Đánh giá thực trạng công tác tổ chức giáo dục thể chất và việc sử dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang .... Ứng dụng trò c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
LÊ THỊ MINH HẢO
ỨNG DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON KHAI QUANG
- VĨNH YÊN-VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục Mầm non
Hướng dẫn khoá luận:
ThS Nguyễn Hữu Hiệp
HÀ NỘI- 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, em luôn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của ThS Nguyễn Hữu Hiệp, sự động viên, khích lệ của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non và khoa Giáo dục Thể chất Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Hữu Hiệp cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non và khoa Giáo dục Thể chất, cũng như các cô giáo ở Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc đã giúp em hoàn thành khóa luận này
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô cùng bạn đọc để em tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
Hà Nội, ngàythángnăm 2016
Sinh viên
Lê Thị Minh Hảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lê Thị Minh Hảo Sinh viên lớp K38B- GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại Trường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc Toàn bộ những vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vấn đề mang tính cấp bách và đúng thực tế tại Trường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
Hà Nội,ngàythángnăm 2016
Sinh viên
Lê Thị Minh Hảo
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải thích từ viết tắt
BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài 4
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục Mầm non 4
1.1.2 Giáo dục Mầm non 5
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của Giáo dục Mầm non 5
1.1.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của Giáo dục Mầm non 6
1.1.2.3 Yêu cầu về nội dung, phương pháp Giáo dục Mầm non 7
1.1.3 Một số vấn đề về Giáo dục Thể chất trong trường mầm non hiện nay 8
1.1.3.1 Vị trí, vai trò của Giáo dục Thể chất 8
1.1.3.2 Ý nghĩa của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non 8
1.1.3.3 Nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non 10
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý và các yếu tố ảnh hưởng đến sức bền của trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang 11
1.2.1 Đặc điểm tâm lý 11
1.2.2 Đặc điểm sinh lý 13
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức bền của trẻ 15
1.3 Một số nét đặc trưng của trò chơi vận động 17
1.3.1 Khái niệm trò chơi vận động 17
1.3.2 Ý nghĩa của trò chơi vận động 18
1.3.3 Đặc điểm và phân loại trò chơi vận động 19
1.3.3.1 Đặc điểm trò chơi vận động 19
1.3.3.2 Phân loại trò chơi vận động 20
1.3.3.3 Phương pháp tổ chức hướng dẫn trò chơi vận động 23
1.3.4 Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo lớn 23
Trang 61.4 Tố chất sức bền 24
1.4.1 Khái niệm sức bền 24
1.4.2 Phân loại sức bền 24
1.4.3 Những nhiệm vụ và yêu cầu phát triển sức bền 24
1.4.4 Một số phương pháp huấn luyện sức bền 25
Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 28
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 28
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 28
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 29
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 29
2.2.5 Phương pháp toán thống kê 30
2.3 Tổ chức nghiên cứu 31
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 31
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đánh giá thực trạng công tác tổ chức giáo dục thể chất và việc sử dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang 33
3.1.1 Thực trạng cơ sở vật chất và công tác Giáo dục Thể chất Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 33
3.1.1.1 Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường 33
3.1.1.2 Thực trạng về đội ngũ cán bộ và giáo viên 33
3.1.1.3 Thực trạng công tác Giáo dục Thể chất Trường Mầm non Khai Quang 34
Trang 73.1.2 Thực trạng việc sử dụng trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền cho
trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang 35
3.1.2.1 Thực trạng giảng dạy trò chơi vận động trong giờ chính khóa 35
3.1.2.2 Thực trạng giảng dạy trò chơi vận động trong giờ hoạt động ngoại khóa 38
3.1.2.3 Thực trạng quá trình sử dụng một số trò chơi vận động nhằm pháttriển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc 37
3.2 Ứng dụng trò chơi vận động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn trong giờ Giáo dục Thể chất thông qua trò chơi vận động 38
3.2.1 Lựa chọn trò chơi vận động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang 38
3.2.2 Lựa chọn test đánh giá việc áp dụng trò chơi vận động trong quá trình dạy học môn Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn ở Trường Mầm non Khai Quang 46
3.2.3 Tiến trình thực nghiệmtrò chơi vận động 47
3.2.4 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của trò chơi đã chọn nhằm phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 47
3.2.4.1 Tổ chức thực nghiệm trò chơi vận động 47
3.2.4.2 Kết quả thực nghiệm 47
3.2.4.3 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số trò
chơi vận động nhằm phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên-
Bảng 3.3 Bảng phỏng vấn lựa chọn test kiểm tra đánh giá sức
bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai
Bảng 3.4 Tiến trình giảng dạy trò chơi vận động nhằm phát
triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm ĐC
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm ĐC và
Biểu đồ 3.1 Thành tích chạy tùy sức 5 phút của 2 nhóm trước và
Biểu đồ 3.2 Thành tích chạy tùy sức 5 phút của 2 nhóm trước và
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước hội nhập sâu rộng với quốc tế, tiến tới mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Để thực hiện thành công mục tiêu đó yếu tố con người có vai trò quyết định hàng đầu
Để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện nay Con người Việt Nam mới cần có trình độ học vấn cao, năng động, sáng tạo, có khả năng
xử lý thông tin tốt, biết tự lựa chọn những cách thức để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách hiệu quả, từ đó có khả năng thích ứng với biến đổi không ngừng của xã hội Trách nhiệm đó được đặt trên vai ngành giáo dục; đòi hỏi ngành phải có những thay đổi về nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và phương tiện dạy học học một cách phù hợp tích cực Giáo dục không chỉ hoàn thành việc đào tạo những con người thích ứng với
