mục đích, phương tiện; mộtbên là hoạt động, hành động, thao tác Có thể diễn tả các thành phần của hoạt độngtheo sơ đồ sau:

Trang 35

Mục đích Hành động

Động cơ hoạt động kích thích tính tự giác, tính tích cực, thúc đẩy sự hìnhthành và phát triển tư duy Hoạt động đưa đến kết quả cuối cùng là thỏa mãn lòngmong muốn của chủ thể

Muốn vậy phải thực hiện những hành động để đạt mục đích cụ thể Mỗi hànhđộng được thực hiện bởi nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, mỗi thaotác trong những điều kiện cụ thể lại cần những phương tiện, công cụ thích hợp Quátrình hoạt động nếu lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo ra kỹ năng, kỹ xảo trong hànhđộng

Trong dạy học, giáo viên là chủ thể hoạt động dạy, học sinh là đối tượng hoạtđộng học đồng thời là chủ thể hoạt động dạy học Hoạt động dạy học có đối tượng

là cái mà học sinh cần học, cụ thể ở đây là việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo thựchành Để đạt được mục đích đặt ra, giáo viên phải sử dụng hệ thống hành động,phương tiện như thế nào để tác động lên đối tượng tổ chức và điều khiển được hoạtđộng học tập của học sinh Điều quan trọng là giáo viên phải tổ chức sao cho họcsinh tự lực thực hiện các thao tác hành động, các thao tác này phải được lặp đi lặplại nhiều lần trên đối tượng và phương tiện khác nhau thì mới có thể hình thành vàrèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo đạt kết quả phù hợp với mục đích đề ra

Hoạt động lập trình có thể xem là hình thức chủ yếu của hoạt động Tin học đốivới mỗi học sinh Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình củahọc sinh được huấn luyện trong quá trình tìm tòi thuật giải Quá trình này thườngđược tiến hành theo 4 bước: Tìm hiểu nội dung bài toán, xây dựng thuật giải, thựchiện xây dựng chương trình và thực hành chạy thử trên máy để nghiên cứu thuậtgiải tìm được Trong quá trình này học sinh luôn được yêu cầu lựa chọn và phântách hoạt động, vận dụng những hoạt động trí tuệ, những kiến thức, phương pháp,

sử dụng một tổ hợp các phương diện, vận dụng những kỹ thuật xây dựng chươngtrình để kiến thiết thuật giải Vì vậy hoạt động lập trình không chỉ góp phần pháttriển năng lực trí tuệ chung như tư duy trừu tượng, trí tưởng tượng, tư duy logic,ngôn ngữ chính xác, rèn luyện các phẩm chất tư duy mà còn cung cấp cho học sinhmột hệ thống vững chắc những tri thức, kỹ năng về phương pháp Tin học phổ thông

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tôi có một số kết luận như sau:

Để hoàn thành nhiệm vụ dạy học phổ thông và mục đích của nền giáo dục ViệtNam, nhất thiết chúng ta phải rèn luyện kỹ năng thực hành Tin học cho học sinh, đólà:

 Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình

 Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào giải các bài toán thực tiễn

 Kỹ năng vận dụng tri thức vào khai thác các thành tựu về Tin học.Hoạt động lập trình là điều kiện để thực hiện tốt các mục đích của việc dạyhọc Tin học trong nhà trường THPT Nhờ đó mà học sinh có điều kiện phát triểnnhững năng lực trí tuệ chung, rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH

CHO HỌC SINH LỚP 11 THPT

Hiện nay ở tất cả các trường phổ thông mặc dù đã được trang bị khá đầy đủkiến thức cơ bản về tất cả các môn học nói chung và môn Tin học nói riêng nhưng

về mặt kỹ năng học sinh vẫn còn yếu kém Để khắc phục tình trạng này, trường phổthông cần tăng cường rèn luyện cho học sinh các kỹ năng thực hành Đây là mộtviệc làm rất quan trọng không chỉ củng cố cho học sinh các kỹ năng cơ bản trong

Trang 37

học tập và nghiên cứu Tin học mà còn là công cụ để các em ứng dụng Tin học vàocuộc sống.