xã hội mà còn đào tạo những con người đủ phẩm chất và trí tuệ, thể lực để đón đầu sự phát triển của xã hội
GDMN là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị trí quan trọng Giáo dục Mầm non có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu
và đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người Giáo dục trẻ ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế
hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước Trẻ em là công dân của xã hội, là thế hệ tương lai của đất nước, vì thế ngay từ thủa lọt lòng chúng
ta cần chăm sóc giáo dục trẻ thật chu đáo Đặc biệt Giáo dục Thể chất cho trẻ càng có ý nghĩa quan trọng hơn Trong Nghị quyết Trung Ương Đảng lần thứ 4
về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân
dân có ghi rõ: “Sức khoẻ là cái vốn quý nhất của mỗi con người và xã hội, là
nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” [7]
Trang 10GDTC là một bộ phận quan trọng trong sự phát triển toàn diện, có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và lao động GDTC cho trẻ mầm non càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi cơ thể của trẻ đang phát triển mạnh mẽ, hệ thần kinh, cơ xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp đang hoàn thiện, cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối Nếu không có sự chăm sóc giáo dục đúng đắn có thể gây nên những thiếu sót trong
sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được Nhận thức được điều
đó Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã đặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc trẻ mầm non Nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú tinh thần và trong sáng về đạo đức
là nhiệm vụ quan trọng của trường mầm non
Theo đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non “Dễ nhớ, dễ quên, học mà chơi, chơi mà học” Vậy để giáo dục trẻ lòng yêu thích thể dục thể thao, sự hứng thú tự giác độc lập, tập luyện thường xuyên thì chúng ta phải làm gì? Trò chơi được coi là phương tiện dạy học tích cực, gây hứng thú và thu hút được sự ham thích, tham gia nhiệt tình của trẻ Các trò chơi được sử dụng trong chương trình GDMN đều có mục đích Trong quá trình chơi trẻ phát triển tính hợp tác, đoàn kết và tinh thần chủ động sáng tạo, trẻ luôn hứng thú trong quá trình chơi Một trong những phương pháp để phát triển sức bền cho trẻ là sử dụng trò chơi Khi chơi trẻ được hoạt động một cách linh hoạt,những
kỹ năng vận động và kỹ năng giải quyết vấn đề được hình thành giúp trẻ phát triển các tố chất thể lực Việc ứng dụng trò chơi trong phát triển sức bền cho trẻ sẽ tạo cho trẻ sự dẻo dai và hứng thú trong khi chơi Tuy nhiên trong quá trình đi thực tập, tiếp xúc dự giờ với các giáo viên tại trường mầm non, tôi nhận thấy rằng quá trình sử dụng các trò chơi để phát triển sức bền vẫn chưa
được chú trọng
Trang 11Trên thực tế, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về GDTC chất cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo Một số công
trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này đã thành công như: “Một số biện
pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo bé nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chấtcho trẻ” (Huỳnh kim Vui, Đại học sư phạm Hà Nội- 2005);
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ 5- 6 tuổi
thông qua trò chơi đóng vaitheo chủ đề” (Lục Thị Trung Hải, Đại học sư
phạm Hà Nội- 2005); “Sử dụng trò chơi vận động phát triển kỹ năng phối hợp
vận động cho trẻ 5- 6 tuổi Trường Mầmnon Đại Thịnh- Mê Linh” (Trần Thị
Hoàng Giang, Đại học sư phạm Hà Nội 2- 2015)… Song đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu đánh giá về ứng dụng trò chơi vận động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức bền cho trẻ MGL Trường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
Xuất phát từ lý do trên, đề tài tiến hành nghiên cứu “Ứng dụng trò chơi vận động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớnTrường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc”
*Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là ứng dụng trò chơi vận động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức bền cho trẻ MGL ở trường Mầm non Khai Quang nói riêng và các trường mầm non khác nói chung góp phần đào tạo những con người phát triển toàn diện cho đất nước
*Giả thiết khoa học
Trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau nên việc tổ chức các hoạt động thể chất cho trẻ chưa thực sự hiệu quả Nếu việc ứng dụng trò chơi đạt hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện tốt để tìm ra các biện pháp, phương pháp phù hợp với điều kiện vật chất, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức bền cho
trẻ MGL
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục Mầm non
Điều 21 luật giáo dục năm 2005 quy định: GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi
-Từ chỉ thị 53/CP của Hội đồng Bộ trưởng ngày 12 tháng 8 năm
1966 đã xác định mục tiêu của GDMN: “GDMN tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”
Sáng này 19 tháng 9 năm 2006 tại Hà Nội BộGiáo dục và Đào tạo tổ chức giới thiệu đề án “Phát triển Giáo dục Mầm non giai đoạn 2006- 2015”
Mục tiêu của đề án là mở rộng mạng lưới cơ sở GDMN đặc biệt chú trọng phát triển mầm non với đồng bào dân tộc, vùng kinh tế khó khăn, hải đảo xa xôi
Nội dung của đề án làm đa dạng các phương thức chăm sóc giáo dục bảo đảm chế độ chính sách cho giáo viên mầm non theo quy định của nhà nước Đối với vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2006- 2015 sẽ đầu tư kinh phí đào tạo trình độ chuẩn cho 3000 giáo viên trang bị cơ sở vật chất theo những tiêu trí đạt 25000 cơ sở giáo dục ở các vùng này Đồng thời đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục mầm non, các hoạt động tổ chức vui chơi cho trẻ phù hợp với tâm sinh lý của trẻ khắc phục tình trạng dạy lớp một cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi Thực hiện chương trình thí điểm tin học Kid Smart cho trẻ làm quen với tin học Cung cấp các thiết bị học tập, vui chơi cho trẻ
Đề án phát triển GDMN được chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: từ 2006 đến 2010 + Giai đoạn 2: từ 2010 đến 2015 Tổng kinh phí đầu tư cho dự án này 5000 tỷ VNĐ
Trang 13Mục tiêu lớn nhất của đề án này rút ngắn khoảng cách GDMN nông thôn với GDMN thành thị Đề án phát triển GDMN từ 2006 đến 2015 là đề án được đầu tư kinh phí lớn nhất từ trước đến nay
1.1.2 Giáo dục Mầm non
1.1.2.1.Vị trí, vai trò của Giáo dục Mầm non
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ Do vậy, phát triển giáo dục mầm non là tăng cường khả năng sẵn sàng
đi học cho trẻ, là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi tuy trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, bộ não đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và sử dụng để hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới, những thiên hướng học tập của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội Việc được hưởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ GDMN sẽchuẩn bị cho trẻ những kỹ năng như tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú đối với việc đến trường tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai đoạn giáo dục phổ thông
Theo nhà giáo dục lỗi lạc Nga đã nói “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ, đã hình thành trước tuổi lên năm, những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ” Về sau giáo dục con người vẫn tiếp tục, nhưng đó chỉ là bước đầu đếm quả, còn những nụ hoa thì được trồng
Trang 14năm năm đầu tiên Vậy nên đứa trẻ lớn lên trở thành người như thế nào phần lớn phụ thuộc vào tuổi thơ của các em được diễn ra ra sao, bàn tay nào đã dẫn dắt các em trong những năm tháng đầu đời và dẫn dắt như thế nào? Điều này phần lớn phụ thuộc vào cha mẹ và đặc biệt là GDMN
Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo tới sự nghiệp GDMN Người từng căn dặn: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non,trồng cây non được tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” Lời dạy của người vẫn luôn được cán bộ, giáo viên ngành mầm non khắc ghi và biến thành phương trâm của mình GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong những năm gần đây GDMN phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng để khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội
GDMN có những bước tiến vượt bậc khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội, khẳng định vị trí của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân Hiện nay Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đến GDMN hơn bao giờ hết Bên cạnh nhiều chủ chương chính sách về phát triển GDMN đã được ban hành như QĐ 161 của Thủ tướng chính phủ Đề án phát triển GDMN 2006–
2015 Và mới đây công bố thực hiện CTGDMN của BGD&ĐT, Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của luật giáo dục đã nêu rõ: Phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi Đây là văn bản quan trọng tạo hành lang pháp lý để GDMN giải quyết được những khó khăn, bất cập, có bước phát triển đột phá
Như vậy GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Tầm quan trọng của GDMN là chỗ đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
1.1.2.2.Mục tiêu, nhiệm vụ của Giáo dục Mầm non
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ
Trang 15vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
1.1.2.3 Yêu cầu về nội dung, phương pháp Giáo dục Mầm non
*Yêu cầu về nội dung Giáo dục Mầm non
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống
- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết thích đi học
*Yêu cầu về phương pháp Giáo dục Mầm non
Phương pháp GDMN chủ yếu thông qua việc tổ chức các hoạt động chơi
để giúp trẻ phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ
-Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếp thường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó của người lớn với trẻ; chú ý đặc biệt cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo cho trẻ có cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được tích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích sự phát triển các giác quan và các chức năng tâm- sinh lý; tạo môi trường giáo dục gần gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ
Trang 16-Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương
châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường
giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm
và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ
Kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp Tổ chức hợp lý các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế
1.1.3 Một số vấn đề về Giáo dục Thể chất trong trường mầm non hiện nay
1.1.3.1.Vị trí, vai trò của Giáo dục Thể chất
GDTC có vị trí vô cùng quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu của giáo dục quốc dân, là sự phát triển của con người toàn diện
Vai trò của GDTC là:
GDTC là cơ sở nền tảng của nền TDTT quốc gia
GDTC là yếu tố tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần
GDTC làm phong phú đời sống xã hội
GDTC là yếu tố căn bản để chuẩn bị cho lao động và sẵn sàng để bảo
vệ tổ quốc
1.1.3.2 Ý nghĩa của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non
GDTC trong trường mầm non có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của trẻ Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Để đảm bảo cho sự phát triển của toàn xã hội, việc phát triển nhân tố con người, nguồn nhân lực con người phải tiến hành không ngừng ngay từ khi trẻ mới sinh,
Trang 17thậm chí ngay từ khi trẻ vẫn đang còn là bào thai trong bụng mẹ Vì vậy, công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt là GDTC đang có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của trẻ nói riêng và nguồn lực nói chung
Mục tiêu của nền giáo dục nước ta đặt ra là phải đào tạo ra những con người toàn diện về mọi mặt có đủ: đức, trí, thể, mỹ, lao động Bên cạnh công tác giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng Nó là một tiền đề giúp người học có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu kiến thức của bộ môn khác
GDTC trường học là cơ sở nền tảng của TDTT quốc dân Đây là một chiến lược quan trọng, là yếu tố cơ bản để chuẩn bị sức khỏe, thể lực phục vụ cho lao động, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc
GDTC còn có mối liên hệ mật thiết tới việc giáo dục đức, trí, thẩm mỹ
và lao động cho trẻ Bởi các hoạt động của trẻ phụ thuộc vào các trạng thái sức khỏe của trẻ Sự khỏe mạnh giúp trẻ linh hoạt hơn, năng động hơn, tinh tế hơn và có khả năng tạo ra cái đẹp trong mọi hoạt động của cuộc sống Thể dục giúp trẻ có sức khỏe dẻo dai, có các thao tác vận động chính xác, có cảm giác tốt về nhịp điệu và định hướng không gian nhanh nhẹn Từ đó giúp trẻ dễ dàng và hoàn thành các nhiệm vụ được giao
Ở nước ta GDTC ngày càng được quan tâm và chú trọng Đây được coi
là những nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục nói chung và trường mầm non nói riêng Bởi lẽ, sức khỏe là vốn quý giá nhất, có ý nghĩa sống còn của con người Tuy nhiên, tình hình sức khỏe của trẻ em ở nước ta còn rất nhiều vấn