2.1 Nội dung chương trình các bài thực hành Tin học 11

2.1.1 Nội dung

Chương trình Tin học lớp 11 THPT bao gồm 8 bài thực hành:

Bài tập và thực hành 1:

 Giới thiệu một chương trình Pascal hoàn chỉnh đơn giản

 Làm quen với một số dịch vụ cơ bản của Turbo Pascal hoặc Free Pascaltrong việc soạn thảo, lưu trữ, dịch và thực hiện chương trình

Bài tập và thực hành 2:

 Xây dựng chương trình có sử dụng cấu trúc rẽ nhánh

 Làm quen với việc hiệu chỉnh chương trình

 Nâng cao kỹ năng viết, sử dụng chương trình con

 Biết cách viết một chương trình có cấu trúc để giải một bài toán trênmáy tính

Trang 38

Các kỹ năng thực hành Tin học được hình thành qua 4 bước:

2.2.1 Tìm hiểu nội dung bài toán

Tìm hiểu nội dung bài toán hay nói chính xác hơn là ta đi xác định bài toán.Mỗi bài toán được đặc tả bởi hai thành phần: Input và Output Việc xác định bàitoán chính là xác định rõ hai thành phần này và mối quan hệ giữa chúng Các thôngtin đó cần được nghiên cứu cẩn thận để có thể lựa chọn thuật toán, cách thể hiện cácđại lượng đã cho, các đại lượng phát sinh trong quá trình giải bài toán và ngôn ngữlập trình thích hợp

Ví dụ 1:

Đối với bài toán: Tạo mảng A gồm N (N<=100) số nguyên, mỗi số có trị tuyệtđối không vượt quá 300 Tính tổng các phần tử của mảng là bội số của một số

nguyên k cho trước.

Đối với bài toán này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định được Input,Output của bài toán, cách thể hiện các đại lượng đã cho, các đại lượng phát sinhtrong quá trình giải bài toán như sau:

 Input: Mảng A gồm N phần tử

 Output: Tổng các phần tử của mảng chia hết cho k.

 Thể hiện các đại lượng đã cho:

• N là số phần tử của mảng và N<=100 nên ta khai báo kiểu dữ liệucủa N là Byte

• Mỗi phần tử của mảng là kiểu số nguyên và có giá trị tuyệt đối nhỏhơn 300 vì vậy ta khai báo kiểu dữ liệu của mảng là Integer

 Các đại lượng phát sinh: để tham chiếu đến từng phần tử của mảng ta

cần khai báo thêm biến i Để tính tổng các phần tử của mảng là bội số của một số nguyên k cho trước ta khai báo biến Tong kiểu Integer và phải gán giá trị ban đầu

(gán bằng 0) trước khi sử dụng

2.2.2 Xây dựng thuật giải

Dựa vào các thông tin đã xác định được về bài toán để lựa chọn hoặc thiết kếthuật toán Đây là bước quan trọng nhất để giải một bài toán Ở bước này ta có thểhướng dẫn hoặc yêu cầu học sinh viết thuật giải bằng lưu đồ khối hoặc ngôn ngữphỏng trình Tức là xây dựng dãy các tác động để cho máy tính có thể thực hiệntrong một khoảng thời gian nhất định nhằm đạt được một kết quả xác định Cũng cóthể cho học sinh biết được nhiều thuật giải giải quyết cùng một bài toán, sau đó yêucầu học sinh chọn xem trong số các thuật giải đó thuật giải nào tốt nhất

Ví dụ 2:

Trang 39

Bài toán: Nhập vào từ bàn phím một xâu Thay thế tất cả các cụm kí tự 'anh' bằng cụm kí tự 'em'.

Đối với bài toán này học sinh có thể xây dựng thuật giải bằng ngôn ngữ phỏngtrình như sau:

- Tìm vị trí bắt đầu của xâu 'anh'

- Xóa xâu 'anh' vừa tìm thấy

- Chèn xâu 'em' vào xâu S tại vị trí trước đây xuất

hiện xâu 'anh'

end;

{In xâu S};

End.

2.2.3 Thực hiện xây dựng chương trình

Xây dựng chương trình hay còn được gọi là lập trình Lập trình là dùng mộtngôn ngữ máy tính cụ thể để diễn tả thuật toán, cấu trúc dữ liệu thành các câu lệnh

để máy tính có thể thực hiện được và giải quyết đúng bài toán mà người lập trìnhmong muốn

Ở bước này giáo viên có thể yêu cầu học sinh xây dựng chương trình bằngcách tinh chế từng bước Đây là phương pháp có hệ thống giúp học sinh phân tíchcác thuật toán và cơ sở dữ liệu để từ đó viết thành chương trình

Ban đầu chương trình được viết bằng những câu lời tự nhiên thể hiện sự phântích tổng thể Ở từng bước sau các câu lời được phân tích chi tiết hơn thành nhữngcâu lời khác tương ứng với sự phân tích công việc thành những công việc nhỏ hơn.Mỗi câu lời đó là sự đặc tả công việc Sự tinh chế được hướng về phía ngôn ngữ lậptrình mà ta sẽ dùng, nghĩa là càng ở những bước sau các câu lời tự nhiên càng đượcthay bằng các câu lời của ngôn ngữ lập trình

Ví dụ 3: Từ thuật toán xây dựng được ở mục 2.2.2 giáo viên hướng đẫn và

yêu cầu học sinh chi tiết hóa bằng các câu lệnh để có được chương trình hoàn chỉnh như sau:

Trang 40

2.2.4 Thực hiện chương trình (chạy chương trình)

Để tạo điều kiện vận dụng tri thức khoa học Tin học vào thực tế cần tránh tìnhtrạng học sinh chỉ dừng lại ở phương hướng xây dựng thuật giải mà không trực tiếp

sử dụng các ngôn ngữ lập trình để mã hóa và thực hành kiểm thử lại chương trìnhtrên máy Tình trạng này sẽ có tác hại không nhỏ đối với học sinh trong học tập hiệntại cũng như trong cuộc sống sau này

Một chương trình viết xong chưa chắc đã chạy được trên máy; kỹ năng tìm lỗi,sửa lỗi, điều chỉnh viết lại chương trình cũng là một kỹ năng quan trọng trong lậptrình

Khi chương trình không chạy được hoặc chạy cho kết quả sai là có lỗi về thuậttoán hoặc lỗi trình tự hoặc lỗi cú pháp Học sinh cần phát hiện được và sửa đượccác lỗi để có chương trình chạy đúng Trong bước này giáo viên nên yêu cầu họcsinh xây dựng các bộ test nhằm kiểm tra tính đúng đắn của chương trình; theo dõi

và đánh giá chương trình của học sinh

2.3 Các bước của bài thực hành

Bài thực hành được sử dụng trong khâu hoàn thiện kiến thức và rèn luyện kỹnăng thực hành cho học sinh Để việc rèn luyện có hiệu quả giáo viên cần nắm chắccác bước tiến hành bài thực hành

Quy trình một bài thực hành gồm 5 bước:

 Bước 1: Xác định nhiệm vụ nhận thức

Mục đích của bước này là giúp học sinh xác định được mục đích, yêucầu, nhiệm vụ nhận thức của mình đối với bài thực hành, đồng thời tạo cho học sinhtâm lý, ý thức chuẩn bị sẵn sàng cho giờ học

Yêu cầu đạt được là giáo viên giúp học sinh xác định mục tiêu cụ thể củatừng bài thực hành: mục tiêu kiến thức, mục tiêu kỹ năng, mục tiêu giáo dục trong

đó mục tiêu kỹ năng là quan trọng

Ngày đăng: 15/03/2017, 21:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trong quan hệ đã cho. - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Bảng trong quan hệ đã cho (Trang 26)
Bảng 3.1: Bảng tần số học sinh đạt điểm X i  (lần 1) - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Bảng 3.1 Bảng tần số học sinh đạt điểm X i (lần 1) (Trang 66)
Hình 3.2: Đồ thị tần suất số % học sinh đạt điểm X i  (lần 1) Bảng 3.3: Các tham số thống kê (lần 1) - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Hình 3.2 Đồ thị tần suất số % học sinh đạt điểm X i (lần 1) Bảng 3.3: Các tham số thống kê (lần 1) (Trang 67)
Bảng 3.4: Bảng tần số học sinh đạt điểm X i  (lần 2) - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Bảng 3.4 Bảng tần số học sinh đạt điểm X i (lần 2) (Trang 67)
Hình 3.3: Biểu đồ điểm số học sinh đạt điểm X i  (lần 2) Bảng 3.5: Bảng tần suất suất % học sinh đạt điểm X i  (lần 2) - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Hình 3.3 Biểu đồ điểm số học sinh đạt điểm X i (lần 2) Bảng 3.5: Bảng tần suất suất % học sinh đạt điểm X i (lần 2) (Trang 68)
Hình 3.4: Đồ thị tần suất số % học sinh đạt điểm X  (lần 2) - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Hình 3.4 Đồ thị tần suất số % học sinh đạt điểm X (lần 2) (Trang 68)
Bảng 3.6: Các tham số thống kê (lần 2) - Xây dựng phương pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh lớp 11 trên cơ sở các bài tập Tin học
Bảng 3.6 Các tham số thống kê (lần 2) (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w