đề đáng lo ngại, vẫn còn nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh về đường hô hấp và đường ruột… Ngoài ra, điều kiện giáo dục và chăm sóc sức khỏe của trẻ còn nhiều thiếu thốn, cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt và học tập
Trang 181.1.3.3 Nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non
Thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị những tiền đề quan trọng, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Để thực hiện mục tiêu GDMN, công tác GDTC trong trường mầm non cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
*Bảo vệ và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của trẻ:
-Cần rèn luyện cơ thể, nâng cao tính miễn dịch đối với các loại bệnh trẻ thường mắc phải và đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển đúng lúc và hoàn chỉnh trẻ
-Tổ chức cho trẻ được vận động, rèn luyện sức khỏe cho trẻ một cách hợp lý nhằm nâng cao sức khỏe và sức đề kháng cho trẻ Giúp cho cơ thể trẻ phát triển một cách cân đối, tăng cường khả năng vận động và sự thích ứng của trẻ khi thay đổi thời tiết, tăng cường khả năng miễn dịch
-Cần đảm bảo chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt (ăn, ngủ, học tập, vui chơi, lao động) hợp lý, phù hợp với từng độ tuổi, từng đối tượng
-Cần tích cực phòng bệnh cho trẻ, tiêm cho trẻ đúng và đầy đủ vắcxin theo quy định của Bộ Y tế Cần làm tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh thân thể, vệ sinh quần áo, đảm bảo sự luân phiên giữa hoạt động và nghỉ ngơi, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cho cơ thể trẻ phát triển tốt
*Rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động:
-Cần hình thành, phát triển và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động
cơ bản như đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo, bò và trườn Rèn luyện kỹ năng phối hợp cảm giác với vận động, phối hợp vận động của các bộ phận với nhau như đầu, thân, chân, tay… giúp trẻ thực hiện nhanh nhẹn và chính xác hơn
-Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động đồng thời rèn luyện những phẩm chất vận động cho trẻ, dần hoàn thiện các động tác trở nên nhanh
Trang 19nhẹn, chính xác, gọn gàng và dẻo dai Trẻ thực hiện các bài tập vận động một cách hợp lý trong các điều kiện khác nhau và biết kết hợp các bài tập vận động đã học
*Giáo dục nếp sống, hình thành thói quen vệ sinh:
-Giáo dục trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Thói quen này giúp trẻ đưa vào nền nếp, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, có khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố
-Hình thành thói quen vệ sinh có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe và tăng cường thể lực Khi trẻ biết vệ sinh thân thể, vệ sinh
ăn uống, giúp ngăn chặn những ảnh hưởng xấu từ môi trường xung quanh tới trẻ Tuy nhiên khả năng nhận thức cũng như vận động của trẻ còn hạn chế nên chúng ta cần hình thành, rèn luyện những thói quen đó cho trẻ một cách tỉ mỉ
và kiên trì trong thời gian dài để thói quen đó được củng cố, ổn định
1.2.Đặc điểm tâm sinh lý và các yếu tố ảnh hưởng đến sức bền của trẻ mẫu giáo lớnTrường Mầm non Khai Quang
1.2.1.Đặc điểm tâm lý
TrẻMGL đã có khả năng tiếp thu được một lượng kiến thức không hề nhỏ Theo A.X.Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nga thì: “Nền tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước 5 tuổi, nó chiếm 90% chất lượng của cả quá trình giáo dục”
Trẻ MGL có đặc điểm tâm lí rất quan trọng là ý thức bản ngã (cái tôi):
- Trẻ phân biệt rõ ràng giữa bản thân với những người xung quanh Trẻ
có ý thức về tính sở hữu, biết cái gì là của mình và cái gì là của người khác
- Tuổi MGL tư duy của trẻ có một bước ngoặt lớn Xuất hiện kiểu tư
Trang 20duy trực quan hình tượng mới- tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy logic Tư duy của trẻ đã đạt tới những ranh giới của tư duy trực quan hình tượng, những hình tượng và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với những hành động điều đó thể hiện trong trường hợp, khi trẻ giải quyết những bài toán thực tế
Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ:
-Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè Đời sống xúc cảm ổn định hơn so với trẻ 4- 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: tình cảm mẹ con, anh chị em, tình cảm với cô giáo Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống
Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ nhiều thành công thất bại củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ
Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu Qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được gia đình, xã hội xây dựng cho trẻ, trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi người
Tình cảm thẩm mỹ: Qua các tiết học nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, tìm hiểu môi trường xung quanh Cùng với nhận thức về cái đẹp tự nhiên, hài hòa
về bố cục, sắp xếp trong gia đình và lớp học Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp cái xấu theo chuẩn,xúc cảm thẩm mỹ và óc thẩm mỹ phát triển
-Đây là lứa tuổi trẻ phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ
có khả năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng có khi hiểu được những câu nói dài Điều này là cơ sở để trẻ tiếp nhận những kiến thức của lớp
Trang 21một và các bậc học tiếp theo
Ý thức về bản thân:
-Ngay từ khi lên 3 tuổi trẻ đã biết phân biệt giữa bản thân và người khác, trẻ dần dần nhận ra những cái gì thuộc về bản thân, cái gì không thuộc về bản thân, cái gì không thuộc về mình Trẻ mẫu giáo lớn đã có ý thức về những vận dụng như quần áo, đồ chơi, cái gì của mình và cái gì là của bạn cùng chơi Từ
đó trẻ có thái độ so sánh, ganh tị hay tự tin hơn và thường có những suy nghĩ nhận định độc lập, thích tự làm chứ không cần nhờ đến người khác
- Ý thức về bản thân cũng giúp cho trẻ MGL có ý thức chan hòa với bạn cùng chơi Biết tuân thủ luật chơi, biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn, biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi và phong phú với bạn cùng chơi
-Trẻ giai đoạn này cũng rất dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc Tâm tư của trẻ lứa tuổi này cũng bộc lộ ra ngoài Tính tình tương đối ổn định Đời sống tình cảm của lứa tuổi này phong phú và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi trước
1.2.2 Đặc điểm sinh lý
Hệ thần kinh: Trẻ MGL, cường độ và tính linh hoạt của các quá trình
thần kinh tăng lên Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thúc Tuy nhiên, ở trẻ quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó phải có sự ứng xử hợp lý đối với trẻ, tránh
để trẻ phải thực hiện một khối vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Hệ thần kinh có tác động chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể của trẻ có thể cải thiện tính không công năng của quá trình thần kinh ở chúng Song cần chú ý tới sự luân phiên giữa vận động của trẻ
Trẻ 6 tuổi có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời
Trang 22gian 15- 20 phút Đồng thời ở lứa tuổi này, vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hai càng tăng lên Tư duy bằng từ càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Ở giai đoạn tiếp theo hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ tiếp tục được phát triển và được hoàn thiện cả về chất lượng và số lượng
Hệ vận động: bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp
Hệ xương:
Hệ xương là một khung xương cứng có tác dụng làm chỗ dựa cho các phần mềm, vì vậy làm cho cơ thể có hình dạng nhất định
Thành phần hóa học của xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu
cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ
bị cong vẹo Ở trẻ mẫu giáo lớn cột sống có 2 đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ
và ở ngực; trẻ càng lớn thì lồng ngực càng hẹp dần, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng
Hệ cơ: Hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ
nhỏ mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do vậy mà trẻ ở lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần có sự đan xen giữa vận động và nghỉ ngơi một cách thích hợp trong thời gian luyện tập Khi trẻ được vận động thường xuyên thì sẽ làm cho sức mạnh và sức bền của cơ bắp phát triển
Khớp: Trẻ ở lứa tuổi này cơ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp
còn yếu và dây chằng thì lỏng lẻo Khi trẻ hoạt động phù hợp sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó giúp cho khớp tăng dần tính vững chắc
Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện Trẻ
ở giai đoạn này nhìn chung sự tạo máu ở trẻ rất mạnh, nhưng có tính chất không ổn định Buồng tim phát triển tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80-110 lần/phút Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ tập luyện nên đa dạng các bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ,
Trang 23phối hợp giữa động và tĩnh một cách nhịp nhàng
Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ hẹp, niêm mạc mũi mềm mại, có nhiều
mạch máu Tổ chức họng ít phát triển, ít bị chảy máu cam nhưng khi bị sổ mũi dễ gây tắc thở Khả năng bảo vệ của lớp niêm mạc mũi yếu, nên những kích thích tác động vào niêm mạc đều gây rối loạn nhịp thở và hoạt động của
hệ tim mạch Lên 6 tuổi thể tích hô hấp của phổi là khoảng 215- 220ml Trẻ MGL mỗi phút hít thở 20-22 lần
Hệ trao đổi chất: Trẻ đang trong giai đoạn phát triển, cơ thể trẻ đòi hỏi
phải bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Ở trẻ nhỏ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và
dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do đó, khi trẻ hoạt động quá mức, ngay cả dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn tới tiêu hao năng lượng dự trữ trong cơ bắp và đọng lại những chất độc hại trong quá trình trao đổi chất Sẽ làm ảnh hưởng đến cơ bắp và hệ thần kinh của trẻ, làm giảm sự nhạy cảm Do
đó, phải chọn các hình thức vận động phù hợp với trẻ, không để trẻ vận động quá sức
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức bền của trẻ
Yếu tố di truyền Yếu tố dinh dưỡng Yếu tố môi trường Ảnh hưởng của bệnh tật
Sự tập luyện -Yếu tố dinh dưỡng:
+ Là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến mặt thể lực + Cân đối dinh dưỡng, cung cấp các chất cần thiết và chế độ ăn uống hợp lý
-Yếu tố di truyền:là sự di truyền từ cha mẹ đến con cái, ảnh hưởng đến
Trang 24trẻ, tác động đến thể chất của trẻ
-Môi trường sống:
+ Môi trường sống cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ, điều này thấy
rõ ở việc các trẻ em ở phương Tây thường phát triển thể trạng tốt hơn những trẻ sống ở phương Đông Nếu môi trường sống sạnh sẽ, không khí thoáng mát, đủ ánh sáng tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển thể chất, ngược lại nếu môi trường không thuận lợi không những không tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất của trẻ mà còn có thể là nguyên nhân gây một số bệnh tật cản trở sự phát triển sức bền nói riêng và sự phát triển thể chất nói chung
+ Bên cạnh môi trường tự nhiên thì môi trường không khí, tâm lí gia đình cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Trẻ được sống trong môi trường gia đình êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc, có được sự quan tâm của cha
mẹ và những người khác trong gia đình sẽ phát triển tốt hơn những đứa trẻ sinh ra trong môi trường gia đình không hạnh phúc, hay mẫu thuẫn, hay bố
mẹ bận công việc ít quan tâm đến con
-Ảnh hưởng của bệnh tật: Trẻ mắc bệnh thường ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa thức ăn, hô hấp, tuần hoàn ở trẻ, đồng thời trẻ mắc bệnh thường phải tiêu hao năng lượng nên làm chậm sự phát triển thể chất của trẻ
-Sự luyện tập: Vận động cơ thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển sức bền nói riêng và sự phát triển thể lực nói chung Việc luyện tập thường xuyên giúp cho tinh thần thoải mái, lưu thông máu tốt, tăng cường năng lượng, cải thiện cơ và xương thông qua đó giúp cơ thể trẻ phát triển tốt hơn
Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, nhận thức được vai trò to lớn của GDTC với trẻ mầm non, trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã ứng dụng một số TCVĐ nhằm phát triển sức bền cho trẻ MGL Trường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh phúc góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho Trường Mầm non Khai Quang Khi chơi trẻ
Trang 25tham gia nhiệt tình, xua tan ở trẻ những căng thẳng, mệt mỏi, kích thích ở trẻ
sự sáng tạo trong học tập và vui chơi Trong quá trình tham gia vào trò chơi, trẻ đã biểu lộ tình cảm rõ ràng như niềm vui khi thắng và buồn khi thất bại Vì tập thể các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho đội trong đó có bản thân mình, đó chính là đặc tính thi đua rất cao của trò chơi vận động
Vì vậy, trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu những trò chơi mang tính vận động thể lực và đặc biệt chú ý tới sức bền của trẻ mẫu giáo lớn, từ đó đưa ra một số ứng dụng hiệu quả trong công tác GDTC Trường Mầm non Khai Quang nói riêng và các trường mầm non khác nói chung
1.3.Một số nét đặc trƣng của trò chơi vận động
1.3.1.Khái niệm trò chơi vận động
Trò chơi vận động (TCVĐ) là loại vận động tích cực, đây là một trong những phương tiện GDTC tốt nhất cho trẻ mầm non, rất phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung và tạo cho trẻ có điều kiện được sáng tạo và phát triển tư duy của mình một cách độc lập trong những trường hợp cụ thể Đa số các TCVĐ cho trẻ mầm non đều mang tính chủ đề, phù hợp với tâm sinh lý và khả năng tưởng tượng của trẻ
Trong quá trình trẻ tham gia vào trò chơi thì trẻ phải tập trung chú ý, ghi nhớ cách chơi mà giáo viên hướng dẫn để thực hiện đúng trò chơi Đặc điểm nổi bật củaTCVĐ là sự phối hợp giữa quá trình nhận thức và vận động
TCVĐ là trò chơi nhằm rèn luyện và hoàn thiện các vận động cho trẻ TCVĐ là phương tiện chủ yếu của giáo dục thể lực (GDTL) cho trẻ, giải quyết các nhiệm vụ vận động dưới dạng trò chơi nên trẻ vận động tích cực và thoải mái
Trang 261.3.2.Ý nghĩa của trò chơi vận động
Trò chơi chiếm một vị trí rất quan trọng đối với trẻ Trẻ mầm non học
mà chơi, chơi mà học; trẻ đến trường không chỉ học mà trẻ còn được vui chơi
vì ở lứa tuổi này hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi Các loại trò chơi: trò chơi học tập, trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi vận động… được sử dụng rộng rãi Trong các loại trò chơi thì TCVĐ được chú ý cao vì khi tham gia TCVĐ thì tất cả các trẻ đều được tham gia và phát triển tố chất thể lực
TCVĐ là phương tiện chủ yếu giáo dục tố chất thể lực có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo, qua TCVĐ hình thành ở trẻ những phẩm chất như sự nhanh nhẹn, dẻo dai, linh hoạt, góp phần củng cố và nâng cao sức khỏe cho trẻ
TCVĐ tạo cho trẻ hứng thú và giảm bớt những căng thẳng thần kinh
Từ đó giảm bớt căng thẳng về tâm lý tạo nên sự lạc quan yêu đời Trong chơi trẻ hào hứng, hình thành những phẩm chất đạo đức, trẻ biết giúp đỡ lẫn nhau, biết quan tâm với bạn cùng chơi Để tham gia được vào trò chơi thì trẻ phải hiểu được cách thức chơi từ đó giúp trẻ biết tư duy, phân tích, so sánh, ghi nhớ, chú ý
Khi trẻ tham gia TCVĐ thì sẽ tác động lên nhiều cơ, tăng quá trình trao đổi chất.TCVĐ giúp trẻ chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ
TCVĐ tác động vào thần kinh, các quá trình hưng phấn và ức chế được cân bằng Đó là điều kiện tốt để hình thành cho trẻ thói quen vận động
Trong các TCVĐ dân gian có kèm theo các bài hát, ca dao, từ đó mở rộng và phát triển vốn từ cho trẻ.Khi chơi, TCVĐ tác động lên nhiều nhóm
cơ, làm tăng quá trình trao đổi chất Tham gia vàoTCVĐ, trẻ tự điều chỉnh được nhịp điệu, lượng vận động và loại trừ được sự mệt mỏi Đồng thời TCVĐ tác động vào hệ thần kinh các quá trình ức chế được hoàn thiện và cân bằng Đây chính là điều kiện để hình thành thói quen vận động cho trẻ TCVĐ còn làm thỏa mãn cảm xúc, đem lại sự vui vẻ, tăng quá trình tuần hoàn và hô
Trang 27hấp của cơ thể trẻ, làm thay đổi trạng thái cơ thể giữa các hoạt động, giúp trẻ trở về trạng thái cân bằng, tăng cường sinh lực
TCVĐ còn ảnh hưởng đến tính cách, khí chất của trẻ Trong khi chơi, trẻ thể hiện hành vi, mặt đạo đức của trẻ Việc tuân theo quy tắc sẽ điều khiển hành vi của mình khi chơi, tạo khả năng hình thành giúp đỡ lẫn nhau, tính trung thực lòng dũng cảm, tính kiên trì
TCVĐ có tác dụng làm phát triển ở trẻ những phẩm chất tư duy và ngôn ngữ Để tham gia vào cuộc chơi, trẻ phải hiểu luật chơi, cách xử lý tình huống và vai trò của mình trong khi chơi, xác định mối quan hệ giữa bản thân
và các bạn chơi, làm cho thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát được phát triển
Những TCVĐ làm theo bài hát, câu thơ mô tả các động tác vận động làm cho ngôn ngữ, óc sáng tạo của trẻ được phát triển và nâng cao Khi giáo viên hướng dẫn, giải thích cho trẻ nội dung, các qui tắc của trò chơi, trẻ ghi nhớ từ mới, ý nghĩa của chúng, tập vận động phù hợp với lời hướng dẫn của giáo viên tạo cho ngôn ngữ của trẻ giàu hơn
TCVĐ giúp trẻ mở rộng và khắc sâu hơn những biểu tượng của mình
về thế giới xung quanh như: Đặc điểm lao động của người lớn, cách thức vận động của động vật và phương tiện giao thông, ở trẻ sẽ phát triển mối xúc cảm với thế giới xung quanh
1.3.3 Đặc điểm và phân loại trò chơi vận động
1.3.3.1 Đặc điểm trò chơi vận động
Hầu hết TCVĐ được sử dụng trong GDTC ở trường mầm non đã mang tính mục đích một cách rõ ràng
TCVĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác GDTC cho trẻ
Trong quá trình chơi trẻ tiếp xúc với nhau, trẻ phải hoàn thành nhiệm
vụ của mình trước tập thể, tập thể động viên, giúp đỡ bạn cùng chơi hoàn
Trang 28thành nhiệm vụ, vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thểđược hình thành Trong quá trìnhtrẻ tham gia TCVĐ đã giúp xây dựng ở trẻ tính kỷ luật, nhanh nhẹn, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ, góp phần hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho trẻ
Trò chơi mang tính thi đua cao Trong quá trình chơi trẻ biểu lộ tình cảm vui khi chiến thắng buồn khi thất bại, trẻthấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình, vì tập thể phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho đồng đội
1.3.3.2 Phân loại trò chơi vận động
*Dựa vào các tiêu chí khác nhau có các cách phân loại TCVĐ khác nhau như sau:[11]
-Theo năng lực vận động cơ bản bao gồm:
+ Trò chơi đi bộ, chạy nhảy,ném, bò, trườn, trèo
+ Trò chơi sức nhanh, sức mạnh, sức bền, linh hoạt
-Theo tình huống trò chơi bao gồm:
+ Trò chơi có nhiều tình huống + Trò chơi không có tình huống -Theo việc sử dụng dụng cụ trong trò chơi bao gồm:
+ Trò chơi tay không
+ Trò chơi có dụng cụ
Trang 29-Theo dụng cụ khác nhau bao gồm:
+ Trò chơi với bóng + Trò chơi với vòng
+ Trò chơi với dây
+ Trò chơi với gậy gỗ, cầu thăng bằng
-Theo tính chất của trò chơi và chủ đề thể hiện trong trò chơi, bao gồm các nhóm:
+Trò chơi vận động có luật chơi đơn giản: Nhóm trò chơi này bao gồm các trò chơi vận động khác nhau về nội dung, phương pháp tổ chức, mức độ phức tạp của trò chơi và đặc điểm của nhiệm vụ vận động Vì vậy người ta chia nhóm trò chơi vận động này thành những nhóm nhỏ bao gồm:
Trò chơi vận động có chủ đề: Là những trò chơi có luật tạo điều kiện
để trẻ nhớ lại và thực hiện theo những động tác nhất định Quy tắc chơi hướng tới sự chính xác hóa quá trình chơi và quan hệ chơi Trò chơi loại này được xậy dựng trên cơ sở những kinh nghiệm của trẻ, trên cơ sở những hiểu biết và những ấn tượng của chúng về cuộc sống xung quanh như:nghề nghiệp của người lớn, các hiện tượng thiên nhiên,một số con vật, các phương tiện giao thông Những đặc điểm vận động của các hiện tượng trên cơ sở để xây dựng nội dung và quy tắc của trò chơi
Trò chơi vận động không có chủ đề: Trong nhóm trò chơi này có các
loại trò chơi rất khác nhau về mặt tổ chức: loại dành cho nhiều trẻ cùng một lúc đi đuổi bắt, thi chạy nhanh… loại dành cho từng nhóm nhỏ, ít trẻ tham gia như các trò chơi với dụng cụ và những trò chơi trong đó trẻ chơi thi đấu với nhau TCVĐ không có chủ đề gồm có 3 loại:
TCVĐ không có chủ đề loại đuổi bắt: Loại này gắn với trò chơi vận
động có chủ đề, chỉ khác là không có hình ảnh nhân vật để trẻ bắt chước, còn lại là như nhau Trò chơi này được xây dựng chủ yếu từ những vận động đơn
Trang 30giản thường là vận động “chạy” kết hợp với hoạt động “né”, “tránh” Hành động trong trò chơi của trẻ chỉ liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ nào đó Trò chơi này áp dụng nhiều đối với lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé
TCVĐ không có chủ đề loại thi đua, tranh giải: Cơ sở của loại trò chơi
này là việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định trong khuân khổ của quy tắc, những yếu tố thi đua trong trò chơi thúc đẩy tính tích cực của trẻ, yêu cầu trẻ thực hiện các yếu tố vận động và phẩm chất ý chí khác nhau như sức chịu đựng, tính tự lực Có 2 hình thức thi đua, tranh giải bao gồm: hình thức thi đua
cá nhân và thi đua tập thể Hình thức thi đua cá nhân thường áp dụng cho trẻ mẫu giáo nhỡ Trong trò chơi, trẻ cố gắng thực hiện nhiệm vụ vận động tốt hơn cho chính bản thân mình Hình thức thi đua tập thể, đồng đội tranh giải, tiếp sức chịu đựng của cơ thể trẻ đã đạt ở mức độ cao Trong trò chơi, mỗi trẻ phải
cố gắng thực hiện nhiệm vụ sao cho không phụ sự cố gắng, hy vọng của tổ
TCVĐ không chủ đề có sử dụng dụng cụ: Quy tắc của trò chơi loại này
sẽ xác định vị trí, thứ tự sắp xếp các dụng cụ cách thức sử dụng dụng cụ và thứ
tự thực hiện vận động Mỗi trẻ tham gia chơi sẽ thực hiện hành động chơi chính, không phụ thuộc vào những trẻ khác, nhưng kết quả mỗi trẻ lại là động
cơ thúc đẩy trẻ thực hiện vận động chính xác hơn, cố gắng đạt kết quả cao hơn
Trò chơi vận động vui nhộn, giải trí
Nhóm trò chơi này thường có nhiệm vụ vận động được thể hiện trong những điều kiện khác thường và thường có yếu tố thi đua như: bịt mắt thực hiện các hành động khác nhau- đánh tay vào mặt trống, đá bóng xếp dưới sân, nhảy lò cò tay cầm bóng
+ Nhóm TCVĐ mang tính thể thao: bóng bàn, bóng đá… tạo thành một nhóm trò chơi vận động Đó chưa phải là những trò chơi thể thao thực sự, vì trẻ chỉ có thể thực hiện được một vài yếu tố kỹ thuật của trò chơi thể thao Khi giáo viên hướng dẫn trò chơi này, các quy tắc của chúng đã được giảm lược Tuy nhiên trò chơi này có thể tác dụng cho trẻ làm quen với hoạt động thểthao
Trang 311.3.3.3 Phương pháp tổ chức hướng dẫn trò chơi vận động
* Các yêu cầu khi tổ chức Dựa vào tình hình sức khỏe của trẻ, trường lớp Tuân thủ theo phân phối chương trình
Các điều kiện phương tiện
* Phương pháp hướng dẫn
TCVĐ mới: Tổ chức chơi theo nhóm nhỏ để rèn kỹ năng chơi đúng
luật, khi giải thích trò chơi cần nhấn mạnh điểm khó giúp trẻ có thể vượt qua
dễ dàng, có thể tổ chức ngoài giờ
TCVĐ đã biết: Đòi hỏi yếu tố thi đua cao, chú ý chơi đúng luật Có thể
cùng trẻ quy ước trước khi chơi hoặc đưa thêm nội dung mới, khó vào trò chơi làm sinh động giờ chơi
1.3.4 Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo lớn
- Một số trẻ tham gia trò chơi vượt quá khả năng chịu đựng để xảy ra những tai nạn đáng tiếc
- Đôi khi chơi trẻ nhốn nháo, giáo viên khó kiểm soát được toàn bộ lớp nên chưa phát huy được hết ưu điểm của TCVĐ
- Trong quá trình chơi, trẻ hứng thú, nhiệt tình và say mê trò chơi dẫn đến lượng vận động khó được kiểm soát
- Đôi khi trẻ tham gia chơi một cách hời hợt, thiếu tính tích cực không phát huy được hết hiệu quả của TCVĐ
Vì vậy, ứng dụng có hiệu quả TCVĐ cho trẻ mẫu giáo lớn là rất cần thiết
1.4.Tố chất sức bền
1.4.1 Khái niệm sức bền
Lý luận và phương pháp TDTT cho rằng:“Sức bền tức là khả năng
chống lại những mệt mỏi khi vận động với tốc độ tối đa chủ yếu với sự huy động năng lượng yếm khí”.[12]
Trang 32Sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi khi học tập, lao động hay tập luyện TDTT kéo dài
1.4.2 Phân loại sức bền
Theo quan điểm của các nhà khoa học TDTT đã phân loại sức bền
thành 2 loại gồm:
-Sức bền chung -Sức bền chuyên môn (sức bền tốc độ và sức bền mạnh) Trong đó:
Sức bền chung là khả năng của cơ thể khi thực hiện các công việc nói chung trong một thời gian dài với cường độ thấp và có sự tham gia của phần lớn các hệ cơ Sức bền chung là sức bền cần cho mọi người với ý nghĩa là một con người bình thường
Sức bền chuyên môn là khả năng của cơ thể khi thực hiện chuyên sâu một hoạt động lao động, hay bài tập thể thao trong một thời gian dài
1.4.3 Những nhiệm vụ và yêu cầu phát triển sức bền
Sức bền trong vận động thể lực bị chi phối bởi rất nhiều nhân tố Do
đó để phát triển sức bền, phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ nhằm hoàn thiện và nâng cao những nhân tố đó Trong đó những nhân tố chi phối sức bền phải kể đến:
+ Kỹ năng thể thao hợp lý, đảm bảo phát huy hiệu quả và đồng thời tiết kiệm được năng lượng trong khi vận động
+ Năng lực duy trì trong thời gian dài trạng thái hưng phấn của các trung tâm thần kinh
+ Khả năng hoạt động cao của hệ tuần hoàn và hô hấp
+ Tiết kiệm quá trình trao đổi chất + Cơ thể có nguồn năng lượng lớn
+ Sự phối hợp hài hòa của các chức năng sinh lý
Trang 33+ Khả năng chống lại cảm giác mệt mỏi nhờ sự nỗ lực của ý chí
Nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho cơ thể thích nghi dần dần với lượng vận động ngày càng lớn Điều này một mặt đòi hỏi người tập phải có ý chí kiên trì, chịu đựng những cảm giác mệt mỏi đôi khi thất bại nặng
nề và cảm giác nhàn chán do tính đơn điệu của trò chơi Mặt khác đòi hỏi phải
có sự tích lũy, thích nghi dần dần và kéo dài liên tục trong nhiều năm Những ý
đồ nôn nóng, gò ép, đốt cháy giai đoạn chẳng những không đem lại kết quả mà còn có hại đối với người tập
Nâng cao sức bền chung là cơ sở nâng cao sức bền chuyên môn và nâng cao năng lực vận động của cơ thể nói chung Tập luyện có hệ thống sẽ nâng cao được sức bền một cách đáng kể
1.4.4.Một số phương pháp huấn luyện sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn
-Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí:
Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo nguồn năng lượng cho hoạt động cơ bắp thông qua quá trình oxy hóa các hợp chất giàu năng lượng trong
cơ thể Để nâng cao khả năng ưa khí cần giải quyết 3 nhiệm vụ:
+ Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa
+ Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì mức hấp thụ oxy tối đa + Làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt động với hiệu suất cao
Để giải quyết nhiệm vụ này, nguyên tắc chung của phương pháp tập luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các TCVĐ trong đó hiệu xuất hô hấp và tuần hoàn có thể đạt mức tối đa và duy trì được mức hấp thụ oxy cao trong thời gian dài Tất nhiên đó phải là những TCVĐ có sự tham gia của nhiều nhóm cơ và tốc độ gần giới hạn Các phương pháp được sử dụng để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể là phương pháp đồng đều liên tục, phương pháp lặp lại và biến đổi, phương pháp nghỉ giữa quãng
Trang 34-Phương pháp đồng đều liên tục (phương pháp kéo dài thời gian)
Áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu của quá trình huấn luyện nâng cao sức bền Đặc điểm của phương pháp này là bài tập liên tục, không có nghỉ giữa quãng với tốc độ ở mức độ gần tới hạn và thời gian tương đối dài
Lượng vận động trong các phương pháp kéo dài là một lượng vận động dài và không bị gián đoạn bởi các đợt nghỉ Tốc độ của các phương pháp kéo dài có thể đồng đều hoặc tăng lên, giảm xuống Việc cải thiện khả năng hấp thụ oxy được bằng 2 cách: lượng vận động kéo dài, liên tục trong các điều kiện ưa khí; hai lượng vận động kéo dài với cường độ thay đổi (tốc độ, dung lượng, tần số tác động)
-Phương pháp giãn cách tương đối
Các phương pháp này được huấn luyện theo nguyên tắc giãn cách, nó đòi hỏi sự thay đổi có kế hoạch các giai đoạn và nghỉ ngơi Các đợt nghỉ ngơi không hồi phục hoàn toàn Sản phẩm phân hóa yếm khí trong hoạt động căng thẳng với thời gian ngắn sau mỗi lần lặp lại yếm khí thì không khí phổi và thể tích tâm thu tăng lên do đó mức hấp thụ oxy tăng lên Tác động chủ yếu của bài tập là thời gian nghỉ giữa lúc này đạt hấp thụ oxy tối đa
Phương pháp này để phát triển sức bền chung (sức bền ưa khí) nên các bài tập yếm khí với tốc độ giới hạn, thời gian thực hiện ngắt quãng được tính
sẽ diễn ra khả năng hấp thụ oxy tối đa Khi vận dụng phương pháp giãn cách tương đối cần đảm bảo:
+ Cường độ hoạt động: Cao hơn mức giới hạn 70- 80%
+ Cường độ hoạt động tối đa: Cuối mỗi lần lặp lại mạch từ 130- 170 lần/phút
+ Độ dài cự li: Tính toán để thời gian thực hiện không quá 1 -1,5 phút (đảm bảo hoạt động yếm khí)
Trang 35+ Thời gian nghỉ giữa: Tùy theo trình độ của trẻ để lặp lại bắt đầu trong lúc thể tích tâm thu và mức hấp thụ oxy cao Tần số nhịp tim 110- 120 lần/phút
Thời gian nghỉ không vượt quá 3-4 phút khi tuần hoàn và hô hấp giảm nhiều, không được nghỉ thụ động để chuyển đột ngột từ hoạt động sang yên tĩnh và ngược lại, nó có quỹ thời gian để phục hồi lượng vận động lớn
+ Số lần lặp lại: Phải đảm bảo duy trì hoạt động trong sự phối hợp hoạt động các hệ thống cơ quan trong cơ thể, thể hiện mức hấp thụ oxy tối đa trong
cơ thể
-Phương pháp tập luyện vòng tròn
Phương pháp tập luyện vòng tròn hiện đại mục đích để huấn luyện kĩ thuật và phát triển các tố chất thể lực Thông qua thay đổi các tham số huấn luyện của các TCVĐ (thời gian, số lần lặp lại, cường độ vận động, thời gian nghỉ giữa…) Đem nội dung huấn luyện với phương pháp sắp xếp thành các phương án để phát triển các tố chất khác nhau
Thực tiễn thể thao chứng minh rằng phương pháp tập luyện vòng tròn
có nhiều tác dụng phát triển các tố chất thể lực khác nhau, đặc biệt là phát
triển sức bền cơ bắp
Trang 36Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành giải quyết hai nhiệm vụ chính sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục Thể chất và việc
sử dụng trò chơi đối với trẻ MGL ở Trường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
Nhiệm vụ 2: Ứng dụng trò chơi nhằm nâng cao hiệu quả phát triển
sức bền cho trẻMGL ở Trường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
2.2.Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụcủa đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu là phương pháp thu thập nguồn thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đi tìm hiểu tập hợp được những tài liệu như các nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các tuyển tập và các tư liệu giảng dạy về TDTT và GDTC, các tài liệu lưu trữ, nghiên cứu tìm hiểu các sách viết về trò chơi vận động, về sức bền, các sách về tâm sinh lý trẻ em… Từ nguồn tài liệu khác nhau sách, báo, internet… Tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng thêm kiến thức lý luận, tâm sinh lý, các phương pháp giáo dục và đặc biệt tìm hiểu sâu về trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền cho trẻ mẫu giáo lớn Phương pháp này sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi-trả lời giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm
Trang 37Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp và trao đổi tạo đàm:
* Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi-trả lời miệng giữa nhà nghiên cứu và người được hỏi
* Phỏng vấn gián tiếp là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu hỏi, phiếu điều tra… theo một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn
* Trao đổi, tạo đàm là phương pháp thu thập thông tin nhiều chiều giữa nhà nghiên cứu với một số cá nhân về vấn đề cần quan tâm
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng và không ảnh hưởng đến quá trình đó
Trong thời gian thực hiện đề tài này việc quan sát sư phạm được sử dụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thể dục và các hoạt động học khác mà trẻ tham gia
Qua phương pháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trình giảng dạy, học tập của cô và trẻ, giúp tôi có cái nhìn khách quan và có thể đưa
ra những trò chơi vận động nhằm phát triển sức bền cho trẻ MGL ởTrường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trong đề tài này tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm so sánh Thực nghiệm được tiến hành với hai nhóm đối tượng, nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm Hai nhóm này được chia một cách ngẫu nhiên sau đó được kiểm tra tính đồng đều giữa 2 nhóm trước thực nghiệm và nhóm sau thực nghiệmvề sức bền, phương pháp thực nghiệm trên 60 trẻ MGLTrường Mầm non Khai Quang- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
Nhóm TN: = 30 (15 trẻ nam, 15 trẻ nữ) Nhóm ĐC: = 30 (15 trẻ nam, 15 trẻ nữ)